Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

Nhận diện bản chất của chủ nghĩa tư bản ngày nay

 

Chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại đang trải qua những biến đổi sâu sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghệ cao và sự gia tăng ảnh hưởng của các tập đoàn kinh tế đa quốc gia. Dựa trên lý luận của Lênin về CNTB độc quyền nhà nước và những biểu hiện mới của nó, bài viết sẽ góp phần làm rõ bản chất của CNTB ngày nay.

Lý luận của Lênin về chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Lênin, trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc - Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”, đã tập trung phân tích sự chuyển biến của CNTB từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, trong đó nhà nước trở thành công cụ phục vụ lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Theo Lênin, CNTB độc quyền nhà nước là sự kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh kinh tế của các tập đoàn độc quyền và quyền lực chính trị của nhà nước tư sản. Trong giai đoạn này, nhà nước không còn trung lập mà trực tiếp can thiệp vào kinh tế để bảo vệ và mở rộng quyền lợi cho các tập đoàn tư bản thông qua những chính sách tài chính, thuế và luật pháp, đồng thời thực hiện các hoạt động kinh tế như đầu tư cơ sở hạ tầng, quân sự hóa nền kinh tế và cứu trợ những doanh nghiệp lớn khi xảy ra khủng hoảng.

CNTB độc quyền nhà nước có những đặc điểm nổi bật như tập trung sản xuất và vốn ở mức cao, dẫn đến sự hình thành các tập đoàn tài chính - công nghiệp khổng lồ và sự kết hợp lợi ích kinh tế với chính trị. Nhà nước trở thành công cụ để các tập đoàn độc quyền mở rộng thị trường, khai thác thuộc địa và cạnh tranh trên phạm vi quốc tế. Đồng thời, nhà nước tư sản cũng sử dụng quyền lực chính trị và quân sự để đàn áp phong trào công nhân, bảo vệ trật tự tư bản và thúc đẩy chiến tranh đế quốc nhằm phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền.

Lênin khẳng định, CNTB độc quyền nhà nước là giai đoạn phát triển cao nhất của CNTB và là cơ sở kinh tế của chủ nghĩa đế quốc, trong đó xuất khẩu tư bản trở thành yếu tố chủ đạo thay vì chỉ xuất khẩu hàng hóa. Giai đoạn này chứng kiến sự phân chia thế giới giữa các cường quốc tư bản thông qua khai thác thuộc địa, dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa các quốc gia đế quốc và bùng nổ chiến tranh thế giới. Lênin nhấn mạnh rằng, CNTB độc quyền nhà nước không chỉ làm gia tăng sự bóc lột giai cấp lao động mà còn làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn nội tại của CNTB.

Lý luận của Lênin về CNTB độc quyền nhà nước giúp làm sáng tỏ bản chất bóc lột và phi nhân đạo của CNTB giai đoạn cuối, đồng thời cung cấp cơ sở lý luận để các phong trào cách mạng vô sản nhận thức rõ vai trò của nhà nước tư sản trong việc bảo vệ lợi ích của tư bản độc quyền. Lênin cũng cho rằng, sự phát triển của CNTB độc quyền nhà nước tạo tiền đề cho cuộc đấu tranh cách mạng nhằm lật đổ nhà nước tư sản và thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân. Lý luận này không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn mang tính thời sự trong việc phân tích mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự chi phối của các tập đoàn kinh tế lớn hiện nay.

Biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản ngày nay

Trong thời đại ngày nay, CNTB đã chuyển dịch từ lĩnh vực sản xuất truyền thống sang lĩnh vực công nghệ và dịch vụ. Các tập đoàn công nghệ không chỉ thống trị các ngành kinh tế mà còn sở hữu dữ liệu cá nhân và định hình hành vi tiêu dùng, làm tăng sức mạnh vượt trội so với các tập đoàn truyền thống. Với đặc điểm này, sự chi phối quyền lực chính trị của các tập đoàn công nghệ bộc lộ ngày càng rõ. Các tỷ phú công nghệ không chỉ là doanh nhân mà còn là các nhân vật chính trị có ảnh hưởng lớn. Thực tiễn hiện nay minh họa rõ ràng cho sự hòa quyện giữa quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị, như Lênin đã mô tả.

Nhiều tỷ phú không chỉ nắm giữ quyền lực kinh tế mà còn có khả năng tác động mạnh mẽ đến chính sách công và dư luận. Bằng cách tác động mạnh mẽ tới truyền thông, các tỷ phú đang trở thành cầu nối giữa các tập đoàn và chính phủ, định hình cả chính trị lẫn kinh tế.

Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả các cuộc bầu cử ở các nước tư bản. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh của các ứng cử viên. Các kênh truyền thông, bao gồm báo chí, truyền hình và mạng xã hội, giúp công chúng hình dung về phong cách, lập trường chính trị và các cam kết của từng ứng cử viên. Các chiến lược truyền thông có thể làm nổi bật hoặc làm mờ nhạt những điểm mạnh, yếu của ứng viên, từ đó ảnh hưởng đến sự ủng hộ của cử tri.

Bên cạnh đó, truyền thông còn chi phối thông tin và định hướng dư luận. Các sự kiện, phát ngôn hoặc hành động của ứng cử viên có thể được phóng đại hoặc giảm nhẹ tùy thuộc vào cách thức truyền thông xử lý, từ đó thay đổi cảm nhận của cử tri về các vấn đề quan trọng như kinh tế, y tế và chính sách đối ngoại. Mặt khác, sự lan tỏa của tin giả, thông tin sai lệch trên mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến cũng là một yếu tố quan trọng. Tin giả có thể làm lệch lạc thông tin, gây hoang mang và ảnh hưởng đến quyết định bỏ phiếu của cử tri. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tin giả dễ dàng lan truyền và có thể tác động mạnh đến các nhóm cử tri cụ thể.

Ngoài ra, các chiến dịch tranh cử sử dụng truyền thông để quảng bá hình ảnh và chính sách của ứng cử viên. Các quảng cáo chính trị, dù trên truyền hình hay trên nền tảng trực tuyến, có thể tác động mạnh mẽ đến cảm nhận của cử tri, đặc biệt khi được thiết kế để nhắm vào các nhóm đối tượng cụ thể. Các cuộc tranh luận trực tiếp và phỏng vấn với các phóng viên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức của cử tri. Những câu trả lời và phát ngôn của ứng cử viên trong các sự kiện này có thể gây ấn tượng mạnh mẽ và ảnh hưởng đến quyết định của cử tri.

Cuối cùng, truyền thông cũng góp phần làm gia tăng sự phân hóa chính trị trong xã hội. Các đài truyền hình, báo chí và các nền tảng trực tuyến thường thiên về một phía chính trị nhất định, dẫn đến việc cử tri chỉ tiếp nhận thông tin từ các nguồn mà họ đồng ý với quan điểm. Điều này làm giảm khả năng đối thoại và hiểu biết lẫn nhau giữa các nhóm cử tri có quan điểm khác biệt. 

Việc một doanh nhân giàu có công khai ủng hộ một ứng viên trong cuộc bầu cử tổng thống chẳng hạn và ngay sau đó tham gia trực tiếp vào chính quyền đã đặt ra câu hỏi về sự công bằng trong hệ thống chính trị. Nó cho thấy một thực tế rằng, quyền lực chính trị đang ngày càng trở thành đặc quyền của tầng lớp giàu có, thay vì phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội.

