Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

Phải chăng Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là mất dân chủ?

 Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện với hệ thống nguyên tắc tổ chức và hoạt động chặt chẽ, khoa học; trong đó, tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản, cốt lõi. Kiên trì tuân thủ nguyên tắc ấy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn phát huy dân chủ, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lãnh đạo toàn dân ta tiến lên giành những thắng lợi vĩ đại, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vậy mà, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại luôn hậm hực với những thắng lợi ấy. Chúng tìm mọi “ngón đòn” tinh vi, xảo quyệt hòng xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.

Một trong những thủ đoạn phổ biến là các đối tượng triệt để lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí,  “núp bóng dân chủ”, “đội lốt nhân quyền” tung các chiêu bài “thư ngỏ”, “góp ý”, “hội thảo khoa học” để rêu rao: việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân dẫn đến mất dân chủ; là một thứ chế độ tập quyền, độc đoán, bảo thủ nhằm “bảo vệ vị trí độc tài” của Đảng. Không những thế, họ còn lập luận, tập trung và dân chủ trong nguyên tắc này là hai mặt trái ngược, không thể thống nhất với nhau, rằng: “đã tập trung thì không thể có dân chủ, đã dân chủ thì không thể tập trung”, “tập trung với dân chủ như lửa với nước”, hoặc chỉ có tập trung, hoặc chỉ có dân chủ. Với kiểu lập luận “máy móc”, “siêu hình” như vậy, các đối tượng cố ý tách rời tập trung với dân chủ, cuối cùng đi đến phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ và xuyên tạc cho rằng: Đảng ta xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ thì sẽ trở thành kẻ độc tài, chuyên chế và vi phạm dân chủ. Theo họ, muốn thoát khỏi tình trạng đó, Đảng phải từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ không giới hạn. Đặc biệt, thời gian gần đây, lợi dụng việc một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thực hiện không nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn tới độc đoán, quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất bị xử lý kỷ luật, họ càng ra sức thổi phồng, bôi đen, bóp méo, suy diễn, đánh lận và quy chụp cho rằng, những khuyết điểm, hạn chế đó đều có nguyên nhân từ nguyên tắc tập trung dân chủ, từ đó đòi hỏi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc này “cho phù hợp tình hình mới”(!). Vậy, phải chăng Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là mất dân chủ; là độc đoán, toàn trị...? Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu và lý giải cặn kẽ vấn đề trên cả về phương diện lý luận và thực tiễn. 

Về lý luận, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn coi tập trung dân chủ là cái “vốn có”, là thuộc tính bản chất của giai cấp công nhân; nguyên tắc tổ chức “xương sống” của Đảng Cộng sản và là nguyên tắc để phân biệt chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân với các đảng phái khác. Đặc biệt, khi bàn về vai trò của nguyên tắc tập trung dân chủ, V.I.Lênin đã khẳng định: “Các Đảng gia nhập quốc tế cộng sản phải được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ... Đảng Cộng sản chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình nếu Đảng được tổ chức một cách tập trung nhất, nếu trong Đảng có một kỷ luật sắt, gần giống như kỷ luật quân sự, và nếu Trung ương đảng là một cơ quan có uy tín mạnh mẽ, có quyền lực rộng rãi, được toàn thể đảng viên tin cậy”1.

Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương”2. Theo Người, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là phương thuốc hữu hiệu ngăn ngừa những căn bệnh nguy hiểm của một đảng cầm quyền, như: quan liêu, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, v.v. Như vậy, tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo toàn bộ việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản, đảm bảo cho Đảng là một chỉnh thể thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, tập trung được trí tuệ, sức mạnh vật chất, “tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”3; tránh tình trạng lỏng lẻo, lộn xộn, vô chính phủ, bè phái; tạo môi trường bình đẳng để phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo của mỗi thành viên, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ. Do đó, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong tổ chức, hoạt động của Đảng Cộng sản; xem nhẹ và thực hiện không đúng nguyên tắc này sẽ làm tổn hại đến uy tín, sức mạnh của Đảng, là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, v.v.

Sở dĩ như vậy bởi nội hàm cốt lõi của nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất giữa hai thành tố tập trung và dân chủ; hai thành tố này vừa là tiền đề, vừa là điều kiện của nhau, có quan hệ biện chứng lẫn nhau chứ không phải là sự gán ghép đơn thuần giữa nguyên tắc tập trung với nguyên tắc dân chủ như lý luận “số học” của một số đối tượng. Bàn về mối quan hệ giữa tập trung và dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Tập trung trên nền tảng dân chủ” và “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung4; “Tập trung mà không dân chủ thì đi đến độc tài, dân chủ mà không tập trung thì dân chủ quá trớn, nước nào càng tập trung lại càng dân chủ, càng dân chủ thì càng phải tập trung”5. Tập trung trên nền tảng dân chủ là sự tập trung trên cơ sở thực hiện và mở rộng dân chủ trong sinh hoạt của Đảng. Sự tập trung trong Đảng là do toàn thể đảng viên xây dựng nên, không phải do một cá nhân nào quyết định; đó là sự tập trung trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động của đa số, được hình thành một cách tự giác, chứ không phải là một thứ tập trung được thiết lập chỉ để phục vụ một nhóm người, một cá nhân. Dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung là dân chủ có mục đích, có định hướng, có lãnh đạo, có tổ chức, v.v. Qua đó thấy rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ là sự liên hệ thống nhất, tác động biện chứng giữa hai thành tố tập trung và dân chủ; đó là thể hiện mối liên hệ bản chất của một nguyên tắc thống nhất, trong một chỉnh thể thống nhất. Tập trung là sự thể hiện trình độ dân chủ, là điều kiện, tiền đề chi phối khuynh hướng phát triển của dân chủ; dân chủ trong Đảng là dân chủ mang tính chất tập trung, là tiền đề, điều kiện quy định tính chất, khuynh hướng phát triển của tập trung. Từ trong bản chất, nguyên tắc tập trung dân chủ đã loại bỏ hoàn toàn khuynh hướng độc đoán, quan liêu và mất dân chủ.

