Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỘT PHÁ VỀ TỔ CHỨC, BIÊN CHẾ, XÂY DỰNG CHÍNH QUY, CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT, KỶ LUẬT TRONG QUÂN ĐỘI.

     Trong nhiệm kỳ Đại hội XI, Đảng bộ Quân đội đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân thực hiện quyết liệt, đồng bộ các khâu đột phá về tổ chức biên chế, xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật. Kết quả đạt được không chỉ phản ánh bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng bộ Quân đội, mà còn là minh chứng sống động cho tinh thần kế thừa truyền thống “kỷ luật là sức mạnh của Quân đội” và sự thích ứng hiệu quả với các chủ trương đổi mới lớn của Đảng, đặc biệt là tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đột phá toàn diện, chuyển động mạnh mẽ trong xây dựng Quân đội

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là một bộ phận trọng yếu, đặc biệt của hệ thống chính trị, tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, có tổ chức chặt chẽ từ trên xuống dưới. Việc sắp xếp tổ chức biên chế tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động không chỉ là yêu cầu nội tại của công cuộc xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, mà còn là trách nhiệm chính trị trong việc hiện thực hóa các nghị quyết của Trung ương, góp phần vào công cuộc đổi mới hệ thống chính trị quốc gia.

Với tinh thần đó, trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ Quân đội đã xác định rõ chủ trương, định hướng, chỉ đạo cụ thể, triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, bài bản, sát với đặc thù của từng cơ quan, đơn vị và lực lượng. Nổi bật là việc tổ chức lại các đơn vị theo hướng tinh gọn đầu mối, giảm khâu trung gian, xóa bỏ sự chồng chéo chức năng; tăng cường giao nhiệm vụ cho cơ sở; phân quyền rõ ràng, minh bạch; điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, trọng tâm là xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật.

Một trong những điểm nhấn nổi bật của nhiệm kỳ là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tổ chức tổng kết, đánh giá thực chất thực trạng tổ chức biên chế của toàn quân, làm rõ nguyên nhân, từ đó xác định trọng tâm, trọng điểm để thực hiện điều chỉnh về tổ chức biên chế đúng chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Quá trình sắp xếp tổ chức biên chế không làm suy giảm sức mạnh chiến đấu mà ngược lại, nâng cao hiệu quả phối hợp, chỉ huy điều hành, tiết kiệm nguồn lực, giảm thủ tục hành chính, nâng cao hiệu suất hoạt động.

Nhiều mô hình tổ chức mới, biên chế mới đã được triển khai đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, phù hợp với mô hình thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Để đáp ứng yêu cầu mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo các học viện, nhà trường đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng sát thực tế chiến đấu, giảm lý thuyết, tăng thực hành và đưa nhiều nội dung huấn luyện mới vào đào tạo, như ch.uyển đ.ổi s.ố, chiến tranh mạng, tác chiến không gian mạng... Đặc biệt, việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương Quân đội được đặt ở vị trí trung tâm trong công cuộc xây dựng chính quy. Đảng bộ Quân đội đã phát huy tinh thần “tự soi, tự sửa”, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị, nâng cao ý thức pháp luật với việc tăng cường kiểm tra, giám sát. Hàng loạt cuộc kiểm tra đột xuất, chuyên đề được tiến hành nghiêm túc, công khai, minh bạch, xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Thống kê cho thấy, số vụ việc vi phạm kỷ luật, pháp luật trong toàn quân giảm theo từng năm. Tình hình tư tưởng cán bộ, chiến sĩ ổn định. Tỷ lệ đơn vị an toàn về mọi mặt không ngừng tăng. Phong trào Thi đua Quyết thắng được đẩy mạnh gắn với rèn luyện kỷ luật và xây dựng chính quy. Đó chính là những thước đo cụ thể cho hiệu quả của các đột phá trong lĩnh vực này.

Thể hiện bản lĩnh chính trị và tư duy chiến lược

Đột phá về tổ chức biên chế, xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật không chỉ là yêu cầu nội bộ của Quân đội mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội đối với nhiệm vụ then chốt là xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị-yếu tố nền tảng, xuyên suốt và quyết định nhất của mọi nhiệm vụ quân sự.

Sự thành công của những đột phá này là kết quả của quá trình quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Nghị quyết Đại hội XI của Đảng bộ Quân đội, các nghị quyết chuyên đề của Quân ủy Trung ương về tổ chức biên chế, xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật; đồng thời vận dụng sáng tạo, linh hoạt những mô hình của các nước tiên tiến trong khuôn khổ phù hợp với đặc điểm QĐND Việt Nam; sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, Quân đội vừa phải bảo đảm sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, vừa là lực lượng nòng cốt trong xây dựng khu vực phòng thủ, phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và "phi chính trị hóa" Quân đội. Áp lực nhiệm vụ đòi hỏi tổ chức biên chế, cơ cấu lực lượng phải tinh gọn, linh hoạt, cơ động, sẵn sàng xử trí các tình huống đa dạng, bất ngờ. Thực tiễn cho thấy, nhờ thực hiện tốt các khâu đột phá, Quân đội đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị mà còn thực hiện hiệu quả nhiều nhiệm vụ, như tham gia phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các địa phương phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, giữ vững trận địa tư tưởng trên không gian mạng...

Vì mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại

Những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ qua là tiền đề vững chắc để Quân đội tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng tổ chức biên chế, xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật trong thời gian tới. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, tiếp tục coi đây là những khâu then chốt, có ý nghĩa chiến lược, vì mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Theo đó, toàn quân tiếp tục rà soát, hoàn thiện tổ chức biên chế phù hợp với mô hình tổ chức mới, nhất là việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin, t.rí t.uệ nh.ân t.ạo trong công tác quản lý quân nhân, quản lý huấn luyện-đào tạo, quản lý và điều hành đơn vị; nâng cao năng lực quản lý nhà nước về quốc phòng trong toàn hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thực sự gương mẫu, có bản lĩnh, trí tuệ, trách nhiệm, tiên phong trong đổi mới và xây dựng chính quy. Phát huy vai trò của tổ chức đảng, của cán bộ chủ trì trong việc xây dựng môi trường văn hóa quân sự mẫu mực, lành mạnh; đề cao kỷ cương, kỷ luật như một giá trị cốt lõi; xây dựng động lực từ chính nội bộ, từ tinh thần tự giác, từ sự gắn bó máu thịt giữa quân với dân, giữa chiến sĩ với tổ chức.

Với truyền thống vẻ vang hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, với kết quả và kinh nghiệm có được trong nhiệm kỳ 2020-2025, QĐND Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trong thời kỳ mới. Trong đó, nền tảng tổ chức biên chế tinh gọn, phù hợp, kỷ luật nghiêm minh, chính quy mẫu mực, là những yếu tố bảo đảm cho sức mạnh tổng hợp và sự phát triển bền vững của QĐND Việt Nam. Thành tựu trong thực hiện các đột phá về tổ chức biên chế, xây dựng chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật trong nhiệm kỳ qua là minh chứng sinh động cho năng lực tự điều chỉnh, tự hoàn thiện của một quân đội cách mạng trong điều kiện mới. QĐND Việt Nam đã chứng tỏ bản lĩnh chính trị vững vàng, tính tổ chức, tính kỷ luật cao độ, gắn bó mật thiết với nhân dân và sự thích ứng nhạy bén với yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trước mắt vẫn còn không ít khó khăn, thách thức. Một số khâu trong tổ chức biên chế vẫn còn bất cập, chồng chéo chức năng; tình trạng vi phạm pháp luật, kỷ luật tuy giảm nhưng chưa thật bền vững; việc xây dựng nền nếp chính quy ở một số đơn vị chưa đồng đều. Điều đó đòi hỏi toàn Đảng bộ Quân đội và mỗi cán bộ, chiến sĩ cần tiếp tục phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là vai trò nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp trong tổ chức thực hiện.

Bước vào nhiệm kỳ mới, cùng với việc thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần xác định rõ: Tổ chức biên chế hợp lý là điều kiện; xây dựng chính quy là phương pháp; chấp hành pháp luật, kỷ luật là thước đo phẩm chất người quân nhân cách mạng. Mỗi khâu, mỗi việc đều gắn chặt với nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện./.
Yêu nước ST.

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: NHÂN VĂN VỚI C.Â.Y R.O.I TRONG TAY!

     Vụ việc nam sinh lớp 7 trường THCS Đại Kim, phường Định Công, Hà Nội hành hung cô giáo gây bức xúc rất lớn. Nhiều ý kiến cho rằng cần mạnh tay, đưa trường hợp này vào trại giáo dưỡng.

Luật giáo dục sửa đổi không có hướng dẫn nào về việc đưa học sinh vào trường giáo dưỡng. Lý do đơn giản, nếu có thì xung đột với các luật khác.

Với trường hợp nam sinh này, để đưa cậu ta vào trường giáo dưỡng, cơ quan điều tra phải vào việc. Sau khi hoàn tất hồ sơ, gửi sang Viện kiểm sát để nghiên cứu xem có truy tố hay là sử dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Trong áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng này có phần đưa vào trại giáo dưỡng.

Như vậy, cần một trình tự pháp lý, đặc biệt phức tạp vì đây là trẻ vị thành niên nên chắc chắn phải áp dụng nhiều Bộ luật, Luật như cả Luật tư pháp người chưa thành niên 2024 lẫn Luật trẻ em…

Kết quả, cậu nam sinh có thể bị xử lý chuyển hướng tùy theo mức độ vi phạm và quy định của pháp luật. Khả năng cao là vào trường giáo dưỡng nếu so sánh hành vi cậu ta nắm đầu cô giáo ấn xuống và sau đó là đè, khống chế cô giáo dưới sàn lớp học với những hành vi “đi tìm bố” gần đây trên mạng.

Vào trường giáo dưỡng, có chắc là cuộc đời cậu ta sẽ thay đổi tích cực hơn hay không? Không ai dám trả lời.

Nhưng có một thứ chúng ta có thể trả lời. Nếu giáo viên được cấp cái r.o.i m.â.y và có quyền (bằng quy định văn bản pháp quy cụ thể) q.uất cho năm roi tét đ.í.t ngay khi cậu vừa có ý định bật lại giáo viên trong lớp, chắc chắn sự việc không xảy ra như trong video.

Giáo dục khai phóng với nhân văn ở đâu không biết nhưng ở một đất nước Á Đông, trẻ con mà hỗn láo, láo nháo với cha mẹ, thầy cô giáo thì nên ăn cái r.o.i vào đ.í.t. Có r.o.i vào đ.í.t không làm mất danh dự của một đứa trẻ chưa biết tôn trọng danh dự của chính bản thân, của chính gia đình và của chính thầy cô là gì. Nhưng có r.o.i vào đ.í.t, rất có thể đứa trẻ ấy sẽ không lệch đường ray cuộc đời để từ trường phổ thông vào trường giáo dưỡng.

Cách duy nhất lúc này để nhân văn đúng nghĩa là cơ quan điều tra vào cuộc và cho đứa trẻ cũng như gia đình nó nhận thức rõ hậu quả của hành vi, đồng thời cảnh tỉnh đám trẻ đang chưa ý thức được kết cục của bạo lực học đường sẽ là gì. Sau đó, chính cô giáo gửi đơn xin bãi nại, thậm chí bảo lãnh, để nó từ lòng biết ơn mà nuôi dưỡng sự kính trọng đối với cô giáo, thầy giáo của mình.

Và tôi tin, chân thành tìm được chân thành, cô giáo chắc chắn sẽ làm điều đó.

Nhân tiện, có ai biết kết cục của những đứa học sinh vị thành niên hành hung bạn suốt thời gian qua thế nào thì góp ý kiến vào bình luận. Các cháu có thay đổi tích cực không? Hay có cháu lại “rất hiền trong lớp” nhưng vừa ra đầu phố đã túm cổ bạn v.ả cho không trượt phát nào và chẳng qua là vẫn chưa bị quay video tung lên mạng thôi?

Ai nói gì thì nói, tôi vẫn ủng hộ giáo dục là phải có tôn nghiêm. Thầy giáo nên phải có cái roi trong tay mới giữ được cái tôn nghiêm của nơi “tiên học lễ, hậu học văn”./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CẤP GIẤY XÁC NHẬN HOÀN THÀNH THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CHO ÔNG TRỊNH VĂN QUYẾT!

     Theo nguồn tin của phóng viên Dân trí, Thi hành án dân sự TP Hà Nội vừa cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án cho ông Trịnh Văn Quyết, cựu Chủ tịch Tập đoàn FLC, và hai em gái là Trịnh Thị Minh Huế (cựu cán bộ Ban Kế toán - Tập đoàn FLC), Trịnh Thị Thúy Nga (cựu Phó Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán BOS).

Giấy xác nhận cho thấy tính đến giữa tháng 8 vừa qua, ông Trịnh Văn Quyết đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, nộp phạt số tiền 4 tỷ đồng, khoản tiền liên đới án phí dân sự sơ thẩm trên 1,466 tỷ đồng, tự nguyện sung công quỹ nhà nước gần 9,6 tỷ đồng.

Ông Quyết và hai em gái cũng được xác nhận đã nộp xong khoản tiền trên 684 tỷ đồng liên đới truy nộp sung công quỹ nhà nước, hưởng lợi bất chính từ hành vi thao túng thị trường chứng khoán.

Tại giấy xác nhận, Thi hành án dân sự TP Hà Nội nêu thông tin về các biên lai nộp tiền của 3 anh em ông Trịnh Văn Quyết cho các khoản nêu trên.

Ngoài ra, khoản tiền trên 1.783 tỷ đồng bồi thường cho 27.881 bị hại cũng đã được gia đình ông Trịnh Văn Quyết nộp đầy đủ. Tuy nhiên, cơ quan thi hành án không thấy gia đình ông Quyết xin cấp giấy xác nhận đã hoàn tất thi hành án với số tiền này.

“Có thể gia đình họ sẽ sử dụng các biên lai nộp đầy đủ số tiền này tại cơ quan thi hành án dân sự để nộp cho cơ quan quản lý trại giam, cơ quan thi hành án hình sự”, nguồn tin cho hay.

Giấy xác nhận hoàn tất thi hành án dân sự được coi là một trong những điều kiện cần thiết để xem xét đến việc giảm án tù sau này.

Thi hành án dân sự TP Hà Nội cho biết, ông Trịnh Văn Quyết và em gái đã nộp đủ tiền đảm bảo thi hành án đối với toàn bộ nghĩa vụ thi hành án dân sự trong vụ án.

Ông Quyết bị khởi tố vào tháng 3/2022. Cuối tháng 6 vừa qua, hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên phạt bị cáo Trịnh Văn Quyết tổng hình phạt 7 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, áp dụng hình phạt tiền đối với tội Thao túng thị trường chứng khoán - so với án sơ thẩm ông Quyết được giảm 14 năm tù./.
Môi trường ST.

XIN ĐỪNG TRAO TRỨNG CHO ÁC!

     Dù công lao Bộ Giáo dục vô cùng to lớn nhưng nhìn vào mảng tối, lãnh đạo Bộ Giáo Dục, Đảng ủy Chính phủ cần tham khảo bài viết này để xem xét lỗ hổng nền tảng tư tưởng nền giáo dục thời gian qua, khi một loạt giảng viên như Nguyễn Đình Cống (Đại học xây dựng), Nguyễn Hoàng Anh (Đại học Ngoại thương), Nguyễn Ngọc Chu (Đại học QGHN), Châu Minh Hùng (Đại học Quy Nhơn) và Đỗ Ngọc Thống (Vụ trưởng THPT, Bộ GD&ĐT - thành viên biên soạn SGK) Trần Đình Sử, Chủ biên sách giáo khoa các bậc học), Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên sách Cánh Diều... Tại sao các ông lại đánh mất tát cả??? Xem xét cụ thể như thế này:
Thưa các bạn! 40 năm qua, nền Giáo dục - Đào tạo (GD&ĐT) nước ta đã phải trải qua rất nhiều quanh co, trắc trở, khó khăn, trì trệ, do những thiết chế về quản lý, vận hành không phù hợp, hiệu quả kém, chất lượng không tương xứng với tiềm năng và sự đầu tư, trong đó có hệ lụy từ việc biên tập, xuất bản sách giáo khoa không đồng bộ, thiếu thống nhất, xa rời thực tiễn.

 Kể từ năm 1982 đến 2025, ngành GD&ĐT liên tục thay đổi phương thức quản lý, điều hành, nội dung giảng dạy và thay đổi sách giáo khoa; một học sinh qua 12 năm học (từ lớp 1 đến lớp 12), mà phải vài lần thay đổi sách giáo khoa, vài lần thay đổi quan niệm học tập, thì không thể tránh được hệ lụy xấu.

Bức xúc nhất là việc liên tục thay sách giáo khoa, cứ tưởng rằng cái sau tốt hơn cái trước, nhưng sự thực không được như vậy, chỉ đem lại lợi ích cho các nhóm mà thôi. Năm 2020 Bộ GD&ĐT lại chọn những người "có vấn đề về quan điểm chính trị" là ông Nguyễn Minh Thuyết làm Chủ biên - Tổng chủ biên, ông Trần Đình Sử làm Chủ tịch hội đồng thẩm định, để cho họ xuất bản, rồi đưa bộ sách giáo khoa Cánh Diều đầy tai tiếng vào sử dụng.

Chúng tai ai cũng biết, ông Nguyễn Minh Thuyết và ông Trần Đình Sử là những thành viên trong "Nhóm 72" phản đối thể chế đơn Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN, đòi đa Đảng đối lập, đa nguyên chính trị. Năm 2021, ông Trần Đình Sử thể hiện sự chống đối lãnh đạo của Đảng CSVN rất kịch liệt: Trong một bài phát biểu, Tổng bí thư Nguyễn Phú trọng nói "…Tiềm lực, tiền đồ, vị thế và uy tín của dân tộc, của đất nước ta chưa bao giờ tươi đẹp, vẻ vang như hôm nay…". Thì vài hôm sau ông Trần Đình Sử lên facebook viết dòng trạng thái "…Trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam, chưa có chế độ chính trị nào thối nát như chế độ chính trị hiện nay…". 

Vì có quan điểm chính trị trái ngược với Đảng, Nhà nước ta, nên các bài trong sách giáo khoa Ngữ văn tiếng Việt do ông Thuyết chủ biên, ông Sử thẩm định, đưa vào giảng dạy, không có bài nào ca ngợi chế độ ưu việt XHCN, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước vẻ vang, không có bài nào ca ngợi Đảng CSVN, ca ngợi QĐND và CAND, không ca ngợi những thành tựu lớn lao của toàn Đảng toàn dân toàn quân ta giành được; mà toàn đem những truyện ngụ ngôn xa lạ của nước ngoài, nhất là của châu Âu vào in ấn, giảng dạy. Sách giáo khoa ngữ văn Cánh Diều của ông Thuyết, ông Sử góp phần làm cho thế hệ trẻ xa rời lý tưởng, sống thực dụng, phai nhạt truyền thống… bị cộng đồng xã hội phản ứng, phê phán gay gắt.

Nhận rõ tác hại của sự việc trên, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã có ý kiến chỉ đạo Bộ GD&ĐT phải nghiêm túc rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, sửa đổi việc biên tập, xuất bản sách giáo khoa cho phù hợp. 

Đến nay Đảng, Chính phủ có chủ trương cả nước chỉ biên tập, xuất bản 1 bộ sách giáo khoa thống nhất, đảm bảo chuẩn mực, chất lượng; đây là quan điểm đúng đắn. Đề nghị Chính phủ, Bộ GD&ĐT cần phải chọn mặt gửi vàng, tiến cử những chuyên gia có tầm, có tâm, mang trong trái tim bầu nhiệt huyết cách mạng, truyền vào sách giáo khoa, để trao cho thế hệ trẻ, đem đến cho các cháu học sinh không chỉ kiến thức mà còn nuôi dưỡng, hun đúc cho các cháu lý tưởng, hoài bão, tình yêu cuộc sống, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu Đảng, yêu kính Bác Hồ, niềm tự hào dân tộc; biết phấn đấu, cống hiến, hy sinh./.
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHIẾN THẮNG NHIỀU Ý NGHĨA!

     Chiến thắng Thuận Ninh ngày 18-9-1965 là chiến công vang dội ở chiến trường khu 5 dưới sự phối hợp tác chiến hiệu quả của Sư đoàn 3 - Sao Vàng với quân và dân địa phương.

Sau khi Sư đoàn 3 Sao Vàng thành lập hơn nửa tháng, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 2 được lệnh từ căn cứ Hoài Ân bí mật hành quân vào Thuận Ninh luyện quân chuẩn bị cho những trận đánh lớn. “Đánh hơi” việc di chuyển đội hình của Sư đoàn 3, quân Mỹ đã bất ngờ đổ quân đánh vào Thuận Ninh.

Đúng 5 giờ 30 phút sáng 18-9-1965, hàng chục lượt máy bay phản lực của địch bất ngờ dội bom ào ạt xuống thung lũng Thuận Ninh; cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 cùng quân địa phương khẩn trương đưa dân xuống các hầm trú ẩn và giao thông hào. Tiếng bom vừa dứt, hàng chục trực thăng vũ trang xối xả bắn rốc két và trọng liên vào các lùm cây, mô đất còn sót lại.

Được pháo binh yểm trợ, 6 giờ 30 phút cùng ngày, 60 trực thăng ập tới đổ 2.000 lính dù Mỹ xuống các đồi gò và bãi bằng trong thung lũng Thuận Ninh. Địch triển khai đội hình với ý định bao vây tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 2 của Sư đoàn 3.

Vào thời điểm ấy, ngoài lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực Quân khu đang đóng ở Thuận Ninh chỉ có Tiểu đoàn 2. Tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía địch. Mặc dù ít hơn về số lượng, kém hơn về hỏa lực và trang bị nhưng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 đã sát cánh cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích triệt để lợi dụng địa hình, phân tán thành các phân đội nhỏ chặn đánh địch quyết liệt.

Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt từ sáng đến tận chiều tối, quân ta vẫn giữ vững trận địa. Hoàn toàn bất ngờ trước tinh thần chiến đấu ngoan cường và những đòn đánh trả sấm sét của ta, quân Mỹ buộc phải rút lui với những tổn thất nặng nề: 200 lính Mỹ chết, 11 máy bay bị bắn rơi...

Chiến dịch hành quân đánh vào hậu cứ Thuận Ninh của địch hoàn toàn thất bại. Sau cuộc hành quân này, phía Mỹ đã phải thừa nhận: “Quân giải phóng và du kích ở thung lũng Thuận Ninh đánh rất giỏi, được tổ chức tốt và có kỷ luật cao”.

Chiến thắng Thuận Ninh là trận thắng Mỹ đầu tiên của quân và dân huyện Bình Khê, đồng thời cũng là chiến thắng to lớn của quân và dân tỉnh Bình Định, góp phần quan trọng vào phong trào kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng cả nước làm nên đại thắng mùa Xuân 1975. Chiến thắng ấy cũng đã khẳng định: Dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất, ý chí quật cường và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc luôn là vũ khí bất khả chiến bại.

Ảnh 1: Khu tưởng niệm liệt sĩ Thuận Ninh

Ảnh 2: Bia di tích lịch sử Chiến thắng Thuận Ninh

Ảnh 3: Khu tưởng niệm là nơi để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc

Ảnh 4: Các đại biểu Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Bình Hiệp (Gia Lai) tham dự lễ dâng hoa, dâng hương tại Khu di tích lịch sử Chiến thắng Thuận Ninh./.



Yêu nước ST.

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2025

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: “BÀ BÌNH NÓI THÌ TÔI TIN”🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳 🇻🇳

     Trong dòng chảy lịch sử ngoại giao thế giới thế kỷ XX, nơi những cuộc đối đầu quyền lực thường được định đoạt bởi sức mạnh quân sự và những toan tính địa chính trị, đã nổi lên một phong cách đối ngoại độc đáo, mang sức mạnh phi thường nhưng lại bắt nguồn từ những giá trị nhân văn sâu sắc.

Đó chính là phong cách của bà Nguyễn Thị Bình – nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, người phụ nữ nhỏ nhắn đối diện với một siêu cường trong cuộc đàm phán dài nhất lịch sử.

Phân tích phong cách của bà, người ta nhận ra đó không đơn thuần là kỹ thuật hay sách lược, mà là một phương châm hành động, có thể được định danh là “Ngoại giao tâm công” – nghệ thuật chinh phục lòng người bằng sự chân thành, lấy sức mạnh của chính nghĩa làm nền tảng, lấy tình người làm vũ khí, và lấy sự kiên định về nguyên tắc kết hợp với sự mềm dẻo khôn ngoan trong ứng xử để đạt được mục tiêu cuối cùng.

**
*
🤝 Nền tảng triết lý ngoại giao nhân dân - con người đến với con người, trái tim đến với trái tim:

Điểm khởi đầu và cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp ngoại giao của bà Nguyễn Thị Bình chính là triết lý ngoại giao nhân dân. 

Bà không định nghĩa nó bằng những thuật ngữ học thuật phức tạp, mà bằng một câu nói giản dị, mộc mạc nhưng chứa đựng một sức mạnh to lớn: "con người đến với con người, trái tim đến với trái tim". 

Đây không phải là một chiêu bài chiến thuật, mà là một niềm tin sâu sắc được hun đúc từ chính cuộc đời bà, từ những năm tháng hoạt động trong lòng dân, từ sự thấu hiểu rằng cuộc đấu tranh của Việt Nam chỉ có thể thắng lợi khi nó chạm được vào lương tri của nhân loại. 

Bà đã biến mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi chuyến công du thành một cơ hội để "đem bạn bè về cho dân tộc", xây dựng một mặt trận quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử.

Sức mạnh của phương pháp này nằm ở khả năng siêu việt, vượt qua những bức tường thành ý thức hệ, những khác biệt chính trị và văn hóa để kết nối ở tầng sâu nhất của tình người. 

Khi bà đến với thế giới, bà không chỉ là một chính khách mang theo những tuyên bố chính trị. 

Bà là hiện thân của một dân tộc đang lầm than dưới bom đạn nhưng không hề khuất phục, một dân tộc nhỏ bé dám đương đầu với một đế quốc khổng lồ không chỉ bằng vũ khí mà còn bằng phẩm giá và khát vọng hòa bình. 

Khi bà nói với bạn bè quốc tế rằng nhân dân miền Nam Việt Nam "không có nguyện vọng nào khác là được sống trong hòa bình, một cuộc sống bình thường như mọi người trên trái đất", những lời lẽ chân thành ấy có sức nặng hơn vạn lời hùng biện. 

Nó đã chinh phục lòng tin và cảm xúc của người nghe, từ những người dân bình thường cho đến các nguyên thủ quốc gia, khiến họ tin vào chính nghĩa của Việt Nam. 

Như lời khẳng định đầy uy tín của họ, "Bà Bình nói thì tôi tin!", chính là bảo chứng vàng cho sự thành công của nghệ thuật ngoại giao tâm công này.

Bà vận dụng triết lý này một cách tài tình và sáng tạo. 

Tại Indonesia, bà đã được Tổng thống Sukarno và nhiều bộ trưởng đón tiếp trọng thể như một phái đoàn chính phủ, dù lúc đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng chưa phải là một nhà nước chính thức. 

Tại Algérie, nơi người dân gọi Việt Nam là "anh", là "chị", là người dẫn đường cho cuộc đấu tranh giành độc lập của chính họ, bà được Tổng thống Boumédienne và Ngoại trưởng Bouteflika coi là bạn thân, dành cho bà một biệt thự riêng và gọi đó là "Biệt thự bà Bình". 

Tại Thụy Điển, bà đã vô cùng xúc động khi được chào đón bởi hai hàng thanh niên cầm cờ Mặt trận và hát vang bài Giải phóng miền Nam bằng tiếng Thụy Điển. 

Họ tự hào gọi mình là "Việt cộng Thụy Điển". 

Đó không chỉ là sự ủng hộ chính trị, đó là sự đồng cảm, sự hòa quyện của những trái tim cùng chung nhịp đập vì tự do và công lý. 

Ngay cả với những người bạn Mỹ trong phong trào phản chiến, dù ban đầu có chút ấn tượng không tốt về vẻ ngoài của họ, bà đã nhanh chóng nhận ra trái tim quả cảm và tình yêu hòa bình của họ, xây dựng một mối liên kết bền chặt, biến họ thành những đồng minh quan trọng ngay trong lòng đối phương.

**
*
🤝 "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" - nghệ thuật của bức tường thép và dòng nước mềm mại

Nếu ngoại giao nhân dân là tâm pháp, là triết lý nền tảng, thì "dĩ bất biến ứng vạn biến" - lời dặn dò quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh - chính là khẩu quyết hành động, là phương pháp luận cốt lõi trong thực tiễn đàm phán của bà. 

Phong cách của bà là sự kết hợp bậc thầy giữa một "bức tường thép" về nguyên tắc và một "dòng nước mềm mại" về sách lược, tạo nên một thế trận ngoại giao vừa vững chắc vừa linh hoạt, khiến đối phương vừa không thể lay chuyển, vừa khó lòng nắm bắt.

"Dĩ bất biến" trước những vấn đề cốt tử, thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và danh dự dân tộc. 

Đây là những giới hạn đỏ không bao giờ được phép vượt qua. Lập trường này được thể hiện rõ ràng và nhất quán: 

Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn chiến tranh xâm lược, phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam một cách vô điều kiện, và phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) là một bên đàm phán bình đẳng, đại diện hợp pháp, chân chính của nhân dân miền Nam. 

Suốt gần 5 năm ròng rã tại Paris, trong khi phía Mỹ thay đến 5 đời trưởng đoàn, lập trường cốt lõi này của bà và hai phái đoàn Việt Nam - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - không hề thay đổi một ly. 

Sự kiên định này thể hiện ý chí sắt đá của cả một dân tộc về nền độc lập, tự do, về chính nghĩa và lẽ phải cần phải được tôn trọng và bảo vệ đến cùng.

"Ứng vạn biến" là sự linh hoạt, sáng tạo và khôn ngoan đến tài tình trong từng bước đi sách lược, biến bàn đàm phán thành một mặt trận chủ động. 

Đỉnh cao của nghệ thuật "ứng vạn biến" là việc chủ động tung ra các "cuộc tấn công ngoại giao" vào những thời điểm then chốt. 

Thay vì bị động phản ứng, bà và phái đoàn liên tiếp đưa ra các sáng kiến hòa bình, từ giải pháp 10 điểm (tháng 5/1969), đến tuyên bố 8 điểm (tháng 9/1970), rồi 2 điểm làm rõ thêm (tháng 1/1972), và đặc biệt là kế hoạch 7 điểm nổi tiếng vào ngày 1/7/1971. 

Sáng kiến 7 điểm được coi là một "cuộc tiến công Tết Mậu Thân" về ngoại giao, khi ta chủ động tách vấn đề quân sự (Mỹ rút quân đi đôi với việc thả tù binh) ra khỏi vấn đề chính trị ở miền Nam (để các bên Việt Nam tự giải quyết). 

Đây là một bước đi chiến lược vô cùng khôn khéo, được bà miêu tả là "mềm dẻo lại chính là tấn công". 

Nó đã gây chấn động mạnh mẽ, được dư luận thế giới và nhiều chính phủ hoan nghênh, đẩy chính quyền Nixon vào thế bị động, lúng túng, đồng thời vạch trần sự ngoan cố của chính quyền Sài Gòn. 

Bà hiểu rằng, trong ngoại giao, sự chủ động đưa ra các giải pháp hợp tình hợp lý chính là cách hiệu quả nhất để nắm giữ thế trận, cô lập đối phương và tranh thủ sự đồng tình của cộng đồng quốc tế.

**
*
🤝 Dấu ấn cá nhân - sự hòa quyện giữa khí phách, trí tuệ và sự giản dị

Một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh không thể lý giải chỉ bằng lý thuyết chính trị trong phong cách của Nguyễn Thị Bình chính là con người bà. 

Bà chinh phục lòng người bằng chính sự giản dị, chân thành, trí tuệ sắc sảo và một khí phách cương trực ẩn sau vẻ ngoài nhỏ nhắn, khiêm nhường của một người phụ nữ Việt Nam.

Hình ảnh của bà tại Paris đã trở thành một biểu tượng độc đáo và mạnh mẽ. 

Thay vì một "chiến binh đằng đằng sát khí", thế giới lại thấy một Việt Nam đang trong khói lửa chiến tranh được đại diện bởi "một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng". 

Sự tương phản này tự nó đã mang một thông điệp mạnh mẽ, làm phá sản mọi luận điệu tuyên truyền của đối phương về một "Việt cộng" hiếu chiến. 

Các nhà báo quốc tế, ban đầu có thể đến với sự tò mò, thậm chí soi mói, nhưng rồi nhanh chóng bị chinh phục bởi phong thái điềm đạm, tự tin và hòa nhã nhưng dứt khoát của bà. 

Trong những cuộc họp báo với hàng trăm nhà báo sừng sỏ, bà dù "thầm lo" nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra "bình tĩnh, điềm đạm". 

Khi được hỏi những câu hóc búa, như câu hỏi về sự hiện diện của quân đội miền Bắc ở miền Nam, bà không sa vào bẫy phủ nhận hay khẳng định, mà trả lời một cách đầy khí phách, đặt vấn đề ở một tầm mức cao hơn: 

"Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc mình". 

Câu trả lời vừa đúng với sự thật lịch sử, vừa thể hiện một lập trường chính trị vững chắc không thể bác bỏ.

Sự giản dị còn thể hiện sâu sắc trong lối sống của bà và cả phái đoàn tại Paris. 

Trong khi phái đoàn Sài Gòn có ngân sách dồi dào, có điều kiện sống xa hoa, thì cơ quan của bà được báo chí nước ngoài ví như một "nhà tu". 

Bà và cô thư ký thân thiết Bình Thanh ở trên một căn gác thượng sát mái, chỉ có hai chiếc giường sắt đơn sơ như ở bệnh viện. Họ tự trồng rau, nuôi gà để cải thiện bữa ăn. 

Sự đạm bạc, tiết kiệm này không phải là khổ hạnh, mà là một tuyên ngôn thầm lặng về phẩm giá, tạo ra hình ảnh tương phản mạnh mẽ, củng cố uy tín đạo đức và sự trong sáng của cuộc đấu tranh mà bà đại diện. 

Chính sự giản dị ấy đã khiến bạn bè quốc tế càng thêm cảm phục, tin tưởng và yêu mến.

Và trên hết, bà là một người phụ nữ, một người mẹ. Việc phải xa hai con nhỏ trong những năm tháng đằng đẵng ở Paris là một sự hy sinh cá nhân vô cùng to lớn. 

Nỗi nhớ con da diết thể hiện qua những lần bà đọc đi đọc lại mấy dòng chữ nguệch ngoạc của cô con gái Mai: "Chừng nào mẹ về với chúng con?". 

Khi nghe tin Mỹ ném bom Hưng Yên, nơi các con bà đang sơ tán, bà đã "bàng hoàng lo lắng" cho đến khi nhận được tin các con an toàn. 

Chính những chi tiết rất đời thường, rất con người này biến cuộc đấu tranh chính trị thành câu chuyện cảm động về tình yêu thương, sự hy sinh và khát vọng đoàn tụ. 

Yếu tố này đã giúp bà kết nối một cách sâu sắc với phụ nữ trên toàn thế giới, đặc biệt là những người mẹ Mỹ trong phong trào phản chiến. 

Họ thấy ở bà không phải là một kẻ thù xa lạ, mà là một "người chị em", cùng chia sẻ nỗi đau mất mát và khát vọng hòa bình cho con cái mình.

**
*
🤝 Cội rễ sức mạnh - hun đúc từ "gia đình, bạn bè và đất nước"

Phong cách ngoại giao Nguyễn Thị Bình không phải là một kỹ năng được đào tạo bài bản trong các học viện quan hệ quốc tế. 

Nó là sự kết tinh của cả một cuộc đời, được hun đúc từ những cội rễ sâu xa mà bà đã trân trọng chọn làm tựa đề cho cuốn hồi ký của mình: Gia đình, bạn bè và đất nước.

Dòng máu yêu nước và khí phách của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, ông ngoại của bà, người đầu tiên đề xướng tư tưởng "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", đã chảy trong huyết quản bà. 

Tinh thần cương trực, không dễ khuất phục của người xứ Quảng đã được nuôi dưỡng từ trong gia đình. 

Người cha, một viên chức ngành trắc địa, đã dạy bà về tình yêu lao động, sự say mê kỹ thuật, và luôn đánh giá con người qua thái độ lao động của họ. 

Những giá trị nền tảng này đã tạo nên một Nguyễn Thị Bình có một niềm tin không gì lay chuyển vào phẩm giá con người và một sự gần gũi tự nhiên với nhân dân lao động trên khắp thế giới.

Bà là người xây đắp tình bạn. Bà hiểu rằng thắng lợi của Việt Nam không chỉ đến từ chiến trường mà còn từ sự ủng hộ của nhân dân thế giới. 

Bà trân trọng từng người bạn, từ những nhà lãnh đạo như Fidel Castro, Houari Boumédienne, đến những trí thức lớn như Jean-Paul Sartre, Laurent Schwartz, hay những người bạn Mỹ đã dũng cảm chống lại chính phủ của mình. 

Tình bạn đó được xây dựng trên sự tin cậy, chân thành và tôn trọng lẫn nhau, trở thành một nguồn sức mạnh tinh thần và chính trị to lớn, một tài sản vô giá của dân tộc.

Tình yêu quê hương, đất nước chính là ngọn nguồn của mọi sức mạnh trong bà. 

Bà xót xa khi thấy quê hương Quảng Nam-Đà Nẵng bị tàn phá, san bằng thành "bãi đất trơ trụi mênh mông". Chính nỗi đau đó đã biến thành quyết tâm đấu tranh không khoan nhượng. 

Bà mang trong mình hình ảnh của "trên 7.000 bà mẹ anh hùng" ở quê nhà, mang trong mình sự hy sinh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ. 

Bà không chiến đấu cho một ý thức hệ trừu tượng, bà chiến đấu cho những đồng lúa xanh ngát, những dòng sông, những con người cụ thể của quê hương, đất nước mình. 

Chính tình yêu sâu nặng, hữu hình đó đã cho bà một lập trường vững như bàn thạch, một niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng. 

Cuộc đời bà, từ những ngày hoạt động bí mật trong lòng địch ở Sài Gòn, trải qua những trận đòn tra tấn trong nhà tù đế quốc, cho đến khi trở thành một chính khách trên vũ đài quốc tế, đều được dẫn dắt bởi một mục tiêu duy nhất: Độc lập và thống nhất cho Tổ quốc.

Phong cách ngoại giao của Nguyễn Thị Bình là một di sản quý báu, một minh chứng sống động rằng trong một thế giới đầy rẫy những toan tính và quyền lực, sức mạnh của sự chân thành, của chính nghĩa và tình người vẫn có một vị thế không thể thay thế. 

"Ngoại giao tâm công" của bà đã cho thấy, để chiến thắng trên bàn đàm phán, trước hết phải chiến thắng trong trái tim của nhân loại. 

Bà không chỉ là người đặt bút ký vào Hiệp định Paris lịch sử, góp phần quyết định chấm dứt cuộc chiến tranh dài nhất và khốc liệt nhất thế kỷ XX, mà còn khắc vào lịch sử hình ảnh một nhà ngoại giao kiệt xuất, một người phụ nữ Việt Nam anh hùng. 

Bà đã dùng chính cuộc đời mình, với tất cả trí tuệ, khí phách và trái tim nhân hậu, để viết nên một định nghĩa sâu sắc và trường tồn về nghệ thuật ngoại giao: 

Đó là hành trình "đem bạn bè về cho dân tộc", để hòa bình và chính nghĩa được nở hoa trên mảnh đất quê hương./.
Yêu nước ST.

“BONG BÓNG” THÍCH MINH TUỆ XÌ HƠI, “KỀN KỀN” HẾT MỒI!

     Hiện tượng Thích Minh Tuệ (tên thật Lê Anh Tú) từng là một “cơn sốt” trên mạng xã hội và truyền thông Việt Nam trong năm 2024.Nhưng bước sang nửa cuối năm 2025, mọi sự quan tâm ồn ào ấy nhanh chóng lắng xuống, trả lại cho Thích Minh Tuệ một đời sống gắn với giá trị tôn giáo cốt lõi, thay vì hào quang của một “ngôi sao mạng”.

Điều này thể hiện rõ trên các nền tảng trực tuyến. Từ tháng 8 đến đầu tháng 9/2025, chỉ còn lác đác 20–30 bài đăng liên quan trực tiếp đến Thích Minh Tuệ, lượng tương tác ở mức rất thấp, không thể so sánh với hàng triệu lượt xem vào năm 2024. Trên báo chí quốc tế, ngoài vài bài điểm tin cũ, các tổ chức như Human Rights Watch (HRW) hay FIDH vẫn cố níu kéo tên ông trong các báo cáo nhân quyền, nhưng chỉ như một cái cớ lặp lại, thiếu hơi thở thực tế. 

Tất cả cho thấy, hiện tượng này đã đi hết “chu kỳ bong bóng”: từ bùng nổ, tranh cãi, rồi thoái trào và trở về trạng thái bình thường.

Nguyên nhân của sự suy giảm quan tâm không khó lý giải. 
Thứ nhất, ngay trong nội bộ Phật giáo đã có những tranh luận, nhiều ý kiến cho rằng Thích Minh Tuệ không phải tăng sĩ chính thống, từ đó giảm bớt sức thuyết phục ban đầu. 
Thứ hai, công chúng ngày càng tỉnh táo, họ hướng sự quan tâm sang các vấn đề thực tế hơn. Thứ ba, việc ông Thích Minh Tuệ không còn ở Việt Nam mà đang tu hành ở “đất Phật”, nơi ông tâm nguyện, thì mọi việc lợi dụng tu hành để xuyên tạc, chống phá vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam đều trở nên trơ trẽn, thậm chí phản tác dụng khi người dân được dịp so sánh và thấy rõ, ở bất kỳ đâu, dù người tu hành có được ngưỡng vọng đến đâu cũng phải tuân thủ pháp luật.

Và cũng từ đây, lộ rõ sự lố bịch của đám “dân chủ đội lốt” ở hải ngoại cùng các tổ chức nhân quyền phương Tây vốn lâu nay vẫn rắp tâm lợi dụng tôn giáo để chống phá Việt Nam. Thời điểm hiện tượng Thích Minh Tuệ còn đang “hot”, chúng thi nhau thêu dệt câu chuyện “Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo”, “chính quyền bắt cóc nhà sư hành hương”, thậm chí ví von lố bịch với các “cách mạng màu”. Chúng coi đó như “mỏ vàng truyền thông” để bôi nhọ, kích động. Nhưng giờ đây, khi công chúng trong nước không còn mặn mà thì những kẻ này bỗng dưng… mất vốn!

Không còn video viral để khai thác, chúng đành lục lại chuyện cũ như việc anh trai Lê Anh Tú bị bắt vì vi phạm pháp luật, rồi lại cố gắng gắn ghép thành “vấn đề tôn giáo”. Nhưng càng làm vậy, chúng càng lộ rõ bộ mặt “kền kền chính trị”: chuyên săn mồi trên những hiện tượng nhất thời, bịa đặt thêm thắt để xin tài trợ từ bên ngoài. Chúng tự phong cho mình là “nhà đấu tranh dân chủ”, song thực chất chỉ là những con rối truyền thông, đói tin, đói tiền và bất lực trong việc thuyết phục người dân Việt Nam.

Sự suy giảm quan tâm đối với hiện tượng Thích Minh Tuệ thực chất là sự minh chứng cho sức đề kháng lành mạnh của xã hội: không để một cá nhân, một hiện tượng, bị biến thành công cụ cho những mưu đồ chính trị đen tối.

Tín đồ đích thực đều mừng cho Thích Minh Tuệ trở lại với con đường tu hành của riêng mình. Còn đám phản động, sau một hồi “ăn theo”, giờ chỉ còn lại những lời vu cáo trơ trẽn và sự ê chề thất bại. Chúng đã hết vốn để kích động, hết cớ để bịa đặt. Cái gọi là “tự do tôn giáo bị đàn áp” ở Việt Nam chỉ là một trò hề chính trị, và trò hề ấy ngày càng kém duyên, kém sức hút trước một xã hội Việt Nam ổn định, phát triển, hài hòa trong đời sống tín ngưỡng./.
Yêu nước ST.

NEPAL HỖN LOẠN LÀ DO CỘNG SẢN TOÀN TRỊ?

     Tình trạng biểu tình, bạo loạn căng thẳng đã đẩy Nepal vào vòng xoáy bất ổn chính trị với thương vong và thiệt hại xã hội nặng nề. Thế mà số tổ chức phản động lại nhảy vào với trò gán ghép rẻ tiền, ác ý, gieo rắc những luận điệu xuyên tạc, kích động về chế độ ở nước ta, nhất là “Việt Tân”, “Chân trời mới media” với các khẩu hiệu kiểu như: “Nepal vùng lên – Khi Gen Z đập tan chế độ độc tài cộng sản”.

Thực ra thì, nếu động não tí xíu, ai cũng thấy khủng hoảng ở Nepal chả dính dáng gì đến “một đảng cộng sản toàn trị” như lũ kia bịa đặt. Nepal đa đảng từ tám đời, với hàng trăm đảng phái đua nhau tranh quyền. Từ năm 2008, bỏ quân chủ Hindu, lập Cộng hòa Dân chủ Liên bang, hệ thống chạy theo kiểu nghị viện (Thượng viện, Hạ viện), Tổng thống với Phó thì thường từ hai đảng khác nhau. Gần đây nhất, ông Tổng thống Ram Chandra Poudel và bà Phó Ram Sahaya Yadav đều thuộc Đảng Quốc hội Nepal - cái đảng theo hướng “dân chủ tự do” chứ không phải cộng sản. Bất ổn nổ ra vì đủ thứ bức xúc tích tụ: chuyển đổi thể chế, quản lý yếu kém, tham nhũng tràn lan, thất nghiệp khắp nơi, giàu nghèo cách biệt như trời với vực, cộng thêm chính sách kiểm soát mạng xã hội siết chặt. Giới trẻ Nepal dùng mạng để sống ảo lẫn mưu sinh, giờ bị khóa thì nổi điên cũng phải thôi. 

Nếu theo “logic” của “Việt Tân”, “Chân trời mới media”, việc duy trì chế độ một đảng sẽ dẫn đến bất ổn chính trị. Tuy nhiên thực tế thì ngược lại: nhiều quốc gia đa đảng ở Nam Á và châu Phi thường xuyên bất ổn (Sri Lanka khủng hoảng năm 2022, Pakistan với những lần chính phủ sụp đổ liên tiếp, hay Thái Lan nhiều lần đảo chính quân sự, mới đây nhất là Indonesia cũng tương tự).

Trong khi đó Việt Nam – dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lại giữ được ổn định chính trị lâu dài. Chính sự ổn định đó đã tạo nền tảng cho phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội và hội nhập quốc tế. Những số liệu khách quan đều cho thấy điều này. Theo báo cáo HDI của UNDP, Việt Nam liên tục nằm trong nhóm các quốc gia có chỉ số phát triển con người cao, với tiến bộ vượt bậc trong giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội, hướng tới mục tiêu miễn viện phí cơ bản cho toàn dân vào năm 2030. Đặc biệt, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa đã giúp Việt Nam trở thành điểm đến đáng tin cậy của các tập đoàn toàn cầu, trong bối cảnh thế giới chao đảo vì xung đột, khủng hoảng năng lượng và đứt gãy chuỗi cung ứng…

Tóm lại, Nepal rối ren vì mâu thuẫn nội tại đặc thù của nó thôi, chả liên quan gì “cộng sản” như lũ thù địch bịa đặt để xuyên tạc./.
Môi trường ST.

ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC NHÂN SỰ ĐẠI HỘI ĐẢNG!

     Chuẩn bị thật tốt về mọi mặt, nhất là công tác nhân sự là tiền đề quan trọng cho thành công của đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.

Tuy nhiên, nhằm thực hiện dã tâm chống phá, các thế lực thù địch luôn dùng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc, quyết liệt tấn công Đảng ta trên mọi phương diện, nhất là công tác nhân sự - một khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của đại hội, đòi hỏi cần kịp thời nhận diện để đấu tranh, ngăn chặn.

Đối với Đảng ta, mỗi kỳ đại hội là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng. Ngoài việc thảo luận, quyết định đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng thì công tác nhân sự luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt trong Đảng cũng như đông đảo quần chúng nhân dân. Bởi công tác nhân sự là then chốt của then chốt, liên quan vận mệnh của Đảng, tương lai của đất nước.

Thực tế cho thấy, qua mỗi kỳ đại hội, công tác nhân sự không đơn giản chỉ là việc sắp xếp, lựa chọn ai ra ai vào; nhân sự mới được bố trí ở đâu, như thế nào mà quan trọng nhất là lựa chọn, tìm ra những người ưu tú, tiên phong, gương mẫu nhất, thể hiện cho ý chí, bản lĩnh, trí tuệ, hạt nhân đoàn kết để lãnh đạo, điều hành công việc tại các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.

Trong bài viết "Tổ chức tốt Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030", Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Cần ý thức sâu sắc, chuẩn bị nhân sự không chỉ cho một kỳ đại hội; xa hơn, đó là sự chuẩn bị nhân sự cho tương lai phát triển của tổ chức đảng, sự phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị; rộng hơn, đó là vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước, của dân tộc. Đây là công việc mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm theo dõi; đây cũng là việc mà các phần tử xấu, cơ hội chính trị tìm mọi cách tác động, tung tin thất thiệt, xuyên tạc hòng chia rẽ nội bộ”.

Tổng Bí thư Tô Lâm phân tích: “Cán bộ là cái gốc của mọi vấn đề cho nên trong quá trình lựa chọn nhân sự bên cạnh việc phát hiện đúng-trúng thì cố gắng không bỏ sót nhân tài bởi không tìm chọn, sử dụng nhân tài là sự lãng phí về tài nguyên và tiềm năng con người”.

Thực tế cho thấy, qua mỗi kỳ đại hội, công tác nhân sự không đơn giản chỉ là việc sắp xếp, lựa chọn ai ra ai vào; nhân sự mới được bố trí ở đâu, như thế nào mà quan trọng nhất là lựa chọn, tìm ra những người ưu tú, tiên phong, gương mẫu nhất, thể hiện cho ý chí, bản lĩnh, trí tuệ, hạt nhân đoàn kết để lãnh đạo, điều hành công việc tại các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.

Đại hội đảng các cấp, tiến tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV diễn ra trong bối cảnh cả nước thực hiện xong việc sáp nhập tỉnh và đang thực hiện mô hình chính quyền hai cấp. Có thể khẳng định đây là bước thay đổi có tính lịch sử, tạo sự phát triển đột phá, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới. Do đó, công tác chuẩn bị nhân sự kỳ này càng trở nên quan trọng hơn.

Tại hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 11 ngày 16/4/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ công tác nhân sự đã rất quan trọng, nay lại càng quan trọng hơn trước yêu cầu mới.

Tổng Bí thư yêu cầu: “Nhân sự lãnh đạo các cấp và nhân sự Đại hội XIV phải hội tụ "đủ đức-đủ tài-đủ tâm-đủ tầm-đủ sức-đủ nhiệt huyết cách mạng" để gánh vác trọng trách lịch sử của đất nước. Trong tình hình hiện nay, không có chỗ cho những cán bộ cơ hội, bon chen, trung bình chủ nghĩa, lừng chừng, ngại đổi mới, thu vén cá nhân. Những ai tự thấy mình không đáp ứng yêu cầu thì tự nguyện rút lui, nhường chỗ cho người xứng đáng hơn - tự nguyện đứng về phía sau vì sự phát triển cũng là hành động bản lĩnh, dũng cảm, đáng tự hào, đáng được khen ngợi”.

Ngày 14/6/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW (Chỉ thị số 45) thay thế Chỉ thị số 35-CT/TW, về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, trong đó yêu cầu công tác nhân sự phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp và đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định. Bảo đảm sự kế thừa, đổi mới và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ; đề cao, coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý.

Với tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác nhân sự đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc khiến các thế lực thù địch trong nước và nước ngoài tăng cường câu kết với nhau, xem đây là trọng điểm, tập trung chống phá bằng những hình thức, thủ đoạn tinh vi, nhất là trên không gian mạng.

Lợi dụng sự phát triển của khoa học-công nghệ mới, sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI), các đối tượng gia tăng tần suất đăng tải các bài viết có nội dung xấu độc, tạo video giả, cài cắm các thông tin bịa đặt sai sự thật như “Đảng tước bỏ quyền dân chủ của đảng viên”, “cán bộ chỉ là quân cờ”,… rồi phát tán trên nền tảng mạng xã hội.

Đồng thời, các đối tượng còn phát tán cái gọi là thư ngỏ, đơn kiến nghị tạo ra một ma trận thông tin thật-giả, gây dư luận trái chiều. Nham hiểm hơn, chất liệu để tạo ra các thông tin nóng xuyên tạc, chống phá nêu trên được chúng khai thác từ thông tin chính thống; các sự kiện, con người thật, song đã được cắt xén, lồng ghép vào đó những bình luận tinh vi, xảo quyệt cố tình bóp méo sự thật.

Bằng những chiêu trò, thủ đoạn nham hiểm, các đối tượng cố tình gieo rắc nghi ngờ, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với đội ngũ cán bộ của Đảng, chống phá đại hội đảng các cấp nhằm làm lung lay, suy yếu tổ chức đảng hòng làm suy yếu chế độ, phá hoại sự nghiệp phát triển của đất nước.

Đáng chú ý, mỗi khi trên truyền thông đưa thông tin cơ quan, đơn vị, địa phương nào đó có cán bộ, nhất là những lãnh đạo chủ chốt sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống bị vướng vào vòng tham ô tham nhũng, tiêu cực dù đã bị xử lý bằng pháp luật và kỷ luật đảng nghiêm minh, đúng quy trình theo pháp luật và kỷ luật đảng, không có ngoại lệ, không có vùng cấm thì chúng vẫn cố tình lu loa rằng công tác nhân sự, quy hoạch cán bộ của Đảng “có vấn đề”, là “lợi ích nhóm”, “đấu đá nội bộ, tranh giành thượng tầng trong Đảng”.

Tổ chức khủng bố Việt Tân còn thường xuyên tổ chức các hội thảo bàn tròn; phỏng vấn, bình luận; đăng tải video, bài viết kêu gọi hình thành "đối lập chính trị", cổ xúy "đổi mới chế độ" nhằm phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Bằng những chiêu trò, thủ đoạn nham hiểm, các đối tượng cố tình gieo rắc nghi ngờ, làm suy giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với đội ngũ cán bộ của Đảng, chống phá đại hội đảng các cấp nhằm làm lung lay, suy yếu tổ chức đảng hòng làm suy yếu chế độ, phá hoại sự nghiệp phát triển của đất nước.

Cần khẳng định công tác cán bộ của Đảng được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học, minh bạch. Chỉ thị số 45 nhấn mạnh: “Công tác nhân sự phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp và đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định”; “Công tác chuẩn bị nhân sự, bầu cử hoặc chỉ định phải thực hiện nghiêm, đúng nguyên tắc, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm đồng bộ, tổng thể, liên thông, chặt chẽ, dân chủ, khoa học, khách quan, công tâm, minh bạch, trách nhiệm giải trình; bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao; làm thận trọng từng bước, "làm đến đâu chắc đến đó"...”.

Như vậy, mọi quy trình nhân sự đều có sự tham gia, giám sát chặt chẽ từ nhiều cấp, nhiều khâu, bài bản, khoa học, hoàn toàn không có chuyện “áp đặt” hay “lợi ích nhóm” như các thế lực thù địch rêu rao.

Luận điệu mà các đối tượng ra sức bêu riếu rằng, “Đảng tước bỏ quyền dân chủ của đảng viên” trong việc sắp xếp nhân sự trong Đảng hoàn toàn phi lý, bịa đặt vì dân chủ trong Đảng ngày càng được mở rộng.

Quy trình nhân sự các cấp đều lấy ý kiến rộng rãi trong Ban Chấp hành, cấp ủy, tổ chức đảng, thậm chí có bước thăm dò tín nhiệm nhiều vòng, bảo đảm tính dân chủ và đồng thuận cao.

Trước sự chống phá ngày càng gia tăng của các đối tượng cực đoan, phản động, trước tiên cần làm tốt công tác nhân sự đại hội để kẻ địch không có “đất”, không tìm ra kẽ hở để có thể lợi dụng để thực hiện các mưu đồ đen tối.

Trước sự chống phá ngày càng gia tăng của các đối tượng cực đoan, phản động, trước tiên cần làm tốt công tác nhân sự đại hội để kẻ địch không có “đất”, không tìm ra kẽ hở để có thể lợi dụng để thực hiện các mưu đồ đen tối.

Các cấp ủy đảng phải chuẩn bị nhân sự cho đại hội đảng thật chu đáo, khoa học, lựa chọn những người thật sự nổi trội, xứng đáng, tiêu biểu cho ý chí của Đảng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có tính chiến đấu và tính kỷ luật cao, khả năng quy tụ được sự đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Đồng thời cần nhận diện sớm các quan điểm sai trái về công tác nhân sự đại hội đảng các cấp để chủ động có kế hoạch đấu tranh, ngăn chặn. Tăng cường khả năng kiểm soát thông tin trên không gian mạng xã hội, từ đó định hướng, tạo điều kiện để mỗi người dùng mạng xã hội có thể tự mình tạo “bộ lọc”, tránh bị lôi kéo hoặc chịu tác động của những thông tin xấu độc, rồi vô ý hoặc cố tình tiếp tay cho các thế lực thù địch.

Chú trọng công tác tuyên truyền, phát huy tính chủ động, định hướng, cung cấp những thông tin chính thống, nói rõ quan điểm, yêu cầu, chủ trương của Đảng về công tác cán bộ, quy hoạch nhân sự đại hội đảng các cấp đến mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Bởi đây không chỉ là đối tượng đông đảo nhất cần tiếp nhận, nắm bắt thông tin để thực hiện, theo dõi, giám sát mà còn là lực lượng cơ bản, hùng hậu, góp phần đấu tranh, phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch. Công tác thông tin, tuyên truyền phải gắn liền với các mặt công tác xây dựng Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân kỹ năng, khả năng nhận diện và cách thức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề này. Để phản bác hiệu quả, cần đưa ra luận cứ xác đáng, thuyết phục, dựa trên dữ liệu thực tiễn.

Đồng thời, tăng cường vai trò của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, cựu chiến binh trong việc sử dụng mạng xã hội để lan tỏa thông tin chính thống. Quan trọng hơn là phải tạo được thế trận lòng dân, thế trận an ninh nhân dân, dựa vào nhân dân để hình thành tổ chức, sáng kiến và lực lượng vững chắc bảo vệ Đảng, công tác cán bộ, công tác nhân sự chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp đi đến thành công./.
----------
Ảnh: Các đại biểu trao đổi tại hội thảo khoa học “Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về dự thảo các văn kiện và công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng”./.
Yêu nước ST.

“THANH LỌC” CÁN BỘ SUY THOÁI.

     Những thành quả và giá trị nhân văn, tiến bộ trong công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời gian qua đã góp phần làm cho nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước được “thanh lọc” trong sạch, vững mạnh hơn.

Từ đó, nhân dân thêm phấn khởi, tin tưởng vào quyết tâm chính trị đúng đắn và hành động quyết liệt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng và Nhà nước. Đó là minh chứng sinh động, thuyết phục phủ nhận luận điệu “thanh trừng” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của Đảng, Nhà nước ta.

Phân biệt giữa “thanh trừng” và “thanh lọc”

Dưới góc độ chính trị học và xã hội học, thanh trừng là loại bỏ, khử trừ khỏi hàng ngũ những người không cùng chí hướng và lợi ích. Theo phương diện lịch sử và tôn giáo, thanh trừng hàm nghĩa hành động cách chức, thậm chí là hành quyết những người làm trái với giáo lý, giáo luật hoặc ý chí của tổ chức hay cá nhân nắm giữ quyền lực xã hội. Phạm vi thanh trừng có thể xảy ra giữa các phe cánh hoặc diễn ra chính trong nội bộ của phe phái. Một cuộc thanh trừng có thể diễn ra bằng hình thái bất bạo động hoặc bạo lực.

Bản chất của thanh trừng là thủ đoạn chính trị đơn phương nhằm gạt bỏ, thủ tiêu những người có tư tưởng, hành vi chống đối quan điểm chính thống và hoạt động của một chính quyền hay tổ chức đảng, hoặc một phong trào... ra khỏi cơ cấu hệ thống của tổ chức.

Còn “thanh lọc”, theo phương diện sinh học, y học thì đây là quá trình vô hiệu hóa hoặc loại bỏ độc tố ra khỏi cơ thể, thanh lọc giúp cơ thể sạch sẽ, được tiếp thêm năng lượng và hoạt động hiệu quả hơn.

Tiếp cận dưới góc độ chính trị-xã hội, thanh lọc là hành động thống nhất của đa số nhằm loại bỏ những phần tử xấu, đi ngược lại với mục đích chung, làm trong sạch tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đó.

Thanh lọc và thanh trừng là hai vấn đề khác nhau cả về nội hàm, ý nghĩa. Hành động thanh trừng hàm chứa những mâu thuẫn, tranh đấu không thể dung hòa giữa các phe nhóm, đảng phái nhằm thâu tóm quyền lực chính trị và kinh tế. Trong khi thanh lọc nhằm loại bỏ khỏi tổ chức những phần tử xấu, thoái hóa, biến chất, đi ngược lại với mục đích chung của đa số và làm cho tổ chức được trong sạch hơn.

“Thanh lọc” những cán bộ tham nhũng, thoái hóa để làm trong sạch Đảng và bộ máy Nhà nước

Mặc dù thanh lọc và thanh trừng đều hiện hữu trong lòng xã hội có giai cấp, song thanh lọc mang tính tất yếu khách quan, hướng tới những giá trị tốt đẹp cho tập thể; còn thanh trừng lại là hành động thanh lý, trừng phạt phe cánh hòng mưu lợi cho thiểu số, thậm chí là mang lại quyền lực cho chỉ một cá nhân trong tổ chức, đi ngược lại với sự phát triển tiến bộ của nhân loại. Do đó, bản chất của luận điệu “thanh trừng” mà các đối tượng truyền bá, rêu rao chỉ là sự xảo ngôn, ngụy tạo về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam nhằm bôi nhọ uy tín, thanh danh của Đảng và phủ nhận sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta trong “cuộc chiến” chống quốc nạn tham nhũng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó” để đẩy mạnh kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng, Bác Hồ đã sớm khẳng định tham nhũng là “kẻ địch nội xâm” nguy hại, khó lường, nhất là trong điều kiện duy nhất một đảng cầm quyền. Vì thế, cũng như các quốc gia khác, Việt Nam luôn chú trọng công cuộc phòng, chống tham nhũng nhằm làm trong sạch bộ máy tổ chức đảng và chính quyền nhà nước. Minh chứng điển hình là khi nước Việt Nam non trẻ mới được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết chỉ đạo xét xử và đưa ra bản án nghiêm khắc nhất là tử hình đối với Trần Dụ Châu (năm 1950) vì tội tham nhũng để làm trong sạch đội ngũ cán bộ.

Phòng, chống tham nhũng là vấn đề thiết yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là lâu dài, phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp đan xen, cả tiến bộ-lạc hậu, tích cực-tiêu cực... Do đó, tình trạng tham nhũng là khó tránh khỏi khi Việt Nam thực hiện nhiều hình thức sở hữu dưới tác động của mặt trái cơ chế thị trường. Vì vậy, việc tiến hành công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam là đòi hỏi tất yếu, là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp cách mạng, là cuộc đấu tranh mang ý nghĩa chính trị-xã hội sâu rộng, vì đất nước phát triển ổn định, lành mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc.

Với bản lĩnh và trí tuệ của mình, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ thực trạng nghiêm trọng của tham nhũng, lãng phí, tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi và nhấn mạnh một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh chính là công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cho dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách nhưng công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, được thực hiện theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng và Hiến pháp, pháp luật Nhà nước. Nhằm bảo đảm mục đích chính trị và hành lang pháp lý cho phòng, chống tham nhũng thực sự có hiệu quả, Đảng, Nhà nước ta đã nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, góp phần xây dựng bộ máy chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Theo đánh giá của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, từ năm 2013 (thời điểm chính thức hoạt động của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị) đến nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và ngày càng trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược. Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng đã được chỉ đạo và thực hiện một cách bài bản, đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Đi đôi với tập trung chỉ đạo công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, công tác xây dựng, hoàn thiện cơ chế, thể chế về quản lý kinh tế-xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng được chú trọng đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể, không dám, không muốn, không cần” tham nhũng. Nhờ đó, tham nhũng từng bước đã được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương) tiến hành, đại đa số ý kiến của người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. 

Có thể khẳng định rằng, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là sự hội tụ của lòng dân với ý Đảng. Những thành quả và giá trị nhân văn, tiến bộ trong “cuộc chiến” này thời gian qua đã góp phần làm cho nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước được “thanh lọc” ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn. Từ đó, nhân dân thêm phấn khởi, tin tưởng vào quyết tâm chính trị đúng đắn và hành động quyết liệt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng và Nhà nước. Đó là minh chứng sinh động, thuyết phục phủ nhận luận điệu “thanh trừng” mà các loại thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của Đảng, Nhà nước ta./.
Khuyết danh ST.

Thứ Ba, 16 tháng 9, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM “ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG THEO HƯỚNG CHỦ ĐỘNG, TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG, LƯỠNG DỤNG, HIỆN ĐẠI”!

     Sáng 15/9, tại Hà Nội, Tổng Cục Công nghiệp, Bộ Quốc phòng đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (15/9/1945 - 15/9/2025) và đón nhận Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (lần thứ hai). Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm.

Cùng dự có các đồng chí: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương Phan Đình Trạc; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Phan Văn Giang; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Ngô Xuân Lịch; Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Trịnh Văn Quyết; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương.

Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động, cùng cán bộ tướng lĩnh, sĩ quan cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam và đại diện các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Tổng cục Công nghiệp quốc phòng… cùng tham dự Lễ kỷ niệm.

Nhân dịp này, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân và một số bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương, đơn vị trong Quân đội đã gửi lẵng hoa chúc mừng Tổng cục Công nghiệp quốc phòng.

Khẳng định trí tuệ Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng

Đọc Diễn văn tại Lễ kỷ niệm, Trung tướng Hồ Quang Tuấn, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp quốc phòng cho biết, ngày 15/9/1945, chỉ ít ngày sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã ra Sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới, trực thuộc Bộ Quốc phòng (tiền thân của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng ngày nay).

Với bề dày truyền thống, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã tích cực vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: Phát triển sản xuất quốc phòng và tham gia sản xuất xây dựng nền kinh tế đất nước.

Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, Đảng ủy Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các nhà máy Công nghiệp Quốc phòng nêu cao tinh thần năng động, sáng tạo, triệt để khai thác mọi tiềm năng, phát huy hiệu quả các dây chuyền sản xuất để làm ra nhiều mặt hàng phục vụ nhu cầu dân sinh như: Phụ tùng xe đạp, bếp dầu, quạt trần, phụ tùng các ngành công nghiệp,... góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm hàng hóa, vật tư phục vụ nhu cầu của đời sống xã hội và sản xuất công nghiệp của đất nước...

Bước vào thời kỳ đổi mới, Quân giới Việt Nam, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng ngày nay tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã nhanh chóng chuyển đổi cơ chế quản lý, xác định lộ trình, bước đi phù hợp; coi trọng phát triển nguồn nhân lực, nguồn lực khoa học - công nghệ, huy động tối đa thành tựu của nền công nghiệp quốc gia phục vụ Công nghiệp Quốc phòng; tập trung đầu tư có trọng điểm cho các sản phẩm mũi nhọn với trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại; tăng tính lưỡng dụng trong đầu tư phát triển; kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất quốc phòng với kinh tế. Tính riêng trong 5 năm gần đây, cán bộ, chiến sĩ, người lao động Tổng cục đã hoàn thành xuất sắc chỉ lệnh sản xuất hơn 140 chủng loại vũ khí lục quân, vũ khí quân binh chủng; đóng mới gần 140 tàu và sửa chữa trên 380 lượt tàu quân sự các loại... kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trang bị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của quân đội, phục vụ các sự kiện quan trọng của đất nước và quốc tế.

Trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học, vượt qua điều kiện đặc biệt khó khăn trong tiếp cận tài liệu thiết kế công nghệ sản xuất vũ khí, Tổng cục đã tập trung đột phá vào 5 hướng chính là: Phát triển vũ khí trang bị kỹ thuật mới; sửa chữa, hiện đại hóa vũ khí trang bị kỹ thuật; sản xuất vật tư kỹ thuật; nâng cao chất lượng sản phẩm; áp dụng công nghệ mới, hiện đại hóa các dây chuyền sản xuất.

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và phát triển, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tiêu biểu như: Xây dựng được đội ngũ cán bộ, công nhân viên có trình độ cao, làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến. Sản xuất, sửa chữa, cải tiến nhiều chủng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của Quân đội. Nghiên cứu, chế thử, sản xuất thành công nhiều sản phẩm vũ khí công nghệ cao, khẳng định trí tuệ Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng. Tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, với nhiều sản phẩm dân dụng, kinh tế quốc dân chất lượng cao, có thương hiệu, uy tín trên thị trường trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ, trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, khả năng tự nghiên cứu, chế tạo các loại vũ khí để bảo vệ tổ quốc, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của quân đội, giúp quân đội làm nên những chiến công hiển hách. Tinh thần sáng tạo và tài năng về chế tạo vũ khí đánh giặc cứu nước đã trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.

Tổng Bí thư nêu rõ, trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cán bộ, chiến sỹ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức, lao động quốc phòng của ngành Quân giới trước đây và Tổng cục Công nghiệp quốc phòng ngày nay đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, tinh thần vượt khó, tự lực, tự cường, cần cù, thông minh, sáng tạo, đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân.

“Các đồng chí là hiện thân của những cánh chim đầu đàn của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Những cống hiến, hy sinh thầm lặng của các đồng chí đã góp phần quan trọng tô thắm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Đầu tư phát triển Công nghiệp quốc phòng đáp ứng yêu cầu tình hình mới

Ghi nhận những chiến công, thành tích đặc biệt xuất sắc của các thế hệ cán bộ, chiến sỹ, người lao động ngành Công nghiệp quốc phòng, nhiều tập thể, cá nhân đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Đảng, Nhà nước và Quân đội đã trao tặng Tổng cục Công nghiệp quốc phòng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập và nhiều phần thưởng cao quý khác. Đó là truyền thống tốt đẹp mà các thế hệ Quân giới, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng đã xây dựng nên trong 80 năm qua.

Thay mặt Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư nhiệt liệt biểu dương, tri ân và chúc mừng những thành tích đặc biệt xuất sắc của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng về những đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời đề nghị Tổng cục Công nghiệp quốc phòng cần nâng niu trân trọng, tiếp tục phát huy cao độ trong giai đoạn cách mạng mới.

Tổng Bí thư cho biết, để hoàn thành các mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến xây dựng, phát triển ngành Công nghiệp quốc phòng; các cấp, các ngành rất quan tâm, tạo điều kiện và dành nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển Công nghiệp quốc phòng nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thời gian tới, Tổng Bí thư đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Tổng cục Công nghiệp quốc phòng thường xuyên quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quân đội về phát triển Công nghiệp quốc phòng, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng; tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật, tổ chức lực lượng ngành Công nghiệp quốc phòng; nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược; chủ động dự báo, đánh giá xu hướng phát triển khoa học quân sự của thế giới để kịp thời nghiên cứu, phát triển các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược cho Quân đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Các bộ, ngành Trung ương cần đặc biệt quan tâm, tạo cơ chế, điều kiện thuận lợi để Quân đội triển khai các nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển Công nghiệp quốc phòng theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của Công nghiệp quốc gia.

Tổng Bí thư yêu cầu, đẩy mạnh ứng dụng hiệu quả các thành tựu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong công tác nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật; tập trung triển khai các nhiệm vụ, đề án trọng điểm mang tính đột phá, mũi nhọn để tiếp cận, làm chủ công nghệ mới trong chế tạo vũ khí, khí tài cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; ưu tiên làm chủ các công nghệ nền, công nghệ lõi, phát triển công nghiệp chíp bán dẫn, vật liệu tiên tiến, vật liệu đặc chủng cho nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất, sửa chữa các loại vũ khí, trang bị, khí tài hiện đại, có ý nghĩa chiến lược.

Tổng Bí thư chỉ rõ, xây dựng bản lĩnh chính trị của người cán bộ, công nhân Công nghiệp quốc phòng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ khoa học cho Công nghiệp quốc phòng; xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, nhà khoa học đầu ngành có khả năng làm chủ khoa học kỹ thuật công nghệ cao để nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những vũ khí hiện đại, có ý nghĩa chiến lược, có sức răn đe lớn đối với mọi kẻ thù xâm lược; kết hợp nhiệm vụ phát triển Công nghiệp quốc phòng trong chiến lược phát triển Công nghiệp quốc gia; đẩy mạnh hợp tác quốc tế…

Tại Lễ kỷ niệm, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân cho Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Bộ Quốc phòng đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang thiết bị chiến lược công nghệ cao, thế hệ mới, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc./.


Yêu nước ST.