Bản chất không thay đổi nhưng hình thức tinh vi hơn

CNTB ngày nay tiếp tục thể hiện bản chất mà Lênin đã chỉ ra: Sự tập trung tư bản, sự hòa quyện giữa kinh tế và chính trị; sự chi phối của các tập đoàn lớn đối với xã hội. Tuy nhiên, các phương thức mà nó vận hành đã trở nên tinh vi hơn nhờ công nghệ, dữ liệu lớn và toàn cầu hóa. Trong thời đại 4.0, tư bản không chỉ là các tài sản vật chất mà bao gồm cả dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo. Các tỷ phú công nghệ sở hữu hoặc kiểm soát các nền tảng truyền thông xã hội, dẫn đến khả năng ảnh hưởng sâu rộng đến dư luận và chính trị. Bất bình đẳng kinh tế ngày càng gia tăng khi các tập đoàn công nghệ đang tích lũy tài sản vượt xa tốc độ tăng trưởng thu nhập của toàn bộ phần còn lại của xã hội.

CNTB ngày nay là nấc thang phát triển cao hơn của CNTB độc quyền nhà nước, nó vẫn mang đầy đủ bản chất lũng đoạn cả về kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản.

Lan tỏa sức mạnh của tuổi trẻ Bộ đội Biên phòng trên các tuyến biên giới

 

Cơ quan chính trị và tổ chức đoàn các cấp trong BĐBP luôn chú trọng công tác phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể địa phương kết nghĩa triển khai tổ chức nhiều hoạt động tình nguyện vì cộng đồng, nhằm lan tỏa sức mạnh của tuổi trẻ. Tiêu biểu như, thực hiện phong trào “Tuổi trẻ BĐBP chung sức xây dựng nông thôn mới”, các đơn vị tích cực tham gia giúp nhân dân phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, phối hợp thực hiện có hiệu quả các mô hình tiêu biểu.

 


 

Đoàn viên, thanh niên Đồn Biên phòng Keng Đu, BĐBP Nghệ An phối hợp với địa phương tổ chức xây kè xung quanh bờ ao tại trung tâm xã Keng Đu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Ảnh: Minh Hiếu

Cán bộ, đoàn viên, thanh niên BĐBP đóng góp hàng nghìn ngày công, kêu gọi, vận động các cơ quan, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm hỗ trợ xây dựng nhà Tình nghĩa, nhà văn hóa, giếng nước dân sinh, sửa chữa nhà dột nát, hư hỏng, bị ảnh hưởng bởi thiên tai, hỗ trợ người dân di chuyển chuồng trại nuôi gia súc, gia cầm ra khỏi gầm nhà sàn..., phối hợp triển khai các hoạt động khám, cấp phát thuốc miễn phí, tuyên truyền vệ sinh phòng dịch cho bà con các dân tộc trên địa bàn biên giới.

Tuổi trẻ BĐBP đã phối hợp tu sửa nhà cho 46 hộ dân; tu sửa, nạo vét 122km kênh nội đồng; tặng 55 thùng đựng rác; chủ trì, kêu gọi các ban, ngành, đoàn thể, các công ty, xí nghiệp và các nhà hảo tâm xây dựng 65 công trình “Ánh sáng vùng biên”, tổng trị giá trên 1 tỷ đồng; phối hợp tổ chức khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân được 8.185 lượt người, trị giá 1,2 tỷ đồng.

Nhằm tri ân các ông cha đã ngã xuống hi sinh vì nền độc lập của đất nước, nhân kỷ niệm 77 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7), 495 tổ chức cơ sở đoàn các cấp tổ chức và tham gia Lễ “Thắp nến tri ân” tại 495 nghĩa trang, thu hút 8.216 lượt cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia tu sửa, dọn dẹp vệ sinh tại các địa chỉ đỏ, nghĩa trang liệt sĩ... Các đơn vị đã trao tặng 4.320 suất quà cho các gia đình chính sách, tổng trị giá 2,338 tỷ đồng; tổ chức 98 “Bữa cơm tri ân” tại các gia đình thân nhân liệt sĩ; tham gia giúp các gia đình thân nhân liệt sĩ thu hoạch hoa màu, 340 buổi với 1.820 lượt cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia.

Cùng với đó, tuổi trẻ BĐBP tích cực đẩy mạnh phối hợp với các địa phương thực hiện Chương trình “Tháng Ba biên giới” năm 2024 với chủ đề “Tuổi trẻ BĐBP xung kích lập công, tô hồng truyền thống” và Hành trình “Thanh niên đến với cột mốc biên giới”, hưởng ứng Chương trình “Tự hào một dải non sông”, tổ chức Hội trại truyền thống. Bên cạnh đó, tuổi trẻ BĐBP phối hợp thực hiện các hoạt động an sinh xã hội như: Xây dựng “Mái ấm tình thương”, “Nhà bán trú”, “Trường đẹp cho em”, “Bếp yêu thương - Nâng bước em tới trường”, “Bát cháo nghĩa tình”..., các mô hình sinh kế hỗ trợ đoàn viên, thanh niên yếu thế, các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tặng quà cho các nạn nhân chất độc da cam, học sinh nghèo vượt khó, khám bệnh, cấp thuốc, vật tư y tế cho nhân dân khu vực biên giới, với tổng kinh phí 8,1 tỷ đồng.

Có thể nói, các hoạt động trên của đoàn viên, thanh niên BĐBP đã góp phần xây dựng nền Biên phòng toàn dân vững chắc, hỗ trợ cộng đồng, nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc vùng biên giới, đồng thời, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia./.

LÒNG TỰ HÀO DÂN TỘC


Việt Nam một đất nước tuyệt vời có những cánh rừng bát ngát, đồi núi trập trùng, đồng lúa rộng cánh cò bay, có đủ cả núi non biển sâu, những con sông uốn lượn xẻ dọc từng mảnh đất để chu cấp cho ta phù sa và tôm cá.

 Đất nước ta đẹp thế mà có người không thích nó, không yêu nó, nỡ lòng nào mà dũ bỏ nó, tàn phá nó, nỡ lòng nào bỏ nó mà ra đi. Nếu như tất cả chúng ta bỏ nó mà đi, để nó cô quạnh, để nó bị người ta lấn chiếm và khai thác nó. Chúng ta đau, tổ tiên chúng ta cũng đau chứ!

 Đất nước nào mà không trải qua những thăng trầm của lịch sử? Chỉ học qua sách vở về lịch sử nước nhà, chúng ta đã thấy tổ tiên chúng ta gìn giữ đất nước này với biết bao công sức, kể cả máu và xương. Lịch sử cận đại cũng đủ cho chúng ta thấy điều đó.

Các thế lực ngoại bang muốn chúng ta nghèo, muốn chúng ta làm nô lệ, muốn chúng ta là những kẻ tôi tớ để họ sai khiến. Những kẻ muốn chúng ta như thế đương nhiên là những kẻ vừa giàu vừa mạnh. Đâu phải chúng ta muốn nghèo, họ làm cho chúng ta kiệt quệ như vậy đấy chứ? Nếu chúng ta không vùng lên để làm chủ giang san thì chúng ta vẫn còn nghèo, vẫn là kẻ tôi tớ. Vâng, cuộc Cách mạng Dân chủ Nhân dân ra đời chính là nhằm mục đích đó.

Người Việt Nam chúng ta hiểu điều đó, sẵn sàng hy sinh để đạt được điều đó. Một khi đã đạt được rồi thì chúng ta gắn bó với nó, chăm chút cho nó ngày càng giàu mạnh, ngày càng đẹp hơn. Bạn có ngôi nhà riêng để bạn chăm chút thì chúng ta có ngôi nhà chung, chúng ta mỗi người một tay chăm chút nó.

Chân lý thật đơn giản như vậy mà vẫn còn có người không hiểu. Nhiều người quên mất những năm tháng cả đất nước kiệt quệ, nghèo đói hiển hiện khắp nơi, thiên nhiên bị chất độc và bom đạn cầy xới, tàn phá. Trong hoàn cảnh nghèo đó ấy chúng ta đứng lên, rũ bùn mà đứng lên, xây dựng lại ngôi nhà chung của chúng ta.

