Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2024

Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Nhận thức rõ vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với nhiều nội dung mới. Nhìn lại và đánh giá khách quan, thẳng thắn kết quả đạt được cũng như nhận diện rõ những vấn đề đặt ra trên lĩnh vực giáo dục, đào tạo là việc làm cần thiết để xác định nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII đã đề ra từ nay đến cuối nhiệm kỳ.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham quan trưng bày các sản phẩm chế biến, chế tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội cơ sở Hoà Lạc _Ảnh: TTXVN

Những kết quả đáng ghi nhận

Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đã trải qua 35 năm đổi mới; công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tiềm lực quốc gia, dân tộc được tăng cường về mọi mặt. Trong nửa đầu nhiệm kỳ, đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, các chủ trương lớn trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về giáo dục, đào tạo vẫn được cả hệ thống chính trị tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc, với tinh thần trách nhiệm cao, tạo sự chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đáng ghi nhận.

Trước hết, hệ thống chính sách, pháp luật về giáo dục và đào tạo được rà soát, cập nhật và tiếp tục hoàn thiện, từng bước tháo gỡ các nút thắt, vướng mắc, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở các cấp học, trình độ. Trong nửa đầu nhiệm kỳ, đã có trên 100 văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn, chỉ đạo(1) được ban hành, trong đó có nhiều văn bản quan trọng, như Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045... Nhiều chính sách được rà soát, bổ sung, ban hành mới, như quy định về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; Chương trình “Hỗ trợ phát triển giáo dục mầm non vùng khó khăn giai đoạn 2022 - 2030”...

Hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được hoàn thiện. Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển, cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng được mở rộng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của người dân. Cả nước có 37.619 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập; 18.557 trung tâm giáo dục thường xuyên; 4 trường dự bị đại học; 242 cơ sở giáo dục đại học(2); 1.888 cơ sở giáo dục nghề nghiệp(3)...

Về giáo dục mầm non, tỷ lệ huy động trẻ đến trường đạt 70,4%(4), trong đó cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Có 56/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành nghị quyết của hội đồng nhân dân, quy định chi tiết chính sách đối với giáo dục mầm non(5).

Về giáo dục phổ thông, việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” và Nghị quyết số 88/2014/QH13, ngày 28-11-2014, của Quốc hội, “Về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông”, đã tạo chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đáng ghi nhận. Chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành năm 2018, triển khai trên phạm vi cả nước từ năm học 2020 - 2021 theo đúng lộ trình quy định tại Nghị quyết số 51/2017/QH14, ngày 21-11-2017, của Quốc hội, về “Điều chỉnh lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết số 88/2014/QH13, ngày 28-11-2014, của Quốc hội, “Về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông”. Chương trình đã thay đổi từ truyền thụ kiến thức sang định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; xác định rõ 5 phẩm chất và 10 năng lực chủ yếu, cốt lõi cần phát triển đối với học sinh phổ thông; đổi mới đồng bộ về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá. Nội dung các môn học được xây dựng theo hướng giảm tải, tăng cường thực hành, gắn với thực tiễn đời sống. Hệ thống sách giáo khoa, tài liệu giáo dục được tổ chức biên soạn, thẩm định, phê duyệt, in và phát hành cơ bản đúng tiến độ, đáp ứng nhu cầu dạy và học. Chất lượng giáo dục toàn diện tiếp tục được nâng lên. Học sinh phát huy tính chủ động, sáng tạo, giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, kiểm tra, định hướng. Tỷ lệ trẻ em khuyết tật có khả năng học tập được tiếp cận với giáo dục và tham gia học tập ở cấp tiểu học và trung học cơ sở tăng lên.

Đội ngũ nhà giáo được tiếp tục chăm lo, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tính đến hết năm học 2022 - 2023, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn theo Luật Giáo dục (năm 2019) của cấp trung học cơ sở là 90,3%, cấp trung học phổ thông là 99,9%(6). Năng lực sư phạm của phần lớn giáo viên được nâng lên, bước đầu đáp ứng được yêu cầu cơ bản về đổi mới nội dung, phương pháp dạy học.

Hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tiếp tục được quan tâm đầu tư. Năm học 2022 - 2023, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 85%(7). Tỷ lệ trường có thư viện ở cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông lần lượt đạt 92,9%, 88,9% và 86,4%(8). Đã huy động được nhiều tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục tư thục, hỗ trợ kinh phí cải thiện cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị dạy học, biên soạn sách giáo khoa.

Không gian đọc sách, tương tác và sinh hoạt đội tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở Đoàn Kết (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn) _Nguồn: TTXVN

Quy mô và mạng lưới các cơ sở giáo dục thường xuyên phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của người dân. Trong năm học 2022 - 2023, có gần 16,5 triệu lượt người học tham gia các lớp chuyên đề phổ biến cập nhật kiến thức, kỹ năng và các lớp bồi dưỡng thường xuyên khác tại các trung tâm học tập cộng đồng (tăng 2.066.770 lượt người học so với năm học 2021 - 2022 và tăng hơn 2.500.000 lượt người học so với năm học 2020 - 2021); huy động được 17.367 người học các lớp xóa mù chữ giai đoạn 1 (tăng 6.366 người so với năm học 2021 - 2022) và 15.125 người học các lớp xóa mù chữ giai đoạn 2 (tăng 6.268 người so với năm học 2021 - 2022)Đến nay, cả nước có 76,19% đơn vị cấp tỉnh; 93,62% đơn vị cấp huyện và 97,67% đơn vị cấp xã đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Tỷ lệ người trong độ tuổi 15 tuổi - 60 tuổi biết chữ mức độ 1 và mức độ 2 đạt lần lượt là 98,85% và 97,29%(9).

Giáo dục đại học tiếp tục phát triển về quy mô và chất lượng, cơ cấu ngày càng hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Số lượng cơ sở giáo dục đại học tăng dần, năm học 2022 - 2023(10) đã vượt 18 trường so với quy mô được xác định trong quy hoạch theo Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg, ngày 26-6-2013, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020”. Mô hình quản lý đối với các cơ sở giáo dục đại học khá đa dạng(11). Quy mô đào tạo tăng dần trong 10 năm qua, đạt xấp xỉ 2,1 triệu sinh viên đại học và 120 nghìn học viên sau đại học, bảo đảm số lượng và cơ cấu trình độ nhân lực phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011 - 2020. Cơ cấu ngành đào tạo dịch chuyển tích cực, thích ứng nhanh nhu cầu của thị trường lao động; số sinh viên các ngành kỹ thuật và công nghệ tăng đáng kể; nhiều ngành mới được mở đáp ứng yêu cầu phát triển của khoa học, công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cơ sở vật chất của nhiều trường đại học được tăng cường. Một số trường được đầu tư các phòng thí nghiệm hiện đại, đáp ứng tốt nhiệm vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học. Quy mô và chất lượng giảng viên được nâng lên. Gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học có nhiều chuyển biến tích cực. Số lượng công trình công bố trong nước và quốc tế, số sáng chế, tài sản trí tuệ của đội ngũ giảng viên đại học tăng dần qua các năm(12).

Chất lượng giáo dục đại học được nâng lên, từng bước tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế. Đến tháng 7-2023, tỷ lệ ­­­cơ sở giáo dục đại học được kiểm định là 79,4%; tỷ lệ chương trình đào tạo được kiểm định là 13% (trong đó, có 6% được kiểm định quốc tế). Theo kết quả xếp hạng các quốc gia về lĩnh vực giáo dục năm 2021 của Tạp chí U.S News (đơn vị xếp hạng uy tín nhất của Mỹ về khía cạnh học thuật của các trường đại học)(13), Việt Nam xếp thứ 59, tăng 5 bậc so với năm 2020. Một số cơ sở giáo dục đại học Việt Nam tiếp tục được xếp hạng cao và tăng thứ bậc trên các bảng xếp hạng uy tín quốc tế. Chất lượng sinh viên tốt nghiệp từng bước được cải thiện và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động; tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp có việc làm duy trì ở mức cao(14); niềm tin của người học và xã hội vào chất lượng và hiệu quả đào tạo được củng cố(15).

