Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2025
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🚄 DÒNG VỐN KHỦNG RÓT VÀO ĐƯỜNG SẮT BẮC - NAM, VINSPEED VÀ THACO AI SẼ DẪN ĐẦU?
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: PUTIN ĐƯA RA TUYÊN BỐ VỀ VŨ KHÍ SIÊU THANH MỚI CỦA NGA!
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGA-MỸ TUY “CÃI NHAU” NHƯNG VẪN CẦN CÓ NHAU!
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: “EUROPE FIRST” - ĐỨC QUAY LƯNG VỚI MỸ, XÂY DỰNG LÁ CHẮN QUỐC PHÒNG CHÂU ÂU!
Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2025
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: THƯ GỬI ANH VŨ HIỂN - NÍCH “Hiển Vũ”!
THẾ GIỚI - VIỆT NAM: TỔNG THỐNG NGA VLADIMIR VLADIMIROVICH PUTIN GỬI ĐIỆN HỎI THĂM CHIA SẺ CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO NƯỚC TA VỀ THIỆT HẠI DO BÃO SỐ 10!
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 04 THÁNG 10 NĂM 1945!
Thứ Năm, 2 tháng 10, 2025
THÀNH TỰU CỦA 40 NĂM ĐỔI MỚI – NHÂN TỐ PHÁT HUY SỨC
MẠNH MỀM CỦA VIỆT NAM
Sau 40 năm tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta khẳng định: “Đất nước ta chưa bao
giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[1].
Những thành tựu đó là cơ sở, tiền đề quan trọng để chúng ta khơi dậy khát vọng
phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Khẳng định ý chí quyết tâm, khát vọng
phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phấn đấu “đến năm 2045, kỷ niệm 100
thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”[2].
Với lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt
Nam có nền văn hóa sức hấp dẫn cao. Đó là,
i)Tính bao dung. Là một trong những dân tộc chịu nhiều đau thương, mất mát
trong lịch sử, nhưng người dân Việt Nam không bao giờ nuôi thù hận. Việt Nam
không quên những tội ác và hậu quả bi thảm mà các thế lực ngoại bang gây ra
trong các cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, nhưng chúng ta gác lại quá khứ,
nhìn về tương lai. Việt Nam không sử dụng lịch sử làm công cụ triển khai chính
sách đối ngoại. Với cách ứng xử đó, Việt Nam đã chuyển hóa được tất cả thế lực
ngoại bang xâm lược (trong lịch sử cận đại và hiện đại) trở thành đối
tác. ii), Lòng hiếu khách. Sự
hiếu khách của người dân Việt Nam không chỉ thể hiện ở tính cởi mở, sẵn sàng
đón nhận, mà còn là sự tôn trọng khách. Phần lớn người nước ngoài đến Việt Nam,
nếu vượt qua được những cú “sốc” văn hóa, đều có ấn tượng rất tốt và sâu sắc về
đất nước, con người Việt Nam. iii) Tính
đa dạng và đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam. Trong thế giới công nghiệp
hóa, văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam với nhiều giá trị được bảo tồn và phát
triển, có sức hấp dẫn lớn đối với người nước ngoài. Bên cạnh những món ẩm thực
đã trở thành thương hiệu, như “Phở”, “bánh đa nem”, "Bánh mì kẹp
thị"….các đặc sản vùng miền: "chè thái, gái tuyên", "nhút Thanh
chương, tương Nam Đàn", "cu đơ Hà Tĩnh", "bánh cáy Thái
Bình"… các sản phẩm văn hóa của Việt Nam cũng thu hút mạnh mẽ nhiều người
nước ngoài đến chiêm ngưỡng, hưởng thụ và cùng bảo tồn, phát triển, qua đó, sức
mạnh mềm của văn hóa Việt Nam đã dần cảm hóa họ.