Chỉ bằng sức lực của chúng ta, chúng ta đã dựng nên biết bao công trình – nào đào hầm xuyên núi cho việc đi lại thuận tiện hơn; nào việc cắm sâu những mũi khoan xuống đáy biển để dò tìm mạch dầu mà khai thác; nào những cây cầu dài cầu ngắn bắc qua sông cái sông con; nào lúa chất đầy kho, đang từ một nước thiếu ăn trở thành nước đứng đầu về xuất khẩu gạo, mà lại là loại gạo ngon nhất thế giới nữa chứ! Rồi mấy ngày hôm nay, hàng ngàn xe chở trái cây, hải sản chờ đợi để đưa vào một thị trường với hàng tỷ dân, mới chỉ một vụ, chúng ta đã thu về trên một tỷ USD từ thị trường này.

Ngày xưa làm gì có cảnh này? Đúng không? Nhiều người quên mất rằng để được như vậy chính là từ công sức của mỗi chúng ta chứ có người ngoài nào vào đây làm thay chúng ta? Công sức của chính chúng ta bỏ ra thế mà lại quên, lại oán lại trách!

Còn thể chế chính trị hiện nay, nó hình thành để phục vụ cho ai? Nó đâu có phục vụ cho những nhà tài phiệt, cho nhân dân đó chứ! Nếu không có thể chế chính trị này thì tài nguyên trên rừng, trong lòng đất, dưới đáy biển khơi đã nằm trong tay các nhà tư sản mại bản, như những nước có thể chế được gọi là “dân chủ” mà thực chất dân đầu có được làm chủ? Tất cả tài nguyên quốc gia chỉ nằm trong tay một số người.

Ấy thế mà người ta ca ngợi mãi cái thứ dân chủ ấy. Không lẽ dân chủ nghĩa là chia hết tài nguyên quốc gia cho trăm triệu dân để mỗi người làm chủ một ít, tự ý khai thác theo sở thích?

Một thể chế ra đời dám thách thức cả một hệ thống luôn rình rập để chống lại, để phá hoại, để làm cho nó sụp đổ. Nhưng dù vậy nó vẫn đứng vững và phát triển, và người ta đã định ra mục tiêu trong hai mươi năm nữa đất nước ta sẽ trở thành một quốc gia giàu có. Một quốc gia mà làm được như vậy là vĩ đại chứ, là đáng tự hào chứ?

Cũng buồn lòng vì trong một gia đình có những đứa con hư. Chúng nghe theo sự lôi kéo của các tổ chức chống đối ở nước ngoài, nhận những đồng tiền nhơ bẩn, vâng lời chúng về phá hoại gia trang, làm băng hoại truyền thống của dân tộc.

Cái gì làm nên sự giàu có đó? Là chúng ta, người sẽ chăm chút và giữ gìn ngôi nhà chung với sự giúp đỡ vô tư của bạn bè. Là chúng ta có tấm lòng yêu quý nó, sẵn sàng đứng ra vun đắp nó, bảo vệ nó. Nếu ai không có ý thức và tấm lòng như vậy đều là những kẻ vô ơn, không đáng để người đời tôn trọng.

Tôi tự hào về quê hương tôi, vì dân tộc tôi, vì chính quyền chúng tôi có!

Truyền cảm hứng từ các tấm gương yêu nước, bảo vệ Tổ quốc


Lòng yêu nước là giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong bối cảnh hiện nay, tinh thần yêu nước không chỉ thể hiện qua việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà còn qua những hành động thiết thực trong đời sống hàng ngày. Trên mạng xã hội, những câu chuyện về người trẻ sáng tạo khởi nghiệp, các chiến sĩ ngày đêm bảo vệ biên giới, hay những nhà khoa học miệt mài nghiên cứu vì sự phát triển đất nước là nguồn cảm hứng mạnh mẽ.

Đấu tranh, loại bỏ kiểu người khôn lỏi, cơ hội chính trị

 

Trong bài viết “Tổ chức tốt Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ một trong những vấn đề mang tính “cốt tử”, hệ trọng, đó là công tác nhân sự. Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị bước vào cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy mạnh mẽ và toàn diện, việc lựa chọn nhân sự vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp càng đặt ra những yêu cầu bức thiết...

Từ hành vi khôn lỏi đến kiểu người cơ hội

Tôi đặt cuốc xe taxi công nghệ từ bến xe Nước Ngầm đến tòa soạn Báo Quân đội nhân dân ở phố Phan Đình Phùng (Hà Nội) với giá 180.000 đồng. Vừa bước lên xe đã nghe lời đề nghị của tài xế: “Bác hủy chuyến giúp em với”! Thấy tôi ngạc nhiên, anh ta tiếp: “Em chở bác đến nơi và thu đúng giá, chỉ là khi bác hủy chuyến thì em không bị hãng trừ phần trăm. Bác giúp em kiếm thêm mớ rau, con cá”. Thế là tôi hủy chuyến ngay lập tức. Về tòa soạn, kể chuyện này cho một anh bạn đồng nghiệp trẻ tuổi, có ý khoe rằng, hôm nay mình đã làm được một việc tốt, giúp đỡ người lao động trong hoàn cảnh khó khăn. Tưởng nhận được lời tán thán, nào ngờ lại bị anh bạn trẻ phê bình: “Bác đã vô tình tiếp tay cho việc làm sai trái của một kiểu người khôn lỏi. Hãng xe tạo việc làm cho tài xế thì phúc lợi cùng hưởng, khó khăn cùng chia. Kiểu tư duy và lối làm ăn chụp giật, khôn lỏi, vi phạm đạo đức kinh doanh sớm muộn cũng bị phát giác, tẩy chay. Ở chiều ngược lại, nếu ai đó hủy chuyến liên tục, sẽ bị hệ thống chấm điểm khách hàng thấp, lần sau sẽ rất khó đặt qua app”.

Tôi ngớ người trước lập luận của anh bạn trẻ. Quả thật, nhiều khi trong cuộc sống, chỉ vì suy nghĩ đơn giản, bàng quan, mà ta đã vô tình tiếp tay cho cái xấu. Nhìn rộng ra, đời sống xã hội không thiếu những hành vi khôn lỏi. Đó là biểu hiện của tư duy, văn hóa tiểu nông đã có từ hàng trăm năm của một bộ phận người Việt. Dù sự việc có thể rất nhỏ, chẳng chết ai nhưng điều đáng nói đó là biểu hiện của một lối sống. Nó thể hiện tính nghiệp dư, ích kỷ, “bóc ngắn cắn dài”, chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân, vi phạm nguyên tắc làm việc. Nhiều chuyện nhỏ tích lại sẽ thành chuyện lớn. Người có hành vi khôn lỏi kiểu ấy, nếu không được giáo dục, uốn nắn, lâu ngày sẽ thành bản chất. Trong một tổ chức, cộng đồng, nếu có những cá nhân khôn lỏi sẽ ảnh hưởng xấu đến tinh thần đoàn kết, môi trường văn hóa...

 

Trong môi trường sản xuất, kinh doanh, tư duy và lối làm ăn khôn lỏi chính là tác nhân gây ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu, sớm muộn cũng bị tẩy chay, doanh nghiệp khó mà phát triển bền vững. Có những doanh nghiệp vì doanh thu, lợi nhuận đã nghĩ ra đủ loại chiêu trò “móc túi” khách hàng. Họ đưa ra những chương trình khuyến mãi, ra sức mời mọc, dụ dỗ khách hàng tham gia. Khi đưa khách hàng “vào tròng” rồi thì tìm mọi cách ép khách hàng phải thực hiện theo yêu cầu của doanh nghiệp.

