Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

CHO THANH NIÊN VỪA "HỒNG" VỪA "CHUYÊN"

-----------------------

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ai cũng nhận rằng thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà và Đoàn Thanh niên Lao động là cánh tay đắc lực của Đảng”. Vì vậy, trước lúc đi xa, Người căn dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ trở thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Theo Hồ Chí Minh, nền giáo dục mới mà chúng ta xây dựng sẽ phải hướng đến mục tiêu đào tạo thanh niên thành những công dân có ích cho xã hội, phải làm cho người học phát triển hoàn toàn những năng lực có sẵn trong bản thân, Người tóm tắt đó là những người: vừa “hồng vừa “chuyên”. Trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Hồ Chí Minh viết: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Mục tiêu giáo dục mà Hồ Chí Minh xác định là: “Để giáo dục thanh niên ta rèn luyện một chí khí kiên quyết quật cường, một tâm lý quả cảm xung phong, tin tưởng vào tương lai của Tổ quốc, vào lực lượng của nhân dân, hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung của dân tộc, ra sức đấu tranh để củng cố hòa bình thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn nước Việt Nam ta”.

Từ việc đánh giá cao vị trí vai trò của thế hệ trẻ, đánh giá cao vai trò của công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh luôn đặt ra yêu cầu phải giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng thanh niên một cách toàn diện. Trong Thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31/8/1960, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”.

Thứ nhất, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trong nhiều bài nói, bài viết và chỉ dẫn của mình, Người cho rằng, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên là giúp thanh niên trở thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người chủ tương lai của đất nước. Việc rèn luyện phẩm chất đạo đức phải luôn gắn bó chặt chẽ với năng lực. Tin tưởng vào thanh niên và đặt ra yêu cầu rất cao về phẩm chất, năng lực của thanh niên, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”. Vì vậy, hai mặt đức và tài, “hồng” và “chuyên”, phẩm chất và năng lực phải kết hợp chặt chẽ với nhau mới làm cho thanh niên kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao cho. Trong giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, Hồ Chí Minh luôn quan niệm đức và tài là hai nội dung không thể thiếu được, trong đó đức là gốc. Người xem đạo đức như ngọn nguồn của sông, như gốc của cây, như sức mạnh của con người: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Thứ hai, giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên. Trong giáo dục cho thanh niên, theo Hồ Chí Minh còn quan tâm đến nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng cho họ: “Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”. Bởi theo Người: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”. Theo Hồ Chí Minh giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho thanh niên là giáo dục sự nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, phấn đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Người cho rằng, Đảng và Nhà nước phải quan tâm, chăm lo giáo dục thanh niên toàn diện: “Nhà nước chú trọng đặc biệt việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục”.

* Về phương thức giáo dục thanh niên

Thứ nhất, học đi đôi với hành, lý luận kết hợp với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, học phải đi đôi với hành, học để hành, học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Ngày 21/10/1964 trong Bài nói chuyện tại trường đại học Sư phạm Hà Nội, Người căn dặn: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tiễn, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”. Ngoài ra, Người còn nhấn mạnh giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ phải gắn với thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân: “Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội. Trong xã hội cũ có nhiều nọc độc nó làm hại thanh niên. Nhất là văn hóa độc ác của Mỹ, nó dùng mọi cách như sách báo, phim ảnh, v.v. để làm cho thanh niên hư hỏng, truỵ lạc. Vì vậy, sự giáo dục thanh niên phải liên hệ vào dư luận của xã hội, lực lượng của Chính phủ để ngăn ngừa những cái gì có thể ảnh hưởng xấu đến thanh niên, để nâng cao tính cảnh giác của thanh niên”.

Thứ hai, phải phối, kết hợp các hình thức giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong đào tạo, giáo dục thanh niên. Tại lễ khai trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19/1/1955, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên”.

Thứ ba, phải đề cao và phát huy tinh thần tự giáo dục, tự rèn luyện của thanh niên, “xây” phải đi đôi với “chống”. Theo Người, kết hợp việc giáo dục của nhà trường, của xã hội và của gia đình là hết sức quan trọng: “Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên”. Đồng thời, Người cũng chỉ ra cho thanh niên “Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”.

Thứ tư, giáo dục thế hệ trẻ thông qua gương người tốt, việc tốt. Đồng thời với việc yêu cầu tinh thần tự rèn luyện của thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm việc giáo dục, đào tao, bồi dưỡng thế hệ trẻ thông qua những gương người tốt việc tốt: “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin thiết thực nhất”.

Thứ năm, phải tập hợp thế hệ trẻ trong các tổ chức và thông qua các tổ chức để giáo dục thanh niên. Ý thức đầy đủ về vai trò của các đoàn thể trong tập hợp, giáo dục thế hệ trẻ, sau khi tìm được con đường cứu dân, cứu nước và nhận thức sâu sắc về vai trò của thế hệ trẻ, năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thế hệ trẻ. Sau này, nhân Đại hội đại biểu toàn quốc Hội liên hiệp thế hệ trẻ Việt Nam, (1956) Người một lần nữa khẳng định vai trò của tổ chức trong việc tập hợp và giáo dục thế hệ trẻ: “Nhờ sự giáo dục, bồi dưỡng của Đảng và Đoàn, nhiều chiến sĩ, anh hùng thanh niên đã nảy nở trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong cuộc toàn dân kháng chiến và trong việc xây dựng nước nhà hiện nay”.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và giáo dục thanh niên, Đảng ta khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên”. Để tiếp tục giáo dục thanh niên vừa “hồng” vừa “chuyên” theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chúng tôi cần tập trung những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, vận dụng tư tưởng giáo dục thanh niên vừa “hồng vừa “chuyên” theo Di chúc hiện nay phải quán triệt và vận dụng sáng tạo, đầy đủ, toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết, mục tiêu, nội dung, phương thức giáo dục thanh niên theo tinh thần Chỉ thị số 42- CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030”.

Hai là, chủ động phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên; làm cho thế hệ trẻ hôm nay biết yêu cuộc sống, giàu lòng nhân ái, kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn của dân tộc, ứng xử văn minh, thanh lịch, nghĩa tình; chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; bày tỏ chính kiến, đấu tranh với cái xấu. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, từng bước bài trừ các tệ nạn xã hội.

Ba là, tăng cường giáo dục thanh niên thông qua những tấm gương điển hình tiên tiến, cá nhân có thành tích vượt trội.