Để tạo điều kiện cho các sản phẩm trên lan tỏa cả nước, khu vực và thế giới, chúng ta cần phải tiếp tục đổi mới, tạo những đột phá mới về thể chế, nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng. Đặc biệt tiếp tục thể thế hóa Nghị quyết số 44, ngày 24 /11/2023 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hội nghị BCHTƯ lần thứ 8, Khóa XIII, H. 2023 và "bộ tứ chiến lược": Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển KH,CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 59/ NQ/TW, ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân…
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, THỰC TRẠNG DÂN SỐ,
NHỮNG YẾU TỐ HIỆN CÓ VỀ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI – NHÂN TỐ PHÁT HUY SỨC MẠNH
MỀM CỦA VIỆT NAM
Điều kiện tự nhiên, vị trí địa
lý, thực trạng dân số, những yếu tố hiện có của Việt Nam về kinh tế, chính trị
- xã hội, kết quả sau 40 năm đổi mới của đất nước trên cả hai mặt thành tựu và
hạn chế trên mọi lĩnh vực của đất nước …là yếu tố quan trọng cần thiết để hoạch
định một chiến lược với những mục tiêu cụ thể để phát huy hiệu quả sức mạnh mềm
của một quốc gia; chiến lược, kế hoạch đó được kết hợp chặt chẽ giữa Đảng, Nhà
nước, Chính phủ với các bộ, ban, ngành, các cấp, từ trung ương tới địa phương.
Trước
hết, cần nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân về vai trò vị
trí, tầm quan trọng, tiềm năng của “sức mạnh mềm” trong lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc Việt Nam và trong thời đại ngày nay đối với việc hiện thực
hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.“Sức mạnh
mềm” là khả năng tạo ra sức mạnh bằng tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, động
viên, khuyến khích, nhằm hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút đối phương khiến họ tin
tưởng, tự nguyện thay đổi hành vi, chính sách phù hợp với điều mình muốn. “Sức
mạnh mềm” có giá trị mang tính cảm hóa, tạo khả năng quy tụ, tập hợp lực lượng,
sự đoàn kết, thống nhất, đồng lòng, tạo nên sức mạnh dân tộc. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa, “sức mạnh mềm” ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc giữ
vững ổn định quốc gia, tăng cường hội nhập quốc tế cũng như phát huy vị thế,
tầm ảnh hưởng của quốc gia đó trên thế giới. Việc sử dụng “sức mạnh cứng” như
uy hiếp, can thiệp về quân sự, ép buộc bằng kinh tế... để giải quyết mâu thuẫn,
nhằm đạt được mục đích nhiều khi không hiệu quả, thường vấp phải sự phản ứng
của cộng đồng quốc tế, thậm chí làm suy giảm vị thế, uy tín, hình ảnh của quốc
gia trong quan hệ quốc tế.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam
đã khéo léo phát huy sức mạnh mềm, kết hợp linh hoạt sức mạnh mềm với sức mạnh
cứng tạo thành sức mạnh tổng hợp. Trong sức mạnh mềm, chúng ta chú trọng khơi
dậy và phát huy mạnh mẽ sức mạnh của nền văn hóa, truyền thống lịch sử hào
hùng, tính chính nghĩa, khát vọng độc lập, thống nhất của dân tộc ta, gắn với
xu thế, ước vọng của các dân tộc về hòa bình, tự do, bình đẳng, bác ái. Chính
nền tảng lịch sử hào hùng cùng nền văn hiến, truyền thống hòa hiếu và nhân
nghĩa là những nhân tố “mềm” góp phần quan trọng để chúng ta thu phục tình cảm,
tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi, chí nghĩa của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên
thế giới đã làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.
Trong quá trình xây dựng và phát huy sức mạnh mềm cần phải lồng ghép các nội dung về xây dựng và phát huy sức mạnh mềm Việt Nam vào chiến lược, kế hoạch để huy động mọi nguồn lực, mọi thành phần tham gia, sự chung tay của cả cộng đồng trong việc quảng bá thương hiệu, hình ảnh Việt Nam. Vai trò chủ lực của các cơ quan, ban, bộ, ngành, sự vào cuộc của doanh nghiệp, người dân, sự kết nối của vai trò mạng lưới lãnh sự Việt Nam tại hàng trăm quốc gia trên thế giới cũng như mạng lưới du học sinh..., tạo thành sức mạnh tổng hợp để đưa hình ảnh Việt Nam đến gần với thế giới và đưa thế giới đến gần với Việt Nam. Bên cạnh đó, sự tham gia, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ “góp phần gìn giữ, phát huy tiếng Việt, bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, thu hút nguồn lực chất lượng cao ở nước ngoài đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước”. Đặc biệt, coi trọng yếu tố xây dựng con người, trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp đó là cá nhân, tổ chức, cộng đồng có các hoạt động liên quan đến người nước ngoài, yếu tố nước ngoài, trên cả ba không gian: trong nước, ngoài nước và trên không gian mạng.