Quy luật nhận thức của con người đi từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn. Khôn lỏi, khôn vặt là biểu hiện của hành vi. Nó như một loại virus độc hại. Nếu không có cách triệt tiêu, để nó tự do phát triển thì hành vi khôn lỏi sẽ sản sinh ra kiểu người cơ hội, thực dụng, tráo trở, dối trá, lừa thầy phản bạn. Trong hệ thống chính trị, hành vi khôn lỏi nếu không sớm được nhận diện, đấu tranh phê bình, dần dần sẽ hình thành nên kiểu cán bộ “lươn chạch”, cơ hội chính trị, “thông minh có hạn, thủ đoạn có thừa”, cục bộ, bè phái, tha hóa đạo đức, tha hóa quyền lực, nguy hại khôn lường. Những biểu hiện suy thoái này là một bước ngắn dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.

Trong bài viết như đã dẫn ở trên, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “... Cán bộ thiếu năng lực, thiếu gương mẫu, cục bộ, bè phái... đều là những “miếng mồi” để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền chống phá để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ ta...”.

Đấu tranh quyết liệt, ngăn chặn từ sớm, từ xa

Hệ thống chính trị cả nước ta đang bước vào đợt sắp xếp, tinh gọn bộ máy một cách toàn diện, mạnh mẽ chưa từng có. Mục tiêu phải đạt được đó là tạo ra một bộ máy công quyền hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Sau khi sắp xếp, tinh gọn, hệ thống chính trị các cấp phải giữ được người có đức, có tài, có nhiệt huyết cống hiến trong bộ máy. Quá trình sắp xếp, sàng lọc, việc giải bài toán “ai đi, ai ở” sẽ gặp rất nhiều thách thức, khó khăn. Nếu không tỉnh táo nhận diện, thiếu kiên quyết đấu tranh, có biểu hiện dĩ hòa vi quý, cục bộ, bè phái... trong công tác nhân sự thì rất dễ nảy sinh những hành động khôn lỏi, tạo kẽ hở cho chủ nghĩa cá nhân xâm nhập, phát triển, chi phối, lũng đoạn. Người có đức, có tài thì bị ra rìa, kẻ “lươn chạch”, cơ hội chính trị thì bám trụ, phát triển.

Yêu cầu của Đảng về công tác nhân sự trong tổ chức Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 là tuyệt đối không lựa chọn cán bộ không được quần chúng nhân dân tín nhiệm, cũng không giới thiệu những cán bộ lãnh đạo dĩ hòa vi quý, “tròn vo” để lấy phiếu bầu... kiên quyết chống các biểu hiện cơ hội, tham vọng quyền lực, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, địa phương, thân quen...

Kết luận 21, Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII cũng đã nhấn mạnh yêu cầu: Không để lọt người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp...

Dù người khôn lỏi, cơ hội chính trị có nhiều phương thức, mánh khóe để đạt được mục tiêu cá nhân nhưng trong một tập thể, không khó để nhận diện. Vấn đề đặt ra là thái độ của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, nhất là cấp ủy, người đứng đầu đối với hành vi ấy như thế nào? Thực tế cho thấy, kẻ khôn lỏi, cơ hội chính trị chỉ có “đất sống” khi có người “nâng đỡ không trong sáng”; cấp ủy, người đứng đầu thiếu công tâm, khách quan, có biểu hiện cục bộ, bè phái; cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng dĩ hòa vi quý, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. Ngược lại, nếu tổ chức đảng đề cao tính chiến đấu, tinh thần phê bình, tự phê bình; nhất quán nguyên tắc tập trung dân chủ; cấp ủy, người đứng đầu biết lắng nghe, làm việc công tâm, khách quan thì kẻ khôn lỏi, cơ hội chính trị chắc chắn sẽ bị tẩy chay, loại bỏ khỏi bộ máy. Theo tư duy biện chứng mà suy, nếu cấp ủy, người đứng đầu có những biểu hiện ấy thì đó cũng chính là cơ hội chính trị. Trong một tổ chức mà có nhiều người khôn lỏi, cơ hội chính trị thì đó là mầm mống đại họa.

Vũ khí để nhận diện, đấu tranh, loại bỏ những thành phần khôn lỏi, cơ hội chính trị ra khỏi bộ máy đã được Đảng ta chỉ rõ, đó là: Đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm cụ thể; gắn đánh giá cá nhân với tập thể...

Như vậy, trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đặc biệt là trong đại hội đảng bộ các cấp, công tác nhân sự phải được tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ, khách quan, toàn diện. Việc đánh giá cán bộ để giới thiệu nhân sự bầu vào cấp ủy phải là công việc của cả quá trình, xuyên suốt, liên tục, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cần tránh lối làm việc áp đặt chủ quan, định kiến, cảm tính cá nhân, tạo môi trường cho những thành phần cơ hội chính trị ẩn trú, thăng tiến...

Công tác cán bộ là một trong những vấn đề “cốt tử” của Đảng. Để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự là đạo đức, là văn minh; cầm lái đưa dân tộc thực hiện cuộc vươn mình tiến đến hùng cường, phồn vinh, nhất định phải thu hẹp, tiến tới triệt tiêu tư duy tiểu nông, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Công cuộc chuyển đổi số tạo ra “thế giới phẳng” về thông tin chính là lợi thế lớn để lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy “xây” để “chống”. Dư luận xã hội, sức mạnh của tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đấu tranh phê bình, tự phê bình... trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị các cấp cần được khai thác, phát huy một cách tối đa theo hướng tích cực để góp phần đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa những hành vi khôn lỏi, kiểu người cơ hội chính trị...

BỐI CẢNH QUỐC TẾ CỦA KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH

 Đứng trước thời điểm lịch sử, đất nước cần những quyết sách lịch sử

 Thế giới đang đứng trước những thay đổi căn bản mang tính thời đại, biến đổi sâu sắc về mọi mặt dưới tác động của các chuyển dịch lớn của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ. Giai đoạn từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để định hình và xác lập trật tự thế giới mới. Những thay đổi này đang tạo ra một môi trường quốc tế đa chiều hơn, mở ra những vận hội lớn cùng nhiều thách thức lớn cho đất nước. Trong giai đoạn giao thời, quá độ giữa cái cũ và cái mới, các nước vừa và nhỏ thường bị đặt ở thế bị động, không kịp thích ứng. Trong lần chuyển đổi này, nếu không kịp thời bắt nhịp với thế giới, nhận diện và tranh thủ cơ hội để đặt đất nước vào đúng dòng chảy của thời đại trong 10 năm, 20 năm tới, nguy cơ tụt hậu sẽ hiện hữu hơn bao giờ hết.

Nếu không kịp thời bắt nhịp với thế giới, nhận diện và tranh thủ cơ hội để đặt đất nước vào đúng dòng chảy của thời đại trong 10 năm, 20 năm tới, nguy cơ tụt hậu sẽ hiện hữu hơn bao giờ hết.Tổng Bí thư Tô Lâm

Sức mạnh thời đại hiện nay là các xu thế chính trị, kinh tế, xã hội trên thế giới như hòa bình, hợp tác và phát triển, xu thế dân chủ hóa quan hệ quốc tế, xu thế phát triển bền vững, xu thế hợp tác và liên kết kinh tế; là sức mạnh của cộng đồng quốc tế đồng thuận trong kiến tạo, củng cố thế giới đa cực, đa trung tâm, dân chủ, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế và đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người.

Đứng trước thời điểm lịch sử, đất nước cần những quyết sách lịch sử. Kế thừa những giá trị đã được khẳng định, Nghị quyết 59 đã nắm bắt được dòng chảy

 của sức mạnh thời đại.

 Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định muốn hòa bình và phát triển thì phải mở cửa với bên ngoài, hợp tác với các quốc gia khác, trong đó hội nhập quốc tế là hình thức, trình độ phát triển cao của hợp tác quốc tế. Nói cách khác hội nhập quốc tế là “đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại”, gia tăng sức mạnh của mình thông qua việc gắn kết với thế giới. Đảng đã đề ra chủ trương hội nhập quốc tế, trước là hội nhập kinh tế, sau là hội nhập toàn diện để khơi thông, mở rộng quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vai trò, vị thế của quốc gia, đưa Việt Nam hội nhập vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.