Các đại biểu biểu quyết, thông qua Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh TTXVN

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay đã chứng minh, nhờ kiên định và thực hiện triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã giữ vững được sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động, có đủ sức mạnh và uy tín lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ở tuổi 15, chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi vĩ đại Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Tiếp đó, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, gần 40 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo - sản phẩm của ý Đảng, lòng dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Điều đáng nói là, việc tuân thủ và vận dụng sáng tạo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng đã, đang trở thành vấn đề cốt yếu, nguyên nhân hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Các nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng quy định trong Điều lệ Đảng và các quy định, hướng dẫn của Trung ương đã được các cấp ủy, tổ chức đảng tuân thủ và thực hiện nghiêm túc”6. Trong đó, thực hiện tốt việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền của đảng viên, như: quyền được thảo luận, chất vấn, phê bình, thông tin, bảo lưu ý kiến, phản biện… Vì vậy, các hiện tượng “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, “nói một đằng nhưng làm một nẻo”… ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng về cơ bản được khắc phục. Cùng với đó, các cấp ủy, tổ chức đảng đã gương mẫu, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) của Đảng; đồng thời, phát huy cao độ trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, phân cấp, ủy quyền, thực hiện nghiêm túc chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên mà trước hết là cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt. Với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm xuyên suốt “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, mọi chủ trương, chính sách trước khi ban hành đều được công bố rộng rãi, công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân góp ý. Sinh hoạt của các cấp ủy, tổ chức đảng được tiến hành dân chủ, cởi mở; các hình thức tọa đàm, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ chủ chốt với đảng viên, nhân dân được tăng cường. Công tác tổ chức và cán bộ được tiến hành công khai, dân chủ; tình trạng cục bộ, mất đoàn kết trong cán bộ được chấn chỉnh. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày nêu rõ: để chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, các Tiểu ban đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu, các bộ, ban, ngành ở Trung ương và các cấp uỷ, chính quyền địa phương tổ chức gần 60 cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm và thành lập 50 đoàn đi khảo sát thực tế. Sau khi các dự thảo Báo cáo được chỉnh lý, sửa chữa và được gửi xin ý kiến rộng rãi của các đại biểu Quốc hội, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều tổ chức, cơ quan, đoàn thể... Bộ Chính trị đã quyết định cho công bố công khai toàn văn các dự thảo Báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng để lắng nghe ý kiến rộng rãi của nhân dân7. Gần đây nhất, để hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Quốc hội đã tiến hành xin ý kiến rộng rãi của nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (Số liệu thống kê mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tính đến ngày 27/3, đã có hơn 9 triệu lượt ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý dự thảo Luật này), v.v. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng được tiến hành chặt chẽ, đúng nguyên tắc, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng. Trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 600 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên vi phạm kỷ luật (trong đó có không ít trường hợp do chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm dẫn đến vi phạm kỷ luật). Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” đã đem lại những hiệu quả tích cực, đã và đang góp phần xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, liêm chính, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội. v.v. Những tiến bộ trên không chỉ góp phần khắc phục sự áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền…, mà còn góp phần mở rộng, phát huy dân chủ, nhất là khả năng sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Qua đó, khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng được giữ vững, tạo được sự đồng thuận của nhân dân, ít phát sinh những vấn đề bức xúc, bất đồng, chia rẽ; phát hiện, ngăn chặn tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng và các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Như vậy, cả phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không phải là sự chuyên quyền, độc đoán, không phải là mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt. Ngược lại, chính do giữ vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ đã bảo đảm cho Đảng ta luôn có tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy sức mạnh của toàn dân để xây dựng Đảng. Mọi chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đất nước đều là sự hội tụ của ý Đảng, lòng dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mới đây, nhân dịp kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024), nhiều quốc gia, các đảng chính trị, học giả trên thế giới gửi điện mừng và có những bài viết đánh giá rất cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Việt Nam. Theo đó, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, ông Jesús Faría, Phó Chủ tịch Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất cầm quyền Venezuela (PSUV) đã khẳng định: Những giá trị cốt lõi trong phương thức lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh được các thế hệ tiếp theo gìn giữ và tiếp tục phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn và bối cảnh lịch sử. Sự kế thừa đó thể hiện qua phương thức lãnh đạo coi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản nhằm quy tụ sức mạnh, trí tuệ của tập thể, đồng thời giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Đây tiếp tục là một cơ sở khách quan bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, có ý nghĩa sống còn trong xây dựng và hoạt động của Đảng. Nắm vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc là bảo đảm quan trọng để Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa và thực hiện tốt nguyên tắc này; đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc quan trọng này, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN HỮU HOẠT, Học viện Hậu cần

Lặp lại luận điệu xuyên tạc, kích động trong chống hạn hán, xâm nhập mặn

 


Trong khi cấp ủy, chính quyền và nhân dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long tập trung nổ lực chống hạn, mặn thì các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lại lợi dụng để xuyên tạc, kích động chống phá.

