Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2024

Những nguyên tắc cơ bản về đoàn kết, hợp tác quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị hiện thực

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế có nội dung phong phú, sâu sắc và toàn diện; trong đó, những nguyên tắc cơ bản cùng giá trị hiện thực của nó đã, đang và sẽ tiếp tục là cơ sở, nền tảng để Đảng ta vận dụng, thiết lập các quan hệ quốc tế, tạo tiền đề cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.


Nhân dân Ba Lan nồng nhiệt đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 7/1957.
Ảnh: tư liệu

Những nguyên tắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế

Ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận rõ: một quốc gia, dân tộc muốn có sức mạnh phải thoát ra khỏi tình trạng biệt lập, phải mở cửa, tăng cường hợp tác với bên ngoài; tình trạng bế quan tỏa cảng chỉ làm đất nước suy yếu và đưa đến những hậu quả chính trị nghiêm trọng. Năm 1924, trong thư gửi Pêtơrốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập... không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau... do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”.

Với tư duy nhạy bén, sắc sảo và tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Tư tưởng của Người thể hiện hai nội dung quan trọng: Một là, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Hai là, tinh thần đoàn kết, hợp tác không bị giới hạn bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó.

Thấy được tầm quan trọng của đoàn kết, hợp tác quốc tế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới một cách chặt chẽ, sâu sắc. Trước hết, theo Người, đó phải là tinh thần đoàn kết, hợp tác quốc tế đối với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước trong cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột. Cùng với đó, Người đặc biệt quan tâm tới việc thiết lập quan hệ đối ngoại với các nước tư bản chủ nghĩa để tranh thủ sự giúp đỡ của nhân dân tiến bộ đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới...”.

Từ thực tiễn cách mạng, Người rút ra kết luận quan trọng: “Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, điều đó chứng minh rằng trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”. Như vậy, đoàn kết, hợp tác quốc tế đã thực sự trở thành một nhân tố quan trọng, không thể thiếu, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, để đoàn kết, hợp tác quốc tế đúng phương hướng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả, Người cũng nêu ra những nguyên tắc căn bản.

Thứ nhấtđoàn kết, hợp tác quốc tế phải vì lợi ích dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Hồ Chí Minh yêu cầu xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, “phải tuân thủ theo phương châm “Tổ quốc trên hết” ở mọi nơi và mọi lúc”. Theo Người, phải thực hiện “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đây là một phương pháp cách mạng được Hồ Chí Minh quán triệt trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Người yêu cầu những người cách mạng cần nhận thức đúng và vận dụng nhuần nhuyễn trong thực tiễn. Cái bất biến là độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân; là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cái vạn biến là sự thay đổi của những điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan vận động xoay xung quanh cái bất biến, tác động, ảnh hưởng đến cái bất biến. Chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là một điển hình, mẫu mực về xử lý mối quan hệ giữa tính kiên định về nguyên tắc trong chiến lược và tính linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, cách thức thực hiện; về quan hệ giữa mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt.

Theo đó, trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi “Kính gửi: Đại Anh Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và các nước thành viên khác của Liên hợp quốc”, Người đã nêu rõ những nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của nhân dân Việt Nam là: Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực, dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc, v.v. Trên cơ sở tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới, tạo cơ sở cho việc giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho sự đoàn kết và hội nhập quốc tế sau này.

Thứ haitự lực, tự cường trong đoàn kết, hợp tác quốc tế. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong đấu tranh giải phóng dân tộc thì phải “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đồng thời “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Còn trong đoàn kết, hợp tác quốc tế “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Người nhấn mạnh: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Như vậy, tinh thần cơ bản của nguyên tắc này là, khi thiết lập các quan hệ hợp tác quốc tế thì phải tăng cường thực lực, sức mạnh quốc gia; phải từ sự giúp đỡ của quốc tế để tự mình phát triển toàn diện cả về sức mạnh vật chất, kinh tế đến sức mạnh văn hóa, con người, từ sức mạnh của quá khứ đến sức mạnh của hiện tại và tương lai.

Thứ bađảm bảo nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong đoàn kết, hợp tác quốc tếNgười xác định: “Các đảng dù lớn dù nhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau”. Hồ Chí Minh cho rằng xây dựng một nền hòa bình chân chính trên thế giới, một trật tự thế giới mới, phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền cơ bản của tất cả các dân tộc. Công bằng và bình đẳng phải là nguyên tắc chủ đạo trên thế giới, để đảm bảo cho mỗi dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của mình dựa trên những giá trị văn hóa dân tộc và tôn trọng sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Các quốc gia được bình đẳng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế; và hòa bình thế giới phải được tất cả các dân tộc quyết định, không phụ thuộc vào một nhóm cầm quyền của một thiểu số các nước lớn.

Giá trị hiện thực của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế trong sự nghiệp đổi mới đất nước

Từ năm 1986, trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước với trọng tâm là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đảng ta chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội phải biết tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, tận dụng tối đa sức mạnh của thời đại. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, tích cực tham gia vào các quá trình, các tổ chức quốc tế; phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc đưa ra các sáng kiến hội nhập quốc tế, là thành viên có trách nhiệm với các tổ chức tham gia, nhưng Việt Nam không nóng vội, chủ quan. Là quốc gia ngày càng có vị thế quan trọng trên trường quốc tế, có tiếng nói quan trọng trên các diễn đàn và các tổ chức quốc tế, nhưng Việt Nam không áp đặt quan điểm của mình trong các quan hệ quốc tế, luôn có tinh thần hợp tác, cùng phát triển.

Gần 40 năm đổi mới là một chặng đường để Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu, nhất là việc tham gia các tổ chức quốc tế lớn và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với những đối tác rộng lớn, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA), Hiệp định đối tác toàn diện của ASEAN với các đối tác (RCEP), v.v. Với Hiệp định EVFTA, Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có quan hệ thương mại tư do với Liên minh châu Âu (EU). Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, khẳng định Việt Nam - từ quốc gia đi sau trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhưng đã có quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo sự gắn kết quốc tế mạnh mẽ cả ở cấp độ khu vực và trên toàn thế giới.

Từ một đất nước không có tên trên bản đồ thế giới, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động hàng đầu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế, hiệp định thương mại tự do, chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu. Với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, Việt Nam trở thành địa điểm gặp gỡ, giao lưu văn hóa, kinh tế, đối thoại an ninh chính trị an toàn của hầu hết các nước và các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới.

Là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong các tổ chức uy tín trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam tham gia vào nhiều tổ chức, như: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016 và 2023 - 2025, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại Đảng với 254 chính đảng ở 114 quốc gia.

Những năm gần đây, Việt Nam đảm nhiệm thành công nhiều cương vị quan trọng tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế, khu vực, nhất là vai trò nước chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020, AIPA 41, Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77. Việt Nam cũng tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều lần 2; Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Đặc biệt, ngày 07/6/2020, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2020 - 2021, với số phiếu 192/193. Đây chính là sự khẳng định vị thế, uy tín ngày càng lớn của Việt Nam trên thế giới.

Cùng với các thành tựu về công tác đối ngoại, thế giới đánh giá rất cao lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã có 799 lượt cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại 03 phái bộ và Trụ sở Liên hợp quốc, trong đó có 792 cán bộ quân đội và 7 cán bộ công an. Hoạt động của các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Quân đội nhân dân Việt Nam tại các Phái bộ và các đội tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ đã không chỉ tỏa sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, mà thông qua đó góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn và có trách nhiệm với cộng đồng tới bạn bè quốc tế.

Có thể khẳng định, chưa bao giờ hình ảnh đất nước và con người Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, mến khách, thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế lại nổi bật như hiện nay. Việt Nam trở thành tâm điểm trong những chủ đề về phát triển, tinh thần trách nhiệm, tích cực vì những nỗ lực toàn cầu của tất cả các nước trên thế giới. Việt Nam được đánh giá là “ngôi sao sáng của châu Á”. 

Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Tuy nhiên, cục diện đời sống chính trị thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, mau lẹ, quan hệ quốc tế có những thay đổi mang tính bước ngoặt. Do vậy, việc xác lập những quan điểm chiến lược trong đoàn kết, hội nhập quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong quá trình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” vừa mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa là cơ sở để phát huy cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc và là một trong những đảm bảo quan trọng nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội./.

ST.

Vận dụng quan điểm cán bộ phải “cả gan làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng phẩm chất “dám làm” của người cán bộ, đảng viên hiện nay

“Dám làm” là phẩm chất đặc biệt, được Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh trong chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay. Ngược lại với “dám làm” là sợ trách nhiệm, nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng mà không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, không dám đương đầu với khó khăn, thử thách. Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần nghiên cứu, vận dụng quan điểm cán bộ phải “cả gan làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng và rèn luyện phẩm chất “dám làm” của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm xưởng cơ khí Khu gang thép Thái Nguyên (năm 1964)_Nguồn: hochiminh.vn

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phẩm chất “cả gan làm việc” ở người cán bộ

“Cả gan làm việc” là quan điểm độc đáo, đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dũng khí, bản lĩnh, phương pháp, tác phong làm việc của người cán bộ, là yêu cầu đặc biệt, ở tầm cao về phẩm chất, nhân cách của người cán bộ trong mối quan hệ với công việc. Phẩm chất này giúp người cán bộ có đủ dũng khí, dám vươn lên, vượt qua khó khăn, thử thách, chiến thắng suy nghĩ và hành động cá nhân chủ nghĩa, “có gan” đứng ra đảm nhận, phụ trách công việc, dám dấn thân vì lợi ích chung của tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân… Tựu trung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ “cả gan làm việc” được thể hiện ở một số nội dung sau:

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu thể hiện ở sự sáng suốt trong lựa chọn, sử dụng và bố trí, tin dùng cán bộ, dám giao việc cho cán bộ cấp dưới. Theo Người, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền “phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt”. Khi thấy rõ phẩm chất, năng lực của cán bộ, thì phải tin tưởng và giao việc cho họ, bởi vì: “Nếu không tin cán bộ, sợ họ làm không được, rồi việc gì mình cũng nhúng vào. Kết quả thành chứng bao biện, công việc vẫn không xong. Cán bộ thì vơ vẩn cả ngày, buồn rầu, nản chí”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài; bên cạnh đó, sử dụng cán bộ phải thật sự thận trọng: “Cất nhắc cán bộ không nên làm như giã gạo”. Nghĩa là, trước khi cất nhắc cán bộ không xem xét kỹ về khả năng và trình độ, khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ một cách thích đáng, để khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên. Người nói, một cán bộ bị “nhấc lên”, “thả xuống” ba lần như thế thì “hỏng cả đời”.