Hội nhập quốc tế là đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại...Tổng Bí thư Tô Lâm

Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên vươn mình tới thịnh vượng, hùng cường, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đòi hỏi phải có tâm thế, vị thế mới và tư duy, cách tiếp cận mới về hội nhập quốc tế. Sự ra đời của Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” là “quyết sách đột phá”, đánh dấu bước ngoặt có tính lịch sử trong quá trình hội nhập của đất nước với việc định vị hội nhập quốc tế là động lực quan trọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Trong đó hội nhập quốc tế chuyển từ tiếp nhận sang đóng góp, từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế một quốc gia đi sau sang trạng thái một quốc gia vươn lên, tiên phong vào những lĩnh vực mới.

Đảng ta xác định hội nhập quốc tế là chiến lược quan trọng nhằm củng cố vị thế chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia, nâng tầm ảnh hưởng của đất nước trên bản đồ thế giới. Hội nhập quốc tế đã từng bước phát triển qua các thời kỳ, từ hội nhập có giới hạn, có chọn lọc, thiên về ý thức hệ, hội nhập kinh tế đơn thuần ban đầu đến “hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện” hiện nay. Đại hội Đảng lần thứ IX lần đầu tiên đề ra chủ trương “hội nhập kinh tế quốc tế”. Đại hội Đảng lần thứ XI đánh dấu một bước chuyển trong tư duy từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực”. Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị là sự cụ thể hóa đường lối hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Gần đây nhất, tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, định hướng chiến lược này một lần nữa được phát triển, hoàn thiện hơn thành “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng có hiệu quả”.

Trong 40 năm đổi mới, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt những kết quả quan trọng, mang tầm vóc lịch sử. Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 34 nước, trong đó có tất cả các thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, các nước lớn; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ chính trị, quốc phòng, an ninh phát triển sâu rộng, thực chất. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD. Việc tham gia các thỏa thuận hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế đa tầng nấc, nhất là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã gắn kết Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, đưa Việt Nam lọt vào nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất thế giới từ năm 2019 đến nay, là một trong 10 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể, nghiêm túc và khách quan, kết quả thực hiện các chủ trương hội nhập quốc tế vẫn còn những điểm chưa thực sự như mong đợi, chưa đạt các mục tiêu đề ra, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, rào cản, nút thắt đang cản trở sự phát triển. Hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng đem lại không ít thách thức và mặt trái như: cạnh tranh không công bằng, tăng trưởng không bền vững, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, nguy cơ “chệch hướng”, “xâm lăng văn hóa”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “sói mòn niềm tin” trong nội bộ…  

Đứng trước thời điểm “nâng tầm” hội nhập quốc tế với những quan điểm mang tính cách mạng, tính đột phá, tính dân tộc, tính khoa học, tính thời đại cao.Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định muốn hòa bình và phát triển thì phải mở cửa với bên ngoài, hợp tác với các quốc gia khác, trong đó hội nhập quốc tế là hình thức, trình độ phát triển cao của hợp tác quốc tế. Nói cách khác hội nhập quốc tế là “đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại”, gia tăng sức mạnh của mình thông qua việc gắn kết với thế giới. Đảng đã đề ra chủ trương hội nhập quốc tế, trước là hội nhập kinh tế, sau là hội nhập toàn diện để khơi thông, mở rộng quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vai trò, vị thế của quốc gia, đưa Việt Nam hội nhập vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.

Hội nhập quốc tế là đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại...Tổng Bí thư Tô Lâm

Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên vươn mình tới thịnh vượng, hùng cường, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đòi hỏi phải có tâm thế, vị thế mới và tư duy, cách tiếp cận mới về hội nhập quốc tế. Sự ra đời của Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” là “quyết sách đột phá”, đánh dấu bước ngoặt có tính lịch sử trong quá trình hội nhập của đất nước với việc định vị hội nhập quốc tế là động lực quan trọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Trong đó hội nhập quốc tế chuyển từ tiếp nhận sang đóng góp, từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế một quốc gia đi sau sang trạng thái một quốc gia vươn lên, tiên phong vào những lĩnh vực mới.

Đảng ta xác định hội nhập quốc tế là chiến lược quan trọng nhằm củng cố vị thế chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia, nâng tầm ảnh hưởng của đất nước trên bản đồ thế giới. Hội nhập quốc tế đã từng bước phát triển qua các thời kỳ, từ hội nhập có giới hạn, có chọn lọc, thiên về ý thức hệ, hội nhập kinh tế đơn thuần ban đầu đến “hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện” hiện nay. Đại hội Đảng lần thứ IX lần đầu tiên đề ra chủ trương “hội nhập kinh tế quốc tế”. Đại hội Đảng lần thứ XI đánh dấu một bước chuyển trong tư duy từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực”. Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị là sự cụ thể hóa đường lối hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Gần đây nhất, tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, định hướng chiến lược này một lần nữa được phát triển, hoàn thiện hơn thành “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng có hiệu quả”.

Trong 40 năm đổi mới, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt những kết quả quan trọng, mang tầm vóc lịch sử. Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 34 nước, trong đó có tất cả các thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, các nước lớn; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ chính trị, quốc phòng, an ninh phát triển sâu rộng, thực chất. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD. Việc tham gia các thỏa thuận hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế đa tầng nấc, nhất là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã gắn kết Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, đưa Việt Nam lọt vào nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất thế giới từ năm 2019 đến nay, là một trong 10 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể, nghiêm túc và khách quan, kết quả thực hiện các chủ trương hội nhập quốc tế vẫn còn những điểm chưa thực sự như mong đợi, chưa đạt các mục tiêu đề ra, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, rào cản, nút thắt đang cản trở sự phát triển. Hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng đem lại không ít thách thức và mặt trái như: cạnh tranh không công bằng, tăng trưởng không bền vững, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi

 trường, nguy cơ “chệch hướng”, “xâm lăng văn hóa”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “sói mòn niềm tin” trong nội bộ…  

Đứng trước thời điểm

THỜI GIAN TRỊ VỊ CỦA 18 ĐỜI HÙNG VƯƠNG

             Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, với mỗi người dân đất Việt, Giỗ Tổ Hùng Vương luôn là ngày đồng bào cùng hướng về cội nguồn và Đền Hùng hội tụ linh khí là nơi bốn phương con cháu muôn đời phụng thờ công đức tổ tiên, lưu truyền ghi nhớ: “Dù ai đi ngược về xuôi/Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng Ba/Khắp miền truyền mãi câu ca/Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”.

Công đức các Vua Hùng được lưu truyền từ đời này qua đời khác, được cộng đồng tôn thờ, biết ơn. Đây là cội nguồn của tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc Việt. Việc thờ phụng các Vua Hùng làm sâu sắc hơn ý thức về cội nguồn dân tộc, hình thành tinh thần tự cường dân tộc, ý thức độc lập tự chủ của dân tộc. Với ý nghĩa đó, Giỗ Tổ - Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại khu di tích lịch sử Đền Hùng (trung tâm là núi Nghĩa Lĩnh) bắt nguồn từ thời đại các Vua Hùng với niềm tin cả dân tộc có cùng một nguồn cội (Tổ) - chung giống nòi “con Rồng cháu Tiên”. Từ trung tâm đầu tiên này, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương như một dòng chảy bất tận, có sức sống lâu bền lưu truyền từ đời này qua đời khác, lan tỏa và trải rộng khắp chiều dài và chiều rộng đất nước, dù đất nước khi thịnh, khi suy, khi chiến tranh, loạn lạc hay thịnh trị, thái bình. Được duy trì từ bao đời đến muôn đời, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ thấm đẫm đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” mà còn hiển hiện sinh động tinh thần đại đoàn kết dân tộc được lưu truyền, bồi đắp suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Năm 2007, Quốc hội chọn ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm làm ngày Quốc giỗ nhằm ghi nhớ công ơn các vị vua Hùng.