Thời gian qua, tại Đồng bằng sông Cửu Long đã liên tiếp xảy ra các đợt xâm nhập mặn và nắng nóng kéo dài. Cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị các địa phương đã chủ động triển khai thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp ứng phó theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và bộ chuyên ngành về chống hạn hán, xâm nhập mặn. Qua đó, đã giảm thiểu được thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp, hạn chế ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân.

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam

Đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ góp phần bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn trực tiếp bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ tư tưởng của Người. Đó là hệ thống các luận điểm về: tính tất yếu phải có đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam; quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam; đảng cầm quyền; xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, v.v. Đây là cơ sở lý luận trực tiếp, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, lãnh đạo, trưởng thành của Đảng ta gần 95 năm qua - nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, với mưu đồ đen tối nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã, đang dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc nội dung, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc này là vấn đề cấp thiết, quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay.

Trước hết, về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Lâu nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách quy kết “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là có “tội” với dân tộc và nhân dân”; chúng “chụp mũ”, cho rằng “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã đẩy nhân dân Việt Nam vào cảnh cơ cực, đói khổ, nghèo nàn, cùng quẫn”, v.v. Đây là sự vu khống, bịa đặt vô cùng trắng trợn, nhằm bôi nhọ, phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Thực vậy, với lòng yêu nước nồng nàn và ước muốn tột cùng là cứu nước, cứu dân thoát khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai, Hồ Chí Minh đã bôn ba tìm đường cứu nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin “như một cuộc hẹn hò lịch sử” và đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn là giải phóng dân tộc bằng cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917” mới có thể giành được độc lập dân tộc thực sự, hoàn toàn; nhân dân ta mới được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Để thực hiện con đường cứu nước đúng đắn đó, Người đã đặt câu hỏi và tự trả lời: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”1. Nghĩa là, Người đã nhận thấy rõ tính tất yếu cũng như vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đồng thời, đảng đó phải là đảng cách mạng, chân chính, phải được thiết lập trên cơ sở gắn bó máu thịt giữa đảng với các tầng lớp nhân dân, đảng không có lợi ích nào khác ngoài đấu tranh vì lợi ích của dân tộc, được quần chúng nhân dân thừa nhận và vì sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai. Từ tư duy khoa học, cách mạng đó, Người đã chủ động tiến hành chuẩn bị mọi mặt về tư tưởng, chính trị, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời của Đảng. Và thực tế đã cho thấy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 03/02/1930 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo; dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Những luận cứ khoa học trên và thực tiễn cuộc đời, sự nghiệp hoạt động cách mạng vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu sai trái của các thế lực thù địch đã quy kết “Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là có “tội” với dân tộc, với nhân dân”!

Hai là, về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch ra sức bịa đặt và xuyên tạc rằng “Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa yêu nước vào quy luật hình thành Đảng là trái với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản”. Chúng còn ra điều hiểu biết khi viện dẫn: “chủ nghĩa yêu nước chỉ làm mất bản chất giai cấp công nhân của Đảng”, v.v. Thực chất, đây là những luận điệu nhằm đối lập chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của thành tố “chủ nghĩa yêu nước” đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận điệu đó hoàn toàn vô lý, không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Thực vậy, trên cơ sở nắm vững nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin là một thành tố quan trọng quyết định sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”2. Đồng thời, Người đã phân tích sâu sắc điều kiện, hoàn cảnh nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là xã hội thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam mới ra đời, số lượng còn ít, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tất yếu gắn chặt với phong trào yêu nước. Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân mới là điều kiện “cần” để Đảng ra đời; nhưng để Đảng ta tồn tại, phát triển và giữ vững vai trò đội tiền phong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thì phải có điều kiện “đủ” - đó chính là phong trào yêu nước Việt Nam. Bởi vì, phong trào yêu nước Việt Nam được dẫn dắt bởi chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc; ra đời trước phong trào công nhân, đã đồng hành cùng dân tộc và là phong trào rộng lớn nhất, quy tụ các giai cấp, tầng lớp đấu tranh chống thực dân, đế quốc. Trong bối cảnh ấy, nếu phong trào công nhân không gắn bó với phong trào yêu nước, trở thành nòng cốt trong phong trào yêu nước thì cũng không lãnh đạo và tập hợp được lực lượng đông đảo. Hồ Chí Minh đánh giá đúng vị trí, vai trò và đưa phong trào yêu nước là một thành tố hợp thành không thể thiếu cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta. Không chỉ vậy, Người còn khẳng định “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”3. Có nghĩa là, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa đại diện cho lợi ích giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích dân tộc và Đảng không có lợi ích riêng nào khác. Như vậy, tư tưởng trên của Hồ Chí Minh không hề “trái với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin”; đồng thời, cũng không “làm giảm bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta”. Đó là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về quy luật hình thành đảng cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến của Hồ Chí Minh. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo và huy động toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giải phóng và thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; lãnh đạo sự nghiệp đổi mới thành công, đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó đã bác bỏ mọi luận điệu mà các thế lực thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.