Hệ thống giáo dục nghề nghiệp được hình thành theo hướng mở, liên thông, cơ bản phù hợp với các nước trên thế giới. Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được ban hành, tạo cơ sở để sắp xếp, tinh gọn đầu mối, ưu tiên các nguồn lực đầu tư. Chương trình đào tạo, cơ sở vật chất và trình độ, năng lực đội ngũ nhà giáo từng bước được chuẩn hóa, hiện đại hóa. Nhiều dự án, đề án hợp tác với các tổ chức, đối tác quốc tế được ký kết và triển khai. Hoạt động kết nối cung - cầu lao động được quan tâm. Tỷ lệ người lao động qua đào tạo nghề có bằng cấp, chứng chỉ và tỷ lệ người lao động có việc làm phù hợp với kỹ năng nghề và trình độ đào tạo tăng. Kết quả của giáo dục nghề nghiệp đã góp phần quan trọng hình thành đội ngũ lao động lành nghề, xây dựng giai cấp công nhân, nông dân hiện đại phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Học sinh tham gia hoạt động trải nghiệm, sáng tạo _Nguồn: TTXVN

Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả quan trọng, đáng ghi nhận, việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trên lĩnh vực giáo dục, đào tạo vẫn còn một số hạn chế:

Thứ nhất, thể chế và chính sách phát triển giáo dục, đào tạo chưa được ban hành đồng bộ. Công tác ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện còn bất cập, một số văn bản chưa bảo đảm yêu cầu về tiến độ và chất lượng, có nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu của thực tiễn. Các chiến lược, quy hoạch quan trọng liên quan tới giáo dục, đào tạo thời kỳ 2021 - 2030 chậm được phê duyệt, ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo.

Thứ hai, mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non chưa đồng đều giữa các vùng, miền, khu vực, địa bàn; chưa bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng giữa các đối tượng, nhóm yếu thế. Công tác quy hoạch, đầu tư, xây dựng cơ sở giáo dục mầm non tại nhiều địa phương chưa theo kịp yêu cầu phát triển và nhu cầu của người dân. Công tác quản lý đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất tại các cơ sở giáo dục mầm non, điểm trông giữ trẻ, nhất là khối ngoài công lập còn nhiều hạn chế.

Thứ ba, việc triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 còn nhiều bất cập, thời gian chuẩn bị ngắn, công tác bảo đảm các điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Việc biên soạn, thực nghiệm, thẩm định, cung ứng, phát hành, lựa chọn sách giáo khoa theo chương trình giáo dục phổ thông mới còn nhiều bất cập. Nhận thức, thói quen của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh về phương pháp giáo dục, thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chậm thay đổi, chưa theo kịp yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Việc tổ chức hoạt động giáo dục và các môn học, như mỹ thuật, âm nhạc, chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu, yêu cầu đặt ra. Việc xây dựng các tổ hợp môn học tại cấp trung học phổ thông còn bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu định hướng nghề nghiệp và nhu cầu của học sinh. Kết quả đổi mới phương pháp dạy và học ở nhiều cơ sở giáo dục chưa cao, nhất là ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ và thiếu giáo viên dạy các môn học mới diễn ra phổ biến. Cả nước còn thiếu 62.877 giáo viên phổ thông(16); thừa cục bộ 5.091 giáo viên(17). Cơ cấu đội ngũ giáo viên chưa phù hợp; chất lượng giáo viên không đồng đều. Việc tuyển dụng giáo viên còn gặp khó khăn, vướng mắc, nhất là giáo viên các môn âm nhạc, mỹ thuật đạt chuẩn.

Ngân sách nhà nước chưa bảo đảm được đầy đủ nhu cầu triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; tỷ lệ chi thường xuyên cho giáo dục chủ yếu là chi lương; chi dành cho các hoạt động giáo dục nhìn chung thấp, không đáp ứng được yêu cầu của Chương trình. Hầu hết địa phương, nhất là những nơi chưa cân đối được ngân sách, gặp khó khăn về kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Số phòng học chưa được kiên cố hóa còn lớn, tập trung chủ yếu ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Còn thiếu nhiều phòng học, nhất là ở khu vực đô thị, địa bàn có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất. Tỷ lệ đáp ứng thiết bị dạy học theo chuẩn quy định trên phạm vi cả nước thấp, trung bình chỉ đáp ứng được 54,3%.

Thứ tư, chất lượng giáo dục thường xuyên còn hạn chế, chất lượng “đầu vào” thấp. Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và bất cập về cơ cấu. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu. Tỷ lệ huy động người học xóa mù chữ ở vùng biên giới, vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn còn thấp, kết quả xóa mù chữ chưa bền vững. Công tác điều tra, rà soát số người mù chữ chưa được coi trọng, số liệu chưa được cập nhật thường xuyên và chưa chính xác.

Thứ năm, việc xây dựng, ban hành quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 chậm tiến độ. Số lượng và quy mô các cơ sở giáo dục đại học còn hạn chế, phát triển không đồng đều; nhiều trường quy mô nhỏ, lĩnh vực đào tạo hẹp và hoạt động kém hiệu quả. Quy mô đào tạo và tỷ lệ sinh viên đại học/vạn dân thấp hơn một số nước có điều kiện tương đồng trong khu vực và trên thế giới(18). Quy mô đào tạo sau đại học ở nước ta còn thấp và không tăng trong nhiều năm(19), đặc biệt là đào tạo sau đại học khối ngành tích hợp khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học (STEM) có xu hướng giảm mạnh(20). Một số ngành quan trọng đối với phát triển bền vững của đất nước, như khoa học tự nhiên, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản... gặp khó khăn trong tuyển sinh. Điều kiện hạ tầng của hầu hết cơ sở giáo dục đại học Việt Nam còn ở mức độ thấp so với các cơ sở giáo dục đại học trong khu vực và thế giới. Tỷ lệ sinh viên/giảng viên và tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đều thấp so với chuẩn mực chung của thế giới(21). Trong toàn hệ thống, còn khoảng 40% cơ sở giáo dục đại học có tỷ lệ dưới 20% giảng viên cơ hữu đạt trình độ tiến sĩ trở lên.

Chất lượng giáo dục của các cơ sở đào tạo không đồng đều giữa các khối ngành; chênh lệch rõ rệt giữa nhóm các trường đầu ngành tại các thành phố lớn và các trường ở các tỉnh. Khoảng cách giữa kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng đào tạo trong nhà trường với yêu cầu thực tiễn của nhà tuyển dụng còn khá xa. Nguồn nhân lực được đào tạo chỉ đáp ứng chủ yếu nhu cầu đại trà, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hoạt động của cơ sở giáo dục đại học chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau, dẫn tới khó khăn, vướng mắc trong đổi mới quản trị đại học, nhất là trong thực hiện tự chủ về tài chính và về tổ chức bộ máy, nhân sự. Kinh phí đầu tư cho giáo dục đại học thấp, có xu hướng bị cắt giảm; chưa xác định được chiến lược đầu tư hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm để phát triển các cơ sở giáo dục đại học. Chính sách xã hội hóa giáo dục chưa đạt hiệu quả, chưa thực sự khuyến khích các thành phần xã hội tham gia đầu tư phát triển giáo dục đại học. Hoạt động nghiên cứu của các trường đại học chưa gắn nhiều với thực tiễn, yêu cầu của thị trường, khả năng ứng dụng thấp. Tỷ lệ bài báo, công trình khoa học công bố trên số giảng viên của Việt Nam còn thấp so với trung bình trên thế giới(22).