Tuy nhiên, thời gian qua, đang xuất hiện trên mạng xã hội là những bài viết mang tính chất châm biếm về bảng danh sách các đời vua hùng được xuất bản trong cuốn sách “Thế thứ các triều vua Việt Nam”(Nhà xuất bản Giáo dục, 2008, trang 14-15), đặc biệt là của lũ kền kền đang chia sẻ bài viết với tựa đề “Vua Hùng chỉ là luận điệu của bọn dối trá”. Trong bài viết đó, các đối tượng đưa ra danh sách các đời Vua Hùng cùng thời gian trị vị đất nước của các đời Vua Hùng. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vài bảng danh sách đó thì mỗi đời vua hùng đều sống trên 200 năm, đây là điều không thể ở thời kỳ đó. Dựa vào đó, lũ kền kền thay phiên nhau xuyên tạc, nói xấu chế độ là mị dân gây hiểu lầm rất lớn trong quần chúng nhân dân. Bài viết hôm nay, tác giả xin phép được làm sáng tỏ vấn đề này?

Trong “Thế thứ các triều vua Việt Nam” (Nhà xuất bản Giáo dục, 2008, trang 14-15), nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần viết đích danh 18 vị vua Hùng, đây cũng là chủ đề đang bàn tán ngày nay.

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính. 18 đời vua Hùng nối nhau trị vì trong 2.622 năm. Con số này cũng có nhiều giả thuyết.

Chỉ có 18 đời vua mà cai trị 2.622 năm đã gây ra không ít hoài nghi, tuy nhiên trong các bản Ngọc phả, thần tích như bản “Ngọc phả Hùng Vương” được soạn năm Thiên Phúc nguyên niên (980) đời vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) nhà Tiền Lê thì không phải là 18 đời vua Hùng mà là 18 nhành/ngành với tổng cộng 180 đời vua:

“Dĩ thượng Hùng đồ thập bát diệp, tỷ phú truyền cơ thái bảo, nhất bách thập bát đại đế vương tốn vị nhất thống sơn hà”

Nghĩa là: “Mười tám nhành nhà Hùng, ngọc tỷ và ấn tín truyền quyền đại bảo trong khoảng 180 đời nhường ngôi đế vương, một mối non sông xa thư trị nước”.

Nhiều tác phẩm khác như “Tân đính Lĩnh Nam chích quái” của nhà sử học thời Hậu Lê là Vũ Quỳnh cũng viết là 18 ngành vua Hùng.

Trong Ngọc phả Hùng Vương thì chữ “đời” phải hiểu là chữ “thế” trong Hán tự có nghĩa là không phải một đời người mà là “một dòng gồm nhiều đời”. Hiện ở đình Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội, còn bài vị “Tam Vị Quốc Chúa” thờ 3 vị vua cuối cùng thuộc thế/chi/nhành Hùng Vương thứ 18.

Qua đây, ta có thể thấy rằng, một đời vua hùng cũng chỉ trị vì khoảng hơn 20 năm chứ không phải 200 năm như bọn kền kền xuyên tạc. Chia sẽ nền văn hóa là tốt nhưng phải hiểu cho đúng, cặn kẽ thì hãy phán. Tác giả cho rằng, bọn kền kền với trình độ học vấn uyên thâm của mình cũng thừa biết, thừa hiểu và đã tìm hiểu vấn đề này nhưng bọn chúng cố tình không hiểu, cố tình xuyên tạc sự thật để phán xét chế độ, làm giảm lòng tin của nhân dân với chế độ. Đây cũng là thủ đoạn các đối tượng thường sử dụng trong thời gian vừa qua, cái gì còn mập mờ, chưa hiểu rõ là chúng nhét chữ vào bài viết của tác giả rồi xuyên tạc, coi đó là chủ trương, là đường lối sai lầm của chế độ. Qua đây, chúng ta cần hết sức cảnh giác khi tham gia mạng xã hội, đặc biệt cần bình tĩnh, tìm hiểu kỹ càng trước khi chia sẽ các bài viết xuyên tạc, phản động, tránh để bản thân bị các đối tượng phản động dắt mũi tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. 

An nguy quốc gia là vấn đề căn cơ, hệ trọng

 

Ngay sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành kết luận chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính theo hướng không tổ chức đơn vị cấp huyện và giao Quân ủy Trung ương nghiên cứu, xây dựng kế hoạch thực hiện chủ trương này trong Quân đội, Bộ Quốc phòng đã khẩn trương tiến hành các bước hoàn thiện. Thế nhưng, xung quanh vấn đề rất quan trọng này, vẫn có những nhận thức chưa đúng của một số người. Trong khi đó, có những cá nhân thiếu hiểu biết và không có tính xây dựng, có những bài viết bịa đặt, châm chọc, bóp méo việc này trên mạng xã hội.

Ngày 28-2-2025, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư ký ban hành Kết luận số 127-KL/TW về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Về nhiệm vụ “Xây dựng đề án về tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội”, kết luận nêu rõ: “Giao Quân ủy Trung ương căn cứ Kết luận số 126-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng kế hoạch tiếp tục sắp xếp tổ chức Quân đội phù hợp (trong đó có tổ chức của cơ quan quân sự cấp huyện), chủ động đề xuất thời gian báo cáo Bộ Chính trị theo tiến độ của kết luận này”.

 

Thực hiện nội dung này, ngay trong chiều 28-2, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chủ trì Hội nghị giao nhiệm vụ cho cơ quan, đơn vị nghiên cứu, đề xuất tổ chức quân sự địa phương (QSĐP). Với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, khoa học, thận trọng, chắc chắn, ngày 20 và 22-3, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức các hội nghị lấy ý kiến vào dự thảo Đề án “Tiếp tục sắp xếp tổ chức QSĐP tinh-gọn-mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” để bổ sung, hoàn thiện, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước ngày 27-3-2025 theo tiến độ chung của cả nước, thời gian rút ngắn một quý so với yêu cầu tại Kết luận số 126-KL/TW ngày 14-2-2025 về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.

Thế nhưng, mạng xã hội thời gian qua vẫn có những cá nhân có những nhận thức chưa đúng, thiếu hiểu biết, đưa ra những ý kiến không phù hợp. Thậm chí, một số bài viết xuyên tạc, bịa đặt, châm chọc, bóp méo việc làm này với nội dung thể hiện sự phiến diện cùng những mưu đồ, mục đích xấu khác khi cho rằng “Bộ Quốc phòng mất thời gian vào việc tổ chức lấy ý kiến sắp xếp tổ chức QSĐP”. Hùa theo đó là nhiều bình luận với nội dung theo kiểu “ăn theo nói leo”.

Theo Điều 35 Luật Quốc phòng năm 2018, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thứ nhất, tham mưu, giúp việc Hội đồng Quốc phòng và An ninh. Thứ hai, chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về biên giới quốc gia; duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hải đảo, vùng biển và vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Thứ ba, chủ trì, phối hợp với bộ, ngành Trung ương, chính quyền địa phương lập, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án về quốc phòng, trình cấp có thẩm quyền quyết định. Thứ tư, xây dựng, quản lý, chỉ huy Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Thứ năm, chỉ đạo, hướng dẫn bộ, ngành Trung ương và địa phương thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ và công tác quốc phòng.