Hiện nay, tình hình thế giới đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường chưa từng có trong tiền lệ, vượt quá khả năng dự báo của các nước và các tổ chức quốc tế, tác động không nhỏ đến các quốc gia, trong đó có Việt Nam, chính vì lẽ đó chúng ta càng phải đặc biệt coi trọng khơi dậy, phát huy “sức mạnh mềm”, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đưa nước ta vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra đến năm 2045: “Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á"...
QUAN NIỆM VỀ SỨC MẠNH MỀM
Trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, khi nói đến sức
mạnh, hay quyền lực (power), người ta thường nói đến sức mạnh/ quyền lực của Nhà
nước và định nghĩa nó theo những cách khác nhau. Theo Barnett và Duvall: “sức
mạnh là cách một quốc gia sử dụng nguồn tài nguyên vật chất của mình để bắt
buộc một quốc gia khác làm điều mà quốc gia đó không muốn”[1]
Theo đó, nguồn tài nguyên này bao gồm năng lực quân sự và sức mạnh kinh tế.
Trong lý thuyết quyền lực xã hội của Bertrand Russell, sức mạnh đơn giản là
“việc tạo ra các ảnh hưởng như dự định”[2].
Chính trị gia người Mỹ Robert Dahl định nghĩa “sức mạnh là khả năng bắt buộc
mọi người phải làm cái gì đó mà họ không thể làm khác được”. Từ điển Hán Việt
của Đào Duy Anh định nghĩa “quyền lực là cái sức mạnh có thể cưỡng chế người ta
phải phục tùng mình”[3].
Ngoài những cách định nghĩa quyền lực truyền thống như trên, một số học giả
khác cũng đã phát triển những quan điểm khác về quyền lực. Theo Steven Lukes
lại cho rằng quyền lực là “việc áp đặt các ràng buộc bên trong và chính sự tin
tưởng của những người chịu sự ràng buộc đó dẫn đến sự đồng ý hoặc sự thích nghi
của họ với việc bị thống trị bằng các hình thức cưỡng chế hoặc không cưỡng chế”[4].
Trong tác phẩm Bàn về quyền uy, Ăngghen quan niệm "quyền uy nói ở đây, có nghĩa là ý chí của người khác mà người ta
buộc chúng ta phải tiếp thu, mặt khác, quyền uy lấy sự phục tùng làm tiến đề”[5].
Từ những quan điểm nêu trên có thể hiểu: Quyền lực xét theo phương diện, quan
điểm nào thì cũng đều nhấn mạnh ở một nội dung quan trọng, đó là năng lực thực
hiện mục đích của chủ thể trong quan hệ quốc tế. Về mặt ngữ nghĩa, theo Hoàng
Khắc Nam, “khái niệm này có thể hiểu theo nghĩa tương đương trong tiếng Việt là
“sức mạnh” và quốc gia nào có khả năng duy trì độc lập và thực hiện lợi ích của
mình trong quan hệ quốc tế thì đều có quyền lực/sức mạnh”[6].
Trên cơ sở này, khái niệm “sức mạnh” và “quyền lực” được hiểu trong thực tiễn
hiện nay tương đối đồng nhất.
Joseph Nye (Nye) là học giả
đầu tiên giới thiệu thuật ngữ “sức mạnh mềm” vào năm 1990 trong tác phẩm nổi
tiếng của ông: Bound to Lead: The
Changing Nature of American Power. Theo đó, sức mạnh mềm được Nye định
nghĩa “là khả năng khiến người khác muốn cái mà bạn muốn, do đó họ sẽ tự nguyện
làm điều đó mà không phải ép buộc hay mua chuộc”[7] .
Trong một tác phẩm khác - Soft Power: The
means to Success in World Politics, Nye đã phát triển quan niệm của mình về
sức mạnh mềm thành một luận thuyết, coi sức mạnh mềm “là khả năng đạt được điều
mình muốn thông qua sức hấp dẫn thay vì cưỡng bức hay ép buộc”[8].
Theo Nye, nếu sức mạnh cứng là khả năng đạt được điều chúng ta muốn bằng cách
mua chuộc (củ cà rốt) hoặc đe dọa (cây gậy) thì sức mạnh mềm lại là khả năng
đạt được điều chúng ta muốn bằng sự thuyết phục hoặc sức hấp dẫn dưới hình thức
văn hóa, tư tưởng và chính sách đối ngoại. Khi phân tích về mối liên hệ tổng
quan giữa các định dạng hành vi và các nguồn lực, Nye đã xây dựng một phổ định
dạng các chuỗi hành vi từ chỉ huy (cưỡng chế, dụ dỗ) đến thu phục (lên lịch
trình, quyến rũ). Dựa trên phổ hành vi này, có thể thấy các nguồn lực thích hợp
nhất để phục vụ cho hành vi thu phục chính là các nguồn lực của sức mạnh mềm.
Mối liên hệ giữa các định dạng hành vi và các nguồn. Như vậy có thể nói ba
nguồn lực chính tạo nên sức mạnh mềm theo quan điểm của Nye là văn hóa quốc gia, hệ giá trị quốc gia và
chính sách quốc gia[9].
Từ những cơ sở nêu trên có thể
khẳng định khái niệm sức mạnh mền được giáo sư người Mỹ Joseph Nye giới thiệu
lần đầu tiên vào năm 1990 đã thu hút sự quan tâm và đồng tình của các học giả
và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới là:“Khả
năng đạt được những gì mình muốn thông qua sự thu hút hơn là ép buộc hoặc dụ
dỗ. Quyền lực mềm xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, lý tưởng chính trị và
chính sách của quốc gia đó. Khi các chính sách của quốc gia được thừa nhận
trong mắt các quốc gia khác, quyền lực mềm của quốc gia đó được nâng cao".
Từ khái niệm nêu trên, có thể
hiểu như sau:
Khi phân tích về nội hàm
"sức mạnh" được hiểu là "sức mạnh" chia ra làm hai loại: sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Nếu trước
kết thúc Chiến tranh Lạnh, sức mạnh cứng là loại hình truyền thống của công cụ
chính sách đối ngoại thì trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, sức mạnh mềm được
chú ý hơn bởi tính hiệu quả và sự phù hợp của nó với những xu hướng phát triển
mới trong quan hệ quốc tế.
Theo Joseph Nye sức mạnh mềm bao gồm 3 nguồn lực cơ bản là: i) Nguồn lực văn hóa ( bao gồm hai nhóm văn hóa hàn lâm và văn hóa đại chúng. Văn hóa hàn lâm (giáo dục, văn học, nghệ thuật (nhạc thính phòng, kịch cổ điển…) là văn hóa dành cho tầng lớp tinh hoa, trí thức của xã hội. Văn hóa đại chúng (phim ảnh, chương trình truyền hình, thể thao, các chương trình giải trí phổ thông…) là văn hóa dành cho đại đa số quần chúng; ii) Hệ giá trị quốc gia bao gồm những giá trị mà thuyết phục, thu hút được các quốc gia khác chấp nhận hoặc quốc gia đó thực hiện những giá trị mà đa phần các quốc gia khác đều chấp nhận thì quốc gia đó sẽ có một phần quyền năng thu phục; iii) Chính sách quốc gia, đó phải là chính sách (bao gồm cả đối nội và đối ngoại) hợp pháp và đạt được sự tin cậy, tín nhiệm cao, một quốc gia chỉ thuyết phục và thu hút được các quốc gia khác khi được đánh giá là đáng tin cậy, có trách nhiệm với cộng đồng trong nước và quốc tế, tôn trọng lợi ích chung, tôn trọng luật pháp quốc tế thông qua quá trình hoạch định và triển khai các chính sách đối nội và đối ngoại.
