Thứ Năm, 3 tháng 4, 2025

Vươn mình trong hội nhập quốc tế.

 Trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Vươn mình trong hội nhập quốc tế

Nhìn lại lịch sử Cách mạng nước ta, hội nhập và phát triển của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay từ những ngày đầu lập nước, trong bức thư gửi tới Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ tinh thần là Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, bày tỏ mong muốn “thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. Đây có thể được coi là “bản tuyên ngôn” đầu tiên về cách tiếp cận của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với cộng đồng quốc tế.

Tư tưởng “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” đó đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong 80 năm qua, luôn gắn cách mạng nước ta với trào lưu tiến bộ của thời đại và sự nghiệp chung của nhân loại.

Vươn mình trong hội nhập quốc tế

Tổng Bí thư Tô Lâm. Ảnh: TTXVN

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định muốn hòa bình và phát triển thì phải mở cửa với bên ngoài, hợp tác với các quốc gia khác, trong đó hội nhập quốc tế là hình thức, trình độ phát triển cao của hợp tác quốc tế. Nói cách khác hội nhập quốc tế là “đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại”, gia tăng sức mạnh của mình thông qua việc gắn kết với thế giới. Đảng đã đề ra chủ trương hội nhập quốc tế, trước là hội nhập kinh tế, sau là hội nhập toàn diện để khơi thông, mở rộng quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vai trò, vị thế của quốc gia, đưa Việt Nam hội nhập vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.

Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên vươn mình tới thịnh vượng, hùng cường, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đòi hỏi phải có tâm thế, vị thế mới và tư duy, cách tiếp cận mới về hội nhập quốc tế. Sự ra đời của Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24-1-2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” là “quyết sách đột phá”, đánh dấu bước ngoặt có tính lịch sử trong quá trình hội nhập của đất nước với việc định vị hội nhập quốc tế là động lực quan trọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Trong đó hội nhập quốc tế chuyển từ tiếp nhận sang đóng góp, từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế một quốc gia đi sau sang trạng thái một quốc gia vươn lên, tiên phong vào những lĩnh vực mới.

Đảng ta xác định hội nhập quốc tế là chiến lược quan trọng nhằm củng cố vị thế chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia, nâng tầm ảnh hưởng của đất nước trên bản đồ thế giới. Hội nhập quốc tế đã từng bước phát triển qua các thời kỳ, từ hội nhập có giới hạn, có chọn lọc, thiên về ý thức hệ, hội nhập kinh tế đơn thuần ban đầu đến “hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện” hiện nay. Đại hội Đảng lần thứ IX lần đầu tiên đề ra chủ trương “hội nhập kinh tế quốc tế”. Đại hội Đảng lần thứ XI đánh dấu một bước chuyển trong tư duy từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực”. Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị là sự cụ thể hóa đường lối hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Gần đây nhất, tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, định hướng chiến lược này một lần nữa được phát triển, hoàn thiện hơn thành “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng có hiệu quả”.

Trong 40 năm đổi mới, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt những kết quả quan trọng, mang tầm vóc lịch sử. Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 34 nước, trong đó có tất cả các thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, các nước lớn; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ chính trị, quốc phòng, an ninh phát triển sâu rộng, thực chất.

Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD. Việc tham gia các thỏa thuận hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế đa tầng nấc, nhất là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã gắn kết Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, đưa Việt Nam lọt vào nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất thế giới từ năm 2019 đến nay, là một trong 10 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể, nghiêm túc và khách quan, kết quả thực hiện các chủ trương hội nhập quốc tế vẫn còn những điểm chưa thực sự như mong đợi, chưa đạt các mục tiêu đề ra, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, rào cản, nút thắt đang cản trở sự phát triển. Hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng đem lại không ít thách thức và mặt trái như: Cạnh tranh không công bằng, tăng trưởng không bền vững, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, nguy cơ “chệch hướng”, “xâm lăng văn hóa”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “xói mòn niềm tin” trong nội bộ…

Thế giới đang đứng trước những thay đổi căn bản mang tính thời đại, biến đổi sâu sắc về mọi mặt dưới tác động của các chuyển dịch lớn của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ. Giai đoạn từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để định hình và xác lập trật tự thế giới mới. Những thay đổi này đang tạo ra một môi trường quốc tế đa chiều hơn, mở ra những vận hội lớn cùng nhiều thách thức lớn cho đất nước. Trong giai đoạn giao thời, quá độ giữa cái cũ và cái mới, các nước vừa và nhỏ thường bị đặt ở thế bị động, không kịp thích ứng. Trong lần chuyển đổi này, nếu không kịp thời bắt nhịp với thế giới, nhận diện và tranh thủ cơ hội để đặt đất nước vào đúng dòng chảy của thời đại trong 10 năm, 20 năm tới, nguy cơ tụt hậu sẽ hiện hữu hơn bao giờ hết.

Sức mạnh thời đại hiện nay là các xu thế chính trị, kinh tế, xã hội trên thế giới như hòa bình, hợp tác và phát triển, xu thế dân chủ hóa quan hệ quốc tế, xu thế phát triển bền vững, xu thế hợp tác và liên kết kinh tế; là sức mạnh của cộng đồng quốc tế đồng thuận trong kiến tạo, củng cố thế giới đa cực, đa trung tâm, dân chủ, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế và đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người.

Đứng trước thời điểm lịch sử, đất nước cần những quyết sách lịch sử. Kế thừa những giá trị đã được khẳng định, Nghị quyết số 59 đã nắm bắt được dòng chảy của sức mạnh thời đại và “nâng tầm” hội nhập quốc tế với những quan điểm mang tính cách mạng, tính đột phá, tính dân tộc, tính khoa học, tính thời đại cao.

Trước hết, cùng với quốc phòng, an ninh, “đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế” là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Tinh thần trọng yếu thường xuyên trong hội nhập quốc tế là phải tranh thủ nguồn lực, điều kiện thuận lợi bên ngoài cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước từ sớm, từ xa; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, đảm bảo tốt nhất lợi ích của nhân dân.

Thứ hai, trong nhận thức, hội nhập quốc tế phải là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, động lực, lực lượng chủ công và đối tượng thụ hưởng các lợi ích của hội nhập quốc tế. Hội nhập nhưng vẫn giữ bản sắc dân tộc, hội nhập, hòa nhập chứ không hòa tan.

Thứ ba, hội nhập quốc tế phải trên cơ sở nội lực có vai trò quyết định, gia tăng nội lực đi đôi với với tranh thủ ngoại lực. Nội lực là nguồn lực chính, là gốc rễ cho sức mạnh, vì vậy phải luôn được phát huy để đảm bảo tính chủ động, độc lập, tự cường nhưng đồng thời, cần tranh thủ cao độ mọi nguồn lực từ bên ngoài để kết hợp và bổ sung cho nội lực. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình.

Thứ tư, hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, “hợp tác để đấu tranh và đấu tranh để hợp tác. Chú trọng phần đối tác, hạn chế phần đối tượng”. Đồng thời, tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trong hội nhập, phải thể hiện đúng tinh thần “đối tác tích cực, có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng đóng góp cho những nỗ lực chung của khu vực và thế giới.

Thứ năm, hội nhập quốc tế phải mang tính chất “đồng bộ, toàn diện, sâu rộng”, trong đó các lĩnh vực phải gắn kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau trong một chiến lược tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm với lộ trình và bước đi phù hợp.

Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải có một cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện cho phát triển. Cùng với “tinh thần đổi mới” về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị của Nghị quyết số 18; “tư tưởng đột phá” về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia của Nghị quyết số 57; định hướng về hội nhập quốc tế là “cẩm nang hành động”của Nghị quyết số 59 sẽ tạo nên “bộ ba chiến lược” trong trọng tâm “Ổn định lâu dài - Phát triển bền vững - Đời sống nâng cao” do Đảng đã vạch ra. Giai đoạn cách mạng hiện nay, chúng ta cần triển khai quyết liệt và hiệu quả theo các hướng sau:

Một là tư duy, nhận thức và hành động mới trong hội nhập quốc tế phải được quán triệt sâu rộng, đi vào cuộc sống. Theo đó, nhận thức về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đồng bộ, toàn diện, sâu rộng và hiệu quả là một định hướng chiến lược lớn của Đảng, là một động lực quan trọng để phát triển và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cần được thống nhất từ Trung ương tới địa phương, đến từng tổ chức, từng người dân và doanh nghiệp. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hội nhập quốc tế, các yêu cầu, nhiệm vụ, cơ hội, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của Việt Nam trong hội nhập quốc tế cần được phổ biến, quán triệt sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Hai là hội nhập kinh tế được xác định là trung tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế với ưu tiên hàng đầu là cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số. Tập trung vào các ngành có lợi thế và tiềm năng, ưu tiên huy động nguồn lực cho những lĩnh vực, dự án then chốt như của hạ tầng chiến lược về giao thông, về năng lượng như đường sắt tốc độ cao, đường cao tốc, hệ thống cảng biển, sân bay; nhà máy điện hạt nhân, điện gió, điện mặt trời; giảm phát thải và trung hòa các-bon để tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

Cần tận dụng hiệu quả các cam kết, thỏa thuận, liên kết kinh tế quốc tế, nhất là các FTA thế hệ mới, để tăng cường đan xen lợi ích, không để phụ thuộc vào một số ít đối tác. Hoàn thiện thể chế trong nước nhằm nâng cao năng lực thực thi các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực mới nổi, quan trọng, động lực mới cho tăng năng suất lao động như công nghệ thông tin, viễn thông, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo… Có chính sách phù hợp để thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ, quản trị, kỹ năng chuyên môn cho doanh nghiệp và lao động Việt Nam. Khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh có hiệu quả ở nước ngoài, xây dựng các thương hiệu quốc gia mang tầm quốc tế.

Ba là hội nhập về chính trị, an ninh, quốc phòng phải hướng tới mục tiêu nâng cao tiềm lực, vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. Hội nhập quốc tế phải phát huy hiệu quả mạng lưới các quan hệ đối tác đã được xác lập để gia tăng tin cậy chính trị, tranh thủ nguồn lực cho phát triển, giải quyết các vấn đề còn tồn tại bằng biện pháp hòa bình, tăng cường hợp tác trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế. Tăng cường phối hợp với các đối tác để ứng phó hiệu quả với thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống như vấn đề Biển Đông, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực; chống ô nhiễm, dịch bệnh, tội phạm mạng, tội phạm xuyên quốc gia… Với thế và lực mới, chúng ta có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải trong những lĩnh vực phù hợp; đóng góp tích cực hơn vào hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ, cứu nạn quốc tế; đa dạng hóa hợp tác quốc phòng, an ninh, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng.

Bốn là, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực phát triển nhanh lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất theo tinh thần của Nghị quyết số 57. Do đó hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới việc đưa các chuẩn mực, quy định về khoa học, công nghệ trong nước tiệm cận với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến. Qua đó, nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển của đất nước, huy động, tranh thủ được nguồn lực quốc tế và phát huy mạnh mẽ nguồn lực trong nước để phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn, các ngành mới nổi và các lĩnh vực đổi mới sáng tạo.

Năm là, đẩy mạnh hội nhập toàn diện về văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục - đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác. Về văn hóa hội nhập nhưng phải gắn với bảo tồn, phát huy và quảng bá văn hóa dân tộc; phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp nội dung, các sản phẩm, thương hiệu văn hóa có chất lượng và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Về y tế, tăng cường hợp tác về nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong y tế trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển một số trung tâm y tế chuyên sâu ngang tầm quốc tế để chữa, trị bệnh theo phương châm “Đông-Tây y kết hợp”. Về giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuẩn hóa, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục của các cơ sở đào tạo trong nước ngang tầm khu vực và quốc tế. Về du lịch, mở rộng, đa dạng hóa thị trường, chú trọng các thị trường có tiềm năng, có nguồn khách lớn, có mức chi tiêu cao và lưu trú lâu ngày. Về lao động, triển khai các cơ chế phát triển nhân lực chất lượng cao, nâng cao kỹ năng học tập suốt đời, năng lực và năng suất của lực lượng lao động Việt Nam. Và cao nhất, là xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam của “thế hệ vươn mình”, để đến năm 2045 những chàng trai, cô gái tuổi mười tám, đôi mươi sánh vai cùng bạn bè quốc tế cả về trí tuệ và thể chất.

Sáu là, khắc phục điểm nghẽn về thực thi cam kết, thỏa thuận quốc tế và đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, chính sách. Trong đó, đẩy mạnh việc rà soát, nội luật hóa pháp luật quốc tế để thực hiện đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả các nghĩa vụ, cam kết của ta. Các tổ chức, đoàn thể phải tăng cường giám sát thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật và các cam kết về hội nhập quốc tế. Các bộ, ngành, địa phương phải đẩy mạnh đôn đốc việc thực hiện các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Đồng thời, thể chế hóa, cụ thể hóa các chiến lược hội nhập quốc tế theo ngành, lĩnh vực, nhất là xây dựng, hoàn thiện pháp luật liên quan đến kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, giảm phát thải các-bon, không gian vũ trụ.

Bảy là, phát huy tinh thần của Nghị quyết số 18 trong hội nhập quốc tế, kiện toàn các cơ quan chuyên trách theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiện đại, chuyên nghiệp. Mục tiêu là đưa các cơ chế này hoạt động hiệu quả hơn, tạo chuyển biến trong phối hợp triển khai hội nhập quốc tế giữa các cấp, các ngành, các địa phương và từng người dân, doanh nghiệp. Coi công tác cán bộ là “gốc”, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập, có chuyên môn, kỹ năng cao, ngang tầm quốc tế, có khả năng tham gia hòa giải, giải quyết tranh chấp quốc tế. Đổi mới, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của địa phương, người dân và doanh nghiệp trong tham gia hội nhập quốc tế.

Cuối cùng, hội nhập quốc tế chỉ thành công khi hội nhập trở thành văn hóa tự giác của mọi tổ chức cá nhân, doanh nghiệp, địa phương; phát huy được vai trò trung tâm, sự tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo của cả người dân, doanh nghiệp, địa phương trong gắn kết hội nhập quốc tế và hội nhập trong nước, kết nối giữa các vùng, miền, địa phương, kết nối giữa các ngành, lĩnh vực, kết nối giữa nghiên cứu và triển khai… để đưa hội nhập thành các kết quả cụ thể.

Bác Hồ của chúng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tìm ra con đường cứu nước, đưa Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau như ngày nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Noi gương Bác, chúng ta phải bắt nhịp với sự vận động của thế giới, tìm ra con đường mang lại hòa bình, ổn định, thịnh vượng, phát triển và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đất nước đang đứng trước cơ hội lớn để vươn mình, nhưng thách thức cũng vô cùng to lớn. Những thành quả của hội nhập cho đến nay đã góp phần tích lũy thế và lực cho sự bứt phá tiếp theo. Tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết số 59 đánh dấu bước chuyển quan trọng của Đảng ta về tư duy và định hướng hội nhập quốc tế trong giai đoạn tới, tạo động lực đưa đất nước tiến tới đài vinh quang của độc lập, tự do, hạnh phúc, phồn thịnh, trường tồn.

Việt Nam đề xuất nhiều sáng kiến và đóng góp thực chất vào hoạt động của IPU

 Nhân dịp này, đồng chí Đôn Tuấn Phong, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, an ninh và Đối ngoại của Quốc hội đã trả lời phỏng vấn báo chí về chuyến công tác của Chủ tịch Quốc hội.

Phóng viên: Xin đồng chí chia sẻ về hành trình gia nhập, tham gia và những đóng góp nổi bật của Việt Nam tại IPU thời gian qua?

Đồng chí Đôn Tuấn Phong: Kể từ khi được thành lập vào năm 1889 cho đến nay, IPU ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình. Đại hội đồng IPU vì thế là trung tâm hoạt động ngoại giao nghị viện toàn thế giới vì hòa bình, hợp tác, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy các cơ chế hợp tác liên nghị viện, đồng hành cùng Liên hợp quốc thảo luận các giải pháp nhằm đổi mới tổ chức, củng cố đoàn kết, xây dựng chương trình nghị sự đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Việt Nam đề xuất nhiều sáng kiến và đóng góp thực chất vào hoạt động của IPU

Chủ tịch nước Lương Cường và Nhà vua Bỉ Philippe hội kiến

 Tại cuộc hội kiến, Chủ tịch nước Lương Cường nhiệt liệt chào mừng Nhà vua Bỉ Philippe cùng Đoàn đại biểu cấp cao Vương quốc Bỉ lần đầu tiên thăm cấp Nhà nước Việt Nam kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973; khẳng định chuyến thăm là dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra một trang mới cho quan hệ hữu nghị hai nước. 

Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn tăng cường hợp tác nhiều mặt với Bỉ, nước thành viên có vai trò và tiếng nói quan trọng trong EU; bày tỏ trân trọng sự ủng hộ quý báu của nhân dân Bỉ dành cho Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như những tình cảm tốt đẹp, đóng góp của cá nhân Nhà vua và Hoàng hậu Bỉ dành cho đất nước, nhân dân Việt Nam và quan hệ hai nước thời gian qua.      

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và phu nhân lên đường tham dự IPU-150, thăm chính thức Uzbekistan và Armenia

 Chiều 1-4, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và phu nhân Nguyễn Thị Thanh Nga cùng đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội, lên đường tham dự Đại hội đồng lần thứ 150 của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU-150), thăm chính thức Cộng hòa Uzbekistan và Cộng hòa Armenia từ ngày 2 đến 8-4 theo lời mời của Chủ tịch IPU Tulia Ackson và Tổng thư ký IPU Martin Chungong, Chủ tịch Thượng viện Quốc hội Uzbekistan Tanzila Narbaeva, Chủ tịch Quốc hội Armenia Alen Simonyan.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và phu nhân lên đường tham dự IPU-150, thăm chính thức Uzbekistan và Armenia

Tổng Bí thư Tô Lâm: Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị

 Tham dự cuộc họp có Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư.

Tổng Bí thư Tô Lâm: Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị
Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì cuộc họp. 

Sau khi nghe báo cáo Chuyên đề về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, cập nhật kiến thức chuyên đề nằm trong kế hoạch, chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. 

Đây là hoạt động cụ thể, khẳng định quyết tâm cao nhất của lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thành công nghị quyết này, chính các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư tiên phong trong cập nhật kiến thức với lĩnh vực mới, khó và thay đổi liên tục này.

Trình Chính phủ văn bản tinh gọn bộ máy trước ngày 6-4

 Tại cuộc họp, các bộ, ngành báo cáo tiến độ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các văn bản phục vụ việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; triển khai Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, liên quan đến xử lý các vướng mắc về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng. 


Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

Tuổi trẻ Bộ đội Biên phòng xung kích thực hiện hiệu quả các chương trình, mô hình

 


    Đoàn viên, thanh niên BĐBP là lực lượng đông đảo và là nguồn nhân lực chủ yếu tạo nên sức mạnh to lớn, không chỉ xung kích trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, mà còn hăng hái, đi đầu trong tổ chức, triển khai hiệu quả các hoạt động hướng về đồng bào các dân tộc ở khu vực giới như: "Xuân biên phòng ấm lòng dân bản", "Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn biên phòng", “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, Chương trình “Tháng Thanh niên”, “Tháng Ba biên giới” năm 2024, Chiến dịch “Thanh niên tình nguyện Hè”, “Xuân yêu thương năm 2024”, “Ngày Chủ nhật xanh”, “Hãy làm sạch biển”...

    Kết quả, năm 2024, tuổi trẻ các đơn vị tổ chức tốt “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Giáp Thìn, tổng số cây đã trồng là 130.650 cây, tăng 7.850 cây so với năm 2023, các loại cây trồng gồm cây lấy gỗ, cây ăn trái, cây cảnh, rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ. Bên cạnh đó, trong Chương trình “Xuân biên cương, hải đảo - Tết thắm tình quân dân”, các đơn vị đã phối hợp tặng 16.500 suất quà, tổng trị giá trên 8,65 tỷ đồng cho các gia đình chính sách, hộ đoàn viên thanh niên có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn biên giới; trao 1.379 suất học bổng, trị giá 857 triệu đồng cho các cháu học sinh “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn biên phòng”.

    Cùng với đó, tuổi trẻ BĐBP đóng góp hàng nghìn ngày công, kêu gọi, vận động các cơ quan, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát, các công trình dân sinh cho đồng bào nơi biên giới. Mặt khác, đoàn viên, thanh niên các đơn vị hăng hái tổ chức, tham gia Chiến dịch “Hãy làm sạch biển”, thu dọn được khoảng trên 18 tấn rác/2.900km bãi biển với sự tham gia của cán bộ, chiến sĩ BĐBP và đoàn viên, thanh niên, người dân địa phương của 28 tỉnh, thành phố ven biển và 4 Hải đoàn. Hiện, có trên 400 tổ cắt tóc hoạt động tại các đơn vị, hàng tuần, cán bộ, đoàn viên, thanh niên BĐBP đã cắt tóc miễn phí cho nhân dân, các em học sinh trên địa bàn; thực hiện tốt mô hình “Hũ gạo tình thương”, quyên góp ủng hộ được trên 2.800kg gạo.

    Đặc biệt, nhiều đơn vị có những mô hình, cách làm hay, sáng kiến đạt hiệu quả thiết thực như: “Ánh sáng vùng biên”, “Mỗi tuần một câu hỏi, một đáp án”, “Mỗi tuần một địa chỉ đỏ”, “Ngôi nhà xanh”, “Cá biển xin rác” để gây quỹ tiếp bước em tới trường...

    Thông qua các chương trình, hoạt động ý nghĩa, thiết thực, nhân văn trên mọi miền biên giới, hải đảo của Tổ quốc của tuổi trẻ BĐBP đã để lại dấu ấn đậm nét trong lòng nhân dân cả nước. Đồng thời, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của lực lượng, phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng khu vực biên giới giàu đẹp, xây dựng nền Biên phòng toàn dân vững mạnh.

NGƯỜI ĐẦU TIÊN CẮM CỜ GIẢI PHÓNG TRÊN DINH ĐỘC LẬP


          Mỗi năm, khi đến ngày kỉ niệm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước chắc hẳn trong mỗi chúng ta đều bồi hồi, xúc động khi nhắc đến người anh hùng Bùi Quang Thận dũng cảm vượt qua trùng trùng lớp lớp vòng vây của kẻ thù để cắm cờ lên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu sự chấm hết của chế độ độc tài, tàn ác nợ máu với nhân dân.

Lúc 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4. Khi đó, trận đánh đã diễn ra căng thẳng và khốc liệt. Lữ đoàn trưởng Nguyễn Tất Tài lệnh cho đại đội 4 ở phía sau vượt lên, chiếm đầu cầu, rồi chớp thời cơ, chọc thẳng vào mạng sườn địch. Bị cú đánh bất ngờ, địch thoáng chững lại. Đội hình chúng có phần nhốn nháo. Xe tăng ta tiến đến đầu cầu Thị Nghè thì bất ngờ mấy chiếc tăng địch chẳng biết ở đâu lù lù hiện ra. Hình như chúng muốn chặn ta ở ngay trên cầu. Đại đội trưởng Lê Tiến Hùng, chỉ huy chiếc xe tăng thứ hai bị thương, bắt buộc phải dừng lại.

Tình thế khá nguy cấp. Bùi Quang Thận tức tốc cho xe 843 vượt lên, bắn cháy liền một lúc cả hai xe M.41 và M.113 của địch. Trong xe anh chỉ còn duy nhất 2 viên đạn. Sau này, anh mới biết hai viên đạn thối. Thực tình, lúc đó, chiếc xe đã hết đạn, mà chặng đường còn rất xa, phải vượt qua bao tuyến phòng thủ kiên cố dày đặc của địch mới đến được Dinh Độc Lập. Vừa qua khỏi cầu Thị Nghè, anh lại đụng phải 3 chiếc xe tăng địch xông ra đánh chặn. May sao, Vũ Đăng Toàn, chính trị viên đại đội 4, ngồi trên chiếc tăng 390 đã chỉ huy bắn cháy luôn cả 3 chiếc tăng ấy. Đạn trong xe địch nổ toang toác. Không gian sặc sụa và tanh khét mùi thép cháy. Bọn địch ngồi lố nhố trên mấy chiếc xe bọc thép gần đấy, thấy thế hoảng hốt nhảy khỏi xe, bỏ chạy tán loạn. Thế là tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch hoàn toàn tan vỡ.

Được sự giúp đỡ chỉ dẫn của nhân dân và biệt động thành, lữ đoàn tăng 203 đã chia làm 2 mũi, hướng theo đường Hồng Thập Tự tốc thẳng vào Dinh Độc Lập. Lúc 10 giờ 15 phút, chiếc xe tăng 843 của Bùi Quang Thận dẫn đầu đã vượt qua các ổ đề kháng, vượt qua khu Nhà Xanh, vượt qua cả những họng súng đang ngơ ngác của địch, lừng lững tiến thẳng vào cửa Dinh Độc Lập. Khi thấy toà nhà trắng loá hiện ra trước cửa xe, Bùi Quang Thận cho lắp một viên đạn nã thẳng vào Dinh để thị uy. Đạn thối, không nổ. Anh cho nạp viên cuối cùng. Cũng lại không nổ. Hú vía cho cái Dinh Thống Nhất bây giờ đã thoát được hai viên đạn của anh.

Một chiếc tăng của ta đã húc thẳng vào cánh cổng Dinh Độc Lập. Bùi Quang Thận cho xe lùi ra, húc tiếp vào cánh cổng bên trái của Dinh. Đó là đòn tấn công cuối cùng của chiếc tăng không còn vũ khí. Cũng thật may cho Bùi Quang Thận và đồng đội anh, một người vô danh nào đó trong Dinh đã kịp cắt cầu dao hàng rào điện tử, nếu không, chỉ chạm vào cổng sắt là chiếc tăng của anh và đồng đội anh sẽ bị nổ tung. Phải đến cú thúc thứ ba cánh cổng sắt mới chịu đổ sập. Bùi Quang Thận cho xe tốc thẳng vào sân dinh. Trước mặt anh, lố nhố những xe tăng, xe bọc thép tuyến phòng ngự cuối cùng của địch bảo vệ Dinh với bao nhiêu súng ống đạn dược tối tân, còn anh, chỉ có hai tay trắng và chiếc xe tăng lổng nhổng vỏ đạn. Bùi Quang Thận giật phắt lá cờ trận mạc cắm trên xe tăng, quay lại bảo lái xe Lữ Văn Hoá, pháo thủ Thái Bá Minh: “Các cậu ở lại, mình vào Dinh nhé. Nếu không thấy mình quay ra, cũng không thấy lá cờ này nhô lên, thì tức là mình đã chết ở trong Dinh rồi”.

Thế rồi với hai bàn tay trắng, chỉ có lá cờ trận mạc ố xuộm khói đạn làm vũ khí, Bùi Quang Thận xông thẳng vào sào huyệt cuối cùng của kẻ thù và đúng 11 giờ 30 phút trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 lá cờ Quyết chiến, Quyết thắng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập là hiệu lệnh báo hiệu chế độ Cộng Hòa đã chấm dứt, cuộc chiến tranh vệ quốc dành độc lập của toàn dân tộc Việt Nam đã thắng lợi. 

Thanh niên Bộ đội Biên phòng xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”

 


Là lực lượng đông đảo của BĐBP và là một bộ phận của thanh niên Việt Nam, các thế hệ cán bộ, đoàn viên, thanh niên BĐBP luôn không ngừng rèn luyện, phấn đấu, xung kích, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời, tuổi trẻ BĐBP còn tích cực tham gia cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai; tổ chức các hoạt động vì cộng đồng; "ba bám, bốn cùng" với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới, phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Với tinh thần dũng cảm, sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách, tuổi trẻ BĐBP không chỉ bảo vệ đất nước, mà còn góp phần xây dựng biên giới vững mạnh, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới…



LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI LÀ TRÒ ĐÙA!

Mỗi dịp chuẩn bị ngày kỷ niệm thống nhất đất nước của Việt Nam (ngày 30/4) không riêng những người của chế độ cũ mà kể các quốc gia đồng minh của Mỹ đều tỏ ra hậm hực và cay cú. Có vẻ khó nuốt trôi được cục tức dẫn đến không thừa nhận mình là kẻ thua trong cuộc chiến phi nghĩa đó.


Mấy ngày vừa qua 1 số kênh truyền hình của Hàn Quốc đăng tải về cuộc chiến tranh của Việt Nam và sự tham gia của quân đội của mình, câu truyện cũng hết sức bình thường nếu không xảy ra việc các kênh truyền hình có lượng người theo dõi khá lớn này đăng tải sai sự thực về cuộc chiến có sự tham gia của họ ở Việt Nam. Lịch sử cần phải được ghi lại chuẩn xác và phải được tôn trọng không thể bóp méo nhằm hướng dư luận theo một cách tiểu nhân bì ổi.

Chiến tranh đã lùi xa, Việt Nam, Hàn Quốc đã trở thành đối tác chiến lược trong nhiều lĩnh vực, Chính phủ và người dân yêu chuộng hòa bình của 2 nước luôn dành cho nhau những giúp đỡ quý báu để mong hàn gắn lại phần nào những vết thương lòng mà các bên đã gây ra cho Việt Nam.

Thật nực cười cho 1 số kênh truyền hình đã đăng tải video clip mang tính xuyên tạc, với riêng các bạn chúng tôi muốn nói rằng chính quyền hiện tại và những người lính của họ thời điểm đó phải nên biết xấu hổ và nhục nhã vì phải dùng chính sinh mạng của người dân để đổi lấy những đồng USD "bẩn" của quan thầy mình bố thí.

Việt Nam có câu ngạn ngữ, “đói cho sạch rách cho thơm”, có nghèo, có khó. Dân tộc chúng tôi cũng không bao giờ đi đánh thuê kiếm những đồng tiền trên xương máu của những người anh em để rồi đem bao nhiêu khổ đau cho người dân các nước. Đó là sự khác biệt giữa chúng tôi và các bạn.

Hãy làm người quân tử đừng làm kẻ tiểu nhân dám làm dám chịu trách nhiệm. Dám xin lỗi đó mới là kẻ sĩ. Đừng thất phu như những kênh truyền hình này./.

Không thờ ơ trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá trước thềm đại hội đảng các cấp

 

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang chuẩn bị tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Các thế lực thù địch, phản động lại ráo riết đẩy mạnh các hoạt động xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng. Các đối tượng tập trung nhiều vào lĩnh vực tư tưởng, chính trị; công tác cán bộ và hoạt động đối ngoại quốc phòng với ý đồ gây nhiễu loạn về tư tưởng xã hội, ly tán lòng dân với Đảng.

Sự nguy hại của 3 “mũi nhọn” chống phá 

Trước mỗi dịp đất nước tổ chức các sự kiện chính trị trọng đại và trước thềm đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động lại hằn học, tìm trăm phương ngàn kế, không từ bất kỳ thủ đoạn nào, nhất là lợi dụng các trang mạng xã hội để đưa nhiều thông tin bịa đặt, tuyên truyền xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Trong đó, chúng chủ yếu tập trung vào 3 lĩnh vực chính.

Về chính trị, tư tưởng, các thế lực thù địch, phản động tung ra hàng loạt bài viết với những luận điệu phản động, xuyên tạc trắng trợn về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; họ rêu rao, quy chụp về “sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội” và hô hào cái gọi là “sự tồn tại vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản”. Thông qua chiêu trò cổ xúy các học thuyết “các nền văn minh”, “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “chủ nghĩa tư bản mới”, các thế lực thù địch nung nấu mưu đồ phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc... mục đích nhằm gây nhiễu loạn về tư tưởng của Đảng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tác động tiêu cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm suy giảm lòng tin của nhân dân về chủ nghĩa xã hội, qua đó dã tâm thực hiện mưu đồ làm cho Đảng tan rã về ý thức hệ, từ đó tan rã về tổ chức, làm cho nước ta chệch hướng xã hội chủ nghĩa và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

 

Về công tác cán bộ, các thế lực thù địch xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, nhất là lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ta kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp trong bộ máy công quyền để công kích, cho rằng đây là cuộc “đấu đá nội bộ”, "thanh trừng phe nhóm" trong Đảng. Để tăng tính thuyết phục cho những luận điệu sai trái này, họ còn xây dựng trang fanpage để moi móc, bôi nhọ bí mật đời tư, bịa đặt về đạo đức, lối sống, tình hình sức khỏe của cán bộ rồi bóp méo thông tin, ngụy tạo những văn bản giả có dấu mật y như thật hòng bôi nhọ cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng những câu chuyện ly kỳ để lôi kéo sự tò mò của người đọc. Các đối tượng còn tổ chức nhiều cuộc tọa đàm dẫn lời một số nhân vật tự nhận là những người có học hàm, học vị như “giáo sư”, “tiến sĩ”, những người có hiểu biết như “luật sư”, “học giả”, “nhà nghiên cứu chính trị-xã hội” dưới vỏ bọc “yêu nước”, “đóng góp trung thực, thẳng thắn vì nhân dân, vì đất nước” nhưng thực chất là những bình luận ác ý, những đơm đặt thiên lệch, sai trái về công tác nhân sự của Đảng. 

Về hoạt động đối ngoại quốc phòng, các đối tượng xuyên tạc chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” của Đảng Cộng sản Việt Nam với luận điệu “Việt Nam tự trói tay mình” là đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử nhân loại; là trái với quy luật về mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc. Mưu đồ của họ không chỉ đơn thuần là chọc ngoáy chính sách quốc phòng của Việt Nam, mà nham hiểm hơn là muốn kích động, gây hoang mang tâm lý, tư tưởng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân, nhất là cán bộ, chiến sĩ LLVT vào sự lãnh đạo của Đảng. Qua đó từng bước phá hoại sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, tạo thời cơ để thúc đẩy, kêu gọi sự can dự từ bên ngoài hòng lật đổ chính quyền cách mạng, đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.                                                                     

Củng cố, bồi đắp niềm tin 

Để phòng, chống, đấu tranh làm thất bại các luận điệu sai trái, thù địch, trước hết, cấp ủy, tổ chức đảng và các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên làm tốt công tác nắm bắt, định hướng tư tưởng, chủ động cung cấp thông tin chính thống nhằm tạo thế chủ động trong nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là các luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng; không để khoảng trống về thông tin cho các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng, xuyên tạc chống phá. Đồng thời, tăng cường tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các lực lượng nòng cốt, chuyên sâu về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cùng với đó, các địa phương, cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, hiệu quả cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá đại hội đảng các cấp.

Các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan báo chí, truyền thông cần kịp thời nhận diện và đưa ra luận cứ phê phán, đấu tranh với những thông tin sai lệch; huy động đông đảo lực lượng tham gia hoạt động truyền thông, chia sẻ các thông tin chính thống trên không gian mạng để giúp nhân dân củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Đồng thời phát hiện, xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp đưa thông tin sai sự thật; phối hợp với các nhà mạng để gỡ bỏ những thông tin bịa đặt với mục đích không lành mạnh.

Đối với người dân, nhất là cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong học tập lý luận chính trị, nghiên cứu nắm vững các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, kiến thức pháp luật, khoa học, văn hóa. Khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu trên không gian mạng cần phải tỉnh táo, sáng suốt để phân loại, nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin với dụng ý xuyên tạc, bịa đặt. Từ đó, có thái độ rõ ràng, dứt khoát, tránh bị cuốn theo những luận điệu xảo trá của các thế lực thù địch mà dẫn tới hoài nghi, hoang mang, dao động về tư tưởng, tự suy giảm niềm tin vào Đảng và chế độ.

Giải pháp có ý nghĩa then chốt là các cơ quan, đơn vị, địa phương, các ngành, các cấp cần tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Kiên trì, kiên quyết thực hiện tốt hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xử lý nghiêm minh các trường hợp cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất, làm tổn hại đến thanh danh, uy tín của Đảng.

Thực hiện hiệu quả giải pháp trên sẽ góp phần kiến tạo, củng cố, bồi đắp niềm tin cho nhân dân từ gốc rễ, qua đó tạo môi trường xã hội đồng thuận, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên các tầng lớp nhân dân tự nguyện, tự tin, tự hào đi theo lý tưởng, mục tiêu và sự nghiệp cách mạng cao cả dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tấm lòng người lính Biên phòng Việt Nam với quân dân nước bạn Lào

 

Bấy lâu nay, người dân cụm bản La Cồ (huyện Sê Pôn, tỉnh Sa Vẳn Na Khệt, Lào) luôn dành sự yêu mến, trân trọng đối với Thiếu tá Phan Quang Vĩnh (nhân viên Trạm Kiểm soát Biên phòng cửa khẩu phụ Tà Rùng, Đồn Biên phòng Hướng Lập, BĐBP Quảng Trị) không chỉ vì anh thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với bà con, mà còn vì tấm lòng thơm thảo của người lính Biên phòng Việt Nam, luôn hướng đến bà con bằng những việc làm cụ thể, ý nghĩa.

Hàng ngày làm công tác xuất, nhập cảnh cho người dân Việt Nam và người dân Lào qua lại cửa khẩu phụ Tà Rùng, Thiếu tá Phan Quang Vĩnh nhận thấy rằng, người dân hai bên biên giới nơi đây có cuộc sống tuy còn nhiều khó khăn, vất vả, nhưng luôn đoàn kết, yêu thương, đùm bọc nhau. Trong những năm chiến tranh, người Vân Kiều ở Hướng Lập, Hướng Việt (huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) và La Cồ (nay thuộc huyện Sê Pôn) người cầm súng, người làm dân công hỏa tuyến, người ở nhà trồng cấy góp lương thực gửi ra chiến trường để đánh đuổi đế quốc Mỹ.

Sau hoạch định biên giới 1978, người ở La Cồ trở thành công dân Lào, người ở Hướng Việt, Hướng Lập trở thành công dân Việt Nam, vậy nên, tuy là hai quốc gia, hai quốc tịch, nhưng cùng chảy chung một dòng máu của người Vân Kiều. Người dân vẫn giữ mối quan hệ thân tộc, thường xuyên qua lại thăm thân và luôn khắc sâu câu nói “Việt - Lào anh em”. Chính bởi vậy, trong thâm tâm cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hướng Lập nói chung và Thiếu tá Phan Quang Vĩnh nói riêng, những người dân cụm bản La Cồ vẫn luôn là đồng bào, cần đùm bọc, cưu mang, giúp đỡ như người dân ở Hướng Lập, Hướng Việt….

 

Đối với cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hướng Lập, ông Hồ Ka Định vẫn là người có công với cách mạng Việt Nam, bởi vậy ngày lễ, Tết đều có quà tặng như một sự tri ân của thế hệ sau với lớp người đi trước. Niềm vui của người đàn ông Lào mang dòng máu Việt này, đó là chứng kiến sự đổi thay của khúc đoạn biên giới, đó là nhân dân được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, no ấm - lý tưởng, mục tiêu khiến ông cầm súng mấy mươi năm trước. Mừng hơn nữa là dù trở thành người Lào hay người Việt thì người dân nơi đây vẫn luôn đoàn kết, yêu thương nhau, ngày qua ngày cùng những người lính bảo vệ biên giới vun đắp tình hữu nghị hai nước mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững….

Trò “chọc gậy” lỗi thời và thiển cận

 

Trong quá trình tiếp tục triển khai chính sách, đường lối đối ngoại và gặt hái thêm nhiều thành tựu trong lĩnh vực này, chúng ta cần tiếp tục cảnh giác và chủ động đập tan mọi chiêu trò nhằm phá bĩnh quan hệ giữa Việt Nam với các nước cũng như các tổ chức quốc tế, trong đó có quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.

Lâu nay, các thế lực phản động vẫn “chọc ngoáy” quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ bằng các luận điệu tràn lan trên mạng xã hội đại loại như: Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ không thể phát triển nếu Việt Nam không cải thiện tình hình nhân quyền và không xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; hoặc thậm chí kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề dân chủ, nhân quyền. Thế nhưng, khi chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đã không còn phát huy tác dụng, họ chuyển sang chống phá bằng cách khai thác và xuyên tạc những chuyển động trong quan hệ hai nước. Nhìn thấy quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ phát triển tốt đẹp lên thì họ cố nặn ra những bài viết tỏ rõ sự hậm hực, còn khi mối quan hệ ấy nảy sinh vướng mắc thì họ hả hê, tha hồ tung ra những phân tích, đánh giá mang tính chủ quan và hết sức vô căn cứ.

 

Chẳng hạn, gần đây, trước việc chính quyền mới ở Hoa Kỳ quyết định tạm dừng các dự án hỗ trợ của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), bao gồm các dự án hỗ trợ của USAID liên quan tới khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng một số địa phương đã bày tỏ mong muốn và đề nghị cùng Hoa Kỳ tiếp tục triển khai thực chất, hiệu quả các hoạt động hợp tác này. Ấy vậy mà một số tổ chức, cá nhân phản động lại lợi dụng vấn đề này để “chọc ngoáy” nhằm khiến dư luận hiểu sai về thực trạng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, điển hình là tổ chức phản động Việt Tân. Tổ chức này rêu rao trên Facebook rằng Việt Nam “mặt dày” đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục tài trợ tiền bạc; và rằng công việc rà phá bom, mìn vốn là việc của Việt Nam, chứ chẳng nước nào có trách nhiệm làm giúp.

Trước hết, phải khẳng định rằng, việc phát triển mối quan hệ với Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây cũng là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế chung của thời đại và đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy...” được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Trong các cuộc trao đổi, tiếp xúc, lãnh đạo nước ta đã nhiều lần khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ hai nước theo hướng hợp tác cùng có lợi, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực cũng như thế giới. Tương tự, quan điểm của lãnh đạo cấp cao Hoa Kỳ cũng là mong muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và cam kết ủng hộ một Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”.

Việc Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện hồi tháng 9-2023 đã mở ra cơ hội để tiếp tục phát triển quan hệ hai nước trong các lĩnh vực còn nhiều tiềm năng như: Chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại-đầu tư, quốc phòng, an ninh, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, giao lưu nhân dân, văn hóa, năng lượng, môi trường, y tế... Trong đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn đặt thêm các cơ sở làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam.

Rõ ràng, nếu như Việt Nam không ổn định về chính trị-xã hội, nếu mối bang giao giữa hai nước không phát triển tốt đẹp thì chắc chắn các doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ không sẵn lòng đầu tư tiền của vào các dự án ở Việt Nam.

Đối với những vấn đề còn tồn tại sự khác biệt về quan điểm, chẳng hạn như nhân quyền, những năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trao đổi thẳng thắn thông qua các cơ chế đối thoại liên quan nhằm “giảm thiểu khác biệt”, dựa trên tinh thần xây dựng và những nguyên tắc được coi là nền tảng trong quan hệ song phương, đó là tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, khắc phục hậu quả chiến tranh vẫn là lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, thể hiện thông qua các hoạt động tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA); tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tin, mất tích; xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật ở Việt Nam. Các hoạt động này nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cả chính giới lẫn người dân hai nước, bởi góp phần giúp hai nước chữa lành vết thương chiến tranh trong quá khứ và thúc đẩy hòa giải, mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác.

Cũng chính vì vậy mà mới đây, 17 cựu Đại sứ Hoa Kỳ từng công tác tại Việt Nam, Lào và Campuchia đã cùng ký vào một bức thư ngỏ gửi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong đó đề nghị chính quyền của Tổng thống Donald Trump nối lại viện trợ cho các chương trình rà phá bom, mìn và vật liệu chưa nổ tại 3 quốc gia này. Các cựu Đại sứ Hoa Kỳ cũng khẳng định các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh mang lại lợi ích cho chính an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, bởi nó giảm nguy cơ phổ biến vật liệu nổ cho những kẻ xấu tiềm tàng có thể tái sử dụng vì mục đích bất chính, dẫn đến bạo lực hoặc bất ổn. Và nếu không được dọn sạch, bom, mìn và vật liệu chưa nổ còn đe dọa đến tính mạng của nhân viên Hoa Kỳ trong khu vực, nhà thầu và nhân viên cứu trợ.

Hơn thế nữa, chính quyền Hoa Kỳ thực tế chỉ mới “tạm dừng” các dự án viện trợ nước ngoài và đang trong quá trình đánh giá lại hiệu quả của mỗi dự án, chứ không phải dừng hẳn. Đồng thời, đây là chính sách được áp dụng trên phạm vi toàn cầu, với mọi dự án liên quan ở mọi quốc gia chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Việc các thế lực phản động lợi dụng vấn đề này để “chĩa mũi dùi” vào quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ thực chất chỉ là một chiêu trò chống phá lỗi thời và thiển cận.

Năm 2025 chứng kiến thêm một dấu mốc mới trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ khi hai nước kỷ niệm 30 năm bình thường hóa quan hệ. Sẽ ý nghĩa hơn nhiều khi trong thời điểm quan trọng này, giới lãnh đạo, người dân hai nước tiếp tục thể hiện sự ủng hộ và nỗ lực duy trì, thúc đẩy những lĩnh vực hợp tác vốn được coi là “xương sống” của quan hệ song phương. Cùng với đó, dư luận hai nước cần nhận thức đúng về thực trạng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ và kịp thời phản bác lại những luận điệu, hành động “chọc gậy bánh xe” nhằm phá hoại mối quan hệ đang phát triển và còn nhiều tiềm năng phát triển này.

Kịp thời thông tin chính thống, không để "lộng giả thành chân"

 

Một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là các thế lực phản động, thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị đăng rất nhiều thông tin sai trái, suy diễn, xuyên tạc, vu khống các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội nói riêng và đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung trên mạng xã hội; dẫn tới không ít người bị mắc bẫy “lộng giả thành chân”, dần mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

“Tranh giành quyền lực”, “đấu đá nội bộ”, “các phe nhóm thanh trừng nhau”... là những luận điệu các phần tử bất mãn và thế lực phản động tung ra nhiều nhất trên mạng xã hội. Lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta quyết liệt đấu tranh, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, công chức, doanh nhân có hành vi tham nhũng, tiêu cực, họ suy diễn, xuyên tạc rằng “đó chính là đấu đá nội bộ”, “thanh trừng nhau” (!)... Dù không có bất cứ bằng chứng thuyết phục nào để chứng minh nhưng những đối tượng bất mãn, phản động cứ liên tục và ngang nhiên suy diễn, rêu rao như vậy. Đáng tiếc, cơ quan chức năng không kịp thời đưa ra thông tin phản bác và làm rõ, làm cho một số cán bộ, đảng viên, nhất là những người dân không có đủ hiểu biết rơi vào trạng thái “bán tín bán nghi”, dần bị dao động tư tưởng; rồi đầu đường, góc chợ cứ xì xào bàn tán về những thông tin sai này.

Vấn đề “nóng” thứ hai mà các thế lực thù địch thường triệt để lợi dụng để tung tin xuyên tạc, vu khống là công tác cán bộ. Không cần chứng cớ, cứ mỗi khi có cán bộ cấp tỉnh, cấp cục trở lên được bổ nhiệm là họ ngang nhiên quy chụp cán bộ đó đã “chạy” mất rất nhiều tiền, hoặc “được nâng đỡ không trong sáng” vì đủ thứ lý do: Con cháu, họ hàng, cùng quê, cùng phe cánh... Họ moi móc, cố tìm những thông tin, chi tiết mà cán bộ được bổ nhiệm (hoặc người thân) có liên quan đến lãnh đạo cấp cao (thậm chí chỉ là cùng có mặt trong bức ảnh), rồi tùy tiện “phán” rằng: Được bổ nhiệm là vì chạy chọt, phe nhóm, thân quen (!)... Thông tin suy diễn, quy chụp này lâu nay ít ai phản bác công khai nên cứ lan truyền theo kiểu chia sẻ bí mật, rỉ tai, khiến nhiều người hiểu sai, từ đó phát sinh tư tưởng tiêu cực.

 

Việc tung tin “đấu đá nội bộ” còn được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng mỗi khi các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước. Dù các đối tượng chống phá thừa biết công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong hoạt động của hệ thống chính trị là việc bình thường, ở đất nước nào cũng như vậy nhưng họ vẫn cố tình "đẩy thành sự kiện", “chọc gậy bánh xe”, suy diễn và rêu rao rằng: Đã bị đối thủ đưa vào tầm ngắm nhằm tìm ra sai phạm để triệt hạ (!).

Vừa qua, khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành lập nhiều đoàn kiểm tra các tổ chức đảng về việc thực hiện các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy; chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng các cấp; về đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số... (theo kế hoạch kiểm tra năm 2025) thì một số trang mạng phản động ngang nhiên vu khống: Lại "tung đòn hiểm", lợi dụng kiểm tra để triệt hạ nhau (!), rồi quy chụp rằng phe nọ đang quyết liệt đánh phe kia trước đại hội nhằm tranh giành ghế (!)... Thế nhưng, những ai hiểu về công tác kiểm tra của Đảng sẽ biết việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức kiểm tra các tổ chức đảng như vậy là hết sức bình thường, là việc đương nhiên chứ không phải "đòn hiểm" nhằm triệt hạ ai. Thực tế các đoàn kiểm tra đã và đang tiến hành kiểm tra ở rất nhiều tổ chức đảng để nắm tình hình, đánh giá đúng ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm (nếu có); hướng dẫn, giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh; nhân rộng những mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả, bảo đảm các tổ chức đảng quán triệt đầy đủ, sâu sắc các chủ trương lớn của Đảng và triển khai thực hiện thống nhất theo đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra nhằm tạo sự bứt phá, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững; hoàn toàn không có những đấu đá, tiêu cực như các đối tượng phản động dựng chuyện.   

Việc các thế lực thù địch, phản động cố tình đăng những thông tin, hình ảnh, video clip đã bị cắt, ghép, chỉnh sửa hoặc đăng lại một số sự việc xảy ra từ lâu lên mạng xã hội nhằm bôi xấu cán bộ và chế độ ta cũng là thực trạng rất đáng báo động, bởi không ít người tưởng đó là sự thật, dẫn đến bức xúc và dần "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Thực tế đã có khá nhiều cán bộ bị chúng cắt gọt phát ngôn hoặc đưa hình ảnh, lời nói vào một bối cảnh hoàn toàn khác, khiến mọi người hiểu sai và bất bình. Những trường hợp như vậy rất cần đăng thông tin phản bác kịp thời để nhân dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng phản động.

Người Tây Ban Nha có ngạn ngữ nổi tiếng: Chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi, nhằm khuyên mọi người đừng để ý đến những kẻ phá đám, "chọc gậy bánh xe", cứ tiến theo con đường đúng đắn mà mình đã lựa chọn; sự thật vẫn mãi là sự thật, không ai có thể phủ nhận, xuyên tạc. Thế nhưng, người xưa cũng đúc rút rằng "lộng giả thành chân" (đại ý là: Thông tin sai nhưng nói mãi thì cũng khiến người nghe tin là thật). Các đối tượng bất mãn, phản động, cơ hội chính trị đã và đang triệt để lợi dụng "lộng giả thành chân" nhằm thực hiện những âm mưu thấp hèn, đen tối.

Bởi thế, bên cạnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân để có khả năng nhận rõ thật-giả, đúng-sai thì chúng ta phải kịp thời đấu tranh, phê phán, phản bác những thông tin sai trái, phản động; cung cấp thông tin chính thống để kẻ xấu không thể xuyên tạc, quy chụp, vu khống nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta. Đây cần được coi là biện pháp quan trọng hàng đầu trong công tác phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", vì nếu chúng ta chỉ bóc gỡ những thông tin sai sự thật mà không kịp thời phản bác, chứng minh cho người dân biết đó là thông tin sai thì các thế lực thù địch lại rêu rao rằng đó là thông tin đúng, chúng ta "sợ sự thật" nên phải tìm cách gỡ bỏ. Như vậy, những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin sẽ một lần nữa bị "sập bẫy" tin giả của chúng. 

Kịp thời cung cấp thông tin chính thống là cách tốt nhất để định hướng dư luận, chống "lộng giả thành chân", không để các đối tượng phản động, bất mãn, thù địch có cơ hội lợi dụng tung tin "bẩn" chống phá nhằm thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".   

GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH

Nhiều người cho rằng điều kiện sống của Việt Nam chưa tốt nên cố gắng để sang nước ngoài để được sống trong môi trường thuận lợi, phát triển hơn và thậm chí có những người tìm mọi cách để “xuất khẩu” ra nước ngoài kể cả phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân, chống phá đất nước. Vâng đó là quan điểm riêng của họ, tôi cũng chẳng quan tâm.

        Theo quan điểm cá nhân tôi thấy rằng tôi cảm thấy thật may mắn và hạnh phúc khi được sinh ra, lớn lên ở Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia hòa bình, ổn định về chính trị và an toàn, hạnh phúc. Khi dịch bệnh, thiên tai xảy ra, chính quyền lo cho dân, luôn đặt lợi ích và tính mạng của nhân dân lên trên hết và trước tiên, không bỏ nhân dân trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

        Việt Nam từng trải qua hàng trăm, hàng nghìn cuộc chiến lớn nhỏ nên chúng tôi hiểu được giá trị của hòa bình, giá trị của sự bình an, an toàn của đất nước. Hãy nhìn vào cuộc xung đột Nga - Ukraine có thể thấy, người dân các quốc gia là người chịu thiệt thòi trực tiếp.

Với chiến lược ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc g


ia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.

        Việt Nam luôn cố gắng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của quốc gia, dân tộc… Những quốc gia nào đã trải qua chiến tranh, nội chiến sẽ hiểu được giá trị của hòa bình, ổn định nó quý giá như thế nào. Thời điểm hiện tại, Việt Nam đã và đang làm rất tốt và niềm tin của người dân vào chính quyền vào thể chế chính trị ngày càng tăng./.

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

Tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết và nghiêm túc thực hiện theo nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị luôn xuyên tạc thực tế đó nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Như thường lệ, nhân Ngày Tự do Báo chí thế giới (03/5) năm nay, Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) đã đăng tải cái gọi là “Chỉ số tự do báo chí Thế giới năm 2024”; trong đó, xếp Việt Nam đứng thứ 174/180 quốc gia, kèm theo vô số những lời “bình luận”, như: “Việt Nam vẫn là quốc gia “tồi tệ nhất” về tự do báo chí”, “Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới”, v.v.