Biểu hiện "cả gan làm việc" của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu còn là ở chỗ phải tin tưởng vào cán bộ cấp dưới, tạo điều kiện, cơ hội để khuyến khích họ phát huy năng lực và tinh thần trách nhiệm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ. Khi giao công tác cho cán bộ cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp đặt đầy đủ. Vạch rõ những điểm chính, và những khó khăn có thể xảy ra. Những vấn đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà làm”. Đặc biệt, phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu còn được thể hiện ở tinh thần “dám” bứt phá, đổi mới sáng tạo, bản lĩnh, quyết đoán; mạnh dạn “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, “dám” vứt bỏ những gì của ngày hôm qua đã không hợp thời nữa, thay đổi cách thức công tác. Cán bộ lãnh đạo phải coi trọng và có hình thức khen thưởng kịp thời đối với những cán bộ cấp dưới dám nói, dám đề ra sáng kiến, có gan phụ trách, có gan làm việc; đồng thời, nghiêm khắc phê bình cán bộ có tư tưởng cầm chừng, ỷ lại, sợ trách nhiệm... Khen phải đúng, khen để tạo động lực cho cán bộ phát huy năng lực, tinh thần làm việc, dám nói, dám làm; đồng thời, không được khen quá mức, dễ gây ra sự chủ quan. Người cán bộ lãnh đạo phải “thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”.

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người chỉ huy.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất “cả gan làm việc” của người chỉ huy là sự quyết đoán, sắc sảo, nhạy bén, mưu trí, táo bạo, dũng cảm, có dũng khí, gan góc, gặp việc gì cũng phải có “gan” làm, có “gan” chịu trách nhiệm; có tinh thần dám đánh và biết cách đánh thắng quân thù; mưu lược, biết địch, biết ta, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch; biết tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến thắng quân thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”. Muốn “cả gan làm việc” thì người chỉ huy phải có đầy đủ các phẩm chất Trí - Tín - Dũng - Nhân - Liêm - Trung. Trí là phải có đầu óc sáng suốt để nhìn mọi việc rõ ràng, để suy xét cho đúng. Tín là phải làm cho người ta tin mình. Ví dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn có nghĩa là tự tin vào sức mình, nhưng không phải là tự mãn, tự cao. Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh. Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch đã đầu hàng, ta phải khoan dung. Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, chớ tham danh vọng, tham sống. Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”. Người yêu cầu, người làm công tác tổ chức - cán bộ phải làm tốt khâu phát hiện và lựa chọn, đào tạo cán bộ; không được thiên tư, thiên vị, không phân biệt người trong hay người ngoài Đảng, mà phải lựa chọn được người thật sự có đức, có tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước”. Trong sử dụng cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải có lập trường, bản lĩnh để cán bộ cấp dưới mạnh dạn đưa ra ý kiến, có gan phụ trách, có gan làm việc, đổi mới sáng tạo; người làm công tác cán bộ phải có gan cất nhắc cán bộ và chịu trách nhiệm về đề xuất của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, người làm công tác tổ chức - cán bộ cần phải liêm chính, trong sáng, công tâm trong đánh giá ưu điểm của người cán bộ; đồng thời, sẵn sàng giúp đỡ cán bộ khắc phục hạn chế, yếu kém của họ. Người nhắc nhở: “Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người sửa chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được”. Người phê phán cách dùng người không hợp lý làm cho cán bộ không thể hoàn thành được nhiệm vụ.

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ kiểm tra.

Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ kiểm tra được thể hiện ở việc dũng cảm tự phê bình và phê bình, mạnh dạn, có dũng khí, vì lợi ích chung của tập thể để nói lên hạn chế của tổ chức, cơ quan, cá nhân mà không e ngại, sợ va chạm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ kiểm tra phải “cả gan nói”, tức là mạnh dạn chỉ ra khuyết điểm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương và của cả cấp trên, trên cơ sở khoa học, với tinh thần xây dựng, nhằm mục đích khắc phục, sửa chữa khuyết điểm để làm việc cho tốt hơn. Người cán bộ kiểm tra cần “cả gan” phê bình cấp trên, nhưng phải trên nguyên tắc chân thành, đúng mực. Người cán bộ kiểm tra phải có thái độ dứt khoát trong việc xem xét và “cả gan” xử phạt những cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm với nguyên tắc không có trường hợp ngoại lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”.

Xây dựng phẩm chất “dám làm” của đội ngũ cán bộ hiện nay

Phẩm chất “dám làm” của người cán bộ - sự kế thừa, phát triển quan điểm “cả gan làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Về mặt ngữ nghĩa, “dám làm” không phải là cụm từ mới và xa lạ với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến phẩm chất “dám làm” của các lực lượng khác nhau trong xã hội. Với đội ngũ cán bộ, Người cho rằng, “vì không hiểu biết nên không dám làm”; đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu cán bộ. Với quần chúng nhân dân, Người cho rằng: “Quần chúng dám làm, dám nói, do đó mà thật sự mở rộng dân chủ”. Đối với lực lượng vũ trang nhân dân, Người chỉ rõ nhiệm vụ của người làm tướng là phải: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung; theo đó, phẩm chất “dám làm” được coi như là “Dũng”, có nghĩa là “không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh”. Người nhắc nhở, yêu cầu: “Mỗi người lao động cần có tinh thần dám nghĩ dám làm, vươn lên hàng đầu, thành người lao động tiên tiến”. Như vậy, “dám làm” cũng còn có nghĩa là tự biết mình, biết người, biết bản chất và đòi hỏi của công việc, hiểu biết lòng dân để có thể vượt qua ranh giới của bản thân, vượt qua trạng thái tâm lý cá nhân. Đó là biểu hiện của dũng khí, lòng quả cảm, tinh thần tiên phong, xung kích của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Để đạt được phẩm chất “dám làm” thì cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ để dám đối diện, sẵn sàng làm việc khó, dám đương đầu với khó khăn, thử thách.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “cả gan làm việc” được Đảng, Nhà nước ta quán triệt, kế thừa và phát triển vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng và được hội tụ trong phẩm chất “dám làm” của người cán bộ trong tình hình mới. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Đông Dương đã nêu rõ, sự khôi phục hệ thống của Đảng là kết quả từ công tác có sáng kiến của các đảng bộ và các chiến sĩ hạ cấp. Đến Đại hội IV, Đảng yêu cầu, cán bộ nhà nước phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi, có sáng kiến, có năng lực tổ chức thực tiễn; đồng thời, phải nhiệt tình, tận tụy, hy sinh, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức kỷ luật, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. Tại Đại hội VI của Đảng, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, Đảng đặt ra nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực phù hợp, luôn luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thông suốt và chấp hành nghiêm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, ham học hỏi, năng động, sáng tạo, có kiến thức quản lý kinh tế, xã hội, có tính tổ chức và kỷ luật cao.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Hội nghị Trung ương khóa VIII thống nhất thông qua Nghị quyết số 03-NQ/HNTW, ngày 18-6-1997, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”. Sau hơn 20 năm triển khai thực hiện, đội ngũ cán bộ ở nước ta đã từng bước trưởng thành và phát triển. Ngày 19-5-2018, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Quan điểm của Đảng là: Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Gần đây nhất, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”. Thực chất đây vừa là yêu cầu, vừa là hệ giá trị trong phẩm chất, nhân cách của người cán bộ, có quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở cả suy nghĩ và việc làm, trách nhiệm và nghĩa vụ trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính kiểm tra thi công dự án Nhà ga hành khách T3 Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh_Nguồn: chinhphu.vn

“Cả gan làm việc” khác với làm liều, làm bừa, làm ẩu và thói vô trách nhiệm.

Trong bối cảnh mới hiện nay, chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên được thể hiện qua các mối quan hệ cơ bản, đó là: Với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; đối với công việc; đối với bản thân, gia đình; đối với đồng chí, đồng nghiệp; đối với các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị. Trong đó, “dám làm” là một phẩm chất đặc biệt, là dũng khí của người cán bộ, thể hiện năng lực, bản lĩnh, trình độ, trí tuệ, lòng kiên trì gan góc khi đối diện với công việc, nhất là công việc khó và trong khi làm nhiệm vụ được giao.

Phẩm chất “dám làm”, “cả gan làm việc” của người cán bộ là mạnh dạn, quyết định, quyết đoán thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao trên cơ sở đã nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị, địa phương; hiểu sâu sắc về thực tiễn công việc, môi trường làm việc, phân tích và nắm chắc thuận lợi, khó khăn trong triển khai công việc tại cơ quan, đơn vị, địa phương; hiểu thông suốt về truyền thống, văn hóa, tập tục, hương ước địa phương; luôn đặt lợi ích của tập thể nơi mình công tác lên trên hết, trước hết; chấp nhận dấn thân, không vì lợi ích của cá nhân, người thân, gia đình mình; mạnh dạn bỏ cách nghĩ, cách làm đã cũ, không còn phù hợp. “Dám làm” còn là dám đương đầu trực diện với khó khăn, thử thách; có lúc phải chấp nhận rủi ro trong công việc, để chấn chỉnh tổ chức, cá nhân về tinh thần, thái độ, trách nhiệm; không ngừng đổi mới phương thức quản lý, cách làm, giảm thiểu phiền hà, chặn đứng tham nhũng, lãng phí, tăng cường dân chủ, minh bạch trong công việc; tin vào suy nghĩ, việc làm của mình, tin vào sự chính nghĩa, sức mạnh đoàn kết của mọi người.