Bốn là, tăng cường định hướng giá trị thông qua các loại hình văn hóa, văn học nghệ thuật gắn với xây dựng chuyên trang, chuyên mục về nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống; nêu gương người tốt, việc tốt, đặc biệt là những tấm gương vượt khó vươn lên trong cuộc sống để định hướng cho thanh niên phát triển loại hình văn hoá hiện đại mang tính khoa học và nhân văn, tham gia bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa; tổ chức các điểm văn hóa thanh niên theo cụm dân cư; tổ chức các hội thi, hoạt động văn hóa dân gian; tổ chức các cuộc vận động sáng tác tác phẩm văn học, nghệ thuật dành cho thanh niên.

Năm là, nâng cao khả năng phối hợp, lồng ghép các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội với các đoàn thể quần chúng nhân dân và các chủ thể xã hội khác nhằm giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Nghiên cứu đánh giá công tác phối hợp, lồng ghép các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội với các đoàn thể quần chúng và các chủ thể xã hội khác trong giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Tăng cường ký kết các chương trình, kế hoạch liên tịch của Đoàn, Hội, Đội với các chủ thể xã hội khác chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên.

QĐND

LTT/d5

 

 

 

11

Thích

Bình luận

Chia sẻ

 

“Nạn đói kém nguy hiểm hơn nạn chiến tranh”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài viết “Hô hào nhân dân chống nạn đói”, đăng Báo Cứu quốc, số 86, ngày 08 tháng 11 năm 1945.

Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng trong ký ức của người dân Việt Nam, nạn đói năm 1945 vẫn còn là một cơn ác mộng, một nỗi đau nhức nhối, khó quên. Do chính sách độc ác của bọn phát xít Nhật và thực dân Pháp đã khiến cho hơn 2 triệu người dân Việt Nam phải chết vì đói, bằng một phần mười dân số Việt Nam lúc bấy giờ. Lời của Bác vừa là lời tố cáo đanh thép về tội ác “trời không dung, đất không tha” của bè lũ thực dân đế quốc đã gây ra cho dân tộc Việt Nam, vừa là động lực thôi thúc nhân dân cả nước quyết tâm vượt qua khó khăn, gian khổ ra sức lao động, sản xuất để tạo ra nhiều lương thực nhằm giải quyết nạn đói trước mắt và chi viện cho tiền tuyến, góp phần vào thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Lời của Bác là bài học nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam phải luôn nêu cao ý thức tự lực, tự cường, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời, chúng ta phải ra sức phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tích cực và chủ động hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dù ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, Quân đội ta luôn chủ động, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế bằng hình thức, biện pháp phù hợp, đúng định hướng của Đảng. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong những năm tới, nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng; nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đứng trước những thuận lợi và cơ hội to lớn, song cũng có không ít khó khăn, thách thức. Để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới, đòi hỏi Quân đội cần tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, đóng góp nhiều hơn nữa vào phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường tiềm lực, sức mạnh của đất nước, xứng đáng là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong thời kỳ mới.

Sưu tầm

 ĐỂ NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT HIỆU QUẢ TRONG THỰC TẾ

“Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là một nguyên tắc hoạt động của Đảng, được Đại hội X của Đảng thông qua và đưa vào Điều lệ Đảng. Nguyên tắc này xác định địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền và phương thức hoạt động của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay; thể hiện sinh động cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"; đề phòng và khắc phục tình trạng "bao biện làm thay" hoặc buông lỏng lãnh đạo...

Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật phản ánh đầy đủ các giá trị văn hóa cao quý của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo. Ảnh minh họa:

 

Ngay sau khi trở thành Đảng cầm quyền tháng 9-1945, Đảng ta đã coi trọng vấn đề tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Năm 1947, mặc dù công cuộc kháng chiến-kiến quốc vô cùng bận rộn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tâm sức viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", trong đó có phần chỉnh đốn những biểu hiện coi thường pháp luật của cán bộ, đảng viên. Tại Đại hội III của Đảng, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng: "Có những cấp ủy đảng bao biện làm thay, can thiệp vụn vặt vào công việc của cơ quan Nhà nước... Có những cấp ủy và cán bộ, đảng viên coi thường chính quyền Nhà nước, không nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết của cơ quan chính quyền cấp trên"(1).

Đến Đại hội IV, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Đảng bắt buộc các tổ chức đảng và đảng viên tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm và các chế độ của cơ quan Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định của Nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng”(2). Đặc biệt, Đảng khẳng định việc cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nước là vi phạm kỷ luật của Đảng.

Tại Đại hội V, Đảng nhấn mạnh: "Vẫn còn một số tổ chức đảng bao biện công việc của cơ quan Nhà nước. Cần nhanh chóng khắc phục tình trạng đó. Các cấp ủy đảng, các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thi hành Hiến pháp và pháp luật, đi đầu trong cuộc đấu tranh tăng cường pháp chế XHCN. Nghiêm cấm các tổ chức đảng tùy tiện đề ra những quy định trái với pháp luật”(3). Đại hội cũng nhấn mạnh, phải tập trung "khắc phục thiên hướng xem nhẹ vai trò của Nhà nước còn khá nặng nề ở nhiều cấp, nhiều ngành"(4).

Đại hội X của Đảng đã thông qua Điều lệ Đảng, trong đó xác định: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(5) là một trong các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật phản ánh đầy đủ các giá trị văn hóa cao quý của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo. Nội dung cơ bản của nguyên tắc ấy là: Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng được chế định trong Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật thông qua trình tự lập hiến, lập pháp, qua đó mà thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Nội dung và phương thức hoạt động của Đảng phải phù hợp với Hiến pháp và pháp luật; tổ chức sinh hoạt nội bộ của Đảng phải phù hợp với các thiết chế do Hiến pháp và pháp luật quy định. Đảng lãnh đạo bảo đảm các thiết chế của Nhà nước hoạt động theo đúng vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ. Tổ chức đảng và đảng viên gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, mọi vi phạm phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh, công khai trước pháp luật như mọi tổ chức và công dân khác.

Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động vu cáo Đảng ta "độc tài, toàn trị", là "ông vua tập thể"; đồng thời cảnh tỉnh, ngăn ngừa những đảng viên có chức, có quyền sa vào "tham nhũng quyền lực". Dù rằng đây là vấn đề thuộc về "khuyết tật bẩm sinh của quyền lực" mà bất kỳ một đảng cầm quyền nào cũng phải tiến hành các biện pháp phòng, chống để bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.