Chiếu theo quy định này có thể thấy, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức QSĐP không đơn thuần là tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực quân sự, quốc phòng; thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng ở cấp mình mà nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên là củng cố, tăng cường tiềm lực, sức mạnh nền quốc phòng toàn dân. Cụ thể là: Tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương cùng cấp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng khu vực phòng thủ địa phương vững chắc, góp phần tạo thế phòng thủ liên hoàn, vững chắc; xây dựng, củng cố hệ thống công trình quốc phòng, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu cần, kỹ thuật, khu vực phòng thủ; tổ chức huấn luyện, luyện tập thành thục các phương án chiến đấu, sẵn sàng lực lượng, phương tiện tham gia xử trí có hiệu quả các tình huống...

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ này, nhiều năm qua, tổ chức QSĐP các cấp đã bám sát những chủ trương, yêu cầu nhiệm vụ của trên để tham mưu với cấp ủy, chính quyền cùng cấp củng cố, xây dựng thế trận quốc phòng theo phương châm “làng giữ làng, xã giữ xã, huyện giữ huyện, tỉnh giữ tỉnh”; tổ chức huấn luyện, diễn tập thuần thục phương án tác chiến theo tình huống ở từng cấp; chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt lực lượng, hệ thống công trình phòng thủ, tác chiến, sở chỉ huy các cấp... khi có tình huống xảy ra.

Vì thế, khi tiến hành thay đổi về tổ chức bộ máy chính trị, các phương án này cũng sẽ phải thay đổi theo cho phù hợp để bảo đảm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành, tổ chức thực hiện được thông suốt, nhuần nhuyễn; không làm gián đoạn, xáo trộn hay suy giảm, ảnh hưởng tới thế trận, sức mạnh quốc phòng và khả năng huy động các nguồn lực, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội. Chỉ cần một quyết sách sơ hở, thiếu chặt chẽ cũng có thể tác động, ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí là trả giá đắt bằng sự an nguy của quốc gia.

Do đó, sắp xếp lại tổ chức QSĐP một cách thận trọng, khoa học, logic, chặt chẽ; tiếp thu, chắt lọc những kinh nghiệm chiến đấu, xây dựng lực lượng cho phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại, chủ động hội nhập quốc tế; phù hợp với thực tiễn và điều kiện, tình hình đất nước cũng như điều kiện về con người, vũ khí, khí tài, trang bị hiện có là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết. Đây là việc khó, đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng đại nhằm thực hiện thắng lợi hai mục tiêu: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phát biểu tại Hội nghị lấy ý kiến về tổ chức QSĐP khi không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện ngày 20-3, Đại tướng Phan Văn Giang cũng nhấn mạnh: Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước giai đoạn lịch sử mới. Bộ Chính trị, Ban Bí thư chủ trương báo cáo Trung ương quyết định điều chỉnh tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và địa giới hành chính trong cả nước. Đây là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước để đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, thế bố trí quốc phòng, tổ chức Quân đội, trọng tâm là tổ chức QSĐP cần được nghiên cứu, điều chỉnh hợp lý, để đáp ứng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước.

Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Hoàng Kiền, nguyên Tư lệnh Binh chủng Công binh khẳng định: “Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp nên rất cần tổ chức nghiên cứu, đánh giá kỹ về mọi mặt để vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay; vừa bám sát các chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; kế thừa tinh hoa nghệ thuật quân sự, truyền thống lịch sử xây dựng lực lượng quân sự, đánh giặc, giữ nước của cha ông; thực tiễn các cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới, trong khu vực, nhất là những phát triển mới về hình thái, phương thức chiến tranh thời gian gần đây. Từ đó, đưa vào giảng dạy, huấn luyện, diễn tập thành hệ thống theo mô hình tổ chức chính quyền mới khi bỏ cấp huyện, sáp nhập xã, tỉnh”.

Trước những quan điểm xuyên tạc, nhận thức chưa đúng, Tiến sĩ, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) thẳng thắn: “Các phần tử xấu luôn chầu chực tìm cớ, chờ cơ hội để đưa ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá nhằm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Vì vậy, người dân cần thận trọng khi tiếp cận những thông tin trên mạng xã hội. Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực đặc biệt, trọng yếu, liên quan tới an nguy quốc gia và không được phép sơ hở, lơi lỏng bất kỳ giây phút nào; không có chỗ cho sự chủ quan hay những tính toán sai lầm, thiếu cẩn trọng. Do đó, mọi tình huống dù là nhỏ nhất cùng phương án xử trí đều phải được bàn thảo, đánh giá nghiêm túc, khoa học, thận trọng, chắc chắn”.

Lo cho an nguy của đất nước cũng chính là chăm lo, bảo vệ bình yên, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà. Nơi đó không có chỗ cho sự xuyên tạc, châm chọc, xúc xỉa đầy ác ý.

GIẢP PHÁP HỘI NHẬP QUỐC TẾ CHO THẾ HỆ VƯƠN MÌNH

 Trước hết, cùng với quốc phòng, an ninh, “đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế” là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Tinh thần trọng yếu thường xuyên trong hội nhập quốc tế là phải tranh thủ nguồn lực, điều kiện thuận lợi bên ngoài cho  mục tiêu bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước từ sớm, từ xa; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, đảm bảo tốt nhất lợi ích của nhân dân.

Thứ hai, trong nhận thức, hội nhập quốc tế phải là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, động lực, lực lượng chủ công và đối tượng thụ hưởng các lợi ích của hội nhập quốc tế. Hội nhập nhưng vẫn giữ bản sắc dân tộc, hội nhập, hòa nhập chứ không hòa tan.

Thứ ba, hội nhập quốc tế phải trên cơ sở nội lực có vai trò quyết định, gia tăng nội lực đi đôi với với tranh thủ ngoại lực. Nội lực là nguồn lực chính, là gốc rễ cho sức mạnh, vì vậy phải luôn được phát huy để đảm bảo tính chủ động, độc lập, tự cường nhưng đồng thời, cần tranh thủ cao độ mọi nguồn lực từ bên ngoài để kết hợp và bổ sung cho nội lực. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình.

Thứ tư, hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, “hợp tác để đấu tranh và đấu tranh để hợp tác. Chú trọng phần đối tác, hạn chế phần đối tượng”. Đồng thời, tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trong hội nhập, phải thể hiện đúng tinh thần “đối tác tích cực, có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng đóng góp cho những nỗ lực chung của khu vực và thế giới.

Thứ năm, hội nhập quốc tế phải mang tính chất “đồng bộ, toàn diện, sâu rộng”, trong đó các lĩnh vực phải gắn kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau trong một chiến lược tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm với lộ trình và bước đi phù hợp.

Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải có một cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện cho phát triển. Cùng với “tinh thần đổi mới” về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị của Nghị quyết số 18; “tư tưởng đột phá” về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia của Nghị quyết 57; định hướng về hội nhập quốc tế là “cẩm nang hành động” của Nghị quyết 59 sẽ tạo nên “bộ ba chiến lược” trong trọng tâm “Ổn định lâu dài- Phát triển bền vững - Đời sống nâng cao” do Đảng đã vạch ra. Giai đoạn Cách mạng hiện nay, chúng ta cần triển khai quyết liệt và hiệu quả theo các hướng sau:

Một là tư duy, nhận thức và hành động mới trong hội nhập quốc tế phải được quán triệt sâu rộng, đi vào cuộc sống. Theo đó, nhận thức về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đồng bộ, toàn diện, sâu rộng và hiệu quả là một định hướng chiến lược lớn của Đảng, là một động lực quan trọng để phát triển và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cần được thống nhất từ Trung ương tới địa phương, đến từng tổ chức, từng người dân và doanh nghiệp. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hội nhập quốc tế, các yêu cầu, nhiệm vụ, cơ hội, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của Việt Nam trong hội nhập quốc tế cần được phổ biến, quán triệt sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Hai là, hội nhập kinh tế được xác định là trung tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế với ưu tiên hàng đầu là cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số. Tập trung vào các ngành có lợi thế và tiềm năng, ưu tiên huy động nguồn lực cho những lĩnh vực, dự án then chốt như của hạ tầng chiến lược về giao thông, về năng lượng như đường sắt tốc độ cao, đường cao tốc, hệ thống cảng biển, sân bay; nhà máy điện hạt nhân, điện gió, điện mặt trời; giảm phát thải và trung hoà các-bon để tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Cần tận dụng hiệu quả các cam kết, thỏa thuận, liên kết kinh tế quốc tế, nhất là các FTA thế hệ mới, để tăng cường đan xen lợi ích, không để phụ thuộc vào một số ít đối tác. Hoàn thiện thể chế trong nước nhằm nâng cao năng lực thực thi các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực mới nổi, quan trọng, động lực mới cho tăng năng suất lao động như công nghệ thông tin, viễn thông, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo… Có chính sách phù hợp để thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ, quản trị, kỹ năng chuyên môn cho doanh nghiệp và lao động Việt Nam. Khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh có hiệu quả ở nước ngoài, xây dựng các thương hiệu quốc gia mang tầm quốc tế.