“Dám làm”, “cả gan làm việc” còn thể hiện ở thái độ, ý thức, trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác của người cán bộ, “dám” đứng mũi chịu sào, không tranh công, đổ lỗi, dám nhận trách nhiệm về mình và chịu trách nhiệm đến cùng với công việc. Khi đã “dám làm”, thì tận tụy, chủ động, đổi mới sáng tạo, khoa học, trung thực, dân chủ, kỷ cương, phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng, không ngừng học hỏi, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, dám đổi mới sáng tạo, đột phá vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vì lợi ích của nhân dân. Người cán bộ “dám làm”, “cả gan làm việc” luôn xung phong đi đầu, mạnh dạn, táo bạo, quyết đoán, vượt lên mọi rào cản để làm đúng, duy trì đúng, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, đúng thực chất công việc, vì lợi ích chung.

Ở chiều ngược lại, những cán bộ kém về phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, kém rèn luyện, không chịu tu dưỡng đã nhân danh tiêu chí “dám làm” và “cả gan làm việc” để có những suy nghĩ và việc làm tiêu cực. Ở họ, suy nghĩ và việc làm đều mang nặng “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân, chỉ lo vun vén cho người thân, gia đình, cánh hẩu; vì thế mà, có bản chất liều lĩnh, hay “làm liều”, “coi trời bằng vung”, coi thường pháp luật, tự cho mình, “nhóm lợi ích” của mình là một “vùng cấm”, mà không ai và tổ chức nào có quyền động chạm đến. Những đối tượng này luôn làm việc vô nguyên tắc, vô tổ chức kỷ luật, làm theo ý muốn cá nhân, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cứ có lợi ích cho bản thân, gia đình, người thân, phe cánh là làm.

Giải pháp tiếp tục xây dựng phẩm chất “dám làm” ở đội ngũ cán bộ hiện nay

Xây dựng phẩm chất “dám làm”, “cả gan làm việc” ở đội ngũ cán bộ trong bối cảnh hiện nay không phải là việc làm “một sớm, một chiều”, càng không thể đào tạo, tiến hành một cách cấp tốc mà có được. Bởi vì, đó là quá trình đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, khắc phục từng bước yếu kém và khuyết điểm, tư tưởng giáo điều, bảo thủ hoặc cực đoan, duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm để đi đến cái đúng, cái chân lý. Việc làm này cần vượt qua nhiều rào cản, từ phía chủ quan và khách quan; tuy nhiên, chủ quan vẫn là nhân tố chính. Thực tế cho thấy, ở những điều kiện, hoàn cảnh có tính chất bước ngoặt, quyết định sự thành công hay thất bại của công việc, thì vai trò, sự quyết đoán của người cán bộ, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, là rất quan trọng.

Hiện nay, tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đang đặt ra yêu cầu rất cao và luôn đòi hỏi đội ngũ cán bộ không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ năng lực, tinh thần đổi mới sáng tạo, quyết đoán, để giải quyết, tháo gỡ những vấn đề vướng mắc, phát sinh trong thực tiễn công việc ở cơ quan, đơn vị, địa phương. Có rất nhiều khó khăn, rào cản tạo cho người cán bộ tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, không “dám làm” những việc mình nghĩ, chưa dám bứt phá, tiên phong đi đầu, phá bỏ cái cũ, cái lạc hậu, cái đã ăn sâu vào nếp nghĩ của nhiều người. Một trong những rào cản đó là còn thiếu chính sách, pháp luật cụ thể khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo, dám đột phá, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Bên cạnh đó, còn có rào cản thuộc về nhân tố chủ quan từ chính mỗi cán bộ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ ngại học, ngại rèn luyện, ngại va chạm, chậm đổi mới, không dám sáng tạo, luôn duy trì cách nghĩ cũ, cách làm cũ, tôn sùng kinh nghiệm, ẩn mình vào tập thể, dựa vào tập thể, ỷ lại tập thể. Một số cán bộ có tư tưởng “bình quân chủ nghĩa”; thậm chí, có những công việc cơ quan, đơn vị, địa phương giao cho thì không biết làm như thế nào, không biết triển khai từ đâu, không biết tham khảo xin ý kiến như thế nào..., nên không dám nhận, viện mọi lý do để né tránh, đùn đẩy, thoái thác nhiệm vụ.

Để xóa bỏ những rào cản trên và tiếp tục đẩy mạnh xây dựng phẩm chất “dám làm” ở đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, trước hết tự bản thân mỗi cán bộ cần luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, không dao động trước khó khăn, kiên định với mục tiêu lý tưởng, con đường cách mạng của Đảng và dân tộc; có tinh thần cầu tiến bộ, ham học hỏi, không bảo thủ, gia trưởng, luôn lắng nghe ý kiến phê bình, tham mưu, góp ý của quần chúng nhân dân. Tinh thần, thái độ, tác phong làm việc của cán bộ cần thường trực sự đổi mới sáng tạo, quyết đoán, bứt phá; luôn nuôi dưỡng trong mình dũng khí vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Mỗi cán bộ phải có ý thức tích cực tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết, trước hết; nâng cao trình độ, năng lực, phương pháp tác phong công tác gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nói và làm phải thống nhất; đặc biệt, phải vượt qua được trạng thái tâm lý “sợ làm sai”, “sợ bị xử lý trách nhiệm”, “sợ bị gánh hậu quả”, nhất là cán bộ giữ trọng trách ở cơ quan, đơn vị, địa phương.

Cần nghiên cứu, mạnh dạn và đột phá trong việc tạo ra hành lang pháp lý, có chế độ, chính sách đặc biệt để tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho cán bộ “dám làm”, “cả gan làm việc”, đổi mới sáng tạo trong làm việc. Trong điều kiện cho phép, với chức trách, quyền hạn, cần thường xuyên động viên, khuyến khích cán bộ có cách nghĩ, cách làm đổi mới sáng tạo; hỗ trợ nhân lực, vật lực, huy động những điều kiện cần thiết để cán bộ có điều kiện thuận lợi làm việc, đem lại hiệu quả cao, lợi ích cho tập thể, nhân dân.

Cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu, cần thống nhất và tạo sự đồng thuận nhất trí cao trong cơ quan, đơn vị, địa phương về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung(16); từ đó, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng, hết sức phục vụ Đảng, Nhà nước, nhân dân của đội ngũ cán bộ trong bối cảnh mới. Trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, cấp ủy các cấp cần gắn chặt nội dung này với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, kiên quyết chống lại tư tưởng, quan điểm xuyên tạc, hành động sai trái đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc khuyến khích, động viên cán bộ “dám làm”.

Phẩm chất “dám làm” là sự kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ phải “cả gan làm việc” trong điều kiện hiện nay. Đó là một trong những phẩm chất không thể thiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hy sinh vì lợi ích chung, khi được tập hợp, đoàn kết lại trong một tập thể thống nhất chắc chắn sẽ tạo ra sức mạnh, biến thách thức thành cơ hội để đạt tới những mục tiêu tốt đẹp; thể hiện bản chất và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã kiên định lựa chọn./.

ST.

Nguy cơ an ninh mạng không gian vũ trụ và một số đề xuất tham chiếu đối với Việt Nam trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc thời gian tới

Cuộc xung đột Nga - Ukraina hơn hai năm qua đã khiến thế giới thấy rõ các mối đe dọa từ an ninh mạng đối với không gian vũ trụ khi các bên tham chiến tấn công mạng kết cấu hạ tầng vũ trụ quan trọng nhằm vô hiệu hóa hệ thống vệ tinh của nhau, gây ra những hậu quả về chính trị, quân sự, an ninh và dân sự. An ninh mạng không gian vũ trụ không chỉ tạo ra các tầng phức tạp và rủi ro đối với chính trị quốc tế, ổn định toàn cầu, nguy cơ gia tăng xung đột, các hoạt động gián điệp, mà còn tạo ra sự gián đoạn đối với các quốc gia trong bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, bao gồm Việt Nam.

Về an ninh mạng không gian vũ trụ

Trong những năm qua, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã tập trung, đầu tư xây dựng chương trình không gian vũ trụ phục vụ các mục đích kinh tế, chính trị, tình báo, quân sự và khoa học, đồng thời phát triển những biện pháp đối phó chống lại các mối đe dọa trên không gian vũ trụ từ các quốc gia đối thủ. Không gian vũ trụ được đánh giá là “chiến trường mới” trong tương lai, hay còn gọi là “mặt trận thứ năm”, bên cạnh “mặt trận” trên mặt đất, trên biển, trên không và trên không gian mạng. Không gian vũ trụ đang được sử dụng để cung cấp các dịch vụ quan trọng liên kết với không gian mạng, chẳng hạn như kết nối internet băng thông rộng tới một bộ phận nhân loại rộng lớn hơn, bao gồm cả các cộng đồng với tỷ lệ người nghèo cao, chưa có cơ hội được tiếp cận công nghệ số.

Khác với không gian mạng do con người tạo ra, không gian vũ trụ vốn tồn tại tự nhiên. Không gian vũ trụ gắn kết với hoạt động của các quốc gia, con người thông qua các hệ thống vũ trụ, bao gồm mạng lưới vệ tinh, trạm mặt đất, hệ thống máy tính, phần mềm và người dùng cuối. Nói cách khác, hệ thống không gian vũ trụ bao gồm ba phần: 1- Các vệ tinh trên quỹ đạo; 2- Thông tin liên lạc và dữ liệu được gửi đến - gửi đi từ các vệ tinh; 3- Các trạm mặt đất điều khiển vệ tinh hoặc nhận dữ liệu và tín hiệu từ các vệ tinh.