Thực hiện nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” đã đem lại những thành tựu to lớn trong vận hành cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" ở nước ta. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận, một bộ phận cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng chưa nhận thức rõ về nguyên tắc này. Một số tổ chức đảng vẫn ra những nghị quyết, chỉ thị trái pháp luật; một số cán bộ, đảng viên nhân danh tổ chức đảng tùy tiện gây áp lực làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật. Một số cấp ủy địa phương lạm dụng quyền lãnh đạo, can thiệp sâu vào hoạt động chính quyền, tư pháp. Một bộ phận đảng viên vi phạm pháp luật, nhất là trong lĩnh vực kinh tế với tính chất, mức độ nghiêm trọng. Một số cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, bao che cho các hoạt động kinh tế bất hợp pháp, để vợ con, người thân trục lợi từ chức vụ, quyền hạn. Đặc biệt là những biểu hiện làm giàu bất chính, ăn chơi xa xỉ, mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè bê tha... bị quần chúng oán ghét, làm suy giảm niềm tin của người dân vào Đảng.

Tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII vừa qua, Trung ương Đảng đã thống nhất cao về việc tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Cùng với đẩy mạnh thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4, khóa XII đã đề ra; Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm.

Có thể nói, thực hiện 2 nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII bổ sung, nhấn mạnh là vấn đề quan trọng nhất trong thúc đẩy việc thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Cùng với vấn đề quan trọng nhất nói trên, chúng ta cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp khác như: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cấp ủy các cấp và cán bộ, đảng viên về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; chú trọng thực hiện nghiêm quy định của Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm. Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy các cấp, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của đảng viên. Phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp trong thực hiện nguyên tắc.

Trong sinh hoạt Đảng và tiếp xúc cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng rất nhiều lần nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải thấm nhuần quan điểm "đúng vai, thuộc bài". Điều đó có nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức phải hiểu rõ, nắm chắc và hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ đã được Hiến pháp và pháp luật cho phép. Thực tiễn lãnh đạo và cầm quyền của Đảng ta trong hơn 35 năm đổi mới cho thấy, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật không phải là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng mà là một yêu cầu khách quan, vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, vừa giúp xây dựng Đảng vững mạnh, thật sự xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

 

 PHÒNG, CHỐNG NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.

 

   Trong kỷ nguyên số, thời đại công nghiệp 4.0, môi trường không gian mạng (KGM) đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của KGM lại là mảnh đất “mầu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam với âm mưu, thủ đoạn ngày cảng tinh vi, nguy hiểm.

 

  Đáng chú ý, thời gian gần đây lợi dụng những ưu thế nổi trội của mạng xã hội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính kết nối, tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, nặc danh, khó kiểm soát…, thậm chí nhiều khi bị xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, các TLTĐ đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt. Chúng tăng cường truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước, phủ nhận truyền thống lịch sử dân tộc và những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà đất nước ta, nhân dân ta đã giành được; xuyên tạc, vu khống, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao… hòng gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

 

  Theo các cơ quan chức năng, hằng ngày có hàng nghìn tin, bài chống phá được tung lên KGM, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  nhân dân với Đảng, Nhà nước. Sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, mà nay chúng đã đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi.

 

  Về quy mô hoạt động, chúng có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước có quan điểm đối lập…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, với chiêu trò “nội công, ngoại kích”, tạo thành nhiều mũi tấn công trên nhiều lĩnh vực.

 

  Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…. Đặc biệt, chúng coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng tập trung chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị; phủ nhận, bôi đen những thành tựu,  cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những mặt hạn chế, những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xuyên tạc các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo…tạo cái nhìn sai lệch về tình hình đất nước; đồng thời phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; chúng cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân…

 

  Cùng với phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu độc trên KGM, thực hiện chiêu trò “mưa dầm thấm lâu” hết sức thâm độc, chúng còn tráo trở cắt ghép, đan cài, “đổi trắng thay đen” trộn lẫn tinh vi thông tin thật – giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch, dẫn dắt dư luận xã hội, ngụy tạo sự khách quan để chống phá hết sức tinh vi, xảo quyệt.

 

  Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm của các đối tượng trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh táo, chủ động, nhận diện đúng và thường xuyên, quyết liệt đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, nâng cao “sức đề kháng” khả năng “miễn nhiễm”, trước những thông tin xấu độc. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện để làm tốt vai trò tham mưu đúng, trúng, kịp thời, từ sớm, từ xa trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi; không a dua, câu view, câu like, chia sẻ với những thông tin không được kiểm chứng, những luồng thông tin xấu độc… Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, là "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước vào cuộc sống; đưa những thông tin chính thống, tích cực, lan tỏa những tấm gương sáng, những cách làm hay, việc làm tốt trong cộng đồng, tỏa sáng niềm tin của nhân dân, vững tin trên con đường dân tộc./.

 

 LỢI ÍCH NHÓM TRONG VIỆC KIỂM SOÁT S.Ú.N.G Đ.Ạ.N TẠI HOA KỲ

Lợi ích nhóm được cho là một trong những rào cản lớn trong việc thắt chặt các quy định về sử dụng s.ú.n.g đ.ạ.n tại Bông Kỳ. Trong đó, Hiệp hội S.ú.n.g trường Quốc gia Mỹ (NRA) là một trong các nhóm lợi ích có ảnh hưởng nhất trên chính trường Mỹ - không chỉ bởi số tiền mà họ sử dụng để hối lộ các chính khách mà còn bởi sự tham gia của 5 triệu thành viên.

NRA phản đối hầu hết các đề xuất tăng cường quy định kiểm soát s.ú.n.g và đứng sau các nỗ lực ở cấp độ Liên bang và Tiểu bang nhằm giảm bớt các hạn chế trong việc sở hữu s.ú.n.g đ.ạ.n.

Tổng ngân sách hàng năm của NRA là khoảng 250 triệu USD, được phân bổ cho các chương trình giáo dục, s.ú.n.g đạn, chương trình hội viên, học bổng, hối lộ các nhà lập pháp và các nỗ lực liên quan. Tuy nhiên, hơn cả các con số đơn thuần đó, NRA đã nổi danh tại Washington như là một thế lực chính trị có thể “tạo dựng" và cũng có thể "hạ bệ” các chính khách quyền lực nhất.

Đặc biệt, NRA luôn thể hiện sự quyền uy của mình bằng cách lên án "sự cuồng loạn, tin tức giả và hành động gây hoang mang" của những người ủng hộ kiểm soát s.ú.n.g đ.ạ.n đang "tuyệt vọng tìm cách cản trở" đạo luật SHARE-một đạo luật giúp những công dân đang sở hữu vũ khí dễ dàng mua ống giảm thanh hơn.

Các chuyên gia phân tích cho rằng, chừng nào các nhóm ủng hộ việc sử dụng s.ú.n.g đ.ạ.n còn can thiệp vào bầu cử và ngành lập pháp, thì họ vẫn là “bá chủ” trong "thị trường" s.ú.n.g đạn của nước Mỹ./.

 

Lời Bác dạy

… Nhờ Cách mạng Tháng Mười thành công mà một thế giới mới đã ra đời và ngày càng phồn vinh, càng mạnh mẽ như hoa nở mùa Xuân”.

Đây là sự đánh giá, ghi nhận về thắng lợi vĩ đại cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trích trong bài viết “Vui vẻ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười” gửi Báo Sự thật (Liên Xô), Báo Nhân dân, đăng số 2061, ngày 07 tháng 11 năm 1959.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và những gì mà cuộc cách mạng này tạo ra có sức lan tỏa, cổ vũ, lôi cuốn, thúc đẩy mãnh liệt đối với phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào công nhân quốc tế, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa của thực dân, đế quốc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ latinh. Đối với Việt Nam, “đi theo con đường cách mạng vô sản”, con đường của Lênin và cách mạng Tháng Mười Nga cho tới nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do và quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững thành quả cách mạng, hoà bình, môi trường chính trị – xã hội ổn định để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống nhân dân.

Ngày nay, thế giới đã có những biến động, thay đổi to lớn, sâu sắc, với không ít những thách thức về chính trị, an ninh, kinh tế – xã hội, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ… Song, thành quả của Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị lịch sử, thời đại, đã và đang thôi thúc giai cấp công nhân và những người tiến bộ tiếp tục cống hiến, hy sinh không mệt mỏi trong cuộc đấu tranh để xây dựng một thế giới hòa bình, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, bình đẳng, bác ái, không còn áp bức, bóc lột, không còn những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến xung đột, chiến tranh – đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Đối với nước ta, bước vào giai đoạn cách mạng mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch, phản động, chống đối tuy thất bại nhưng vẫn không chịu từ bỏ âm mưu, ý đồ chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với mọi phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ cách mạng thay đổi đặt ra yêu cầu cấp bách cho lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân phải kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Tuyệt đối không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Sưu tầm

Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể là “Đảng toàn dân”

Chống phá Đảng, Nhà nước ta nói chung, xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng nói riêng là mục tiêu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đặc biệt gần đây, trên không gian mạng xuất hiện không ít luận điệu xuyên tạc cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng toàn dân”, từ đó phủ nhận bản chất giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo của Đảng. Vấn đề này cần được nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Ðảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”1. Đây là cách diễn đạt hoàn toàn đúng đắn, phù hợp về bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong điều kiện mới.

Tuy nhiên, với mưu đồ thâm độc, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng vấn đề này, thường xuyên tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc về bản chất của Đảng. Họ cho rằng, nếu “ôm đồm” như vậy, Đảng không còn là Đảng của giai cấp công nhân nữa, mà là “Đảng toàn dân”. Để minh chứng cho luận điệu này, chúng còn lấy số liệu thực tế về tỷ lệ đảng viên xuất thân từ công nhân không cao, trong khi số lượng đảng viên của Đảng xuất thân từ nông dân, trí thức cao hơn để phụ họa. Thâm hiểm hơn, lợi dụng việc Đảng ta chủ trương kết nạp những quần chúng ưu tú là chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng, để suy diễn, xuyên tạc cho rằng: bản chất giai cấp công nhân của Đảng sẽ bị phai nhạt, Đảng Cộng sản đang dần thành “Đảng toàn dân”. Đồng thời, hô hào “Đảng toàn dân” thì mới “chính danh” cầm quyền, “đại diện cho toàn dân tộc”(!).

Có thể khẳng định, những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, phản động, không ngoài dụng ý xấu là nhằm phủ nhận bản chất giai cấp công nhân và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó đi đến xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, làm rõ bản chất giai cấp công nhân của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Lý luận Mác - Lênin đã chỉ rõ, bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản là tổng hòa các mặt, các yếu tố thuộc tính, mối liên hệ tất yếu bên trong quy định sự vận động, phát triển của đảng, được biểu hiện thông qua các tính chất, cách tổ chức và hoạt động của đảng. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân - giai cấp mà bản chất và lợi ích của nó gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bản chất giai cấp công nhân của đảng thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng; ở cương lĩnh, đường lối, nền tảng tư tưởng, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; ở phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; mối quan hệ gắn bó giữa đảng với nhân dân và giải quyết vấn đề dân tộc với đoàn kết quốc tế; do đó, về mặt nhận thức, không thể lẫn lộn đảng với toàn bộ giai cấp, với toàn thể nhân dân và dân tộc. Điều đó cũng được V.I.Lênin khẳng định “... không được lẫn lộn đảng, tức là đội tiền phong của giai cấp công nhân, với toàn bộ giai cấp”2. Trên thực tế, Đảng Cộng sản được tổ chức chặt chẽ, khác với các tổ chức khác của giai cấp công nhân, là tổ chức của những người cách mạng, lấy hoạt động cách mạng làm nghề nghiệp. Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Đại hội II của Đảng khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam là đội tiền phong và bộ tham mưu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhưng về thực chất, nó vẫn là một chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam”3.

Ở Việt Nam, xuất phát từ đặc điểm đất nước và điều kiện của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc nên Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Điều này làm cho bản chất giai cấp công nhân của Đảng thống nhất biện chứng với tính nhân dân và tính dân tộc. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã tiếp tục “Khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, chúng ta không tách rời Đảng và giai cấp với các tầng lớp nhân dân lao động khác, với toàn thể dân tộc. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng đã mang trong mình tính thống nhất giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc. Chính lập trường và lợi ích giai cấp công nhân đòi hỏi trước hết phải giải phóng dân tộc. Đảng tìm thấy nguồn sức mạnh không chỉ ở giai cấp công nhân mà còn ở các tầng lớp nhân dân lao động, ở cả dân tộc. Cũng từ đó nhân dân lao động và cả dân tộc đã thừa nhận Đảng ta là người lãnh đạo, người đại biểu chân chính cho quyền lợi cơ bản và thiết thân của mình”4. Đến nay, cách diễn đạt bản chất của Đảng đã được bổ sung đầy đủ, sâu sắc hơn như ở đầu bài viết đã nêu. Diễn đạt như vậy không hạ thấp bản chất giai cấp công nhân của Đảng, cũng không trượt sang quan điểm “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”, mà diễn giải bản chất giai cấp công nhân của Đảng sâu sắc, biện chứng hơn; phản ánh sự thống nhất về lợi ích, mục tiêu, lý tưởng của các giai cấp, tầng lớp nhân dân và toàn dân tộc trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, diễn đạt này không trái với học thuyết Mác - Lênin về Đảng Cộng sản, bởi: “... giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc”5. Khi đã có chính quyền, giai cấp công nhân và nhân dân lao động chính là đại diện của dân tộc, là chủ nhân của đất nước, thì Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân đương nhiên là đội tiên phong của nhân dân lao động và của toàn dân tộc.

Bên cạnh đó, Ðảng Cộng sản Việt Nam vốn dĩ ra đời, phát triển ở nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu nên ban đầu, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, số lượng còn ít so với các thành phần xã hội khác như giai cấp nông dân,... song luôn chứng tỏ tinh thần cách mạng triệt để, tính tổ chức kỷ luật cao, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ, đủ khả năng lãnh đạo cách mạng. Vì vậy, tuy số lượng đảng viên xuất thân từ giai cấp công nhân chiếm tỷ lệ không cao trong Đảng, song có vai trò rất quan trọng. Đại hội IV của Đảng đã khẳng định: “Thành phần xã hội xuất thân của đội ngũ cán bộ, đảng viên tuy không phải là yếu tố duy nhất hoặc là yếu tố chủ yếu, nhưng rất quan trọng, vì nó góp phần bảo đảm tính chất giai cấp công nhân của Đảng, có ảnh hưởng không nhỏ đến sức chiến đấu, đến sự trong sạch về tư tưởng và tổ chức của Đảng,...”6. Đây là sự vận dụng, phát triển sáng tạo vấn đề thành phần giai cấp trong Đảng ở nước ta. Đồng thời, phù hợp với chỉ dẫn của V.I.Lênin về các tiêu chí đặc biệt quan trọng để xem xét, đánh giá một đảng có thực sự là đảng của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân, một đảng Mác xít chân chính hay không: “Dĩ nhiên, đại bộ phận Công đảng là công nhân. Nhưng nó có thực sự là một chính đảng của công nhân hay không, điều đó không phải chỉ phụ thuộc vào chỗ đảng đó có bao gồm công nhân hay không, mà cũng còn phụ thuộc vào chỗ ai lãnh đạo nó, và ở tính chất của hành động và của sách lược chính trị của đảng đó ra sao nữa”7. Như vậy, số lượng đảng viên là công nhân tuy có vai trò quan trọng song không quyết định bản chất giai cấp công nhân của Đảng mà được quyết định bởi: Ai là người lãnh đạo của Đảng; chất lượng của đội ngũ cán bộ chiến lược của Đảng ra sao; đường lối lãnh đạo và hành động của Đảng có đúng đắn hay không. Từ những phân tích trên cho thấy, luận điệu về cái gọi là “Đảng toàn dân” mà các thế lực thù địch rêu rao, gán ghép cho Đảng Cộng sản Việt Nam đều xuất phát từ những ý kiến chủ quan và không có cơ sở khoa học. Điều đó càng lộ rõ mưu đồ của họ nhằm phủ nhận bản chất giai cấp công nhân và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; từ đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm phai nhạt vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cũng như mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng.

Thực tiễn đã cho thấy, cùng với lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Dù trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng không hoài nghi, dao động, xa rời mục tiêu, lý tưởng, luôn kiên định lãnh đạo đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội với những đặc trưng đã được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”8.

Và để thực hiện mục tiêu đó, Đảng ta thường xuyên nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, năng lực hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả. Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thường xuyên bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với yêu cầu, thực tiễn phát triển đất nước, nguyện vọng của nhân dân; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và toàn xã hội. Đồng thời, Đảng không ngừng củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; giữ vững, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo quan điểm, lập trường, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung, thực sự là tấm gương về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hết lòng vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những sâu mọt, làm trong sạch bộ máy lãnh đạo.

Mặt khác, Đảng, Nhà nước ta luôn củng cố quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộcchăm lo đời sống, đại diện và bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chú trọng hoàn thiện thiết chế dân chủ hóa đời sống xã hội, thực hiện hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở; thường xuyên đổi mới, hoàn thiện chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện mà Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hoá, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”9. Xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức liêm chính, thực sự là công bộc của nhân dân.

Cùng với đó, Đảng, Nhà nước ta luôn kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế thông qua đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; mở rộng hợp tác với các nước, tổ chức quốc tế, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên đã khẳng định, Ðảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, mãi xứng đáng là đội tiên phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc; lãnh đạo đất nước ngày càng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thực tế đó là minh chứng rõ ràng nhất bác bỏ luận điểm xuyên tạc bản chất giai cấp công nhân của Đảng mà các thế lực phản động, thù địch vẫn rêu rao, xuyên tạc./.

Sưu tầm

“Nhân quyền cao hơn chủ quyền” – sự đòi hỏi phi lý

Nhân quyền là một giá trị vừa mang tính phổ quát của nhân loại, vừa có nét riêng của mỗi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, triệt để lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch đã, đang tuyệt đối hóa, cho rằng “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, nhằm kích động gây mất ổn định chính trị, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Đây là sự đòi hỏi hết sức phi lý cần vạch trần, đấu tranh bác bỏ.

Nhằm thúc đẩy và bảo đảm quyền con người, năm 1948, Liên hợp quốc ra Tuyên bố thế giới về quyền con người. Từ đây việc bảo đảm quyền con người trở thành nguyên tắc, nghĩa vụ chung của quốc tế, nhưng quyền ấy cũng có giới hạn nhất định tùy vào mỗi quốc gia, dân tộc. Song, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực phản động đã lợi dụng tính phổ biến của nhân quyền để ngụy biện rằng: con người và các quyền con người phải được đặt ở vị trí tối cao, bất khả xâm phạm cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Từ đó, họ đưa ra luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” và để đảm bảo nhân quyền cần thiết có thể can thiệp, thậm chí xâm phạm chủ quyền, v.v.

Chống phá về nhân quyền là nội dung trọng tâm của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Bằng luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, họ đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện yêu sách của họ; thậm chí lấy việc bảo đảm “nhân quyền” cho cá nhân một số người vi phạm pháp luật làm điều kiện để thực hiện đàm phán, cam kết thương mại, kinh tế, đối ngoại, v.v. Thủ đoạn chính của họ vẫn là lợi dụng vấn đề về “dân chủ”, “quyền con người”,... để xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ Nhà nước ta, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Họ nhai đi nhai lại luận điệu cũ rích, rằng: Nhà nước “Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng các quyền con người”, nhất là quyền tự do ngôn luận, báo chí; đàn áp, phân biệt dân tộc, tôn giáo; “kêu gọi” Việt Nam thả hết các “tù nhân lương tâm”, “lên án” cơ quan chức năng bắt người sai quy định, v.v. Mục đích của họ không có gì khác ngoài tạo cơ sở tinh thần, pháp lý, cổ súy lực lượng phản động, chống đối ở trong nước, can thiệp của nước ngoài để tạo cớ, làm mất ổn định chính trị, gây bạo loạn, lật đổ, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây là chiêu bài, thủ đoạn không mới, nhưng cực kỳ thâm độc, nguy hiểm hòng can thiệp, xâm phạm chủ quyền, lật đổ chính quyền không thân thiết với họ, nên cần phải nhận rõ, kiên quyết bác bỏ.

Trước hết, về mặt pháp lý, ngay trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và một số công ước quốc tế đã xác định, phạm vi, giới hạn của quyền con người phải đặt trong mối quan hệ, tổng thể của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Điều 29 Tuyên ngôn thế giới nhân quyền năm 1948 quy định: các quyền cá nhân sẽ bị hạn chế nếu điều đó là cần thiết để bảo đảm lợi ích chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung của xã hội. Khoản 3, Điều 18 và 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 xác định trách nhiệm xã hội của mỗi người với cộng đồng; được hiểu là trong khi hưởng thụ các quyền, tất cả mọi người đều phải chịu sự hạn chế nhất định, nhằm: “Bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”1, “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật,...”2. Điều này có nghĩa là, quyền của cộng đồng phải được đặt cao hơn quyền của cá nhân; hoàn toàn không có chuyện quyền con người (quyền cá nhân) cao hơn chủ quyền quốc gia, dân tộc. Nói cách khác, quyền con người ở đâu, quốc gia nào, chế độ xã hội nào cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật quốc gia đó, không được xâm hại đến quyền của xã hội, quyền và lợi ích của người khác. Luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là sự xuyên tạc, hiểu không đúng luật pháp quốc tế, với mưu đồ đen tối, phản động.

Thứ hai, trong mối quan hệ với “chủ quyền”, “nhân quyền” không thể tách rời và phụ thuộc vào chủ quyền quốc gia, dân tộc. Đây là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình vận động và phát triển; trong đó, quyền con người chỉ được bảo đảm, thực thi khi quốc gia, dân tộc có độc lập, chủ quyền. Bởi lẽ, quyền con người cơ bản được bảo vệ và thực hiện trước hết phải bằng hiến pháp, pháp luật nhà nước của quốc gia, dân tộc và những biện pháp tương ứng với đạo luật đó và ngược lại. Vì vậy, chủ quyền quốc gia, quyền độc lập, tự quyết của dân tộc là điều kiện tiên quyết, là cơ sở để bảo vệ và thực hiện quyền con người; chỉ có tôn trọng quyền dân tộc tự quyết để nhân dân các nước tự do lựa chọn chế độ chính trị, mô hình kinh tế và con đường phát triển, mới có thể bảo đảm tôn trọng, bảo vệ những quyền cơ bản của mỗi con người. Trong lời mở đầu của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 chỉ rõ: “... Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền”. Khoản 1, Ðiều 1 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 nêu rõ: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết”. Còn lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của các quốc gia trên thế giới đã minh chứng, nếu đất nước bị áp bức, nô lệ thì nhân dân bị dìm trong cảnh lầm than, cùng cực; nhân quyền bị chà đạp nghiêm trọng. Chỉ khi đất nước độc lập, hòa bình thì nhân quyền mới được bảo đảm. Như vậy, chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc tự quyết và quyền con người có quan hệ biện chứng với nhau. Theo đó, nhà nước - tổ chức đại diện chủ quyền quốc gia, có trách nhiệm bảo đảm nhân quyền tại quốc gia mình. Không thể một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được việc bảo đảm các quyền này của công dân thay cho nhà nước đó. Vì vậy, để bảo đảm quyền con người, thì điều kiện tiên quyết và xuyên suốt là chủ quyền quốc gia phải được tôn trọng, đất nước phải độc lập, hòa bình. Đồng thời, nhà nước phải lấy điều kiện độc lập dân tộc để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho người dân. Đây là mục tiêu định hướng chính trị quan trọng trong mọi hoạt động bảo vệ quyền con người của các quốc gia trên thế giới.

Thứ ba, đối với Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam xây dựng, phát triển đất nước theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; luôn coi việc bảo đảm, tạo điều kiện giúp mọi người dân phát triển hài hòa, được thụ hưởng thành tựu về nhân quyền, đạt tới trình độ phát triển chung của loài người là mục đích cao nhất; đồng thời, phát huy tối đa khả năng, sự sáng tạo, thực hiện nghĩa vụ đóng góp, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta biết, Tổ quốc là giá trị thiêng liêng đối với mỗi người dân Việt Nam; chỉ khi nào đất nước được độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia được bảo vệ thì nhân dân mới có hạnh phúc, quyền của mỗi người dân mới được bảo đảm. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, nhân dân Việt Nam mới được hưởng các quyền độc lập, tự do, mới là người chủ thực sự của đất nước; các quyền cơ bản của người dân mới được đảm bảo. Đặc biệt, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, với đường lối đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Việt Nam đã đạt thành tựu to lớn về nhiều mặt như Nghị quyết Đại hội XIII khẳng định “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Nhờ đó, các quyền con người về kinh tế, xã hội, văn hóa và dân sự, chính trị của người dân được đảm bảo với chất lượng ngày càng cao. Một trong những điển hình là công cuộc xóa đói, giảm nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều mới) đã giảm từ 9,88% năm 2015 còn 2,75% năm 2020, về đích trước 10 năm so với Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và là một trong 30 nước áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, được quốc tế ghi nhận. Về tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhất quán tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; mọi công dân có quyền theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào. Đến tháng 12/2023, Việt Nam có trên 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số, hơn 57 nghìn chức sắc, 147 nghìn chức việc, gần 30 nghìn cơ sở thờ tự. Về vấn đề dân tộc, Việt Nam không chỉ bảo đảm các quyền bình đẳng, mà còn có chính sách ưu tiên đặc biệt để các dân tộc phát triển; luôn quan tâm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa; tạo điều kiện để họ tham gia hệ thống chính trị, quản lý xã hội, quản lý nhà nước, ứng cử vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội khóa XIV có 86/496 đại biểu là người dân tộc thiểu số thuộc 32 dân tộc khác nhau, chiếm 17,34%, nhiều nhất từ trước đến nay, v.v. Cùng với đó, việc thực hiện chính sách an sinh xã hội; giáo dục, đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng giới,... đều được Việt Nam quan tâm, đảm bảo tốt. Đặc biệt, trong phòng, chống đại dịch Covid-19, thiên tai, Việt Nam đã có chính sách, chủ trương biện pháp để đảm bảo tốt nhất cho mọi người dân, “không ai bị bỏ lại phía sau”, được nhân dân, quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Ngày 14/12/2021, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt, ngài Jean-Pi-erre Ar-cham-bault đánh giá: một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là bảo đảm tốt quyền con người; không ai có thể phủ nhận được những kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong lĩnh vực bảo đảm nhân quyền. Từ những thành công về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người ở trong nước và sự tích cực chia sẻ kinh nghiệm cũng như sẵn sàng bổ sung nguồn lực trong bảo đảm nhân quyền cho nhiều quốc gia đã nhân lên uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, ngày 11/10/2022, tại trụ sở Liên hợp quốc, Việt Nam đã trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023 - 2025.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cho thấy, một quốc gia mất chủ quyền thì nhân dân của quốc gia đó sẽ không bảo đảm được quyền con người, việc bảo đảm quyền con người chỉ có được trong quốc gia thực sự có chủ quyền. Không thể có cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, mà chỉ là sự thống nhất giữa quyền con người và chủ quyền quốc gia. Luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” chỉ là ngụy biện cho những toan tính chính trị đen tối. Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc cao hơn tất cả chỉ với mục đích cốt lõi là giải phóng con người, bảo đảm đầy đủ các quyền cơ bản, phổ biến của con người. Mọi sự suy diễn trái với mục đích này đều là bịa đặt, vu khống nhằm kích động, gây bạo loạn để tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia độc lập, có chủ quyền; vi phạm thô bạo luật pháp quốc tế, cần cực lực lên án, đấu tranh bác bỏ.

Sưu tầm

Nhận diện âm mưu lợi dụng không gian mạng kích động “Cách mạng màu” tại Việt Nam

Thời gian qua, trên không gian mạng xuất hiện nhiều bài viết, hình ảnh liên quan cuộc xung đột vũ trang ở Myanmar, biểu tình, bạo loạn tại Bangladesh. Các thế lực thù địch, số đối tượng phản động đã triệt để lợi dung không gian mạng để tiến hành các hoạt động chống phá, đăng tải thông tin xấu độc, xuyên tạc, sai sự thật, kích động những người thiếu hiểu biết nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, “cách mạng màu” tại Việt Nam.

Bản chất “Cách mạng màu”

“Cách mạng màu” (Tiếng Anh là colour revolution) hay còn gọi là “cách mạng đường phố”, là thuật ngữ chỉ các cuộc bạo loạn phi vũ trang, bạo lực chính trị có tính chất nhằm lật đổ chính quyền nhà nước đương nhiệm, gây ra khủng hoảng chính trị, đồng thời lập ra bộ máy cầm quyền mới của lực lượng đối lập được Mỹ và phương Tây hậu thuẫn. Các thế lực thù địch bên ngoài câu kết với những đối tượng đối lập, số đối tượng phản động, cơ hội chính trị trong nước dưới chiêu bài tuyên truyền tạo ra một nhà nước, chính phủ mới tốt đẹp hơn, một xã hội văn minh hơn nhưng thực chất là sự bất ổn, bạo động; đời sống người dân rơi vào khó khăn, mất mát, ly tán…

Theo truyền thông phương Tây, “cách mạng màu” được miêu tả rất hấp dẫn, tuyên truyền tạo ra một nhà nước, chính phủ mới tốt đẹp hơn, một xã hội văn minh hơn; người dân có quyền đòi hỏi trách nhiệm dân chủ và yêu sách đối với việc quản lý của chính quyền… Tuy nhiên, trong thực tế cách mạng màu mang tính mị dân, người dân không có quyền lợi gì, thậm chí rơi vào bất ổn, khủng hoảng chính trị kéo dài, mẫu thuẫn giai tầng và dân tộc sâu sắc, kinh tế chậm phát triển, đói nghèo, thương vong gia tăng, hỗn loạn.

“Cách mạng màu” là một bộ phận hợp thành của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mục tiêu phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc nhằm chi phối dẫn dắt, truyền bá văn hóa, lối sống dân chủ và nhân quyền Mỹ và phương Tây trên thế giới. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa mục tiêu là lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập ra đảng phái chính trị đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa do Mỹ và phương Tây định đoạt. Nếu như trước đây, phương Tây và Mỹ tiến hành “cách mạng màu” ở các nước xã hội chủ nghĩa thì hiện nay “cách mạng màu” còn diễn ra ở các nước có xu hướng không thân thiện, có thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng thuộc Trung Đông và Bắc Phi, Đông Âu như Gruzia, Ukraine…

Phương thức tiến hành một cuộc “cách mạng màu’ tại một quốc gia là tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội như tôn giáo, dân tộc, khiếu kiện đất đai…gây nên các sự việc gây tiêu cực, mâu thuẫn, phản ứng trong đời sống xã hội, dẫn đến tập trung đông người, biểu tình, gây bạo loạn chính trị, chiếm chính quyền. Thời gian qua, trên không gian mạng xuất hiện nhiều bài viết, hình ảnh liên quan cuộc xung đột vũ trang ở Myanmar, biểu tình, bạo loạn tại Bangladesh dẫn đến các quốc gia rơi vào tình trạng bất ổn chính trị và hệ quả của nó vẫn kéo dài đến tận bây giờ. Điển hình là Băngladesh, từ một quốc gia có nền kinh tế ấn tượng, với mức tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội trung bình khoảng 6,6% trong thập kỷ qua, mức sống của người dân được cải thiện đáng kể, tình trạng đói nghèo giảm mạnh thì hiện nay với cuộc khủng hoảng chính trị, quốc gia này đang đối mặt với nền kinh tế trì trệ, đầu tư nước ngoài giảm mạnh do những lo ngại về ANTT, biểu tình kéo dài, bất ổn, tỷ lệ thất nghiệp cao, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn.

Tại Việt Nam, từ lâu các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng không gian mạng để tiến hành âm mưu “cách mạng màu” và đã gây ra một số vụ việc phức tạp, gây rối ANTT như: vụ gây rối ANTT liên quan việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan 981; tụ tập đông người liên quan sự cố môi trường biển do công ty Formosa gây ra tại Hà Tĩnh; biểu tình phản đối Luật An ninh mạng và Dự luật Đặc khu tại Bình Thuận, Bình Dương; gần đây nhất là vụ khủng bố do FULRO lưu vong chỉ đạo vào ngày 11/3/2023…Từ đó có thể thấy, âm mưu tiến hành cuộc “cách mạng màu” của các thế lực thù địch, phản động đối với Việt Nam là không thay đổi.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, số đối tượng phản động đã sử dụng không gian mạng lợi dụng các cuộc cách mạng màu ở Myanmar, Bangladesh …để tiến hành thông tin, xuyên tạc, tạo cớ chống phá Việt Nam, có thể nhận diện một số thủ đoạn sau:

- Đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung tuyên truyền phá hoại tư tưởng, xuyên tạc đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; tạo ra khủng hoảng về niềm tin, ý thức hệ và chuẩn mực giá trị trong các tầng lớp xã hội, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, tri thức.

- Lợi dụng những vấn đề nóng trong xã hội liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, khiếu kiện đất đai, chủ quyền biển đảo, các vụ việc, sự kiện nóng…các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, xuyên tạc “chính quyền đàn áp nhân dân”, từ đó kêu gọi tụ tập đông người, biểu tình, đập phá trụ sở…phá hoại sự phát triển của đất nước.

- Sử dụng không gian mạng để phát hiện, lôi kéo, tập hợp lực lượng, xây dựng ngọn cờ, tiến tới hình thành và công khai hoá tổ chức núp dưới danh nghĩa các tổ chức xã hội dân sự, phản biện xã hội, đối tượng chúng nhắm đến là số đối tượng chống đối trong nước, số đối tượng cơ hội chính trị, cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên thoái hoá, biến chất, có tư tưởng, định kiến với Đảng, Nhà nước; lôi kéo số công nhân trong các doanh nghiệp, công ty; tín đồ tôn giáo, người khiếu kiện…

Cảnh giác với thủ đoạn của thế lực thù địch nhằm vào vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

Hiện nay các thế lực thù địch phản động, không ngừng thực hiện âm mưu chiến lược diễn biến hòa bình, với tính chất ngày càng nguy hiểm và thủ đoạn ngày càng tinh vi. Chúng thường thực hiện những luận điệu, tấn công tác động vào tâm lý người đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo và người lao động, lợi dụng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn, hạn chế về kiến thức pháp luật, nhận thức chính trị chưa cao còn nên dễ bị tác động; lôi kéo nên chúng dùng thủ đoạn chiêu trò xuyên tạc sự thật về chủ trương đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, là mục tiêu chúng nhằm vào, là động lực, mồi lửa kích động, đồng bào dân tộc thiểu số tụ tập đông người gây mất an ninh chính trị, gây rối trật tự công cộng, biểu tình, bạo loạn đẩy bà con vào con đường xâm phạm ANQG-TTATXH. Các thế lực thù địch luôn thực hiện các chiêu trò tinh vi như, mở các lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo, núp dưới vỏ bọc cung cấp các kiến thức về, chính trị, xã hội, không được kiểm chứng, bịa đặt sai sự thật, đặc biệt lợi dụng các sự kiện điểm nóng, những vụ việc phức tạp diễn ra trên địa bàn, thông qua các lớp tập huấn này và các trang mạng xã hội để xuyên tạc, vấn đề dân tộc, tôn giáo, vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, tiếp tay cho âm mưu ý đồ thâm độc của chúng vu cáo Đảng, Nhà nước đàn áp người đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, tín ngưỡng, người lao động, làm sai lệch cái nhìn của cộng đồng quốc tế. Tinh vi hơn chúng dùng các trang mạng xã hội, để nôi kéo thành lập các nhóm, các lớp học trực tuyến, các thế lực thù địch phản động, và số cầm đầu bất mãn có cơ hội chính trị, phản động lưu vong, hướng dẫn đồng bào các kỹ năng vào các trang mạng khai thác các dữ liệu thông tin, mà chúng đã sắp đặt soạn thảo, với những nội dung xuyên tạc, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Lợi dụng những kẽ hở của pháp luật, thiếu sót của chính quyền địa phương đã kích động phong trào đấu tranh dân chủ, cách mạng màu đòi các quyền tự do dân tộc, tôn giáo.

Khoản 1 điều 24 hiến pháp năm 2013 nêu rõ “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng, và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Ngày 18/11/2016. Quốc hội thông qua luật tín ngưỡng tôn giáo đánh dấu một bước tiến lớn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Việc ban hành luật tín ngưỡng, tôn giáo đã thể chế hóa các quan điểm Đảng, và Hiến pháp năm 2013 nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi người dân hơn nữa Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo với đời sống tín ngưỡng tôn giáo phong phú. Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện chính sách nhất quán, tôn trọng trong quyền bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo và không theo tín ngưỡng tôn giáo, của người dân đảm bảo sự bình đẳng tự do tín ngưỡng tôn giáo của con người, điều kiện lịch sử nước ta đã tạo lên cho người dân tinh thần dân tộc, tính cộng đồng và tiếp thu văn hóa ngoại sinh, và làm phong phú truyền thống văn hóa của dân tộc, thực tiễn cho thấy đời sống tín ngưỡng, tôn giáo tại nước ta ngày càng sôi động là minh chứng rõ ràng cho quyền bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam.

Bằng những luận cứ trên cho thấy, bản chất của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc sai sự thật nhằm thực hiện mưu đồ thâm độc của chúng, gây chia rẽ vùng đồng bào, dân tộc, tôn giáo. Nhằm phá hoại nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta, vì vậy chúng ta cần phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, pháp luật về dân tộc, tôn giáo, cho nhân dân, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, nhằm loại bỏ, các âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhân dân tự nhận diện, đấu tranh phản bác tẩy chay các luận điệu xuyên tạc của chúng ngay từ cơ sở.

- Tiếp tục quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế; văn hóa xã hội, nâng cao đời sống cho đồng bào, dân tộc, thiểu số, vùng tôn giáo, thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển, có chính sách bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp, đào tạo bồi dưỡng, tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào, dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ở biên giới, hải đảo…

- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, vững mạnh về chuyên môn, trình độ, năng lực, uy tín trong nhân dân, phát động phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, phát huy mạnh mẽ vai trò tích cực của các tín đồ, chức sắc, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Vận dụng quần chúng xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên các địa bàn cơ sở.

- Quan tâm giải quyết các chế độ chính sách cho nhân dân, đặc biệt là giải quyết dứt điểm, các vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện, trong nhân dân, không để trở thành điểm nóng mà các thế lực thù địch lợi dụng, để châm ngòi thực hiện âm mưu ý đồ của mình.

- Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, đổi mới phương pháp tuyên truyền về nội dung, đa dạng về hình thức để nhân dân dễ nghe, dễ hiểu, nhân dân nâng cao được nhận thức, kiến thức pháp luật, bài trừ luận điệu, của các thế lực thù địch.

- Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan đơn vị chức năng, phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch phản động, phát hiện xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

Sưu tầm