Ba là, về bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ luận điểm hết sức sáng tạo của Người: “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”4, các thế lực thù địch cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là cộng sản, mà là người dân tộc chủ nghĩa”, “là cộng sản nửa vời”, v.v. Sự thật là, cách tiếp cận về Đảng của Hồ Chí Minh không những không làm mất đi bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mà còn bổ sung, phát triển quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về đảng cộng sản ở một nước thuộc địa, khi mà nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu như ở Việt Nam, thì đảng đó không chỉ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà còn là của cả dân tộc. Trước hết, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh thần cách mạng và phương pháp khoa học, giải quyết đúng đắn, thành công mối quan hệ mật thiết giữa Đảng - giai cấp - dân tộc. Quá trình sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh luôn khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân. Bởi vì, chỉ có giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp tiên tiến nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có khả năng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, Người  thấy rõ sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đối với vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng không chỉ một hai người, mà của toàn thể dân chúng, Đảng không có lợi ích riêng, mà thống nhất với lợi ích của giai cấp, lợi ích của toàn thể nhân dân và của cả dân tộc. Do đó, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc là luận điểm rất sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cách mạng Việt Nam. Luận điểm ấy không làm giảm bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mà trái lại nó làm cho bản chất giai cấp công nhân được củng cố và tăng cường; càng làm cho giai cấp công nhân gắn bó máu thịt với nhân dân và cả dân tộc, làm cho Đảng ta luôn mang trong mình sự thống nhất giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc. Chính điều đó đã làm cho Đảng ta có sức cuốn hút mạnh mẽ các giai cấp, tầng lớp nhân dân, toàn dân tộc vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; tin theo Đảng, bảo vệ Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Nhiều học giả phương Tây cũng khẳng định “Hồ Chí Minh là người cộng sản, rất mác - xít, đồng thời rất thấm đượm tinh thần dân tộc chân chính; là một hình mẫu giải quyết vấn đề lợi ích dân tộc và giai cấp một cách nhuần nhuyễn, kỳ tài”5. Và thực tiễn đó đã khiến luận điệu xuyên tạc “Hồ Chí Minh là người “dân tộc chủ nghĩa” hay “cộng sản nửa vời” chỉ là hàm hồ, lố bịch.

Phủ nhận, xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, sâu xa là xuyên tạc, phủ nhận dẫn đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Đó là những hành động hết sức nguy hiểm và phản động, đòi hỏi chúng ta cần tỉnh táo nhận rõ mưu đồ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN SỸ HỌA - Thượng tá, ThS. DƯƠNG ĐÌNH CẨN 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

           Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị đang ngày càng lợi dung không gian mạng để truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch với mục đích nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước ta, làm mất lòng tin của quần chúng Nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Vì vậy, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu sai trái thù địch trên không gian mạng vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản của cả hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt với trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam nhiệm vụ này lại càng trở nên đặc biệt quan trọng. 

Ấp mang tên mẹ Bùi Thị Thêm

 Bà mẹ Việt Nam anh hùng – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Bùi Thị Thêm (bí danh Ba Bé) sinh năm 1924, quê huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang có chồng và 2 con là liệt sĩ. Với nhiệm vụ được giao vận chuyển vũ khí bằng ghe, mẹ 3 lần bị địch bắt nhưng không lần nào vũ khí rơi vào tay giặc. Khi bị địch bắt, chúng dùng nhiều cực hình tra tấn dã man như dùng kim châm vào 10 đầu ngón tay, rồi chạy điện làm cho 10 đầu ngón tay thối hết móng .… nhưng mẹ không khai báo gì. Sau khi ra tù, mẹ vẫn tiếp tục là nhiệm vụ hậu phương vững chắc cho cách mạng, đêm đêm mẹ chong đèn trên sông làm ám hiệu cho bộ đội đặc công đánh trái nổ. Mẹ là người phụ nữ nông dân, không biết chữ nhưng biết xác định tọa độ, biết sử dụng súng và cối để đánh tàu thuyền. Mẹ là người đã tham gia đánh chìm 12 tàu chiến và tiêu diệt hàng trăm tên địch trên sông Cái Lớn, nên có biệt danh là “Nữ kiện tướng đánh tàu”. Với những đóng góp to lớn đó, Mẹ Bùi Thị Thêm đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Mẹ Việt Nam Anh hùng – Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Bùi Thị Thêm là người mẹ anh hùng, bởi mẹ không chỉ đã sinh ra những người con đã anh dũng chiến đấu và hy sinh oanh liệt mà còn là một chiến sĩ đầy mưu trí, quả cảm trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Những chiến công và thành tích chiến đấu kiên cường đó của mẹ đã góp phần không nhỏ vào việc tuyên truyền, giáo dục, giữ gìn và phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ ở quê nhà. Mẹ Bùi Thị Thêm là anh hùng được chọn tên để đặt cho ấp của quê mình khi vẫn đang còn sống./.

Bà má tham mưu

  “Bà má tham mưu” là cách gọi đầy tôn kính của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1 dành cho má Huỳnh Thị Sáu (thường gọi là má Sáu Ngẫu).

Cuối tháng 4/1975, trên đường tiến quân vào nội đô Sài Gòn, chỉ huy Trung đoàn 27 đã được má Sáu Ngẫu cung cấp tấm bản đồ quý giá, đồng thời tổ chức lực lượng dẫn đường cho đơn vị tiến vào nội đô hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đằng sau tấm bản đồ vô giá và khả năng làm công tác tham mưu tuyệt vời của bà má Nam Bộ vùng đất Lái Thiêu là một trái tim nồng nàn tình yêu Tổ quốc và lòng thủy chung son sắt với người chồng, người đồng chí đã hy sinh.

Sự tham mưu chính xác và sáng suốt của má Sáu Ngẫu đã giúp Trung đoàn 27 triển khai đội hình hành quân thuận lợi, đánh chiếm các mục tiêu dọc đường tiến quân, bắt sống gần 2.000 tên lính và sĩ quan chỉ huy các cấp của các đơn vị quân đội Việt Nam cộng hòa, trong đó có nhiều sĩ quan cấp tá. Điều quan trọng nhất là phương án tiến quân do má Sáu Ngẫu tham mưu đã giúp đơn vị bảo toàn được lực lượng, tránh xảy ra thương vong cho cán bộ, chiến sĩ ta.

Sau ngày chồng hy sinh, má Sáu Ngẫu một lòng một dạ thờ chồng, nuôi con, phục vụ cách mạng. Tên gọi “Bà má tham mưu” được bộ đội Trung đoàn 27 yêu quý gọi đã trở thành bí danh đặc biệt của Sáu Ngẫu từ ngày đó. Sau ngày đất nước thống nhất, má Sáu Ngẫu trở lại với công việc một nắng hai sương nơi miệt vườn Lái Thiêu quanh năm rợp mùa hoa trái. Má lâm bệnh nặng và qua đời năm 1989./.


Kơ-Pa Kơ-Lơng

 

Kơ-Pa Kơ-Lơng sinh ngày 19-8-1948, người dân tộc Gia Rai, tỉnh Kon Tum, là anh hùng nhỏ tuổi người ở tỉnh Gia Lai.

Căm thù quân Mỹ - Ngụy đã giày xéo buôn làng, mới 13 tuổi, Kơ-pa Kơ-lơng đã xin vào đội du kích quê nhà, nhưng không được xã đội tiếp nhận vì còn nhỏ và không có đủ súng để trang bị. Kơ-pa Kơ-lơng liền tự làm lấy nỏ, vót tên, phục kích bắn bị thương một tên địch. Tên địch này không chết vì mũi tên không tẩm thuốc. Kơ-pa Kơ-lơng liền xin người già mũi tên có thuốc và bắn chết liên tiếp ba tên địch.

Trong đơn xin gia nhập du kích, Kơ-pa Kơ-lơng viết: “Em đã giết ba mươi bốn tên Mỹ - Ngụy, phá được tám xe cơ giới. Nay em đã lớn, xin cấp trên cho em được làm giải phóng quân”. Thế là Kơ-pa Kơ-lơng được gia nhập du kích, được phát sung nhận ba viên đạn với điều kiện: phải hạ ba tên giặc. Kơ-pa Kơ-lơng đã bắn như sau: Phát thứ nhất, bắn “xâu táo” xiên một lúc năm tên. Phát thứ hai “xâu táo” ba tên, hai thằng chết tại chỗ. Hạ quá ba tên rồi, Kơ-lơng nộp lại viên thứ ba! Đến một trận khác. Kơ-pa Kơ-lơng bắn ba viên hạ bảy tên. Trận khác nữa: với bảy viên hạ hẳn mười chín tên giặcKơ-pa Kơ-lơng đã nổi tiếng với biệt tài bắn "xuyên táo", tiêu diệt nhiều địch chỉ với một ít đạn. Năm 15 tuổi, Kơ-pa Kơ-lơng đã đánh 30 trận, giật 12 quả mìn, lật nhào 8 xe cơ giới, diệt 88 tên địch, trong đó có 4 tên xâm lược Mỹ.

Tổng cộng Kơ-pa Kơ-lơng tham gia chiến đấu 32 trận, diệt 124 tên địch (trong đó có 6 lính Mỹ), phá huỷ 7 xe quân sự và là chiến sĩ trinh sát gan dạ, bắn giỏi đồng thời là một trong những người diệt nhiều địch nhất trên chiến trường Tây Nguyên. Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Kơ-pa Kơ-lơng được tuyên dương là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.

 

ACE bắn hạ ACE

 

Phi công James H. Kasler - một trong những phi công lừng lẫy nhất lịch sử không quân Hoa Kỳ, được gọi là "kẻ hủy diệt MiG" hoặc "vua không chiến" trong Chiến tranh Triều Tiên bởi thành tích bắn hạ 6 máy bay MiG trong giai đoạn 1950 - 1953. James H. Kasler được công nhận là phi công đạt đẳng cấp ACE - một thành tích huy hoàng dành cho những phi công bắn hạ từ 5 máy bay địch trở lên. James H. Kasler cũng nhận được tổng cộng 76 huân, huy chương các loại - nhiều nhất lịch sử không quân Hoa Kỳ. James H. Kasler cũng là phi công hấp dẫn nhất, đẹp trai nhất trong số các phi công Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam. Trên phim ảnh, James H. Kasler cũng chính là một trong số các hình tượng để xây dựng lên nhân vật phi công Pete "Maverick" Mitchell do Tom Cruise thủ vai trong loạt phim huyền thoại Top Gun. James H. Kasler tham chiến tại Chiến tranh Việt Nam với nhiệm vụ hủy diệt các phi công Việt Nam, chấm dứt "huyền thoại" về các máy bay MiG, đánh gục ý chí chiến đấu của không quân Việt Nam, dạy cho một nền không quân non trẻ như Việt Nam biết thế nào là "không chiến đích thực". Nhưng huyền thoại James H. Kasler với hơn 3000 giờ bay lại bị một chàng trai phi công Việt Nam mới ở độ tuổi 30, chỉ có chưa đầy 200 giờ bay thực tế, hạ gục trong một trận không chiến vào tháng 6/1966. Điều bất ngờ là chàng trai này chỉ lái MiG-17, một phương tiện bay lạc hậu hơn rất nhiều so với một chiếc F-4 Phantom II hoặc F-105 Thunderchief mà phi công James H. Kasler lái.

Chàng trai 30 tuổi này tên là Nguyễn Văn Bảy (hay còn gọi là Bảy A), trước đó đã bắn hạ 2 máy bay khác, đến chiếc máy bay của James H. Kasler là chiếc thứ 3. Tổng thành tích hạ gục của chàng trai Nguyễn Văn Bảy trong cuộc đời chiến đấu là 7 chiếc và đạt đẳng cấp ACE.

Có thể nói James H. Kasler có một cuộc đời chiến binh đầy hào hùng cho đến khi gặp phi công Nguyễn Văn Bảy. Sau khi bị bắn hạ, James H. Kasler phải ngồi tù tại Hỏa Lò cho đến tận năm 1973, được trả về sau khi Hiệp định Paris được kí.

Thành tích mà chàng trai Nguyễn Văn Bảy khi bắn hạ James H. Kasler được gọi là “ACE bắn hạ ACE” - thành tích vô tiền khoáng hậu trên thế giới, chưa được bất cứ phi công nào trên thế giới lặp lại từ Thế chiến II cho đến tận thời điểm hiện tại …. Và thành tích này sẽ tồn tại rất lâu nữa và thậm chí có lẽ sẽ không bao giờ tái hiện được./.

Ngày Quốc tế Lao động 01/5

 

Năm 1864, ngay sau khi thành lập Quốc tế I, Các Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ. Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: "...Từ ngày 01/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ". Sở dĩ ngày 01/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ. Ngày 01/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston ... hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ. Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố khác, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân thiệt mạng và bị thương, nhiều thủ lĩnh Công đoàn bị bắt... Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: "Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy".

Ngày 20/6/1889, ba năm sau "thảm kịch" tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 01 tháng 5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước. Từ đó, ngày 01/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1930, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày 0l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập - tự do - dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế - xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 01/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 01/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo... Đây là cuộc t tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936-1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động 01/5 hàng năm đã trở thành ngày hội lớn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội./.

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

Cảnh giác với chiêu trò mới của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 

Cảnh giác với chiêu trò mới của các thế lực thù địch trên không gian mạng

Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.

Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.

Chỉ có điều, tin đồn gần đây được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị nhào nặn gắn với những vụ án tham nhũng, đang được dư luận quan tâm, kết hợp với những phương thức truyền thông mới hiện đại, nhất là ứng dụng công nghệ AI, đưa giọng nói “thổi” vào các hình ảnh, video cắt ghép. Chiêu trò mới này tạo cảm giác cho người đọc, người xem dễ phân tâm, lung lạc giữa đúng - sai, thật - giả. Vì thế, với các chiêu trò mới của các phần tử phản động, cơ hội chính trị, làm cho các dạng tin đồn được lan truyền, nhân bản rất nhanh, tạo tâm lý đám đông, a dua vào những sự kiện vốn không có thật trên mạng.

Phương thức thông tin của tin đồn có nhiều dạng thức mới, nhưng về bản chất vẫn chủ yếu xung quanh ở các dạng thức.

Thứ nhất, tin đồn kiểu thật - giả lẫn lộn. Sử dụng thông tin có thật về các vụ án tham nhũng đã, đang, sẽ được xem xét, xử lý từ các nguồn thông tin chính thống của các báo, tạp chí trong nước, rồi thêm “gia vị’, nhào nặn để bôi nhọ, xuyên tạc cá nhân lãnh đạo, từ đó quy chụp, nói xấu chế độ.

Thứ hai, tin đồn kiểu giả mạo 100%. Đây là những tin giả, không có thật, do một số phần tử phản động, cơ hội chính trị tưởng tượng ra kịch bản như thật để lừa bịp người nhẹ dạ cả tin, nhằm kích động, hoặc tôn thờ, ca tụng một cá nhân, nhưng lại nói xấu một hay vài cá nhân lãnh đạo khác. Mục tiêu của chúng là kích động, gây mất đoạn kết nội bộ lãnh đạo nhằm chia giẽ nội bộ, dựng lên cái gọi là phe, nhóm lãnh đạo cấp cao tỉnh A, tỉnh B hay miền Trung, miền Nam, miền Bắc...

Đáng chú ý là chủ của các thông tin xấu độc này là những phần tử phản động, cơ hội chính trị ngoài nước. Họ là những kẻ phản động, bất mãn chế độ, chuyên “cạo chữ trên bàn phím”, ngồi cách xa Việt Nam hàng vạn cây số nhưng lại có vẻ như “người trong nội bộ”, ngụy tạo lên những chuyện hoang đường, hoàn toàn không có thật, suy diễn, thậm chí gắp lửa bỏ tay người, chọc gậy bánh xe để kích động, chia giẽ, lý gián nội bộ lãnh đạo...

Nguy hiểm hơn là lợi dụng tâm lý tò mò của không ít người sử dụng các nền tảng mạng xã hội trong nước, chúng sẻ chia thông tin giả trên nhiều nền tảng mạng xã hội, nhất là tiktok, facebok, youtube... len lỏi đưa lên nhiều nhóm facebook có số lượng thành viên rất đông để nhân rộng, lan tỏa nhanh thông tin. Từ một vài người đến nhiều nhóm sử dụng các nền tảng mạng xã hội ở trong nước, hàng vạn người chia sẻ, bình luận, từ đó hình thành làn sóng tin đồn, gây tâm lý bán tín, bán nghi, hoang mang trong dân chúng, cộng đồng mạng. Từ mạng ảo, các dạng tin đồn được các faceboker, tiktoker ra đời sống thực, rỉ tai nhau, lan truyền các tin đồn, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong xã hội.

Chính vì thế, hệ lụy, tác động từ các dạng tin đồn đã, đang gây hậu quả xấu, tác động đến tâm trạng, tư tưởng, an ninh tư tưởng trên không gian mạng. Ngoài tâm lý tò mò của cộng đồng mạng làm cho tin đồn - thông tin xấu độc lâu nay vẫn có đất sống, có nguyên nhân chủ quan từ chính chúng ta. Chúng ta thiếu tính chủ động, kịp thời ngăn chặn, để cho các tin đồn có thời gian dài có đất sinh sôi, nảy nở, lan truyền, tạo thành làn sóng tin giả tán phát mạnh mẽ trên mạng xã hội. Vẫn xảy ra tình trạng tắc trách, thờ ơ, thiếu tính đồng bộ, hiệp đồng tác chiến giữa các cấp, các cơ quan, đơn vị trong xử lý các tình huống tư tưởng và ngăn chặn tin đồn. Chúng ta còn để khoảng trống, thiếu các thông tin chính thống, dẫn dắt, chi phối trận địa tư tưởng trên không gian mạng, do các thông tin chính thống đăng tải để phủ định các tin đồn, tin giả, từ các cơ quan báo chí không kịp thời.

Để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi hiệu quả các thông tin xấu độc, nhất là các dạng tin đồn thất thiệt, góp phần giữ vững an ninh tư tưởng trên không gian mạng, rất cần triển khai một số giải pháp sau:

Một là, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cộng đồng mạng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Trong đó, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và Luật An ninh mạng.

Trong đó, cần đa dạng hóa các phương thức tuyên truyền, bao gồm cả tuyên truyền miệng và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hằng tháng hoặc đột xuất, các cấp ủy Đảng, hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên cần quan tâm lồng ghép, đưa thông tin chuyên đề đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, vạch trần âm mưu, thủ đoạn, bản chất của các tin đồn thất thiệt trong các cuộc họp chi bộ và các hội nghị báo cáo viên.

Để ngăn chặn tin đồn thật thiệt, không để lan truyền các thông tin xấu độc trên không gian mạng, các cơ quan báo chí cần đẩy mạnh tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kịp thời phản bác các tin đồn thất thiệt trên mạng interet và các nền tảng xã hội.

Hai là, tổ chức đấu tranh thường xuyên, kịp thời với các thông tin xấu độc, các tin đồn lan truyền trên mạng xã hội. Khơi dậy ý thức cảnh giác cao độ của mỗi công dân, nhóm sử dụng và cộng đồng mạng, nhất là cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên... khi tham gia các mạng xã hội. Các cấp ủy Đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội và hệ thống các trường từ trung học phổ thông đến các trường đại học cần thường xuyên tổ chức các hội nghị, các cuộc họp chuyên đề về đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, để mỗi công dân mạng nâng cao ý thức đấu tranh, tự tạo cho mình sức đề kháng, nhận thức rõ bản chất đúng - sai của thông tin xấu độc, không bị mắc bẫy khi chia sẻ, lan truyền các tin đồn, vi phạm Luật an ninh mạng.

Ba là, tăng cường phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị chức năng trong đấu tranh tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đấu tranh kịp thời với các hành vi, vi phạm của các mạng xã hội facebok, google, tiktok... Yêu cầu các mạng xã hội phải tuân thủ pháp luật, bóc gỡ các tin đồn thất thiệt gây ảnh hưởng đạo đức xã hội và vi phạm luật pháp của Việt Nam.../.

TS. Trần Doãn

(Theo Dangcongsan.vn)

“Lấy dân làm gốc” - nguyên tắc nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam

 

“Lấy dân làm gốc” - nguyên tắc nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam

Buổi tiếp công dân định kỳ tháng 3/2024 tại Trụ sở Tiếp công dân tỉnh Kon Tum. (Nguồn: UBND tỉnh Kon Tum)

Buổi tiếp công dân định kỳ tháng 3/2024 tại Trụ sở Tiếp công dân tỉnh Kon Tum. (Nguồn: UBND tỉnh Kon Tum)

Trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, "lấy dân làm gốc" đã trở thành quan điểm, nguyên tắc nhất quán trong nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đảng ta luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, to lớn của nhân dân, đồng thời quán triệt sâu sắc tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong toàn hệ thống chính trị, ở mọi cấp, ngành, địa phương, đơn vị để tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế.

Tại Đại hội VI, Đảng ta đã xác định rõ: “phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”; “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng”.

Các Đại hội tiếp theo, quan điểm của Đảng vẫn luôn nhất quán khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân, rằng, nhân dân là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của tiến trình xây dựng, phát triển đất nước, do đó, cần phải dựa vào dân, tin tưởng và phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; do đó, “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”, “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”; phải luôn “thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân”; phải để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đồng thời nhân dân phải được “quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước”. Trong mọi quyết sách và mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn “lấy nhân dân làm trung tâm”, phải “trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân”, “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”,…

Cùng với các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước cũng ban hành hàng loạt văn bản, pháp luật khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân, đồng thời chỉ đạo các cấp, ngành, địa phương phải thực sự coi trọng nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân, bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Song song đó, việc xây dựng, ban hành các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, pháp luật… của Nhà nước đều thực hiện lấy ý kiến góp ý của đông đảo tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân, từ đó sửa chữa, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn kiện, chính sách, pháp luật cho phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích của các tầng lớp nhân dân.

Tại các tổ chức, cơ quan Nhà nước đều có bộ phận tiếp công dân, có hòm thư, sổ ghi qua đó tiếp nhận ý kiến đóng góp, phản ánh, tố giác,… của nhân dân.

Đặc biệt, chúng ta có Ban Dân nguyện của Quốc hội phụ trách tiếp nhận, xử lý đơn thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân từ các bộ phận tiếp dân ở cơ sở, ban ngành… trên cơ sở đó xem xét, kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết kịp thời nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Theo Báo cáo của Ban Dân nguyện, tính đến ngày 5/10/2023 đã có 2.474/2.765 kiến nghị đã được giải quyết, trả lời cử tri, đạt 89,5%, trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến đời sống và các quyền lợi thiết thực của người dân.

Quá trình tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội đất nước, Đảng và Nhà nước cũng tích cực chỉ đạo các tổ chức, lực lượng, cơ quan, ban, ngành, địa phương phải luôn quán triệt tốt quan điểm “lấy dân làm gốc”, luôn đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, lấy quyền và lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân làm căn cứ để thực hiện các chính sách theo hướng bảo đảm, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, bảo đảm toàn bộ tiến trình xây dựng, phát triển đất nước đều là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau, hay bị gạt ra khỏi quỹ đạo phát triển của đất nước.

Mọi chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước đều được xây dựng, tổ chức thực hiện trên cơ sở nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, bảo đảm cân đối, hài hòa lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các chủ thể, thành phần kinh tế, đồng thời có sự hỗ trợ, tạo điều kiện hơn cho những chủ thể kinh tế ở những địa bàn khó khăn, nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Đảng và Nhà nước cũng thường xuyên chỉ đạo tổ chức tổng kết, đánh giá, tiếp nhận ý kiến phản ánh của nhân dân để kịp thời có những thay đổi, điều chỉnh các chính sách phát triển kinh tế-xã hội cho phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm đáp ứng tốt hơn quyền và lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân; đồng thời thực hiện nhiều biện pháp, cách thức để tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân được tham gia vào các công việc của các cơ quan Nhà nước theo đúng nguyên tắc phải để dân được “biết”, được “bàn”, được “làm”, được “kiểm tra”, được “giám sát” việc ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nhất là tham gia vào những công việc lớn, hệ trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia, an ninh lãnh thổ, đường lối phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời được “thụ hưởng” những thành quả của tiến trình phát triển đất nước.

Như vậy, “lấy dân làm gốc” không chỉ là quan điểm nhất quán trong nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị mà hơn thế còn là phương thức, cách thức hữu hiệu để thực hiện tốt dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân trong thực tế.

Tuy nhiên, với thái độ thù địch và mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực phản động thường xuyên công kích, bôi nhọ, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam tuyên bố “lấy dân làm gốc” chỉ là khẩu hiệu được ghi trong văn kiện của Đảng để làm màu, tô vẽ ca ngợi Đảng, chứ không hề được thực hiện trong thực tế.

Các đối tượng chống phá bịa đặt rằng mọi chủ trương, chính sách của Việt Nam đều xuất phát từ ý Đảng, ý chí của quan chức và phục vụ cho lợi ích của nhóm các lãnh đạo có chức quyền chứ thực sự không hề vì dân, quan tâm đến dân, chăm lo cho dân.

Thậm chí, người dân còn bị bỏ rơi, bị gạt ra khỏi tiến trình phát triển, cho nên dù đất nước đã có nhiều khởi sắc nhưng đại bộ phận nhân dân phải chịu cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn, nhiều quyền công dân, quyền con người bị vi phạm…

Không khó để nhận thấy mưu đồ chính trị đen tối đằng sau những lời xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn đó của các thế lực thù địch, phản động là nhằm công kích, bôi xấu Đảng, Nhà nước, phủ nhận những nỗ lực và thành tựu tốt đẹp của Đảng và Nhà nước Việt Nam bao năm qua trong việc thực hiện dân chủ, luôn trọng dân, gần dân, luôn coi nhân dân là trung tâm của mọi chủ trương, chính sách, coi việc bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, đem lại hạnh phúc cho đông đảo tầng lớp nhân dân là khát vọng, mục tiêu, động lực của toàn bộ tiến trình xây dựng, phát triển đất nước.

Thực tế cho thấy, chính nhờ luôn kiên định và thực hiện tốt nguyên tắc “lấy dân làm gốc” cho nên Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam những năm qua đạt những thành tựu rất đáng tự hào không chỉ về tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội, giữ vững an ninh chủ quyền lãnh thổ, nâng cao vị thế, tầm vóc, uy tín đất nước,… mà quan trọng hơn là những thành tựu về thực hiện dân chủ, đem đến cho người dân Việt Nam cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh.

Chỉ tính riêng những thành tựu mà Việt Nam đạt được năm 2023 vừa qua như: Áp dụng mọi biện pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đem lại thu nhập bình quân cho người dân đạt 4.284 USD (tăng gấp hơn 40 lần so với năm 1990); nỗ lực thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo để hạ tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 3%; cân đối các nguồn lực để bảo đảm trợ cấp hằng tháng cho 100% đối tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ cho 100% người dân bị thiệt hại do thiên tai, thiếu đói, trợ giúp, chăm sóc trên 90% người khuyết tật, người cao tuổi...; hay việc Đảng và Nhà nước tìm mọi cách huy động mọi lực lượng, nguồn lực thậm chí chấp nhận thiệt hại về kinh tế tạm thời để hỗ trợ người dân, bảo vệ sức khỏe người dân, đồng hành cùng nhân dân vượt qua những năm đại dịch COVID-19, những đợt thiên tai, bão lũ, không để ai bị đói, khát, thiếu chỗ ở,… tất cả đều là những minh chứng sống động về sự trọng dân, vì dân, coi dân là gốc, luôn lấy dân làm gốc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đồng thời giúp phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, công kích của các thế lực thù địch, khẳng định bản chất dân chủ ưu việt tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Việt Nam./.

TS. HOÀNG THỊ KIM OANH (nhandan.vn)