[1].
Michael Barnett & Raymond Duvall (2005), Power in International Politics, Cambridge University Press, UK.
Tr.22.
[2]
Ruselll Bertrand (1938), Power, A New
Social Analysis, Allen & Unwin, London. Tr.25.
[3] Đào
Duy Anh (1996), Hán Việt Từ Điển, NXB
Thành phố Hồ Chí Minh, Tr.1970
.[4] Steven Lukes (2005b), Power: A Radical View, Palgrave Macmillian, New York, pp. tr.87-95.
[5] C. Mác
và Ph. ghen. Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật H.1994,
[6]
Hoàng Khắc Nam (2016), Giáo Trình Nhập
Môn Quan Hệ Quốc Tế, Nxb Đại học QG HN.
[7].Joseph Nye (1990), Bound to Lead: The Changing Nature of American Power, Basic Books.
Tr.6.
[8]. Joseph Nye (2004), Soft Power: The Means to Success in
World Politics, Public Affairs, New York. Tr.12.
[9].Joseph Nye (2004), Power in the Global Information Age, Routledge, New York. Tr
255-270.
TIỀM
NĂNG SỨC MẠNH MỀM CỦA VIỆT NAM TRONG MÔI TRƯỜNG GIAO THOA VỚI CÁC QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI
Dựa trên tiềm năng sức
mạnh mềm của mình có thể thấy Việt Nam có nhiều điều kiện rất thuận lợi trong
quá trình phát triển sức mạnh mềm trong tương lai. Mặc dù có những sự khác biệt
nhất định về thể chế cũng như trình độ phát triển kinh tế nhưng chính những điểm
tương đồng trong văn hóa, tư tưởng; sự lâu đời trong lịch sử quan hệ bang giao
cùng với sự gắn kết chặt chẽ trong các chương trình hợp tác cả về kinh tế, văn
hóa, chính trị nên từ quá trình triển khai sức mạnh mềm với các nước trong khu
vực và quốc tế và chính Việt Nam cũng tham gia với vai trò là quốc gia tiếp nhận
thì Việt Nam sẽ có rất nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để tiếp thu và chọn
lọc những điểm tích cực để áp dụng linh hoạt trong quá trình phát triển sức mạnh
mềm. Bên cạnh đó, qua sự nghiên cứu, nhìn nhận quá trình triển khai sức mạnh mềm
từ các nước nói chung, những quốc gia có nhiều nét tương đồng nói riêng, Việt
Nam cũng sẽ tự tạo nên thế chủ động nhất định trong việc tiếp nhận sức mạnh mềm
từ các quốc gia khác trong khu vực, từ đó sẽ hình thành nên những chính sách, chiến
lược đối phó phù hợp vừa đảm bảo được lợi ích quốc gia, vừa đảm bảo được tinh
thần hướng tới sự hợp tác, hòa bình chung trong khu vực.
Hiện nay,
tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, mặc dù hòa bình, hợp tác
và phát triển vẫn là xu thế lớn, song vẫn đang đứng trước nhiều trở ngại, khó
khăn, nhất là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; chủ nghĩa dân tộc cực
đoan, cường quyền nước lớn, thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng; nhiều vấn
đề toàn cầu đang diễn biến phức tạp, nhất là bảo vệ hòa bình, biến đổi khí hậu,
thiên tai, dịch bệnh…; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang diễn ra mạnh
mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, có cả thời cơ và thách thức đối với mọi
quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam. Để tranh thủ được những nhân tố thuận
lợi, khắc phục những tác động bất lợi, chúng ta cần phải tiếp thu kinh nghiệm
duy trì phát huy sức mạnh mềm của các nước có kinh nghiệm đi trước để xây dựng
và phát huy sức mạnh tổng hợp, trong đó đặc biệt coi trọng “sức mạnh mềm” để
góp phần hiệu quả BVTQ Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa.