Dự báo trong 10 năm tới, thế giới sẽ có sự thay đổi đáng kể về mức độ phụ thuộc từ hệ thống mạng mặt đất sang phân khúc không gian mạng với việc gần 25.000 vệ tinh phóng vào vũ trụ, hơn 500.000 petabyte dữ liệu được tạo ra cùng 1,2 nghìn tỷ USD doanh thu trong bán lẻ thương mại. Sự phát triển này cho thấy rõ những rủi ro về kinh tế và bảo mật dữ liệu liên quan đến mức độ dễ bị tổn thương ngày càng mở rộng do sự phụ thuộc ngày càng lớn vào kết cấu hạ tầng không gian mạng. Đồng thời cũng cho thấy, không gian mạng, nhất là an ninh không gian mạng, ngày càng liên quan nhiều đến không gian vũ trụ, thể hiện ở ba khía cạnh chính: Thứ nhất, những cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống không gian vũ trụ, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật số phục vụ truyền tải dữ liệu trong không gian vũ trụ, xuất hiện với tần suất nhiều hơn; thứ hai, lĩnh vực không gian mạng và không gian vũ trụ có chung những thách thức liên quan đến vấn đề quản trị quốc tế khi phải đối mặt với khó khăn trong xác định nguồn gốc các cuộc tấn công mạng và thiết lập trách nhiệm giải trình của các quốc gia; thứ ba, luật pháp quốc tế, bao gồm luật nhân đạo quốc tế, đều có thể áp dụng cho cả lĩnh vực không gian vũ trụ và không gian mạng, tuy nhiên hệ thống không gian mạng và không gian vũ trụ của các quốc gia thường được sử dụng nhằm hướng tới cả mục tiêu quân sự và dân sự.

Có thể thấy, sự phát triển, diễn biến khó lường về không gian mạng, đặc biệt là an ninh mạng, đã và đang mang đến những nguy cơ đối với không gian vũ trụ khi mà các vệ tinh và tài sản không gian khác dễ bị tấn công mạng.

Nga phóng tàu vũ trụ Soyuz MS-24 đưa các phi hành gia lên Trạm vũ trụ quốc tế (trong ảnh: Tàu vũ trụ Soyuz MS-2 rời bệ phóng tại sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan, ngày 15-9-2023)_Ảnh: AFP/TTXVN

Các nguy cơ, thách thức từ an ninh mạng không gian vũ trụ

Về chính trị, đối ngoại

Một là, nguy cơ gia tăng căng thẳng địa - chính trị giữa các quốc gia trong không gian vũ trụ. Khi các quốc gia đẩy mạnh cạnh tranh để giành quyền thống trị và ảnh hưởng trong không gian vũ trụ sẽ kéo theo sự gia tăng các hoạt động trong không gian vũ trụ, đồng thời, cũng khiến các hoạt động mạng trong không gian vũ trụ tăng lên. Các quốc gia tích cực theo đuổi những biện pháp nhằm mục đích phá vỡ, làm hư hại hoặc phá hủy bất kỳ thành phần nào trong hệ thống không gian vũ trụ có thể vô tình làm leo thang căng thẳng hiện có giữa các quốc gia, thậm chí tạo ra xung đột trong không gian vũ trụ hoặc ngược lại. Bên cạnh đó, các xung đột lợi ích quốc gia và việc bảo vệ tài sản không gian thiết yếu có thể dẫn đến căng thẳng chính trị, thậm chí là đối đầu. Các quốc gia có nguồn lực tài chính hạn chế nhưng vẫn mong muốn thực hiện phóng vệ tinh riêng, tuy nhiên, do thiếu phương tiện dự phòng hoặc đi thuê nên khi vệ tinh bị chiếm đoạt quyền kiểm soát, vô hiệu hóa, có thể khiến các quốc gia này đối mặt với nhiều rủi ro khó lường, thậm chí là an ninh quốc gia.

Hai là, các nguy cơ về gián điệp mạng dựa trên không gian vũ trụ. Các quốc gia có thể sử dụng kỹ thuật không gian mạng để thu thập thông tin tình báo từ các tài sản không gian vũ trụ, như vệ tinh, hệ thống mặt đất... Các hoạt động gián điệp không gian vũ trụ có thể dẫn đến những cáo buộc vi phạm chủ quyền và vi phạm các thỏa thuận quốc tế, gây căng thẳng trong quan hệ ngoại giao.

Ba là, các cuộc đàm phán và chuẩn mực ngoại giao có nguy cơ thất bại do thiếu những chuẩn mực, quy tắc, quy định quốc tế thiết lập đối với các hoạt động không gian mạng và không gian vũ trụ. Bên cạnh đó, những nỗ lực xây dựng, phát triển các thỏa thuận quốc tế về cách hành xử có trách nhiệm của các quốc gia trong các loại hình không gian mạng vũ trụ chưa đạt được những kết quả như mong muốn, làm gia tăng các hoạt động phát triển, thử nghiệm và triển khai các khả năng ứng phó đối với không gian mạng.

Bốn là, nguy cơ mất kiểm soát của nhà nước đối với các chủ thể phi nhà nước (các tập đoàn công nghệ vũ trụ xuyên quốc gia) khi các chủ thể này có xu hướng hoạt động độc lập, thách thức vai trò quản lý của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế vũ trụ, thậm chí là quốc phòng - an ninh, tạo ra những hệ lụy chưa thể lường hết được đối với chủ quyền không gian mạng, không gian vũ trụ của các quốc gia.

Về quân sự - an ninh

Thứ nhất, nguy cơ dẫn đến đối đầu quân sự ngoài ý muốn giữa các quốc gia khi xuất hiện cuộc tấn công mạng vào tài sản không gian vũ trụ bằng các vệ tinh, trạm mặt đất, kết cấu hạ tầng không gian khác, có thể gây ra hậu quả sâu rộng, ảnh hưởng đến các hoạt động quân sự. Các cuộc tấn công mạng nhằm vào tài sản không gian vũ trụ hoặc tấn công mạng không gian vũ trụ có thể làm nhiễu tín hiệu của hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GPS), vô hiệu hóa việc điều hướng hoặc giả mạo tín hiệu GPS, cung cấp các vị trí sai lệch, làm gián đoạn việc di chuyển, đi lại và dẫn đường của hệ thống vũ khí. Đơn cử như, một ngày trước khi xảy ra cuộc xung đột Nga - Ukraina vào tháng 2-2022, cuộc tấn công mạng được công khai cho là do Nga thực hiện nhằm vào hệ thống vệ tinh Viasat’s KA-SAT của Ukraina đã gây ra sự cố mất liên lạc ở Ukraina, ảnh hưởng không nhỏ đến quân đội, lực lượng tình báo, cảnh sát, người dân Ukraina và toàn khu vực châu Âu. Vụ tấn công thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề an ninh và phòng thủ chiến lược về không gian vũ trụ. Cuộc tấn công này không chỉ được coi là cuộc chiến không gian mạng vũ trụ đầu tiên trên thế giới, mà còn là “chiến trường chính” của các cường quốc toàn cầu trong thế kỷ XXI. Tháng 3-2023, Đô đốc John Aquilino, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ từng phát biểu hàm ý về tương lai của các cuộc chiến trên không gian vũ trụ, rằng: “Chúng tôi đã đi một chặng đường dài trong một thời gian ngắn để có thể tích hợp các miền không gian vũ trụ và mạng không gian”. Còn Giám đốc Cơ quan vũ trụ Nga (Roscosmos) Dmitry Rogozin khẳng định, Nga sẽ coi bất kỳ hành động tấn công tin tặc nào vào hệ thống vệ tinh của Nga là hành động chiến tranh(6). Đây là một trong những biểu hiện về nguy cơ bùng nổ mối quan hệ giữa không gian mạng và không gian vũ trụ, nghĩa là việc phát động một cuộc tấn công mạng vào tài sản không gian vũ trụ có thể gây phản ứng dưới hình thức chiến tranh thông thường.

Thứ hai, các quốc gia coi tài sản không gian là một trong những thành phần quan trọng của an ninh quốc gia. Những cuộc tấn công mạng vào hệ thống mặt đất kiểm soát các sứ mệnh không gian có thể thay đổi quỹ đạo, thay đổi các thông số của sứ mệnh hoặc vô hiệu hóa các thiết bị khoa học. Sự can thiệp này có thể dẫn đến những thất bại về khoa học, kinh tế và an ninh. Do vậy, bất kỳ mối đe dọa nào đối với những tài sản này đều có thể kích hoạt phản ứng phòng thủ của các quốc gia, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự an toàn, ổn định của khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, tấn công mạng nhằm vào hệ thống vệ tinh vũ trụ sẽ dẫn đến nguy cơ mất kiểm soát của thế giới về răn đe hạt nhân, hiểm họa hạt nhân trong nhiều năm qua. Bên cạnh đó là nguy cơ tấn công mạng vào hệ thống cảnh báo sớm phát hiện các vụ phóng tên lửa hoặc các mối đe dọa khác dựa vào hệ thống cảm biến trên không gian vũ trụ. Việc thao túng hoặc phá vỡ các hệ thống này có thể làm suy yếu sự ổn định chiến lược và dẫn đến những tính toán sai lầm quân sự giữa các quốc gia. Ngoài ra, các cuộc xâm nhập mạng chiếm đoạt quyền kiểm soát, vô hiệu hóa các vệ tinh gây ra những thiệt hại khó lường. Năm 1998, khi tin tặc chiếm đoạt vệ tinh thiên văn ROSAT của Đức và điều hướng các tấm pin mặt trời của vệ tinh này về phía Mặt trời gây ra hiện tượng pin được sạc quá tải, dẫn đến vệ tinh bị phá hủy. Các vệ tinh bị phá hủy tiếp tục gây ra rủi ro về an toàn cho các vật thể và các nhà vận hành khác trên quỹ đạo.

Về kinh tế, tài chính, phát triển

Một là, nguy cơ từ các cuộc tấn công không gian mạng vũ trụ có thể “làm mù” các vệ tinh viễn thám cung cấp hình ảnh trạng thái và các dữ liệu khác được thu thập bởi những hệ thống cảm biến khác nhau. Nó có thể phá vỡ hệ thống ngân hàng và thanh toán quốc tế, quốc gia, bao gồm cả việc sử dụng thẻ tín dụng và các máy ngân hàng tự động vốn dựa vào thời gian chính xác trên vệ tinh.

Hai là, các nguy cơ về an ninh mạng không gian vũ trụ làm gia tăng các thách thức về vấn đề tạo được sự đồng thuận chung trong việc coi công nghiệp vũ trụ là một động lực cho phát triển bền vững và chia sẻ, áp dụng các công cụ vũ trụ đối với việc cải thiện khả năng tiếp cận dữ liệu và ứng dụng dựa trên không gian, kết cấu hạ tầng không gian, phục vụ triển khai thực hiện các chương trình nghị sự toàn cầu, Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ đến năm 2030 (MDG - 30).

Ba là, thách thức về việc bảo đảm sự minh bạch, công bằng, có tính đến nhu cầu cụ thể của các nước đang phát triển trong khai thác, sử dụng khoảng không gian vũ trụ phục vụ mục đích hòa bình và phát triển bền vững.

Bốn là, thách thức về việc chưa có các chuẩn mực phù hợp với thực tế phát triển trong không gian vũ trụ. Đây là vấn đề không chỉ một quốc gia đơn lẻ có thể tự giải quyết, mà cần có sự chung tay của cả thế giới để kịp thời xử lý, đưa ra các khuôn khổ, “luật chơi” chung để các nước tuân thủ và vận hành, loại bỏ những nguy cơ, đe dọa đối với hòa bình và an ninh thế giới, cũng như hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Về quản lý, quản trị không gian vũ trụ

Thứ nhất, cơ chế không gian vũ trụ quốc tế vốn được thành lập từ thời kỳ Chiến tranh lạnh đến nay không thể thích ứng với sự phát triển của công nghệ vũ trụ và sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân, nhất là việc quản lý an ninh mạng và an ninh không gian, khi mà các chủ thể tham gia không gian vũ trụ không chỉ là các quốc gia, nhà nước như trước đây(8).

Thứ hai, rác thải vũ trụ, nhất là những mảnh vỡ từ các vệ tinh bị phá hủy hoặc hư hại hoặc bị tấn công an ninh mạng trong vũ trụ đang là mối quan ngại ngày càng tăng của các quốc gia trên thế giới(9). Nếu rác thải xuất hiện ngày càng nhiều sẽ cản trở quỹ đạo bay của các vệ tinh đang hoạt động và những tên lửa được phóng lên từ Trái đất, khi di chuyển trong vũ trụ dễ va chạm, gây hư hại, thiệt hại đối với các vệ tinh quân sự và dân sự.

Thứ ba, khó có thể phân loại một cách rõ ràng giữa các hoạt động quân sự và dân sự hay phân biệt các ý định giữa phòng thủ và hiếu chiến trong không gian mạng vũ trụ. Các cuộc tấn công mạng sử dụng vũ khí trong không gian vũ trụ với những mục đích xấu có thể làm gián đoạn, hư hỏng, phá hủy hoặc vô hiệu hóa các phương tiện, vật thể lưỡng dụng trong quân sự và dân sự (y tế, giao thông, vận tải, năng lượng và thương mại); gây gián đoạn các hoạt động nhân đạo khẩn cấp, cảnh báo sớm vốn được sử dụng để giảm thiểu những nguy cơ thiên tai và xung đột. Từ đó, làm gia tăng những mối nguy cơ, đe dọa trên theo cấp số nhân.

Việt Nam với vấn đề an ninh mạng không gian vũ trụ

Có thể thấy, an ninh mạng không gian vũ trụ là vấn đề mới trên thế giới, hiện đang được quốc tế cũng như nhiều quốc gia, chủ thể lợi ích nghiên cứu, tìm hiểu. Đối với Việt Nam, mặc dù chưa có văn bản nào thể hiện quan điểm, lập trường hay nghiên cứu về vấn đề này, nhưng ngay từ sớm, Đảng ta đã đề ra những chủ trương thúc đẩy việc giải quyết các tác động của an ninh mạng, công nghệ vũ trụ, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc nói chung, hệ thống quốc phòng - an ninh của đất nước nói riêng.

Về an ninh mạng, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia đầu tiên quan tâm đến vấn đề an ninh mạng và những mối nguy cơ, đe dọa từ an ninh mạng. Điều này được thể hiện xuyên suốt trong các Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng, đó là: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”. Những quan điểm, nội hàm về an ninh mạng của Việt Nam đều được thể hiện ở các cấp độ cao nhất tại các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương, nhất là Liên hợp quốc.

Đối với vấn đề không gian vũ trụ, trong nhiều năm qua, tại các diễn đàn đa phương khu vực, quốc tế, Việt Nam luôn nhấn mạnh việc tham gia khoảng không vũ trụ là quyền bất khả xâm phạm của tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt trình độ phát triển; thể hiện ủng hộ các nỗ lực quốc tế nhằm thúc đẩy việc sử dụng hòa bình khoảng không vũ trụ, kêu gọi các quốc gia kiềm chế không để xảy ra chạy đua vũ trang trong vũ trụ, đồng thời chia sẻ mong muốn tăng cường trao đổi, hợp tác với cộng đồng quốc tế về khoa học - công nghệ vũ trụ, bảo đảm an ninh, an toàn không gian vũ trụ, nhằm phục vụ phát triển bền vững cho tất cả mọi người dân trên thế giới. Đồng thời, Việt Nam luôn nhấn mạnh các hoạt động thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ phải phục vụ mục đích hòa bình và lợi ích của toàn thể nhân loại, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Theo đó, Việt Nam đã ký kết các hiệp định, bản ghi nhớ về nghiên cứu, hợp tác, sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vào mục đích hòa bình với Nga (năm 2012), Ấn Độ (năm 2016), Mỹ (năm 2019). Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã ký kết nghị định thư, thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn Airbus Defense & Space ASA (năm 2018), Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA, năm 2011), Cơ quan vũ trụ thuộc Bộ Khoa học Công nghệ Israel (năm 2017). Hằng năm, Việt Nam đều cử các đoàn cán bộ chủ động, tích cực tham dự, đóng góp nội dung chương trình nghị sự của các cuộc họp của Ủy ban sử dụng hòa bình không gian vũ trụ (COPUOS) tại Thủ đô Viên (Áo). Trong khuôn khổ Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), Việt Nam chủ động tham gia các phiên họp, đóng góp ý kiến cho các nghị quyết, khuyến nghị, mục tiêu chiến lược,... trong các chương trình của ITU, nhằm bảo đảm quyền lợi của các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam; tích cực tham gia các hoạt động về quản lý, vận hành vệ tinh... Ở trong nước, bên cạnh việc triển khai các dự án quan trọng, như xây dựng Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, các dự án vệ tinh viễn thám VNREDSAT-1, VINASAT-1, VINASAT-2, xây dựng trạm thu, trung tâm xử lý ảnh vệ tinh, hệ thống giám sát tài nguyên thiên nhiên, trạm xử lý hình học viễn thám và trung tâm xử lý dữ liệu nhằm phục vụ cho các ngành kinh tế quốc dân và nghiên cứu khoa học; Việt Nam đã và đang xây dựng, ban hành các văn bản quan trọng về công nghệ vũ trụ phục vụ các lợi ích quốc phòng - an ninh và phát triển nhanh, bền vững.

Vệ tinh MicroDragon - vệ tinh đầu tiên do các chuyên gia, kỹ sư Việt Nam thiết kế, chế tạo đã phóng lên quỹ đạo bằng tên lửa đẩy Epsilon tại Trung tâm vũ trụ Uchinoura (Nhật Bản)_Nguồn: tuoitre.vn

Tuy nhiên, do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, Việt Nam vẫn còn có những hạn chế trong lĩnh vực không gian vũ trụ. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh như vũ bão, đặc biệt là công nghệ vũ trụ, tạo ra không ít cơ hội về kinh tế và phát triển, nhưng cũng mang đến nhiều rủi ro, thách thức, nguy cơ khó lường về chính trị, đối ngoại và an ninh đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đơn cử như, an ninh mạng không gian mạng vũ trụ là vấn đề phát sinh rất mới với những nguy cơ đã và đang khiến cộng đồng quốc tế nói chung và các quốc gia đang phát triển như Việt Nam nói riêng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm hướng tiếp cận, giải quyết và bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia trong không gian mạng và không gian vũ trụ. Do đó, để nhận diện, giải quyết các nguy cơ đến từ vấn đề an ninh mạng không gian vũ trụ, từ đó tổng kết thành các phương thức đóng góp vào lý luận bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, xin đề xuất một số hàm ý tham chiếu đối với Việt Nam như sau:

Về chủ trương chung, cân nhắc việc sớm coi vấn đề an ninh mạng không gian vũ trụ là một trong những nội dung quan tâm hàng đầu về quốc phòng - an ninh mà Việt Nam cần triển khai nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vị thế, ảnh hưởng của đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Ở cấp độ toàn cầuMột là, cân nhắc tham gia tích cực các sáng kiến xây dựng cơ chế toàn cầu về quản trị không gian mạng, không gian vũ trụ, trong đó tập trung vào việc xây dựng nhận thức chung về chuẩn mực, luật lệ và ứng xử trong không gian mạng và không gian vũ trụ, cũng như các quy định trách nhiệm khi vi phạm những chuẩn mực, luật lệ có tính ràng buộc đã được đề ra. Bên cạnh đó, tham gia, thực thi các điều ước quốc tế của Liên hợp quốc về khoảng không vũ trụ nhằm bảo vệ chủ quyền, bảo đảm an ninh và các lợi ích quốc gia - dân tộc về quốc phòng - an ninh; nghiên cứu, chủ động tham gia xây dựng, cập nhật văn kiện quốc tế tại các cơ chế hợp tác đa phương quốc tế của Liên hợp quốc về kiểm soát vũ khí mạng, không gian vũ trụ, các giải pháp công bằng và minh bạch cho vấn đề quỹ đạo không gian, tài nguyên tần số, trong đó nhấn mạnh cần xem xét đầy đủ sự quan tâm của các quốc gia đang phát triển; ủng hộ việc cấm các hoạt động phi pháp xâm nhập mạng đối với các tài sản không gian vũ trụ và việc triển khai bất kỳ loại vũ khí nào trong không gian, cũng như sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong không gian vũ trụ; nêu các quan ngại, hệ lụy an ninh từ vấn đề rác thải vũ trụ. Hai là, thúc đẩy hợp tác quốc tế giữa các quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực vũ trụ cùng an ninh mạng có chung lợi ích và giá trị chung để tăng cường sự phát triển các khuôn khổ hợp tác trong một số lĩnh vực chính, như phát triển năng lực và công nghệ, duy trì hoạt động và nâng cao năng lực an ninh tập thể. Ba là, theo dõi, nghiên cứu, đánh giá tác động của cuộc xung đột Nga - Ukraina (hay còn được gọi là cuộc chiến không gian mạng vũ trụ đầu tiên) và những căng thẳng địa - chính trị toàn cầu khác đối với cục diện thế giới, nhất là quan hệ giữa Mỹ, phương Tây và Nga, Trung Quốc trong thời gian tới, qua đó, có sự chuẩn bị trước, cũng như tranh thủ nắm bắt thời cơ, chủ động tham gia, đóng góp vào quá trình thảo luận xây dựng các cam kết chính trị toàn cầu về sử dụng hòa bình và bảo đảm bền vững khoảng không vũ trụ gắn liền với an ninh mạng. Bốn là, chủ động tham gia, đóng góp và tranh thủ các cơ hội từ việc thực hiện Chương trình vũ trụ đến năm 2030 (Space 30) của Liên hợp quốc, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết tham gia hợp tác của tất cả các chủ thể liên quan trên thế giới; tham gia đóng góp, thảo luận tại Liên hợp quốc về triển khai 7 ưu tiên trong chương trình đối tác toàn cầu nhằm cung cấp các hỗ trợ, lợi ích thu được từ không gian vũ trụ cho các quốc gia để hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững(13)Năm là, nghiên cứu, đề xuất các đóng góp của Việt Nam đối với những nội dung cập nhật cơ chế quốc tế về quản trị, quản lý không gian vũ trụ và an ninh mạng không gian vũ trụ, trong đó nhấn mạnh biện pháp xây dựng lòng tin trong các loại hình không gian, phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam và các nguyên tắc bảo đảm không gian vũ trụ là tài sản chung của nhân loại và là một miền hòa bình.

Ở cấp độ khu vựcThứ nhất, trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), nghiên cứu thúc đẩy xây dựng lập trường, quy tắc của ASEAN về quản trị an ninh mạng không gian vũ trụ, cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin về rủi ro mạng đối với các thông tin viễn thám phục vụ các hoạt động nhân đạo, cảnh báo sớm sự xuống cấp của môi trường... Thứ hai, chủ động tham gia đóng góp vào quá trình xây dựng các quy định ràng buộc hoặc không ràng buộc đối với các chủ thể tham gia trong khai thác và sử dụng không gian vũ trụ và không gian mạng trên cơ sở các khuôn khổ hợp tác (hỗn hợp) hiện có. Thứ ba, tham gia thúc đẩy nội dung hợp tác quốc tế, xây dựng lòng tin, minh bạch, giải quyết các nguy cơ an ninh mạng không gian vũ trụ với cách tiếp cận toàn diện và cân bằng tại các cơ chế về vũ trụ trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).

Ở cấp độ quốc giaMột là, cân nhắc nghiên cứu, rà soát, bổ sung nội dung về an ninh mạng không gian vũ trụ vào các chiến lược về quốc phòng - an ninh, an ninh mạng, không gian mạng quốc gia của Việt Nam; sớm xây dựng văn bản pháp luật khung về nội dung an ninh mạng không gian vũ trụ phục vụ việc quản lý, phát triển nhanh, bền vững, trong đó có nội dung về bảo vệ, quản lý tài sản vũ trụ thiết yếu phục vụ hoạt động của ngành tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, làm rõ nội hàm, đặc điểm, tác động của vấn đề này đối với lợi ích an ninh, phát triển và vị thế của Việt Nam, qua đó đề xuất phương thức triển khai bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới phù hợp với thực tiễn của từng thời điểm(14)Hai là, từng bước xây dựng, phát triển, nâng cấp “đơn vị đặc biệt” (nếu có) về an ninh mạng và không gian vũ trụ trong triển khai bảo vệ Tổ quốc và các lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới. Ba là, thúc đẩy hợp tác quốc tế song phương về an ninh mạng không gian vũ trụ, trong đó chú trọng vào mạng lưới quan hệ đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam, trên một số phương diện, như: 1- Nỗ lực ngăn ngừa và chống những nguy cơ chung về an ninh mạng, chia sẻ thông tin về các hoạt động mạng nguy hiểm hoặc các mối đe dọa không gian mạng và tham gia phối hợp diễn tập, hiệp đồng tác chiến giải quyết các nguy cơ, đe đọa an ninh mạng không gian vũ trụ; 2- Hợp tác, hành động và ứng phó tập thể đối với các biến cố, tấn công an ninh mạng vào không gian vũ trụ, góp phần giải quyết các sự cố và ngăn chặn những hoạt động gây hại trên không gian vũ trụ một cách hiệu quả; 3- Chia sẻ chính sách và xây dựng đồng thuận chung đối với sự ổn định không gian mạng và không gian vũ trụ nhằm thiết lập các quy chuẩn, quy định quốc tế và biện pháp trừng phạt đối với những hành vi đe dọa trên không gian mạng. Bốn là, nghiên cứu xây dựng hệ sinh thái vũ trụ Việt Nam, trong đó tập trung nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, người dân về tiềm năng phát triển sản xuất, kinh doanh, khởi nghiệp theo hướng đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực khoa học - công nghệ vũ trụ đi kèm với bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Năm là, cân nhắc nghiên cứu xây dựng cơ chế liên ngành về vấn đề này, trong đó cần có sự tham gia của các ngành khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, thông tin - truyền thông..., đồng thời tính đến sự tham gia hợp tác của các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân về công nghệ; xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về không gian vũ trụ trên cơ sở phát huy các nguồn lực hiện có, có thể tính đến xã hội hóa.

Ở cấp độ doanh nghiệpThứ nhất, an ninh mạng không gian vũ trụ đang nổi lên như một thị trường sinh lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi sự phụ thuộc của con người vào vệ tinh để liên lạc, điều hướng và truyền tải dữ liệu ngày càng tăng sẽ dẫn tới tăng nhu cầu về các biện pháp an ninh mạng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tranh thủ nắm bắt cơ hội này đầu tư nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ tiên tiến, đổi mới sáng tạo đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của ngành an ninh mạng không gian vũ trụ. Thứ hai, an ninh mạng không gian vũ trụ có thể dẫn đến việc hình thành liên minh chiến lược với các chủ thể lợi ích khác trong lĩnh vực này, chẳng hạn như nhà sản xuất vệ tinh, nhà cung cấp dịch vụ phóng vệ tinh, nhà khai thác vệ tinh..., có thể giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng phạm vi tiếp cận, cũng như củng cố vị thế trên thị trường khu vực và thế giới. Những mối quan hệ hợp tác này cũng có thể mang đến nhiều dự án hợp tác chung, góp phần tăng cường lòng tin trong hợp tác phát triển khoa học - công nghệ vũ trụ.

Tóm lại, an ninh mạng không gian vũ trụ là một vấn đề rất mới, mang đến những cơ hội, thách thức, thậm chí là hậu quả khó lường đối với chủ thể nhà nước và phi nhà nước trong quan hệ quốc tế. Để có thể tránh rủi ro, cũng như quản lý, quản trị tốt các nguy cơ từ vấn đề này, khai thác tối đa các tiềm năng từ các công nghệ đột phá mang tính biến đổi trong không gian mạng và không gian vũ trụ, cần có sự nỗ lực ở cấp chính sách quốc gia và quản trị toàn cầu. Đáng chú ý, cần có sự thiện chí, hợp tác trong việc xác định những nguyên tắc ứng xử có trách nhiệm trong không gian mạng và không gian vũ trụ để mang lại sự đồng thuận đa phương một cách rộng rãi. Các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cần kịp thời xây dựng, ban hành các chính sách quốc gia để bảo vệ chống lại các mối đe dọa đối với tài sản và ứng dụng trên không gian vũ trụ ngày càng quan trọng đối với cả an ninh quốc gia và an ninh kinh tế. Bên cạnh đó, việc khuyến khích sự phát triển của ngành an ninh mạng vũ trụ, ngoài mục tiêu bảo vệ, chống các mối đe dọa đến từ an ninh mạng không gian vũ trụ, cũng sẽ mang lại các lợi ích căn bản đối với Việt Nam, khi lĩnh vực này đang có tiềm năng trở thành động lực đáng kể cho tăng trưởng./.

ST.

THÓI XU NỊNH- CẦN LOẠI TỪ CƠ SỞ!

"Xu nịnh, được hiểu là cách để lấy lòng nhằm cầu lợi, là hành vi có tính toán của những kẻ ưa dùng xảo ngôn để tâng bốc người có quyền lực, những mong được hưởng lợi, cất nhắc. Nó là căn bệnh của xã hội, thời đại nào cũng có, được xem là mối nguy, gây hệ lụy khôn lường. Câu chuyện nhà giáo Chu Văn An cách đây 7 thế kỷ, vì phẫn nộ khi thấy chính sự bê bối, đã viết Thất trảm sớ, đòi chém 7 kẻ nịnh thần là một bài học sâu sắc từ lịch sử. Ngày nay, không khó để nhận diện thói xu nịnh. Ví dụ điển hình như tại một số hội nghị, sau khi phát biểu ý kiến chỉ đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị thường sẽ có những câu hỏi cấp dưới, đại loại như “tôi kết luận như thế có được không” và thường nhận được câu trả lời “sếp nói quá chuẩn” hoặc “sếp kết luận quá đúng”… Việc người đứng đầu đặt câu hỏi cho cấp dưới có thể hiểu là nhằm nắm bắt dư luận, đánh giá của cấp dưới về kết luận, chỉ đạo của mình. Vấn đề cần nói ở đây, chính là câu trả lời của người được hỏi, thay vì đưa ra lời nhận xét, đóng góp chân thật lại lấy lòng cấp trên bằng những lời “lọt tai”. Xu nịnh trong ví dụ nêu trên được xem là ở mức độ nhẹ. Còn ở mức nặng hơn là hành vi mang tính hệ thống của kẻ xu nịnh, luôn nói lời không trung thực. Đương nhiên, nếu những kẻ xu nịnh nắm quyền lực sẽ chỉ lựa chọn, sử dụng những kẻ xu nịnh khác và như vậy, rất dễ làm cho bộ máy bị ảnh hưởng. Thực tế cho thấy, có không ít người thích nghe lời khen, xu nịnh của cấp dưới. Đến một ngày nào đó, chính lãnh đạo ưa nịnh sẽ "há miệng mắc quai" khi "ngập sâu" với kẻ xu nịnh, đành "đâm lao phải theo lao", chịu sự điều khiển, lèo lái của kẻ xu nịnh. Thói xu nịnh nguy hại khôn lường vì nó dẫn tới sự mất tỉnh táo, từ đó đưa ra những lựa chọn sai, quyết định không đúng. Kẻ xu nịnh và kẻ ưa nịnh đều tự hủy hoại nhân cách của mình, làm hại người tốt, thậm chí đây là một trong những căn nguyên gây ra tệ tham nhũng, tiêu cực... (Trích Báo Hà Nội mới, số ra ngày 06/5/2024)

Già hóa dân số trên thế giới hiện nay - Một số gợi mở, hàm ý chính sách cho Việt Nam

Già hóa dân số là vấn đề mang tính toàn cầu, đã và đang trở thành thách thức nan giải, có tác động mạnh mẽ đến tình hình ổn định, phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó, việc nhận diện, nghiên cứu nguyên nhân, tác động, đồng thời tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm từ những nước đi trước nhằm xây dựng kế hoạch, giải pháp phù hợp, toàn diện để đối phó với nguy cơ già hóa dân số là nhiệm vụ cấp thiết, nhất là đối với những đất nước đang phát triển hiện nay, trong đó có Việt Nam.

Một số vấn đề về thực trạng già hóa dân số trên thế giới

Già hóa dân số là một trong những xu hướng nổi bật, đáng quan tâm của thế kỷ XXI, thể hiện ở việc gia tăng tỷ lệ người cao tuổi (NCT) trong tổng dân số một quốc gia hoặc khu vực; có tác động sâu rộng tới mọi mặt đời sống nhân loại. Đây cũng là kết quả tất yếu của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học (hướng tới cuộc sống lâu dài và nhiều gia đình hơn) đang diễn ra phổ biến, biểu hiện ở việc tầng lớp NCT gia tăng mạnh do tỷ suất sinh giảm và tuổi thọ trung bình tăng lên. Ngược về quá khứ, năm 1950, thế giới có khoảng 200 triệu người trên 60 tuổi, đến năm 2020, có đến 727 triệu người từ 65 tuổi trở lên và theo dự báo, con số này có thể tăng gấp đôi vào năm 2050 (khoảng 1,5 tỷ người); ở các vùng ít phát triển hơn, độ tuổi trung vị sẽ tăng từ 26 tuổi (năm 2010) lên 35 tuổi (năm 2050).

Về phân loại hiện tượng già hóa dân số: Một số nhà nghiên cứu phân chia mức độ già hóa tương ứng với các nội dung cụ thể: Dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 7% - 9,9% tổng dân số được coi là “già hóa”; từ 10% - 19,9% gọi là dân số “già”; từ 20% - 29,9% là dân số “rất già” và trên 30% là dân số “siêu già”(3). Mỗi quốc gia đều có mức độ và tốc độ già hóa dân số khác nhau, những nơi quá trình này diễn ra muộn sẽ có ít thời gian để đối phó với các tác động hơn; trong ba thập kỷ tới, tỷ lệ NCT tăng nhanh chóng, tuy nhiên, chỉ có một số ít quốc gia đủ khả năng xác định nhóm dân cư cao tuổi nào sẽ có thể sinh sống trong điều kiện sức khỏe ổn định hay là đau ốm, bệnh tật (thông thường, kéo dài tuổi thọ phần nào đồng nghĩa với kéo dài tình trạng sức khỏe kém trong giai đoạn suy kiệt của cơ thể).

Cùng với đó, sự gia tăng tỷ lệ người già trong dân số sẽ gây áp lực mạnh mẽ lên các hoạt động, kế hoạch chi tiêu công, bởi chính quyền các quốc gia phải chi trả lượng lương hưu lớn và trong thời gian dài hơn. Theo đó, với đặc điểm về thể chất, sức khỏe của NCT, nhu cầu chăm sóc y tế và bảo trợ xã hội cũng tăng lên(6). Như vậy, già hóa dân số yêu cầu chính quyền các quốc gia phải có kế hoạch, giải pháp tháo gỡ toàn diện, bảo đảm ổn định, đáp ứng yêu cầu về sức khỏe cộng đồng cũng như phát triển bền vững kinh tế - xã hội.

Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện tượng giá hóa dân số là: 1- Đây là kết quả tất yếu của xu hướng giảm sinh, đặc biệt khi điều kiện sống ngày càng được cải thiện, khiến tỷ lệ NCT cao hơn hẳn so với tầng lớp trẻ em (một phần là thành tựu trên chặng đường phát triển nhân loại, từ chương trình sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, tâm lý xã hội, trình độ công nghệ, kinh tế, chính sách dân số, hôn nhân đồng tính, quyền phá thai,…); 2- Tuổi thọ trung bình tăng trên toàn cầu, dẫn đến sự già đi nhanh chóng của dân số toàn thế giới.

Thực tế, hiện tượng già hóa dân số diễn ra sớm nhất ở các nước trình độ phát triển cao, nhưng có tốc độ gia tăng nhanh hơn ở các vùng ít phát triển hơn (trong tương lai, quá trình già hóa có xu hướng giảm đáng kể ở châu Âu và diễn ra mạnh mẽ ở các nước châu Á). Hiện nay, châu Âu và Bắc Mỹ là hai khu vực có tỷ lệ NCT cao nhất; trong khi đó, Bắc Phi, Tây Á và các nước châu Phi ở vùng cận Sahara dự kiến có tốc độ gia tăng nhanh nhất về số lượng NCT trong ba thập kỷ tới. Về tổng thể, theo dự báo, tuổi thọ trung bình toàn cầu dự kiến sẽ đạt 77,2 vào năm 2050 nhờ những tiến bộ của y học, điều kiện vệ sinh, sinh hoạt và dinh dưỡng được cải thiện, cụ thể: châu Á sẽ đạt 78 tuổi; khu vực Bắc Mỹ, châu Mỹ La-tinh, châu Âu và châu Đại Dương sẽ đạt khoảng từ 81 đến 84 tuổi; mặc dù châu Phi vẫn có tuổi thọ trung bình thấp hơn mức trung bình của thế giới nhưng sẽ tăng mạnh lên 66 tuổi (năm 2030) và gần 70 tuổi (năm 2050).

Châu Âu là khu vực phải đối mặt với tình trạng lão hóa dân số từ nhiều thập niên trước, đến nay, dân số châu Âu đang già đi nhanh chóng do tỷ lệ sinh thấp, trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng. Theo dự kiến đến năm 2050, khoảng 30% dân số châu Âu sẽ là NCT, đặt ra nhiều vấn đề trong hoạch định chính sách, chương trình hỗ trợ bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội. Ở châu Á, tỷ lệ người già đang gia tăng nhanh chóng, trong khi tỷ lệ sinh giảm ở nhiều nước, do đó, nhiều quốc gia đang phải “căng mình” để xử lý những hệ lụy do tác động của quá trình giá hóa dân số. Ví dụ, Nhật Bản là quốc gia có tỷ lệ dân số ở mức siêu già, nhóm dân số cao tuổi đạt khoảng 36,2 triệu người, chiếm 29% tổng dân số (năm 2022); dự báo đến năm 2030, nhóm dân số cao tuổi sẽ tăng lên khoảng 37,3 triệu người, chiếm tới 31% tổng dân số và sẽ là 40% vào năm 2060,... Đáng chú ý, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đang làm việc đã lên tới 8,62 triệu người, trong đó có 3,5 triệu phụ nữ, nhưng Nhật Bản sẽ vẫn thiếu khoảng 6,44 triệu lao động vào năm 2030. Trong khi đó, năm 2020, dân số của Trung Quốc đạt mốc 1,411 tỷ người (tăng 72 triệu người so với năm 2010); dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 - 59 tuổi) giảm xuống còn 894 triệu người, trong đó, người từ 60 tuổi trở lên tăng đến 264 triệu người (chiếm 18,7% dân số), từ 65 tuổi trở lên đạt 190 triệu người (chiếm 13,5% dân số), từ 80 tuổi trở lên đạt 35,8 triệu người (chiếm 2,54% tổng dân số),… Như vậy, lần đầu tiên sau hơn 60 năm, Trung Quốc đối diện với sự sụt giảm dân số, khởi đầu giai đoạn khủng hoảng dân số.

Người cao tuổi ở Nhật Bản_Nguồn: japannews.yomiuri.co.jp

Những tác động, ảnh hưởng của quá trình già hóa dân số

Thứ nhất, cơ cấu dân số thay đổi khiến quá trình phân phối quyền lực và lựa chọn ứng viên, đại biểu đại diện cho nhân dân ở các khu vực hành chính trong hệ thống chính trị bị ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến quyết sách các quốc gia và vùng lãnh thổ. Bên cạnh đó, khi tỷ lệ NCT gia tăng, tỷ suất sinh giảm sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn lao động trầm trọng ở nhiều nơi, tạo sức ép, thách thức về điều chỉnh thị trường lao động, việc làm; giải quyết xung đột, mâu thuẫn giữa các thế hệ trong thời kỳ dân số già; kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất sản xuất và đổi mới, suy giảm năng lực cạnh tranh. Ví dụ: tại Pháp, theo dự báo, đến năm 2030, trung bình mỗi năm, nước này chỉ có khoảng 640.000 thanh niên gia nhập thị trường lao động, trong khi có đến 760 nghìn vị trí tuyển dụng(15); tại Nhật Bản, tỷ lệ lao động lớn tuổi hiện ở mức cao trong các ngành, dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng, như ngành xây dựng và điều dưỡng (15%), ngành vận tải (hơn 10%), tài xế ta xi, xe bus (chiếm tới 30%).

Thứ hai, già hóa dân số là yếu tố kích thích nhu cầu bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội đối với NCT, từ đó, tạo sức ép lớn đối với hệ thống y tế và ngân sách mỗi quốc gia ở mọi cấp hành chính. Ở các nước phát triển, theo ước tính năm 2010, cứ 4 người trong độ tuổi lao động (15 tuổi - 64 tuổi) sẽ hỗ trợ 1 NCT (từ 65 tuổi trở lên); tuy nhiên, tỷ lệ này được dự đoán sẽ giảm xuống còn 3 người trong độ tuổi lao động/1 NCT vào năm 2025(17). Ví dụ, Nhật Bản là nước có tỷ lệ dân số trên 65 tuổi chiếm 25,1%, khoản chi tiêu an sinh xã hội trong tổng thu nhập quốc dân của nước này đã tăng từ 13,7% (năm 1985) lên 22,8% GDP (năm 2012), khoảng 109,5 nghìn tỷ Yên (trong đó, lương hưu chiếm khoảng 11,2%; chi phí dịch vụ y tế chiếm 7,3%; các chế độ phúc lợi xã hội chiếm 4,3%).

Thứ ba, tuổi cao khiến sức khỏe thể chất, tinh thần của NCT suy giảm, gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp, di chuyển và có thể bị rơi vào tình cảnh cô đơn, sống tách biệt về mặt xã hội; khó tiếp cận các dịch vụ an sinh; đồng thời, dễ trở thành nạn nhân của các vụ lừa đảo, nhất là lừa đảo sử dụng công nghệ cao. Theo những thống kê gần đây, người dân Mỹ đã mất hơn 1 tỷ USD vì lừa đảo qua mạng; phần lớn nạn nhân là phụ nữ trên 40 tuổi góa chồng hoặc đã ly dị và là người già yếu; ở Đông Nam Á, gần một nửa người dùng từng là nạn nhân của các cuộc lừa đảo qua mạng, trong đó, tỷ lệ nạn nhân tập trung chủ yếu vào các nhóm người lớn tuổi nhất (chiếm 33%).

Thứ tư, già hóa dân số gây ra sự thiếu hụt nguồn nhân lực lao động khiến nhiều nước phải điều chỉnh chính sách nhập cư, thuê lao động nước ngoài dẫn tới việc hình thành các nhóm lao động có sự khác biệt về văn hóa; nguy cơ xảy ra tình trạng văn hóa ngoại lai xâm nhập, áp đảo văn hóa nội sinh. Mặt khác, tổng số NCT tăng, tỷ suất sinh giảm gây khó khăn trong việc truyền tiếp, kế thừa, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống, tiềm ẩn vấn đề đứt gãy về mặt văn hóa, ảnh hưởng nghiêm trọng tới bản sắc và sự phát triển bền vững của mỗi cộng đồng, quốc gia - dân tộc. Bên cạnh đó, nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng - an ninh tại các quốc gia cũng bị ảnh hưởng; quá trình tuyển quân và tuyển dụng nhân lực vào quân đội, lực lượng vũ trang sẽ bị giảm sút, hao hụt, khó khăn. Ví dụ: Giai đoạn 2002 - 2022, quy mô quân đội Hàn Quốc đã giảm 27,6%, khiến quốc gia này phải áp dụng phương án kéo dài thời gian tại ngũ của quân nhân (nam giới Hàn Quốc phải hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc từ 18 - 21 tháng và trở thành lính dự bị trong vòng 8 năm sau đó), đồng thời Chính phủ cũng tính toán phương án tuyển nữ giới vào quân đội cùng với đầu tư, áp dụng công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh.

Một số gợi mở, hàm ý chính sách cho Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh so với thế giới, điều này đã và đang có ảnh hưởng, tác động toàn diện đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Theo dự báo đến năm 2050, tỷ lệ người từ độ tuổi 60 trở lên tăng hơn 25%; đặc biệt, năm 2036 sẽ bắt đầu thời kỳ chuyển dịch từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già” (giai đoạn quá độ từ già hóa dân số đến dân số già chỉ diễn ra trong vòng 20 năm, trong khi ở các quốc gia phát triển thì kéo dài hàng trăm năm). Như vậy, để chuẩn bị và xử lý những vấn đề liên quan đến quá trình già hóa dân số, cần chú trọng nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, giải pháp dựa trên một số nội dung sau:

Thứ nhất, thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách nhằm hiện thực hóa mục tiêu bảo đảm quyền được thụ hưởng sự chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và nâng cao tuổi thọ đối với đối tượng là NCT. Ở Việt Nam, đối tượng người cao tuổi luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm đặc biệt; được tạo điều kiện để phát huy vai trò, kinh nghiệm trong công cuộc phát triển đất nước. Theo đó, trước mắt cần đẩy mạnh thực hiện đạt và vượt mục tiêu đến năm 2030 “bảo đảm 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, khám, chữa bệnh, chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung”. Đáng chú ý, các chính sách cần hướng đến việc công nhận năng lực, giá trị và quyền tự chủ của những cá nhân lớn tuổi thay vì giao cho họ những nhiệm vụ mang tính hình thức; tập trung phát triển lực lượng lao động, xây dựng các chương trình đào tạo, cải thiện mức lương và điều kiện làm việc để bồi dưỡng đội ngũ chăm sóc sức khỏe cho NCT.

Đảng, Nhà nước bảo đảm quyền được thụ hưởng sự chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tạo điều kiện để phát huy vai trò, kinh nghiệm trong công cuộc phát triển đất nước của người cao tuổi_Nguồn: TTXVN

Thứ hai, tích cực, chủ động trong giao lưu, học tập kinh nghiệm từ các nước trên thế giới trong đối mặt, xử lý các vấn đề liên quan đến quá trình già hóa dân số. Việt Nam là nước đi sau và có tốc độ nhanh hơn trong quá trình già hóa, diễn biến phức tạp; do đó, việc nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các quốc gia đi trước để có sự chuẩn bị là rất cần thiết. Đặc biệt, chú trọng phát triển bền vững lĩnh vực kinh tế, gia tăng nguồn tài chính dài hạn của các hộ gia đình, giúp NCT có điều kiện chuẩn bị tốt hơn cho giai đoạn nghỉ hưu.

Thứ ba, tạo điều kiện, hỗ trợ phụ nữ tốt hơn, như tăng thời gian nghỉ sau sinh; có điều kiện tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản dễ dàng; gia tăng sinh kế nhằm thoát nghèo, đủ khả năng nuôi dưỡng khi sinh con; tăng cường giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của nam giới và nữ giới về vấn đề mang thai, tránh thai để họ có thể đưa ra những lựa chọn sáng suốt. Phải đặc biệt chú ý đến vấn đề duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc, phấn đấu tăng mức sinh ở những địa phương có mức sinh thấp, hỗ trợ chương trình y tế nhằm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em.

Thứ tư, đẩy mạnh đầu tư khoa học - công nghệ cho y tế; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành ít cách biệt và giảm tỷ trọng các ngành có sự chênh lệch lớn về năng suất lao động giữa các nhóm tuổi; khuyến khích phát triển các ngành phục vụ, chăm sóc NCT, cũng như các ngành kinh tế liên quan và các ngành có nhu cầu sử dụng lực lượng lao động là NCT; thực hiện các chính sách phù hợp, khoa học đối với công tác dân số và duy trì tỷ lệ sinh hợp lý. Mặt khác, cân nhắc, mở rộng nghiên cứu các chính sách về lương hưu, cung cấp bảo hiểm cho mọi đối tượng lao động để họ có thể tiếp cận tốt hơn các nguồn lực an sinh xã hội, là cơ sở để lập kế hoạch cho giai đoạn nghỉ hưu. Nâng cao tinh thần, trách nhiệm của mọi công dân trong chủ động tạo nguồn tài chính phục vụ cuộc sống sau khi về già của cá nhân và gia đình./.

ST.