Thứ sáu, quy mô giáo dục nghề nghiệp còn nhỏ; cơ cấu ngành, nghề, trình độ đào tạo chưa phù hợp; chất lượng, hiệu quả đào tạo chưa cao, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, ngành, nghề mới, kỹ năng tiên tiến. Gắn kết giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Hình thức, phương pháp tổ chức đào tạo chậm đổi mới, chưa đa dạng, linh hoạt để đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường lao động. Công tác đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho người lao động chưa được chú trọng, chưa tạo được cơ hội và khuyến khích người lao động tham gia học tập suốt đời. Việc chuyển giao, nhân rộng các chương trình theo chuẩn quốc tế còn khó khăn, thiếu đồng bộ. Nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp thiếu tích cực, chủ động trong chuyển đổi cơ cấu ngành, nghề, đổi mới chương trình đào tạo. Nguồn lực đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp chưa tương xứng; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, thí nghiệm, thực hành nghề còn nghèo nàn.

Những hạn chế nêu trên chủ yếu là do nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chưa đầy đủ, sâu sắc, toàn diện. Trình độ, năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ, giáo viên còn hạn chế. Vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan tham mưu ở một số địa phương chưa rõ; chưa quyết liệt, kịp thời xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh. Công tác tuyên truyền, quán triệt chưa được chú trọng đúng mức. Công tác dự báo, lập kế hoạch, lộ trình đổi mới chưa sát. Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành trung ương và địa phương chưa chặt chẽ, thường xuyên. Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục, đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Chính sách, chế độ đãi ngộ chưa đáp ứng yêu cầu thu hút, giữ chân đội ngũ giáo viên, giảng viên, nhất là đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Chưa có chính sách đột phá để khuyến khích, thu hút nguồn lực ngoài nhà nước tham gia phát triển giáo dục, đào tạo.

Sinh viên thực hành lập trình điều khiển cánh tay robot tại Trung tâm đào tạo sản xuất thông minh HNIVC-FUNA của Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội phối hợp với đối tác quốc tế thành lập _Nguồn: TTXVN

Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm từ nay đến cuối nhiệm kỳ

Trước yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới, để thực hiện hiệu quả hơn nữa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, từ nay đến cuối nhiệm kỳ cần tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, tiếp tục tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là vấn đề đặc biệt quan trọng, phức tạp, nhạy cảm, có phạm vi tác động lớn. Do đó, để bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự chủ động, sáng tạo của nhân dân và toàn xã hội. Trong thời gian tới, cần tăng cường thực hiện một cách triệt để, sâu rộng và hiệu quả hơn công tác tuyên truyền, quán triệt về mục tiêu, yêu cầu, nội dung đổi mới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đối với đội ngũ lãnh đạo các cấp, cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giáo viên, tạo sự thống nhất, thông suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện; tạo sự tin tưởng, đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, đẩy mạnh tự chủ, bảo đảm vai trò kiến tạo để phát triển giáo dục. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra nội bộ của cơ sở giáo dục gắn với trách nhiệm giải trình. Đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, hội nhập quốc tế, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ của nước ngoài cho giáo dục và đào tạo.

Tổng kết, đánh giá việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Tiếp tục khẳng định và làm rõ vai trò quản lý nhà nước đối với các trường đại học, đặc biệt là vấn đề quản lý chất lượng; phát triển các trung tâm đào tạo, nghiên cứu mũi nhọn; phát triển các lĩnh vực đặc thù, như đầu tư cho khoa học cơ bản, phục vụ lực lượng vũ trang, các ngành đặc biệt, như sư phạm, ngành y, khí tượng...

Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Tiếp tục thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành. Kịp thời hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của cơ sở giáo dục và đào tạo; gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu, triển khai, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ mới; hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm nghiên cứu mạnh. Kịp thời ban hành các văn bản quan trọng, có tính chất định hướng, như Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn đến năm 2030; quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm; quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng về lĩnh vực giáo dục, đào tạo, như phân định rõ công tác quản lý nhà nước và quản trị của các cơ sở giáo dục theo Kết luận số 51-KL/TW, ngày 30-5-2019, của Ban Bí thư, về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày 4-5-2023, của Ban Bí thư, “về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành các nội dung mới trong Luật Giáo dục năm 2019 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018. Sơ kết, đánh giá khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Giáo dục nhằm tháo gỡ vướng mắc liên quan đến cơ chế tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục. Sớm xây dựng và ban hành Luật Nhà giáo để cụ thể hóa chính sách đãi ngộ, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành giáo dục.

Ba là, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần gắn kết chặt chẽ hơn nữa với các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Đối với giáo dục mầm non, cần tập trung thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 29-CT/TW, ngày 5-1-2024, của Bộ Chính trị, “về công tác phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ cho người lớn và đẩy mạnh phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông”, trong đó ưu tiên phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi theo hướng tiếp tục đầu tư phát triển, mở rộng mạng lưới trường mầm non công lập; đồng thời, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em. Cải thiện năng lực giáo viên mầm non, tăng lương và thu nhập cho giáo viên mầm non. Đẩy mạnh xã hội hóa; bổ sung, hoàn thiện các chính sách theo hướng hấp dẫn hơn để thu hút đầu tư phát triển hệ thống trường mầm non ngoài công lập. Quản lý chặt chẽ các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập, nhất là các nhóm trẻ độc lập; hỗ trợ đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng chăm sóc trẻ cho giáo viên dạy tại các nhóm trẻ độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, lớp mầm non độc lập.

Đối với giáo dục phổ thông, tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo Nghị quyết số 686/NQ-UBTVQH15, ngày 18-9-2023, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, “về giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông”. Trong đó, tập trung giải quyết dứt điểm tình trạng thừa, thiếu giáo viên; bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, phương thức thi, kiểm tra, đánh giá. Triển khai hiệu quả Chỉ thị số 08/CT-TTg, ngày 1-5-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “về việc tăng cường triển khai công tác xây dựng văn hóa học đường”. Đây là chủ trương lớn cần được kiên trì tổ chức, triển khai thực hiện.

Đối với giáo dục đại học, cần thực hiện các giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục đại học gắn với tăng quy mô phù hợp, có cơ cấu ngành, nghề hợp lý. Một trong những giải pháp trọng tâm là khắc phục vướng mắc, bất cập trong các quy định về tự chủ đại học, theo hướng đi vào chiều sâu, thực chất gắn với thực hiện trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch thông tin. Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao làm giảng viên đại học. Có chính sách học bổng hợp lý để thu hút sinh viên giỏi vào một số ngành quan trọng, phục vụ phát triển bền vững đất nước. Tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong các trường đại học. Đầu tư, phát triển hệ thống cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, giảng dạy cho một số trường đại học trọng điểm; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp; chú trọng chuyển đổi số....

Đối với giáo dục nghề nghiệp, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp; xác định rõ nhóm ngành, nghề cơ bản cần đào tạo; bảo đảm chất lượng đào tạo nghề, nhất là kỹ năng, kiến thức nền tảng để tham gia thị trường lao động. Đa dạng hóa phương thức đào tạo, phát triển chương trình đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, phân bổ hợp lý về cơ cấu ngành, nghề, trình độ, vùng, miền, đáp ứng chuẩn đầu ra tiệm cận với chuẩn khu vực và thế giới. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động; khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động sau đào tạo. Đẩy mạnh dự báo nhu cầu về đào tạo nghề nghiệp, ưu tiên ngành, nghề công nghệ mới, công nghệ cao.

Bốn là, tăng cường đầu tư, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nâng cao chất lượng, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Tập trung nguồn lực, tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo, bảo đảm “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Có chiến lược đầu tư bài bản, nghiêm túc cho giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp tương xứng với các nước phát triển trên thế giới, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đẩy mạnh thu hút các nguồn lực xã hội, thực hiện lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia để tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học bảo đảm thực hiện tốt Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Nâng cao chất lượng, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp, trong đó có giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số. Tiếp tục triển khai lộ trình nâng chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở theo quy định.

Có chính sách thỏa đáng để thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Ưu tiên đầu tư phát triển một số cơ sở giáo dục đại học, ngành đào tạo mang tầm khu vực, quốc tế; phát triển một số ngành đặc thù, cơ sở giáo dục đại học có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển vùng của đất nước. Xem xét cụ thể hóa cơ chế hỗ trợ đầu tư theo dự án, chương trình, mục tiêu và đặt hàng của Nhà nước trên cơ sở năng lực, uy tín và chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các nhà trường, không phân biệt loại hình sở hữu của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp./.

ST.

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh

Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước.

Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả “bổn cũ soạn lại”.

Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày 9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi.

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh
Khối cờ Đảng, cờ Tổ quốc diễu hành trong Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.
 Ảnh minh họa.

Sau đó vẫn lấy những tin tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho đăng trên trang điện tử “Đối thoại”. 

Lợi dụng vấn đề đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”! 

Lập luận của các bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh, phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.

Về điểm này, xin dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang có nghĩa là trọc)(2). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.

Để có thêm cơ sở lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp, tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp: “Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”(3). Một câu đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!

2. Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?

Điều đáng phê phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.

3. Trong chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có 232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ(4). Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.

Với tư cách là người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.

Cũng xin được nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày 18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).

Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.

Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÁO CHÍ ARGENTINA CA NGỢI NHÀ CÁCH MẠNG VĨ ĐẠI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM!

     Ngày 17/5, báo chí Argentina đã có bài viết ca ngợi cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 134 năm ngày sinh của Người (19/5/1890 – 19/5/2024)!
Theo phóng viên TTXVN tại Buenos Aires, tờ Reporte Asia đăng bài viết khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người đã trở thành biểu tượng của cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân và sự bóc lột của các thế lực phương Tây.
Với tiêu đề “Cuộc đời và di sản của Hồ Chí Minh, lãnh tụ cách mạng Việt Nam”, bài viết nhấn mạnh di sản mà Bác Hồ để lại là một biểu tượng vượt xa giới hạn lịch sử và có ảnh hưởng sâu sắc đến những thay đổi chính trị và xã hội ở Đông Á trong nửa sau thế kỷ XX.
Bài viết ghi lại bối cảnh lịch sử Việt Nam dưới ách độ hộ của thực dân Pháp khi Người ra đời. Thời gian khi chàng trai Nguyễn Sinh Cung đi học ở Huế, tham gia vào các cuộc biểu tình chống chế độ thực dân và khi Người rời Việt Nam để ra đi tìm đường cứu nước, bôn ba khắp năm châu trong suốt 30 năm.
Bài báo điểm lại những thời khắc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành tại châu Âu, đặc biệt là thời gian tại Pháp, Người tham gia tích cực trong các phong trào xã hội chống chủ nghĩa thực dân. Đây là giai đoạn vô cùng quan trọng hình thành tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong các tác phẩm của Hồ Chí Minh viết khi đó, Người luôn thể hiện rõ quyết tâm đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân.
Cùng ngày, tờ Resumen Latinoamericano cũng đăng bài viết nhấn mạnh về thời khắc mang tính quyết định khi Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2/1930. Tờ báo bình luận việc thành lập một đảng chính trị đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và người dân Việt Nam cho thấy Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng và chiến lược gia tài giỏi.
Năm 1941, Hồ Chí Minh trở về Việt Nam cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đội vũ trang Việt Minh, chuẩn bị lực lượng để tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Việt Nam vẫn tiếp tục cho tới ngày 7/5/1954 khi quân đội và nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử trước quân đội Pháp.
Bài báo nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc ký kết Hiệp định Geneve ngày 20/7/1954 về đình chiến, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp, công nhận nền độc lập của ba quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm kiếm đoàn kết dân tộc và tránh xung đột vũ trang. Tuy nhiên sau đó, Mỹ đã làm mọi cách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh với Liên Xô.
Trong bài viết dưới tiêu đề “Hồ Chí Minh, con người mà cả thế giới đều biết đến”, báo điện tử Đài phát thanh quốc gia Argentina viết, trước khi Bác Hồ mất vào tháng 9/1969, Người đã đưa ra lời kêu gọi cuối cùng về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mặc dù chiến tranh kéo dài đến năm 1975 nhưng đối với dân tộc Việt Nam, ông là nhà kiến trúc sư vĩ đại cho nền độc lập, giải phóng và thống nhất đất nước.
Từ ngày Bác Hồ đi xa cho đến khi dân tộc Việt Nam hoàn toàn chiến thắng quân xâm lược, ngày 30/4/1975, trong lòng các chiến sĩ Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng luôn vang câu nói: “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”./.
Yêu nước ST.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

Trước thời kỳ đổi mới, đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nguyên nhân căn bản được Đại hội VI đánh giá là do chúng ta rơi vào tình trạng máy móc, giáo điều. Đại hội VI đã mở ra thời kỳ mới, trên cơ sở trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng đã vận dụng linh hoạt để tiến hành công cuộc đổi mới.

Cuộc bứt phá ra khỏi chủ nghĩa giáo điều đã giúp đất nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, kinh tế đất nước ngày càng đi lên. Sau gần 40 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn, chúng ta lại thấy ở đâu đó xuất hiện căn bệnh giáo điều mới, ảnh hưởng lớn đến phát triển đất nước.

Nhận diện những biểu hiện mới của căn bệnh giáo điều

Giáo điều là những nguyên lý, những quan điểm, nguyên tắc mà con người tiếp thu mù quáng, không cần chứng minh, không có phê phán, không chú ý điều kiện ứng dụng nó. Giáo điều cũng để chỉ tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường, hạ thấp thực tiễn, hoặc áp dụng lý luận mà không tính tới thực tiễn. Có thể phân thành hai dạng: Giáo điều lý luận: Vận dụng lý luận không căn cứ vào điều kiện thực tiễn cụ thể, vận dụng mà không hiểu bản chất của lý luận. Giáo điều kinh nghiệm: Vận dụng kinh nghiệm của ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào thực tiễn một cách máy móc, không tính tới điều kiện thực tiễn cụ thể. Bệnh giáo điều có thể hiểu là tình trạng nhận thức, hành động giáo điều cả về lý luận và thực tiễn kéo dài trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cần phải nhận biết và có cách khắc phục. Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều biểu hiện, song tựu trung lại có thể khái quát trên một số vấn đề sau đây:

Giáo điều hóa nghị quyết: Ở mỗi giai đoạn tính chất nhiệm vụ khác nhau, vì vậy, nghị quyết phải có những chủ trương, giải pháp thực hiện khác nhau. Tuy nhiên hiện nay, trong sinh hoạt lãnh đạo, nhất là sinh hoạt ra nghị quyết, một số cấp ủy, bí thư còn tình trạng nhận thức cho rằng nhiệm vụ cơ quan, đơn vị là “xuân thu nhị kỳ”, quanh năm ngày tháng lặp đi lặp lại không có gì mới. Nên ở không ít tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở, nghị quyết lãnh đạo được xây dựng theo kiểu khuôn mẫu, sao chép nguyên như trước, chỉ thay ngày đổi tháng. Hiện nay, trong một số tổ chức đảng, nhất là cấp chi bộ, việc chuẩn bị dự thảo và ban hành nghị quyết mang tính hình thức, thậm chí để đối phó với việc kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên. Điều đó dẫn tới tình trạng nghị quyết tháng sau, quý sau, năm sau cũng như trước, cùng lắm chỉ bổ sung một vài nội dung gọi là cho khác trước. Biểu hiện mới này không chỉ là giáo điều lý luận, thực tiễn mà còn thể hiện sự thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Ngoại hóa chủ trương: Thời gian qua, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nhiều bộ, ngành, địa phương có tình trạng tổ chức nhiều cuộc đi khảo sát, tham quan học tập kinh nghiệm nước ngoài. Mục đích của chuyến đi rõ ràng được định vị là mang những kiến thức, kinh nghiệm tổ chức quản lý, phát triển kinh tế-xã hội từ các nước, nhất là nước tiên tiến về để ứng dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều cán bộ có chức vụ, tầm ảnh hưởng lớn đi học tập ở nước ngoài về bê nguyên các mô hình từ nước ngoài đặt vào Việt Nam, cho rằng đó là học hỏi, sáng tạo, tiếp thu cái mới. Việc áp dụng mang tính áp đặt này chưa nghĩ đến điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện kết cấu hạ tầng của ta chưa phù hợp, chưa thể hấp thụ được nguyên vẹn kinh nghiệm đó. Hậu quả là gây thất thoát, lãng phí lớn cho các nguồn lực xã hội. Dự án đường dành riêng cho xe buýt nhanh BRT ở Thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình cho bệnh giáo điều mới, học tập kinh nghiệm nước tiên tiến, bê nguyên xi vào Việt Nam. Do không phù hợp với điều kiện hạ tầng giao thông Việt Nam nên dự án trên có nguy cơ cao phải dừng hoạt động, tốn kém rất nhiều nguồn lực đầu tư.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên
Ảnh minh họa 

Sợ sai nên rập khuôn công thức, quy trình cũ trong công việc mới, bất chấp hiệu quả thấp: Tình trạng sợ sai, không dám nghĩ, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên dẫn tới tình trạng cứ làm như người trước, tháng trước, năm trước, quy trình trước, nhiệm kỳ trước mà không dám đột phá nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân. Những cán bộ, đảng viên dạng này chỉ lo giữ mình an toàn trong “chiếc kén nhỏ”, không chịu đổi mới, học hỏi, chỉ gói gọn trong tư duy nhiệm kỳ, tránh va chạm để cuối cùng là "hạ cánh an toàn". Do vậy dẫn tới trong lãnh đạo, chỉ đạo có tình trạng lặp lại “công thức”; “quy trình cũ” trong công việc mới. Từ chỗ "mũ ni che tai", không dám nói ra những điều mình suy nghĩ, trăn trở, dần dần trở nên dửng dưng với những biến động của xã hội, dửng dưng với nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của bản thân.

Thái độ ba phải: Biểu hiện của nó là không thể hiện chính kiến của mình trong sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng. Căn bệnh này tồn tại hai dạng: Dạng thứ nhất, người cán bộ, đảng viên thực chất là có ý tưởng nhưng do ngại va chạm, ngại thể hiện nên mọi thứ đều đồng ý, dẫn đến “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “nhất trí cao”. Đây là biểu hiện xuôi chiều trong lãnh đạo. Hệ lụy của nó là người đảng viên co ro trong "cái kén" của chính mình, nhìn thấy nhiều vấn đề, có ý tưởng đổi mới, có sáng kiến nhưng không dám trình bày, không dám thể hiện. Dạng thứ hai là người lười tư duy, lười suy nghĩ, coi việc lãnh đạo là của cấp ủy, của tập thể tổ chức đảng nên không chủ động trong việc tham gia đóng góp thảo luận xây dựng nghị quyết và những quyết sách khác. Cả hai dạng đều cho một đáp số là không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể vào các quyết sách lãnh đạo.

Những hậu quả khôn lường

Hậu quả lớn nhất chính là nếu căn bệnh này kéo dài sẽ là lực cản gây ra sự trì trệ, kéo lùi sự phát triển. Bởi nghị quyết lãnh đạo không thực sự là sự cụ thể hóa nghị quyết cấp trên, càng không phải là nghị quyết lãnh đạo trong giai đoạn mới, mà chỉ là nghị quyết được bê nguyên xi như trước. Một nghị quyết như vậy là vô hiệu, không thể có chủ trương, giải pháp mang tính sáng tạo, đột phá và hoàn toàn thiếu sức sống, xa rời thực tiễn, không sát với yêu cầu nhiệm vụ. Chính vì vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị, địa phương diễn ra một cách đơn điệu, bình bình, không có sự đột phá, dẫn tới sự trì trệ, thụt lùi, tụt hậu do thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội luôn có sự biến động, thay đổi.

Bệnh giáo điều mới còn là sự cản trở đưa nghị quyết vào cuộc sống. Bởi ngay trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã đánh mất chính vai trò lãnh đạo của mình. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, họ khó nêu cao được trách nhiệm để đưa nghị quyết vào cuộc sống; họ sẽ hành động theo thói quen, được chăng hay chớ. Rõ ràng, một bộ phận cán bộ, đảng viên như vậy, cho dù là ở cấp cơ sở cũng sẽ là lực cản làm giảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Bởi điều mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, cơ quan, tổ chức mong chờ ở họ là sự tâm huyết, cống hiến công sức, trí tuệ, ý tưởng sáng tạo cho sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị, địa phương thì không có.

Việc áp dụng máy móc, giáo điều cả về lý luận và thực tiễn mà không chịu tính toán đến điều kiện kinh tế-xã hội sẽ gây lãng phí nguồn lực lớn của đất nước, của cơ quan, đơn vị, địa phương, gây bức xúc trong dư luận nhân dân, làm giảm sút uy tín lãnh đạo của Đảng, mất uy tín của cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, bệnh giáo điều mới còn là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa độc đoán, chuyên quyền, sự chủ quan, duy ý chí có cơ hội phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là những cái sai, cái tiêu cực trong công tác lãnh đạo không được đấu tranh loại bỏ, cái sai nối tiếp cái sai. Điều này sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường là tập thể mất vai trò lãnh đạo, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng bị coi nhẹ, không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể cho việc đưa ra các quyết sách lãnh đạo, quản lý.

Liều thuốc khắc phục căn bệnh giáo điều mới

Trên cơ sở nhận diện rõ những biểu hiện của bệnh giáo điều mới, cần có các giải pháp để mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng khắc phục hiệu quả những biểu hiện của căn bệnh này. Theo đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục nghiên cứu tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam. Đến nay, điều kiện lịch sử, bối cảnh, thế và lực của đất nước ta đã có sự thay đổi, phát triển hơn nhiều. Chính vì vậy, trên cơ sở lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, Đảng ta cần đẩy mạnh việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ, bổ sung phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Kết quả tổng kết và những bài học kinh nghiệm sẽ là luận cứ để định hướng hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng sát với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Đồng thời làm cơ sở để tổ chức đảng, đảng viên các cấp nghiên cứu quán triệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn hoạt động của bộ, ngành, tỉnh, thành phố, cơ quan, đơn vị mình.

Hai là, hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc thúc đẩy tinh thần "7 dám", nhất là tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm của người cán bộ chủ trì, đứng đầu rất cần có cơ chế để quản lý, định hướng, bảo vệ cán bộ. Cơ chế ấy phải được thể chế hóa thành pháp luật, để vừa thông thoáng, mở ra hành lang đủ rộng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phát huy cao nhất tinh thần "7 dám", nhưng vẫn đúng pháp luật để cán bộ, đảng viên tránh được những vướng mắc, sai phạm.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tính thực tiễn trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phong cách thực tiễn của Người thể hiện sâu sắc nhất ở chỗ không áp dụng máy móc, giáo điều mà luôn đứng trên mảnh đất hiện thực cách mạng Việt Nam, văn hóa, con người Việt Nam để nghiên cứu, bảo vệ, phát triển, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nắm chắc, hiểu sâu chức trách nhiệm vụ, đi sâu đi sát thực tiễn, rèn luyện phương pháp tác phong lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, cụ thể, bảo đảm tính khoa học, hiệu quả.

Bốn là, tạo đột phá trong đào tạo bồi dưỡng gắn với rèn luyện thử thách đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng. Đây được xác định là khâu đột phá bởi người cán bộ bên cạnh được đào tạo cơ bản về kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo còn cần được trải qua thử thách, rèn luyện trong thực tiễn. Thực tiễn công tác càng nhiều, càng dày thì càng giúp cho kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ, đảng viên hiệu quả, sát thực tế, tránh được duy ý chí, giáo điều, máy móc.

Năm là, phát huy dân chủ trong phản biện chính sách, nhất là đối với người đứng đầu ở tất cả các cấp. Cần phát huy dân chủ rộng rãi trong phản biện chính sách, dân chủ phải được thực hiện ngay trong nội bộ tổ chức đảng, nội bộ cơ quan, đơn vị. Đối với người đứng đầu địa phương còn phải làm tốt công tác vận hành hệ thống phản biện xã hội để phản hồi thông tin từ thực tiễn thực thi các quyết sách, chính sách của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, thông qua đó giúp cấp ủy, bí thư, người đứng đầu có cái nhìn toàn diện về hiệu quả thực thi chính sách, kịp thời phát hiện những bất cập để điều chỉnh.

Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề cần được nhận diện và có định hướng khắc phục. Trong đó trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đó là cách thiết thực để bảo vệ, bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, bảo đảm được vai trò, sứ mệnh của Đảng và từng cán bộ, đảng viên trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẾ MẠC HỘI NGHỊ LẦN THỨ CHÍN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIII!

         Sau gần 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành vượt mức toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và bế mạc ngày 18/5. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc, bế mạc Hội nghị!
Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, điều hành phiên bế mạc. Đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị đối với các ý kiến thảo luận của Trung ương tại Hội nghị. Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9.

Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát những kết quả chủ yếu của Hội nghị và nhấn mạnh thêm một số vấn đề để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện.Dự thảo các văn kiện phải thể hiện ý chí, sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong thời kỳ mới
Tổng Bí thư yêu cầu, các Tiểu ban khẩn trương, nghiêm túc tiếp thu ý kiến của Hội nghị, hoàn thiện các Đề cương, bảo đảm sự thống nhất giữa các báo cáo, nhất là về chủ đề, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu tổng quát; trên cơ sở đó sớm bắt tay xây dựng dự thảo các văn kiện theo kế hoạch đã đề ra; trình bày ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, dự thảo các văn kiện phải thực sự xứng tầm trình Đại hội, thể hiện được ý chí và sức mạnh vươn lên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong thời kỳ phát triển mới với khí thế mới, động lực mới, cũng như những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới đan xen, quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Các dự thảo văn kiện phải xác định đúng đắn những chủ trương, định hướng và các quyết sách lớn bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp tiếp tục đẩy mạnh đổi mới toàn diện và đồng bộ, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong 5 năm tới, đến năm 2030 (100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn đến năm 2045 (100 năm thành lập nước).
Tổng Bí thư yêu cầu, quá trình chuẩn bị các văn kiện, phải căn cứ vào kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, tổng kết 40 năm đổi mới, 15 năm thực hiện Điều lệ và Cương lĩnh của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011); đồng thời đánh giá một cách khách quan, khoa học toàn diện các vấn đề, nhất là những vấn đề phức tạp mới phát sinh; phân tích sâu sắc các nguyên nhân; dự báo có cơ sở khoa học tình hình đất nước, khu vực và thế giới. Từ đó, xác định đúng đắn các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu, đặc biệt là các nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược cho nhiệm kỳ tới.
Tổng Bí thư gợi mở nhiều vấn đề cần nghiên cứu trong quá trình dự thảo văn kiện: Phải chăng sau 40 năm đổi mới, chúng ta đã thực sự hình thành được Lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam; trong nhiệm kỳ này, cần tập trung ưu tiên thực hiện thật tốt 12 định hướng phát triển đất nước và 6 nhiệm vụ trọng tâm như trong Đề cương Báo cáo Chính trị đã nêu? Đặc biệt là, nên chăng, trong giai đoạn phát triển mới vẫn cần tiếp tục triển khai thực hiện ba đột phá chiến lược đã được Đại hội XIII đề ra; tuy nhiên cần tập trung vào những nội dung rất then chốt, cụ thể hơn, như: xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá phát triển; đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ, thu hút, bồi dưỡng, phát triển, trọng dụng nhân tài; và xây dựng kết cấu hạ tầng cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, để thực sự tạo ra đột phá phát triển?Tổng Bí thư cũng chỉ rõ, quá trình dự thảo văn kiện, cần đi sâu phân tích, đánh giá việc triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2021-2025, khẳng định những kết quả, thành tựu đã đạt được; chỉ rõ những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; làm rõ những nội dung đổi mới, những nhân tố mới tốt hơn, tích cực hơn của nhiệm kỳ khóa XIII so các nhiệm kỳ trước; đồng thời dự báo khả năng thực hiện Cương lĩnh, mục tiêu Chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chú trọng làm rõ những vấn đề lớn, quan trọng liên quan phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhanh và bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Thảo luận dân chủ, cho ý kiến chỉ đạo việc chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng
Tại Hội nghị, Trung ương đã tập trung thảo luận, phân tích, tạo sự đồng thuận cao những nội dung Bộ Chính trị xin ý kiến, bao gồm: Những nội dung Chỉ thị số 35-CT/TW còn phù hợp; những nội dung cần kế thừa nhưng phải điều chỉnh, bổ sung; những nội dung cụ thể hóa các nghị quyết, quy chế, quy định của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII,...
Tổng Bí thư yêu cầu, đây là công việc hệ trọng, cần sớm được triển khai thực hiện với tinh thần tiếp tục đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; bảo đảm tăng cường đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên. Các cấp ủy đảng cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thảo luận, góp ý vào các dự thảo văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và đại hội đảng bộ cấp trên; đồng thời chuẩn bị thật tốt các báo cáo của cấp ủy cấp mình.Báo cáo của ban chấp hành đảng bộ cần quán triệt định hướng chuẩn bị Văn kiện trình Đại hội XIV; bám sát tình hình thực tế của địa phương, đơn vị; đánh giá đúng tình hình thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ qua; chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; từ đó đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp có tính khả thi cao cho nhiệm kỳ tới và tầm nhìn xa hơn. Việc chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp phải gắn liền việc thực hiện nhiệm vụ thường xuyên, bảo đảm hiệu quả cao. Chú ý phát hiện, giải quyết những vấn đề thực tế đang đặt ra, nhất là những vấn đề gây bức xúc trong nhân dân.
Công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy phải thực hiện theo đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Đảng; rà soát thật kỹ để lựa chọn, giới thiệu và bầu được những đồng chí thật sự xứng đáng, đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; chú ý phát hiện, giới thiệu những nhân tố mới có triển vọng, bảo đảm tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị, sau Hội nghị này, khẩn trương chỉ đạo sớm hoàn chỉnh và ban hành Chỉ thị để định hướng cho toàn Đảng chuẩn bị và tiến hành thành công đại hội các cấp, góp phần cho thành công Đại hội XIV của Đảng. Quyết định một số vấn đề quan trọng về công tác cán bộ
Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương đã dân chủ thảo luận, kỹ lưỡng xem xét và thống nhất cao về phương án kiện toàn chức danh Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội để Đảng đoàn Quốc hội giới thiệu với Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV.
Ban Chấp hành Trung ương đã bầu bổ sung vào Bộ Chính trị với tỷ lệ số phiếu tín nhiệm cao, các đồng chí: Lê Minh Hưng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định để đồng chí Trương Thị Mai thôi giữ các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để nghỉ công tác vì đã có vi phạm về các điều đảng viên không được làm.
Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với các ông: Dương Văn Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang; Mai Tiến Dũng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Lê Thanh Hải, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vì đã vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.Tổng Bí thư yêu cầu, ngay sau Hội nghị này, cần phải nghiêm túc, khẩn trương nghiên cứu, hoàn chỉnh các đề cương và xây dựng dự thảo các văn kiện Đại hội, trình Hội nghị Trung ương 10 xem xét, quyết định để gửi xin ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp; chỉ đạo thật tốt việc thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng; đồng thời, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch đã đề ra cho các năm 2024-2025 với kết quả cao nhất, phấn đấu hoàn thành thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.


Yêu nước ST.

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: ÔNG THÍCH MINH TUỆ GIÃI BÀY VỀ NHỮNG "ỒN ÀO" XUNG QUANH MÌNH: "CON ĐI TU HÀNH, ĐANG TẬP HỌC CHỨ CHƯA CÓ THÀNH TỰU GÌ CẢ, CON CŨNG KHÔNG PHẢI LÀ PHẬT, LÀ THÁNH GÌ CẢ"...

     Ngày 17/5, trên hành trình khất thực từ Bắc vào Nam, ông Thích Minh Tuệ (43 tuổi) dừng chân nghỉ tại một bãi đất trống ở xã Cẩm Thịnh (huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh). Tại đây, đông đảo người dân đi theo, vây quanh ông để nghe trò chuyện!

Rất nhiều người đã đến chắp tay "vái thầy" và cúng dường nước, thức ăn, song ông Thích Minh Tuệ nói: "Con nhận nước đủ để uống. Mọi người có tâm là được, chứ nhận nhiều nước con sẽ không uống hết".

Trước việc có đông đảo người dân đi bộ theo ông, trong đó có Youtuber, Tikoker... chen lấn để quay phim, chụp ảnh, ông Minh Tuệ cho biết "Con đi tu hành, đang tập học chứ chưa có thành tựu gì cả, con cũng không phải là Phật, là thánh gì cả. Những người đi quay phim, Youtuber, Tikoker... con cũng không có quyền đuổi họ, nhưng họ đi trước hay đi sau thì đi thẳng hàng lối, chứ đừng chạy lộn xộn, chen lấn. 

Chia sẻ về bản thân mình, ông cho biết: Năm 2017, ông Minh Tuệ bắt đầu đi bộ tới nhiều tỉnh thành. Khi quyết định bỏ nhà, bỏ công việc ổn định để đi bộ hành, bản thân ông cũng đã suy nghĩ rất kỹ. Sau đó, ông đã xin phép gia đình cho mình đi bộ tu tập theo lời Phật dạy.

Hơn 6 năm qua, ông Minh Tuệ không liên lạc với gia đình bởi bản thân ông tu tập nên không dùng điện thoại. Dẫu vậy, ông cho biết, luôn đặt gia đình trong tim, luôn nhớ tới công ơn của cha mẹ qua lời cầu nguyện.

Hành trình của con là muốn bộ hành trọn đời. Mục đích không nhằm truyền tải điều gì, con chỉ muốn thực hành những lời dạy của đức Phật, nhằm giúp hoàn thiện bản thân. Lúc đi bộ con luôn ước nguyện cho mọi người khi nào cũng được hạnh phúc, sống vui vẻ với gia đình", ông Tuệ nói./.


Theo: Vietnamnet.
Yêu nước ST.

LO NGẠI NGỤY HOÁ ÂM NHẠC NƯỚC NHÀ!

         Phàm trước đây, những ca sĩ hải ngoại thì hát nhạc nguỵ, mặc áo nguỵ để phục vụ cho con dân 3/// là điều dễ hiểu. Nhưng dạo gần đây trên các trang mạng xã hội một số ca sĩ Việt, ăn cơm Việt, sống trong sự thống nhất, hoà bình của biết bao liệt sĩ anh hùng lại nhai lại những bài hát uỷ mị của nguỵ trước đây, khoác trên mình màu áo lính nguỵ, dàn dựng sân khấu bối cảnh hoành tráng ngay tại Việt Nam!

Ca sĩ Lê Minh Trung, Á quân Solo cùng Bolero (2014), Quán quân Ngôi sao phương Nam (2015) ra hẳn tuyển tập những bài nhạc lĩnh hải ngoại được yêu thích với những bài hát, những lần thay đổi trang phục mang đầy màu sắc nguỵ quân, rền rĩ. 

Ca sĩ Lâm Hùng, cũng được biết đến với dòng nhạc trẻ năm 2000, giờ cũng rền rĩ với tấm áo nguỵ trong ca khúc “trên bốn vùng chiến thuật” với những ca từ đầy phẫn uất khi nói về quân giải phóng như “Gio linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá”. 

Như đã nói thì điều đáng nói những ca khúc này đều được dựng ở Việt Nam, ngày ngày được lan toả trên các nền tảng mạng xã hội. So với hội áo lính nguỵ thì những ca sĩ nguỵ này còn nguy hiểm hơn rất nhiều. Bởi họ không chỉ mặc áo lính mà còn đang rền rĩ gọi hồn phục dựng những thây ma của đám lính nguỵ quân trước đây đội mồ sống dậy. Chắc chắn, vài ca sĩ như thế này không có tiền chắc sẽ không hát, không có tiền chắc cũng chẳng bỏ tiền ra làm MV rồi dựng sân khấu hoành tráng đến vậy. Đây là âm mưu, hành động của ai trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng này?




Yêu nước ST.

NGHĨA TRANG CỦA CÁC ANH HÙNG, LIỆT SĨ CHẲNG LÀ GÌ HAY SAO?

         Nghĩa trang liệt sĩ vốn là nơi tâm linh, là nơi thờ cùng những anh hùng có công với cách mạng, Tổ Quốc, là nơi hạn chế tụ tập đông người và luôn được giữ yên tĩnh. Một nơi để chúng ta tỏ lòng thành kính và biết ơn!

Nhưng khi Thích Minh Tuệ đi một nghĩa trang liệt sĩ, đoàn người đi theo Thích Minh Tuệ muốn đưa Thích Minh Tuệ vào đây để nghỉ chân. Nhưng các anh công an, cán bộ chính quyền cơ sở cho biết không nên để Thích Minh Tuệ ở trong đây vì có thể ảnh hưởng đến nghĩa trang liệt sĩ, làm ồn ào nơi mà các anh hùng liệt sĩ đang nằm lại và chia sẻ có thể tìm một nơi khác như nhà văn hóa thôn, xóm để nghỉ ngơi. 

Nhưng đoàn người thì bất tuân, gào rú lên và tỏ thái độ bất mãn vì chính quyền o ép và “chỉ đạo” thầy, rồi diễn ra cự cãi. Nhiều người còn lao vào ôm các anh công an, cán bộ chính quyền cơ sở, gào khóc… Mặc cho bác cán bộ giải thích là nên rằng nghĩa trang liệt sĩ không phải là nơi để nghỉ ngơi, tụ tập đông đúc, quay phim chụp ảnh, nơi đây cũng không có nhà vệ sinh để tiện nghỉ ngơi… mà nên đưa "sư thầy" đến một nơi khác thuận lợi hơn. Thích Minh Tuệ có bày tỏ muốn tiếp tục di chuyển, nhưng đám đông lại cứ “bắt” anh ấy phải nghỉ tại đây. 

Đi theo để làm gì? Khi mà những điều căn bản nhất của đạo đức lại không làm được? Đi theo để làm gì? Khi mà không học được những gì mà Thích Minh Tuệ truyền đạt? Trong mắt họ, chẳng lẽ những anh hùng, liệt sĩ chẳng là gì hay sao?

Và những người làm nhiệm vụ bảo vệ nghĩa trang liệt sĩ, muốn duy trì sự bình yên, trật tự cho các anh hùng liệt sĩ, lại bị chỉ trích, mắng mỏ... 

Trong một chuyến đi từ lâu đến Thanh Hóa, Thích Minh Tuệ có dừng ở một nghĩa trang liệt sĩ và anh ta cũng chỉ xin được nghỉ ở lán trại và nói với người phụ trách nghĩa trang rằng đến nơi đây rất là bình yên và biết ơn, vì anh ta cũng từng ở trong quân ngũ. Nhưng dường như, một số thành phần ngoài kia, chẳng học được điều gì từ anh ấy./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ‘THỐNG NHẤT CAO PHƯƠNG ÁN KIỆN TOÀN CHỦ TỊCH NƯỚC, CHỦ TỊCH QUỐC HỘI’!

     Sau 3 ngày (16 đến 18-5) làm việc khẩn trương, trách nhiệm, Hội nghị Trung ương 9 đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và bế mạc vào sáng 18-5!

Tổng bí thư nhấn mạnh Ban Chấp hành Trung ương đã dân chủ thảo luận, kỹ lưỡng xem xét và thống nhất cao về phương án kiện toàn chức danh Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội để Đảng đoàn Quốc hội giới thiệu với Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV, dự kiến sẽ khai mạc vào ngày 20-5./.


Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: GIẢI MÃ HIỆN TƯỢNG “THÍCH MINH TUỆ”!

     Việc một vị tu sĩ Thích Minh Tuệ tu tập theo lối “Khổ hành tăng” của Phật giáo nhận được sự quan tâm, ủng hộ của nhiều người, tôi nghĩ là hiện tượng đáng phải suy ngẫm. Một vị tu sĩ, không hề nhận bất cứ đồ ăn gì, đi khắp các tỉnh trên đôi chân trần, lại được sự mến mộ bất ngờ của quần chúng!

Vì sao, trong khi chùa to, chùa nhỏ mọc khắp nơi, các nhà sư được học hành đến nơi đến chốn, được phong trụ trì hẳn hoi, nhưng nhiều người chưa nhận được sự quan tâm, ủng hộ đến vậy. Đây là điều mà chính Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chính các nhà sư “chính danh” phải nên suy ngẫm. Liệu trong bối cảnh hiện nay, họ đang thiếu điều gì để có thể nhận được sự mến mộ từ phật tử?

Liệu có phải người dân đã quá chán với những nhà sư chính danh nhưng có lối sống xa hoa, lòng chất chứa Tham Sân Si, những bậc Đại đức khoác cà sa mà Phật pháp chẳng tới nơi tới chốn. Chùa chiền am miếu chẳng phải là nơi tích đức hành thiện, mà là địa điểm để người ta bày đặt Pháp hội trá hình, lừa thu tiền công quả của các Phật tử dưới chiêu bài giải nghiệp giải hạn, “cúng giường”. Người theo tu hành nhưng lại thích dùng đồng hồ Rolex, điện thoại Vertu, thích những thứ phù phiếm hơn là giá trị cốt lõi mà Phật pháp đề cập tới.

Hiện tượng Thích Minh Tuệ phải chăng là lời cảnh tỉnh với chính các nhà sư hãy soi lại mình, đừng biến chiếc áo cà sa, kinh Phật thành công cụ để kiếm tiền. Hãy tu bằng chính cái tâm của mình./.

Yêu nước ST.

Đại tướng Tô Lâm và đồng chí Trần Thanh Mẫn được Trung ương giới thiệu để bầu làm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng việc Trung ương thống nhất rất cao giới thiệu: Đồng chí Tô Lâm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an để Quốc hội khoá XV bầu giữ chức Chủ tịch nước và đồng chí Trần Thanh Mẫn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội để Quốc hội khoá XV bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội.

Theo thông báo của Văn phòng Trung ương Đảng, 10 giờ, thứ Bảy, ngày 18/5/2024, tại Văn phòng Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm việc cùng các đồng chí lãnh đạo chủ chốt.

Tham dự có các đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Sau phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 9 khóa XIII (sáng 18/5/2024), các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đã họp để nghe đánh giá tình hình công việc của đất nước trong thời gian vừa qua và tập trung cho ý kiến chỉ đạo để triển khai công việc trong thời gian tới theo kết luận Hội nghị Trung ương 9 khóa XIII đã đề ra.

Đây là cuộc họp lãnh đạo chủ chốt đầu tiên sau khi Hội nghị Trung ương 9 khóa XIII đã thông qua một số nội dung quan trọng và giới thiệu nhân sự để Quốc hội khóa XV bầu các chức danh Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội.

Đồng chí Tổng Bí thư chúc mừng việc Trung ương thống nhất rất cao giới thiệu: Đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an để Quốc hội khóa XV bầu giữ chức Chủ tịch nước và đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội để Quốc hội khóa XV bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội.

Có thể khẳng định, trong nửa đầu nhiệm kỳ khóa XIII và nửa đầu năm 2024, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã luôn luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, phối hợp chặt chẽ, lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành tốt các nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch đã đề ra; đặc biệt tổ chức thành công nhiều sự kiện chính trị quan trọng; xử lý kịp thời, có hiệu quả các vấn đề đột xuất phát sinh; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn cơ bản được bảo đảm.

Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt nhiều kết quả tích cực.

Phải thật sự đoàn kết, thực sự gương mẫu, toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp chung.

Về một số công việc trọng tâm trong thời gian tới, lãnh đạo chủ chốt nhấn mạnh, bên cạnh những thời cơ và thuận lợi, chúng ta đang và sẽ phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức, vì vậy yêu cầu rất quan trọng là cần phải tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, mà trước hết là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, lãnh đạo chủ chốt, Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải thật sự đoàn kết, thực sự gương mẫu, toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp chung.

Cụ thể là: Cần tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình làm việc năm 2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Khẩn trương tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Trung ương, sớm hoàn chỉnh Đề cương chi tiết, xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng để trình Hội nghị Trung ương 10; khẩn trương ban hành Chỉ thị của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; chỉ đạo quán triệt, cụ thể hóa, triển khai thực hiện ở các cấp ủy, tổ chức đảng bảo đảm chặt chẽ, sát thực.

Thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế gắn với củng cố, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.

Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Triển khai có hiệu quả công tác đối ngoại, tăng cường quan hệ với các nước, các đối tác quan trọng, ưu tiên, thúc đẩy và tổ chức chu đáo các sự kiện đối ngoại trong và ngoài nước, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Làm tốt công tác cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ; tiếp tục làm tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ./.