Ba là, hội nhập về chính trị, an ninh, quốc phòng phải hướng tới mục tiêu nâng cao tiềm lực, vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. Hội nhập quốc tế phải phát huy hiệu quả mạng lưới các quan hệ đối tác đã được xác lập để gia tăng tin cậy chính trị, tranh thủ nguồn lực cho phát triển, giải quyết các vấn đề còn tồn tại bằng biện pháp hòa bình, tăng cường hợp tác trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế. Tăng cường phối hợp với các đối tác để ứng phó hiệu quả với thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống như vấn đề Biển Đông, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực; chống ô nhiễm, dịch bệnh, tội phạm mạng, tội phạm xuyên quốc gia… Với thế và lực mới, chúng ta có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải trong những lĩnh vực phù hợp; đóng góp tích cực hơn vào hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ, cứu nạn quốc tế; đa dạng hóa hợp tác quốc phòng, an ninh, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng.

Với thế và lực mới, chúng ta có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải trong những lĩnh vực phù hợp; đóng góp tích cực hơn vào hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ, cứu nạn quốc tế; đa dạng hóa hợp tác quốc phòng, an ninh, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng.Tổng Bí thư Tô Lâm

Bốn là, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực phát triển nhanh lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất theo tinh thần của Nghị quyết 57. Do đó hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới việc đưa các chuẩn mực, quy định về khoa học, công nghệ trong nước tiệm cận với các chuẩn mức, thông lệ quốc tế tiên tiến. Qua đó, nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển của đất nước, huy động, tranh thủ được nguồn lực quốc tế và phát huy mạnh mẽ nguồn lực trong nước để phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn, các ngành mới nổi và các lĩnh vực đổi mới sáng tạo.  

Năm là, đẩy mạnh hội nhập toàn diện về văn hoá, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục - đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác. Về văn hoá, hội nhập nhưng phải gắn với bảo tồn, phát huy và quảng bá văn hóa dân tộc; phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, công nghiệp nội dung, các sản phẩm, thương hiệu văn hoá có chất lượng và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Về y tế, tăng cường hợp tác về nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong y tế trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển một số trung tâm y tế chuyên sâu ngang tầm quốc tế để chữa, trị bệnh theo phương châm “Đông-Tây y kết hợp”. Về giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuẩn hoá, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục của các cơ sở đào tạo trong nước ngang tầm khu vực và quốc tế. Về du lịch, mở rộng, đa dạng hóa thị trường, chú trọng các thị trường có tiềm năng, có nguồn khách lớn, có mức chi tiêu cao và lưu trú lâu ngày. Về lao động, triển khai các cơ chế phát triển nhân lực chất lượng cao, nâng cao kỹ năng học tập suốt đời, năng lực và năng suất của lực lượng lao động Việt Nam. Và cao nhất, là xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam của “thế hệ vươn mình”, để đến năm 2045 những chàng trai, cô gái tuổi mười tám, đôi mươi sánh vai cùng bạn bè quốc tế cả về trí tuệ và thể chất.

Sáu là, khắc phục điểm nghẽn về thực thi cam kết, thỏa thuận quốc tế và đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, chính sách. Trong đó, đẩy mạnh việc rà soát, nội luật hoá pháp luật quốc tế để thực hiện đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả các nghĩa vụ, cam kết của ta. Các tổ chức, đoàn thể phải tăng cường giám sát thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật và các cam kết về hội nhập quốc tế. Các bộ, ngành, địa phương phải đẩy mạnh đôn đốc việc thực hiện các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Đồng thời, thể chế hóa, cụ thể hoá các chiến lược hội nhập quốc tế theo ngành, lĩnh vực, nhất là xây dựng, hoàn thiện pháp luật liên quan đến kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, giảm phát thải các-bon, không gian vũ trụ.

Bảy là, phát huy tinh thần của Nghị quyết 18 trong hội nhập quốc tế, kiện toàn các cơ quan chuyên trách theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiện đại, chuyên nghiệp. Mục tiêu là đưa các cơ chế này hoạt động hiệu quả hơn, tạo chuyển biến trong phối hợp triển khai hội nhập quốc tế giữa các cấp, các ngành, các địa phương và từng người dân, doanh nghiệp. Coi công tác cán bộ là “gốc”, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập, có chuyên môn, kỹ năng cao, ngang tầm quốc tế, có khả năng tham gia hoà giải, giải quyết tranh chấp quốc tế. Đổi mới, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của địa phương, người dân và doanh nghiệp trong tham gia hội nhập quốc tế.

Cuối cùng, hội nhập quốc tế chỉ thành công khi hội nhập trở thành văn hóa tự giác của mọi tổ chức cá nhân, doanh nghiệp, địa phương; phát huy được vai trò trung tâm, sự tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo của cả người dân, doanh nghiệp, địa phương trong gắn kết hội nhập quốc tế và hội nhập trong nước, kết nối giữa các vùng, miền, địa phương, kết nối giữa các ngành, lĩnh vực, kết nối giữa nghiên cứu và triển khai… để đưa hội nhập thành các kết quả cụ thể.

Bác Hồ của chúng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tìm ra con đường cứu nước, đưa Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau như ngày nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Noi gương Bác, chúng ta phải bắt nhịp với sự vận động của thế giới, tìm ra con đường mang lại hòa bình, ổn định, thịnh vượng, phát triển và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đất nước đang đứng trước cơ hội lớn để vươn mình, nhưng thách thức cũng vô cùng to lớn. Những thành quả của hội nhập cho đến nay đã góp phần tích lũy thế và lực cho sự bứt phá tiếp theo. Tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết 59 đánh dấu bước chuyển quan trọng của Đảng ta về tư duy và định hướng hội nhập quốc tế trong giai đoạn tới, tạo động lực đưa đất nước tiến tới đài vinh quang của độc lập, tự do, hạnh phúc, phồn thịnh, trường tồn.

NXV2025

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, sử dụng các chiêu trò tinh vi nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Một số thủ đoạn phổ biến gồm:

Xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng đây là những tư tưởng lỗi thời, không còn phù hợp với thực tiễn.

Tung tin giả, xuyên tạc lịch sử, nhằm hạ thấp uy tín của Đảng và lãnh tụ, gây hoang mang trong nhân dân.

Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, kích động tư tưởng chống đối, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tạo dựng, lan truyền các luận điệu sai trái trên không gian mạng, lôi kéo, dụ dỗ thanh niên, sinh viên tham gia vào các tổ chức phản động


TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người không chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách thuần túy mà còn vận dụng sáng tạo để phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. 

Những quan điểm về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về đại đoàn kết toàn dân, về xây dựng Đảng Cộng sản trong sạch, vững mạnh… vẫn còn nguyên giá trị và cần được phát huy mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay.