Thứ Ba, 7 tháng 10, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DÂN QUÂN TỰ VỆ VỮNG MẠNH, RỘNG KHẮP - “LÁ CHẮN THÉP” TỪ CƠ SỞ!

BÀI 1: MỖI CHIẾN CÔNG ĐỀU IN ĐẬM ĐÓNG GÓP CỦA DÂN QUÂN TỰ VỆ!

     Dân quân tự vệ (DQTV) chính là lực lượng trực tiếp bảo vệ cấp ủy, chính quyền, tính mạng và tài sản của nhân dân ở cơ sở, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới với bối cảnh những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng diễn biến phức tạp, việc xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh, rộng khắp càng trở nên cần thiết nhằm kịp thời giải quyết, ứng phó với những sự cố, tình huống quốc phòng, an ninh ngay từ cơ sở. Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống lực lượng DQTV Việt Nam (28-3-1935 / 28-3-2025), Báo Quân đội nhân dân đăng loạt bài “DQTV vững mạnh, rộng khắp - "Lá chắn thép" từ cơ sở”.

Lịch sử hình thành và phát triển lực lượng DQTV Việt Nam gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 28-3-1935, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất (họp ở Ma Cao, Trung Quốc), Đảng ta đã ban hành “Nghị quyết về đội tự vệ” (sau này, ngày 28-3 hằng năm trở thành Ngày truyền thống của lực lượng DQTV Việt Nam). Ngay sau khi có nghị quyết, các đội Tự vệ công nông lần lượt ra đời, mang tính chất là tổ chức vũ trang quần chúng đầu tiên...

Lũy thép” trong thời chiến

Trong cao trào vận động cách mạng những năm 1940-1945, Đảng ta chủ trương thành lập các đội Tự vệ cứu quốc, các tổ, tiểu đội du kích ở nhiều địa phương, căn cứ cách mạng. Lực lượng tự vệ, du kích vừa huấn luyện, vừa chiến đấu hỗ trợ phong trào đấu tranh giành chính quyền. Đến tháng 8-1945, lực lượng DQTV đã phát triển lên tới vài chục nghìn người, cùng với Quân Giải phóng và toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công, góp phần quyết định vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Lực lượng DQTV trở thành một trong “3 thứ quân” (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) của LLVT nhân dân Việt Nam.

Trong những ngày đầu độc lập, đất nước ta gặp vô vàn khó khăn, DQTV là lực lượng chủ yếu bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và thành quả cách mạng. Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, DQTV tiếp tục phát triển cả về tổ chức và lực lượng, thống nhất trong hàng ngũ LLVT nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ vài chục nghìn người năm 1945, đến đầu năm 1947, lực lượng DQTV và du kích trên cả nước đã phát triển lên gần 3 triệu người, riêng Thủ đô Hà Nội có 6.000 đội viên tự vệ tham gia chiến đấu.

Với phương châm “toàn dân kháng chiến”, DQTV, du kích hoạt động rộng khắp từ Bắc chí Nam, trở thành nỗi khiếp sợ của quân xâm lược. Thực tế lịch sử đã ghi nhận, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng DQTV và bộ đội địa phương đã tiêu diệt 23,1 vạn trong tổng số 50 vạn quân địch, làm tan rã hơn 20 vạn quân địch và giam chân, phân tán trên 90% lực lượng địch ở khắp các chiến trường. DQTV và du kích đã đóng góp công sức, xương máu vô cùng to lớn vào thắng lợi chung, chấm dứt hơn 80 năm thống trị của thực dân, khôi phục nền độc lập dân tộc.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng. Lực lượng DQTV miền Bắc vừa sản xuất, vừa luyện tập sẵn sàng chiến đấu với tinh thần “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng”. Hàng vạn đơn vị DQTV được trang bị thêm các loại vũ khí phòng không, pháo binh để bảo vệ vùng trời, vùng biển miền Bắc. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng DQTV cũng lập nhiều chiến công xuất sắc. Ở hậu phương miền Bắc, DQTV phối hợp với Bộ đội Phòng không kiên cường chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Riêng lực lượng DQTV miền Bắc đã độc lập bắn rơi 424 máy bay các loại trong tổng số 4.181 máy bay Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc, bắt sống hàng trăm phi công Mỹ, tiêu diệt hàng chục toán biệt kích, bắn chìm và bắn cháy nhiều tàu chiến của địch. Ở tiền tuyến miền Nam, dân quân, du kích bám đất, bám dân, “mỗi làng xã là một pháo đài”, hoạt động mưu trí, dũng cảm, buộc địch nhiều nơi phải phân tán tới 90% quân số để đối phó với LLVT địa phương ta. Đặc biệt, trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, dân quân, du kích cùng bộ đội chủ lực và toàn dân đồng loạt tiến công, nổi dậy “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau khi non sông thu về một mối, các thế lực thù địch lại xâm lược biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Lực lượng DQTV cùng với bộ đội nỗ lực xây dựng các tuyến phòng thủ biên giới, trực tiếp chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, góp phần cùng cả nước đánh bại quân xâm lược... 

Dấu ấn “sao vuông” thời bình

Khi đất nước hòa bình, DQTV cả nước với lực lượng đông đảo đã hăng hái tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, rà phá bom mìn, xung kích tham gia xây dựng những công trình lớn, phát triển kinh tế-xã hội... Có thể nói, trong thời bình, lực lượng DQTV thực sự là nòng cốt trong củng cố quốc phòng, an ninh ở cơ sở, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước.

Trao đổi với chúng tôi, Trung tướng Phạm Quang Ngân, Cục trưởng Cục DQTV (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) cho biết: Trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay, lực lượng DQTV tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, không ngại khó khăn, gian khổ, luôn có mặt ở những nơi hiểm nguy, nhất là mỗi khi có thiên tai, địch họa. Hằng ngày, hằng giờ, ở các địa phương, cơ sở luôn có lực lượng DQTV túc trực, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, Tổ quốc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đặc biệt, lực lượng DQTV thể hiện rõ vai trò xung kích trong thời bình thông qua tham gia lao động sản xuất, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn... Ở đâu nhân dân gặp khó khăn, hoạn nạn, ở đó có lực lượng DQTV sát cánh hỗ trợ.

Điển hình là trong đại dịch Covid-19, hàng chục triệu lượt cán bộ, chiến sĩ DQTV trên cả nước đã xung kích tham gia chống dịch ở tuyến đầu. Các chốt kiểm soát phòng dịch từ biên giới đến nội địa, tại mỗi làng, xã và cơ quan, doanh nghiệp đều có DQTV tham gia và làm nòng cốt. Lực lượng DQTV còn trực tiếp phục vụ tại hơn 10.000 khu cách ly và 120 bệnh viện dã chiến; phối hợp với lực lượng y tế và bộ đội "đến từng ngõ, gõ từng nhà" tuyên truyền, lấy mẫu xét nghiệm, kịp thời vận chuyển người bệnh đi cấp cứu, điều trị, cung cấp nhu yếu phẩm cho nhân dân. Tinh thần dấn thân, sự tận tụy, sẵn sàng hy sinh vì nhân dân của lực lượng DQTV đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

 Có thể khẳng định, 90 năm qua, mỗi chặng đường lịch sử và chiến công của dân tộc đều in đậm những đóng góp to lớn của lực lượng DQTV. Nhiều cán bộ, chiến sĩ DQTV đã anh dũng chiến đấu, hy sinh hoặc cống hiến thầm lặng cho sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định vai trò đặc biệt của DQTV: “DQTV và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”. Lịch sử đã chứng minh DQTV Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là lực lượng quần chúng vũ trang trung thành, tận tụy, đóng vai trò quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc./.
Ảnh: Dân quân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ, tháng 9-2024.
(Còn nữa)
Yêu nước ST.

“XÂY DỰNG "LÁ CHẮN THÉP" BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM”!

BÀI 2: PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP, TẠO “LÁ CHẮN THÉP” BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!
(Tiếp theo và hết)

     Trong bối cảnh quốc tế đầy biến động và sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, nền tảng tư tưởng của Đảng đang phải đối mặt với những thách thức ngày càng tinh vi và đa dạng. Tấn công tư tưởng giờ đây không chỉ là cuộc chiến truyền thống, mà là một cuộc chiến không tiếng súng trên không gian mạng, nơi mà các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ để xuyên tạc và phá hoại.

Chính vì vậy, phát huy sức mạnh tổng hợp là yêu cầu then chốt để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Sức mạnh này không chỉ là sự kết hợp các nguồn lực mà còn là khả năng kết nối và phát huy đồng bộ các trụ cột: Chính trị, pháp lý, nhân lực, công nghệ và đối ngoại.

Đảng ta đã xác định rõ ràng: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; kết hợp chặt chẽ "xây" và "chống"; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị”. Đặc biệt, công tác tổ chức cần lưu ý: “Chớ dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn”. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác, phát hiện sớm các luận điệu xuyên tạc. Tiếp nối quan điểm đó, Chiến lược An ninh mạng quốc gia đến năm 2030 (ban hành năm 2024) bổ sung: “Phải đặt trọng tâm bảo vệ từ sớm, từ xa, gắn kết sát sao giữa biện pháp công nghệ với biện pháp con người”. Các văn bản pháp lý như Luật An ninh mạng 2018 và các nghị định liên quan đã tạo ra khung pháp lý vững chắc, làm cơ sở cho việc huy động và phân bổ nguồn lực trong và ngoài nước.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, khi thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ, không gian tư tưởng của Đảng liên tục bị tấn công từ các chiến dịch thông tin sai lệch. Điều này đòi hỏi chúng ta phải phát huy sức mạnh tổng hợp từ chính trị, pháp lý, nhân lực đến công nghệ và đối ngoại, tạo dựng một “lá chắn thép” bảo vệ nền tảng tư tưởng vững chắc, đồng thời giữ gìn sự thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị.

Nghị quyết số 35-NQ/TW xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ “thường xuyên, cấp bách” của toàn Đảng. Cấp ủy các cấp cần đảm bảo nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng khi triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, phát huy tối đa vai trò các phương tiện truyền thông chính thống và nền tảng số, trang mạng xã hội do hệ thống chính trị quản lý để “xây dựng” giá trị cốt lõi và “chống” xuyên tạc, tạo thế chủ động trên mọi kênh dư luận.

Như chúng ta đã biết, để từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý - thể chế, các luật như Luật An ninh mạng 2018 đã xác lập trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin và giáo dục chính trị. Tuy nhiên, cần nhanh chóng ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn về xử lý tin giả và khủng hoảng truyền thông. Việc xây dựng quy chế phản ứng nhanh ba lớp (phát hiện - thẩm định - phản bác) giúp rút ngắn “thời gian vàng” ngăn chặn tin tức xấu lan truyền.

Nghị quyết số 26-NQ/TW yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong Quân đội để phát triển nguồn nhân lực cao hình thành đội ngũ chuyên gia “kép”, am hiểu lý luận chính trị và thành thạo an ninh mạng. Các học viện, trường sĩ quan và hệ thống báo cáo viên cần được đào tạo thường xuyên kỹ năng nhận diện và phản bác các luận điệu “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”.

Với phương châm “bảo vệ từ sớm, từ xa”, chúng ta phải tận dụng ưu thế công nghệ - kỹ thuật. Trong đó phải coi trọng việc đầu tư vào nền tảng giám sát thế hệ mới, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn giúp phát hiện sớm các chiến dịch thao túng thông tin, thao túng dư luận. Các mô phỏng tấn công lan truyền tin giả ("cyber range") giúp rèn luyện phản ứng khẩn cấp cho lực lượng an ninh, tuyên giáo, đồng thời kiểm tra hiệu quả hệ thống phòng thủ kỹ thuật theo kịch bản thực chiến.

Muốn vậy, Việt Nam cần mở rộng hợp tác quốc tế và phát huy sức mạnh mềm, chủ động tham gia vào các diễn đàn quốc tế về an ninh mạng, chia sẻ kinh nghiệm chống tin giả và tranh thủ chuyên gia quốc tế. Đồng thời, việc truyền thông đa ngôn ngữ (Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc) về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ nâng cao sự thuyết phục và tạo “hàng rào” dư luận từ bên ngoài.

Những giải pháp nêu trên tạo thành một chỉnh thể hữu cơ. Khi được triển khai đồng bộ và có cơ chế đánh giá định kỳ, chúng sẽ loại bỏ các “điểm nghẽn” trong phòng thủ tư tưởng. Mỗi cấp ủy, tổ chức, cơ quan phải xem bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ trung tâm, ưu tiên nguồn lực chính trị, pháp lý, nhân lực, công nghệ và ngoại giao để giữ vững trận địa tư tưởng, phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch, và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Bộ Tư lệnh 86 không hoạt động một cách tách biệt mà là phần quan trọng trong một cơ chế liên ngành chặt chẽ, nơi sự phối hợp chiến lược giữa các bộ, ngành và địa phương tạo thành một "lá chắn thép" bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ việc hoạch định chiến lược đến triển khai thực tiễn, các lực lượng này kết hợp, tối ưu hóa hiệu quả bảo vệ tư tưởng qua một mạng lưới an ninh tư tưởng toàn diện. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua Mạng quan trắc dư luận xã hội của Bộ Thông tin & Truyền thông (nay là Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch), với sự tham gia của Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Cục A05, Bộ Công an) và Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, giúp tăng cường khả năng phát hiện và phản ứng nhanh chóng. Đến cuối năm 2023, 80% quy trình tác chiến mạng đã được số hóa, với hơn 200 đợt diễn tập, rút ngắn 40% thời gian phản ứng, đưa hiệu quả phòng chống tin giả lên tầm cao mới.

Chiến lược bảo vệ tư tưởng của Đảng được triển khai qua bốn lớp phối hợp đồng bộ. Cấp chiến lược do Ban Bí thư lãnh đạo, tạo nền tảng chính sách, trong khi Bộ tư lệnh 86 phối hợp với Cục A05 và Cục An toàn Thông tin (Bộ Khoa học và Công nghệ) thực hiện các kịch bản phản công kép: vừa vô hiệu hóa thông tin xấu, vừa lan tỏa thông tin chính thống. Tầng kỹ thuật sử dụng nền tảng “Tri thức đỏ”, SOC, tường lửa tư tưởng, và công nghệ tiên tiến như CDR và blockchain để xử lý dữ liệu tức thời. Cuối cùng, tại cấp cơ sở, các đội phản ứng nhanh đa ngành được huấn luyện, phối hợp chặt chẽ giữa quân đội, công an và CNTT, giúp khoanh vùng và phản bác tin giả ngay tại "tuyến đầu", đảm bảo mọi chiến dịch đều được xử lý kịp thời, hiệu quả.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đất nước đang vươn lên mạnh mẽ trong thời đại số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở thành nhiệm vụ quan trọng bậc nhất. Điều này không chỉ yêu cầu củng cố bản lĩnh chính trị và sức đề kháng tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, mà còn phải chủ động thích ứng với những tiến bộ của internet, mạng xã hội, nhận diện và phản bác kịp thời các quan điểm sai trái. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần phải đổi mới, lan tỏa cảm hứng thay vì chỉ áp đặt. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa công nghệ, pháp luật và ngoại giao cần được triển khai đồng bộ, tạo thành một thế trận liên ngành vững mạnh. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, làm chủ công nghệ để trở thành “thế trận toàn dân” trong cuộc chiến bảo vệ tư tưởng của Đảng.

Vấn đề có tính then chốt là phải tăn g cường “sức đề kháng” tư tưởng trong Đảng và xã hội. Muốn vậy, trước hết phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và đạo đức. Theo Văn kiện Đại hội XIII, công tác giáo dục lý luận chính trị cần đổi mới, kết hợp linh hoạt giữa hình thức truyền thống và số hóa, đảm bảo mọi đảng viên thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần lồng ghép vào sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt đoàn thể và các mô hình câu lạc bộ giá trị sống tại cơ sở, kết hợp với khảo sát và phản hồi để điều chỉnh kịp thời. Cấp ủy các cấp phải tăng cường giám sát nội dung tư tưởng trên các kênh truyền thông nội bộ, việc sử dụng mạng xã hội cá nhân của cán bộ, đảng viên để phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị.

Vấn đề có tính quan trọng là chủ động định hướng dư luận trên không gian mạng. Không gian mạng là “mặt trận thứ năm” trong kỷ nguyên vươn mình dân tộc, đầy thách thức và cơ hội. Cần thiết lập một hệ sinh thái truyền thông đa nền tảng của các cơ quan Đảng, Nhà nước, sử dụng trí tuệ nhân tạo và Big Data để phân tích dư luận theo thời gian thực, phát hiện sớm tin giả và khủng hoảng truyền thông. Cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên có kỹ năng truyền thông số, có khả năng xử lý nhanh các bình luận tiêu cực và thường xuyên tổ chức livestream, tọa đàm trực tuyến để giải đáp thắc mắc, giải tỏa thông tin sai lệch.

Bên cạnh đó, phát huy vai trò báo chí, văn học-nghệ thuật và giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng. Báo chí, văn học, nghệ thuật và giáo dục là những công cụ sắc bén trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Báo chí phải trung thực, phản ánh thực tiễn cuộc sống, phê phán tiêu cực và làm nổi bật những giá trị tích cực của xã hội.

Để thu hút giới trẻ, cần khuyến khích các hình thức truyền thông hiện đại như infographics, video ngắn trên TikTok, Instagram. Ngành văn học-nghệ thuật cần chú trọng sản xuất các tác phẩm tuyên truyền lịch sử và những chân dung cách mạng với dung lượng và chất lượng phù hợp để đăng tải trên môi trường mạng xã hội. Đồng thời, ngành giáo dục tích hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng vào chương trình học và tổ chức các cuộc thi sáng tạo nhằm khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, vun đắp niềm tin và xây dựng ý thức cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo và Dân vận hay các cơ quan quốc phòng, an ninh mà là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội. Mỗi cấp ủy, mỗi cơ quan cần phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền tảng tư tưởng, tạo ra một chiến lược phòng thủ tư tưởng toàn diện.

Bên cạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng và an toàn thông tin, cần phải nâng cao hiệu quả thực thi và hợp tác tư pháp quốc tế: Việt Nam cần đẩy mạnh ký kết các điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm công nghệ cao và triển khai cơ chế chia sẻ dữ liệu điện tử phục vụ điều tra xuyên biên giới, phối hợp với các đối tác quốc tế trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia trên không gian mạng.

Cùng với việc bảo vệ bản quyền số và dữ liệu chiến lược, cần có những giải pháp công nghệ, kỹ thuật, an ninh, an toàn. Muốn vậy, trước hết phải coi trọng xây dựng hệ thống cảnh báo sớm “Tri thức đỏ” sử dụng Big Data và AI để thu thập và phân tích dữ liệu từ mạng xã hội, diễn đàn, báo điện tử, các nguồn từ internet. Hệ thống sẽ nhận diện thông tin sai lệch, tin giả và cảnh báo kịp thời cho các cấp chỉ đạo qua giao diện trực quan.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, khi công nghệ và không gian mạng ngày càng chi phối mọi mặt đời sống xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là nhiệm vụ cấp bách, là trách nhiệm của toàn xã hội. Cuộc chiến tư tưởng không còn giới hạn trong không gian vật lý mà đã lan tỏa vào không gian mạng, nơi các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng công nghệ để tấn công, xuyên tạc và phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Trong không gian mạng, nơi thông tin lan tỏa với tốc độ chóng mặt, sự kết hợp nhịp nhàng của các lực lượng chính trị, pháp lý, công nghệ và an ninh, an toàn - sẽ giúp bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên một "mạng lưới bảo vệ tư tưởng" kiên cố. Chính trị - tư tưởng hun đúc niềm tin kiên cường; pháp lý mạnh mẽ xử lý mọi hành vi xuyên tạc; công nghệ trí tuệ nhân tạo và Big Data giúp phát hiện, cảnh báo sớm các mối đe dọa; trong khi an ninh, an toàn mạng bảo vệ hạ tầng số, bảo vệ từng “tuyến phòng thủ” trong mặt trận tư tưởng.

Mô hình phối hợp liên ngành từ Ban Chỉ đạo chiến lược đến các đội phản ứng nhanh đã chứng minh sức mạnh cộng hưởng không thể phá vỡ. Những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, với việc rút ngắn thời gian phản ứng và nâng cao tính chính xác, minh bạch của thông tin, khẳng định sự chủ động trong chiến lược phòng thủ tư tưởng.

Chỉ khi toàn xã hội đồng lòng, quyết tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta mới có thể vững vàng tiến bước, đưa đất nước phát triển bền vững trong kỷ nguyên số, không chỉ giữ gìn mà còn làm phong phú thêm những giá trị cốt lõi, tạo dựng một tương lai mạnh mẽ, đoàn kết và thịnh vượng./.
Ảnh: Trung tâm 386 tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho các lực lượng tại Ban chỉ đạo 35 tỉnh Ninh Thuận, nay là tỉnh Khánh Hòa.
Môi trường ST.

“XÂY DỰNG "LÁ CHẮN THÉP" BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM”!

BÀI 1: MẶT TRẬN KHÔNG TIẾNG SÚNG TRONG kỷ NGUYÊN VƯƠN MÌNH! 

     Trong kỷ nguyên vươn mình, khi đất nước bước vào Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, mặt trận tư tưởng đã chuyển trọng tâm lên không gian mạng. Các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ để xuyên tạc và làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bài viết đề xuất xây dựng một "lá chắn thép" tổng hòa giữa chính trị, pháp lý và công nghệ. Trong thời đại số, việc bảo vệ tư tưởng Đảng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Hệ thống bảo vệ tư tưởng này không chỉ giúp duy trì sự ổn định chính trị mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững, đưa đất nước vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số.


Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam - không chỉ là kỷ nguyên của sự phát triển mạnh mẽ mà còn có những thử thách cam go. Trong xu thế chuyển đổi số, công nghệ và không gian mạng trở thành những công cụ sắc bén, chúng ta không chỉ phải đối mặt với nguy cơ các cuộc chiến vũ trang hay xung đột biên giới mà còn là một cuộc chiến âm thầm nhưng không kém phần khốc liệt: Cuộc chiến tư tưởng.


Trên "mặt trận không tiếng súng", các thế lực thù địch sử dụng công nghệ để xuyên tạc, chia rẽ, và phá hoại niềm tin của người dân vào Đảng và chính quyền. Những cuộc tấn công không cần súng đạn, nhưng chúng lại có sức mạnh phá hủy nền tảng tư tưởng, làm lung lay sự ổn định về chính trị và xã hội.


Trong bối cảnh đó, một "lá chắn thép" bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là một khái niệm, mà là yêu cầu sống còn. Đây là thời điểm để vươn mình mạnh mẽ, xây dựng một hệ thống phòng thủ toàn diện, không chỉ từ những biện pháp chính trị, pháp lý mà còn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa công nghệ tiên tiến và trí tuệ con người. Đó là “lá chắn thép” bảo vệ những giá trị cốt lõi của Đảng, giúp chúng ta kiên cường đứng vững trước những thử thách trong kỷ nguyên mới.


Mặt trận không tiếng súng này đòi hỏi mỗi công dân, mỗi đảng viên phải là một chiến sĩ kiên cường, sẵn sàng bảo vệ tư tưởng, bảo vệ niềm tin và bảo vệ đất nước trước những âm mưu chia rẽ từ bên ngoài và bên trong. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, nơi công nghệ và con người hòa quyện, chính là cơ hội và thử thách để xây dựng một "lá chắn thép" vững chắc, đưa đất nước tiến lên tầm cao mới, không chỉ giữ gìn mà còn phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ hệ thống giá trị, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, là khi đất nước đang bước vào thời đại mới với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và toàn cầu hóa, nhiệm vụ này càng trở thành cấp bách, không thể chậm trễ. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta không chỉ cần ngăn chặn các luận điệu sai trái, xuyên tạc và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn phải làm sáng tỏ bản sắc, giá trị cốt lõi, từ đó nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Phạm vi bảo vệ nền tảng tư tưởng trải rộng từ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị qua các phương tiện truyền thông, đến việc thiết lập hệ thống giám sát và phân tích thông tin trên không gian mạng, bảo vệ an toàn cơ sở dữ liệu quốc gia.


Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam cũng là thời đại của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, nơi mà internet vạn vật, truyền thông xã hội, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn tạo ra một môi trường thông tin toàn cầu, có sức lan tỏa nhanh chóng, nhưng cũng là nơi khởi phát của "chiến tranh thông tin" với tin giả, video deepfake và các chiến dịch sử dụng botnet để phát tán thông tin độc hại. Các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng công nghệ để khuếch đại luận điệu xuyên tạc, gây hoang mang dư luận và làm suy yếu sức đề kháng tư tưởng của xã hội. Chính vì vậy, ngoài công tác tuyên truyền, việc thiết lập cơ chế giám sát liên tục, cảnh báo sớm và phản bác kịp thời thông qua các công cụ kỹ thuật tiên tiến là yếu tố then chốt góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng.


Nhìn lại lịch sử, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cả Liên Xô và Mỹ đều xây dựng các hệ thống tuyên truyền và pháp lý chặt chẽ để bảo vệ niềm tin xã hội. Gần đây, Liên minh châu Âu đã ban hành “Digital Services Act” để tăng cường trách nhiệm của các nền tảng số trong việc kiểm soát nội dung xấu, trong khi Trung Quốc triển khai “Tường lửa vĩ đại” và chiến lược tuyên truyền chủ động. Các quốc gia Á Đông phát triển khác như Nhật Bản và Hàn Quốc cũng áp dụng cơ chế hợp tác công-tư để truy vết và xử lý tin giả. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế và kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị - tư tưởng, pháp lý và ứng dụng công nghệ sẽ là bài học quý giá để Việt Nam hoàn thiện cơ chế bảo vệ nền tảng tư tưởng, phù hợp với thể chế, văn hóa và pháp luật trong kỷ nguyên vươn mình.


Trong dòng chảy mạnh mẽ của toàn cầu hóa và kỷ nguyên số, nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ đứng trước cơ hội được khẳng định, củng cố, lan tỏa mà còn phải đối mặt với những thử thách gay gắt mang tính toàn cầu. Khi các thế lực thù địch không ngừng thay đổi hình thức, công cụ và thủ đoạn chống phá, việc nhận diện rõ bản chất của chúng trở thành yếu tố theo chốt để bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng.


Bản chất của các thế lực này không chỉ là những tổ chức phản động lưu vong hay nhóm, cá nhân bất mãn chính trị cụ thể trong nước, mà là các chiến dịch chống phá, đứng sau là một mạng lưới phức tạp, đan xen lợi ích, bao gồm các tổ chức phản động người Việt, cơ quan truyền thông quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài mang danh “bảo vệ dân chủ, nhân quyền” và những phần tử cơ hội chính trị trong nước. Họ không hành động đơn lẻ mà liên kết thành một mạng lưới có tổ chức, được hậu thuẫn về thể chế, tài chính, công nghệ và truyền thông từ những thế lực chống chủ nghĩa xã hội, tạo thành một “chiến tuyến mềm” nhắm trực diện vào niềm tin, ý chí và bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân.


Nếu trước đây, các thế lực thù địch thường tập trung tấn công vào những vấn đề lịch sử, lãnh tụ và chủ quyền lãnh thổ, thì ngày nay, phương thức chống phá đã được đẩy lên một tầm mức cao hơn: Tấn công trực tiếp vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng tìm mọi cách phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước, đồng thời gieo rắc hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Không bắt đầu bằng những vấn đề lý luận vĩ mô, các thế lực này chuyển hướng khai thác những vấn đề nhạy cảm, những vụ việc cụ thể phát sinh trong đời sống, từ tranh chấp đất đai, ô nhiễm môi trường, ứng phó dịch bệnh, các vụ việc từ nhũng nhiễu đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cho đến những hiện tượng mới trong tôn giáo, xung đột sắc tộc. Chính sự len lỏi vào những vấn đề thiết thân này khiến các luận điệu chống phá trở nên nguy hiểm, bởi chúng trực tiếp tác động đến niềm tin, làm "rung chuyển" nhận thức của một bộ phận người dân.


Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, không gian mạng đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch gieo rắc những âm mưu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Không giống như các phương thức truyền thống, cuộc tấn công trong kỷ nguyên số không cần đến súng đạn, không cần vượt qua biên giới vật lý, mà chỉ cần vài dòng trạng thái, một video livestream hoặc được cắt ghép tinh vi hay một loạt bài viết đầy kích động. Các thế lực thù địch này đã và đang tận dụng mọi thành tựu công nghệ, từ trí tuệ nhân tạo, big data, botnet đến deepfake, để hình thành chiến tranh thông tin trên môi trường mạng, gia tăng sức công phá, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Mục tiêu của chúng không chỉ đơn thuần là bôi nhọ một cá nhân lãnh đạo, mà còn là làm suy yếu sức đề kháng tư tưởng của xã hội, khiến người dân mất phương hướng, hoài nghi về chính thể, từng bước đẩy xã hội vào trạng thái “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”.


Điều đặc biệt nguy hiểm trong kỷ nguyên vươn mình này là các hoạt động chống phá không còn giới hạn trong một lĩnh vực hay phạm vi cụ thể. Chúng đan xen, phối hợp trên nhiều mặt trận: Từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến không gian mạng, từ thành thị đến nông thôn. Một video lan truyền trên mạng xã hội có thể tạo ra ngay lập tức một “làn sóng phẫn nộ” ngoài đời thực; một bài báo xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông quốc tế có thể trở thành công cụ gây sức ép ngoại giao; một nhóm nhỏ kêu gọi bất tuân dân sự trên mạng có thể biến thành các cuộc tụ tập, gây rối ngoài đường phố. Chính sự tinh vi trong phối hợp này khiến việc chống phá nền tảng tư tưởng không còn là chuyện xa vời, mà đã xâm nhập vào tận các ngõ ngách của đời sống xã hội.


Đằng sau mọi hành động này là âm mưu thâm sâu: Phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc, kích động bất ổn xã hội và cuối cùng, tiến tới làm xói mòn nền tảng chính trị, chuyển hóa chế độ. Các thế lực thù địch hiểu rõ rằng một xã hội thiếu niềm tin chính trị sẽ dễ dàng rơi vào khủng hoảng. Chính vì vậy, cuộc chiến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là cuộc chiến bảo vệ niềm tin, bảo vệ sự ổn định và bảo vệ chính nghĩa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.


Trong bối cảnh ấy, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là phát hiện, phản bác và xử lý từng đối tượng hay vụ việc cụ thể, mà quan trọng hơn là xây dựng một thế trận phòng thủ tư tưởng toàn diện. Một thế trận mang tính tổng thể, dựa trên sự tỉnh táo và ý thức của toàn xã hội, trên bản lĩnh chính trị vững vàng của cán bộ, đảng viên, khả năng làm chủ công nghệ, và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng: chính trị, pháp luật, an ninh, giáo dục, truyền thông và ngoại giao. Khi sức mạnh tổng hợp này được phát huy, khi mỗi người dân trở thành một "chiến sĩ" bảo vệ niềm tin, khi mỗi cơ quan, đoàn thể trở thành một "pháo đài tư tưởng", khi toàn xã hội vững vàng trở thành một “lá chắn thép”, thì dù các âm mưu, thủ đoạn chống phá có tinh vi đến đâu, chúng cũng không thể xuyên thủng./.

Ảnh: Lãnh đạo Bộ tư lệnh 86 trao Bằng khen tặng các tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết số 35, xứng đáng là lực lượng "lá chắn thép" bảo vệ những giá trị cốt lõi của Đảng.

(Còn nữa)

Môi trường ST.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM Thứ tư - 09/04/2025 16:04 Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược; đồng thời, là mục tiêu, nhiệm vụ, động lực quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”[1]. Khẩu hiệu đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam vận dụng trong mọi giai đoạn lịch sử. Người nhấn mạnh, sức mạnh của dân tộc là sức mạnh của toàn thể nhân dân, mọi tầng lớp, mọi dân tộc, mọi tôn giáo trên nền tảng liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Cùng với việc xác định lực lượng khối đại đoàn kết, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên tắc, phương pháp cơ bản thực hiện đại đoàn kết dân tộc là phải lấy mục tiêu chung của cách mạng cùng những điểm tương đồng để quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Bởi theo Người, ở mỗi người dân Việt Nam, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào ít nhiều đều có lòng yêu nước, đều mưu cầu độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, tìm cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa để hóa giải những khác biệt. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đại đoàn kết dân tộc phải hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng. Để làm được điều đó, phải quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tổ chức thống nhất, đó chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức; hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và mở rộng. Người chỉ rõ nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp. Phải luôn giữ vững quan điểm “dân là gốc”, tin vào dân, dựa vào dân, vì nhân dân. Đoàn kết tự giác, tự nguyện, thành thật, đoàn kết lâu dài. Đồng thời cần nhận diện và phân hóa lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng để có phương pháp ứng xử phù hợp, góp phần củng cố và phát triển phong trào cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa to lớn và mang tính thời sự sâu sắc cho sự nghiệp cách mạng. Do đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết thời kỳ đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yếu tố quyết định để đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, đặc biệt trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Từ kinh nghiệm lịch sử và yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước, tại Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”[2]. Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu, làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở lý luận để vận dụng trong xây dựng khối đại đoàn toàn dân tộc; qua đó, khơi dậy và phát huy nguồn sức mạnh nội sinh to lớn của đất nước trên cơ sở khơi dậy và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiện nay, thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường, trong khi tình hình trong nước cũng chứng kiến những thay đổi sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với những âm mưu, thủ đoạn chống phá từ các thế lực thù địch, chúng tập trung phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, trọng tâm then chốt tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa với mưu đồ làm tan rã niềm tin, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới “tự chuyển hóa” xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa... Trước thực tế đó, Đảng ta xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung mới để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh, khát vọng cống hiến của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời xác định quan điểm, đường lối nhất quán trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”[3] nhằm đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/ TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII về phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra Nghị quyết số 43- NQ/TW, ngày 24/11/2023 “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” với những quan điểm nhất quán: đại đoàn kết dân tộc là sợi chỉ đỏ, truyền thống quý báu, chủ trương, đường lối quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại được thực hiện có hiệu quả. Đồng thời, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, quyền làm chủ của người dân được thực hiện trên thực tế, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo trong các phong trào thi đua yêu nước... Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn sức mạnh nội sinh vững chắc, trở thành động lực to lớn giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử to lớn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[4]. Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác tổng kết nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết trong thời kì đổi mới còn chậm, thiếu toàn diện, đồng bộ. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn bất cập. Chủ trương về tổ chức thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế; chưa bảo đảm cho nhân dân tham gia đầy đủ vào quá trình quyết định chính sách; còn bị động, lúng túng trước một số vấn đề mới phát sinh. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn một số hạn chế. Các thế lực thù địch, phản động dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân... Do đó, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay là điều kiện quan trọng, tiên quyết góp phần xây dựng và phát triển đất nước bền vững. Để tiếp việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết hiệu quả hơn, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh ở các cấp, từ trung ương đến địa phương. Đưa nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông, đại học và các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Hai là, củng cố vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tăng cường tổ chức các phong trào, hoạt động cộng đồng như: Chương trình “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” tại các khu dân cư, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc để gần dân, sát dân hơn; lắng nghe và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Ba là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí để củng cố lòng tin của nhân dân. Khuyến khích cán bộ thực hành “nói đi đôi với làm”, gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời các bức xúc của nhân dân. Nâng cao ý thức, trách nhiệm trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Để thực hiện hiệu quả nội dung này cần quán triệt sâu sắc tinh thần của Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới... Bốn là, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Triển khai mạnh mẽ quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát và phản biện chính sách. Tăng cường công tác đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân. Năm là, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử dân tộc để củng cố lòng tin vào Đảng, Nhà nước. Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, đúng đắn về các vấn đề xã hội để người dân không bị lôi kéo bởi thông tin sai lệch. Tận dụng các nền tảng số để phản bác thông tin sai lệch, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc. Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc không ngừng hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng đã không ngừng nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, tinh thần đại đoàn kết dân tộc được phát huy mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh to lớn để toàn dân chung tay đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, tận dụng cơ hội, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./. [1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 119. [2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 51, tr. 147. [3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110. [4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 104. Ths. Phùng Thị Thu Giảng viên khoa Xây dựng Đảng Những tin cũ hơn TỈNH CAO BẰNG NỖ LỰC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN “HỖ TRỢ PHỤ NỮ KHỞI NGHIỆP

       Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược; đồng thời, là mục tiêu, nhiệm vụ, động lực quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”[1]. Khẩu hiệu đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam vận dụng trong mọi giai đoạn lịch sử. Người nhấn mạnh, sức mạnh của dân tộc là sức mạnh của toàn thể nhân dân, mọi tầng lớp, mọi dân tộc, mọi tôn giáo trên nền tảng liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
       Cùng với việc xác định lực lượng khối đại đoàn kết, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên tắc, phương pháp cơ bản thực hiện đại đoàn kết dân tộc là phải lấy mục tiêu chung của cách mạng cùng những điểm tương đồng để quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Bởi theo Người, ở mỗi người dân Việt Nam, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào ít nhiều đều có lòng yêu nước, đều mưu cầu độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, tìm cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa để hóa giải những khác biệt. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đại đoàn kết dân tộc phải hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng. Để làm được điều đó, phải quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tổ chức thống nhất, đó chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức; hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và mở rộng. Người chỉ rõ nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp. Phải luôn giữ vững quan điểm “dân là gốc”, tin vào dân, dựa vào dân, vì nhân dân. Đoàn kết tự giác, tự nguyện, thành thật, đoàn kết lâu dài. Đồng thời cần nhận diện và phân hóa lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng để có phương pháp ứng xử phù hợp, góp phần củng cố và phát triển phong trào cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa to lớn và mang tính thời sự sâu sắc cho sự nghiệp cách mạng. Do đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết thời kỳ đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yếu tố quyết định để đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, đặc biệt trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
       Từ kinh nghiệm lịch sử và yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước, tại Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”[2]. Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu, làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở lý luận để vận dụng trong xây dựng khối đại đoàn toàn dân tộc; qua đó, khơi dậy và phát huy nguồn sức mạnh nội sinh to lớn của đất nước trên cơ sở khơi dậy và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
       Hiện nay, thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường, trong khi tình hình trong nước cũng chứng kiến những thay đổi sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với những âm mưu, thủ đoạn chống phá từ các thế lực thù địch, chúng tập trung phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, trọng tâm then chốt tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa với mưu đồ làm tan rã niềm tin, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới “tự chuyển hóa” xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa... Trước thực tế đó, Đảng ta xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung mới để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh, khát vọng cống hiến của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời xác định quan điểm, đường lối nhất quán trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”[3] nhằm đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
       Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/ TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII về phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra Nghị quyết số 43- NQ/TW, ngày 24/11/2023 “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” với những quan điểm nhất quán: đại đoàn kết dân tộc là sợi chỉ đỏ, truyền thống quý báu, chủ trương, đường lối quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại được thực hiện có hiệu quả. Đồng thời, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, quyền làm chủ của người dân được thực hiện trên thực tế, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo trong các phong trào thi đua yêu nước... Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn sức mạnh nội sinh vững chắc, trở thành động lực to lớn giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử to lớn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[4].
       Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác tổng kết nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết trong thời kì đổi mới còn chậm, thiếu toàn diện, đồng bộ. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn bất cập. Chủ trương về tổ chức thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế; chưa bảo đảm cho nhân dân tham gia đầy đủ vào quá trình quyết định chính sách; còn bị động, lúng túng trước một số vấn đề mới phát sinh. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn một số hạn chế. Các thế lực thù địch, phản động dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân... Do đó, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay là điều kiện quan trọng, tiên quyết góp phần xây dựng và phát triển đất nước bền vững. Để tiếp việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết hiệu quả hơn, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
        Một là, nâng cao nhận thức về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh ở các cấp, từ trung ương đến địa phương. Đưa nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông, đại học và các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị.
       Hai là, củng cố vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tăng cường tổ chức các phong trào, hoạt động cộng đồng như: Chương trình “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” tại các khu dân cư, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc để gần dân, sát dân hơn; lắng nghe và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
       Ba là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí để củng cố lòng tin của nhân dân. Khuyến khích cán bộ thực hành “nói đi đôi với làm”, gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời các bức xúc của nhân dân. Nâng cao ý thức, trách nhiệm trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Để thực hiện hiệu quả nội dung này cần quán triệt sâu sắc tinh thần của Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới...
       Bốn là, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Triển khai mạnh mẽ quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát và phản biện chính sách. Tăng cường công tác đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân.
       Năm là, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử dân tộc để củng cố lòng tin vào Đảng, Nhà nước. Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, đúng đắn về các vấn đề xã hội để người dân không bị lôi kéo bởi thông tin sai lệch. Tận dụng các nền tảng số để phản bác thông tin sai lệch, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc.
       Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc không ngừng hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng đã không ngừng nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, tinh thần đại đoàn kết dân tộc được phát huy mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh to lớn để toàn dân chung tay đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, tận dụng cơ hội, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
----------
[1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 119.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 51, tr. 147.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 104.
Yêu nước ST.

HÃY ĐẬP TAN THỨ DÂN CHỦ GIẢ HIỆU NÀY!

     Mấy hôm nay, tai nước Gruzia nhỏ bé, sát nách Nga, P Tây kích động một số người dân nước này làm CM lật đổ chính phủ dân bầu vì dám chống lại ý đồ của P Tây, thành lập mặt trận mới chống Nga, những kẻ bạo loạn, xông vào Dinh Tổng thống Gruzia, ngay lập tức vị Thủ tướng trẻ đã ra tối hậu thư cứng rắn, cảnh báo "những kẻ vô luật pháp sẽ phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng", các lực lượng an ninh của Georgia đã được chuẩn bị rất kỹ tình mọi tình huống, họ đã sử dụng hơi cay vòi rồng và các công cụ chống bạo loạn, dập tắt cuộc bạo loạn nhằm lật đổ chính quyền hợp pháp. Hàng chục kẻ tổ chức đã bị bắt giữ ngay sau đó. 

Thủ tướng Irakli Kobakhidze tuyên bố, đồng thời thề rằng bất kỳ ai cố gắng lật đổ giới lãnh đạo dân cử của Gruzia đều sẽ thất bại. Ông thẳng thắn nêu tên họ "một số điệp viên nước ngoài", mà người ta biết thừa chúng là những kẻ ngoại quốc, những kiến trúc sư nổi tiếng CM màu thường thấy ẩn náu dưới danh nghĩa dân chủ và cái vỏ bọc "xã hội dân sự".

Đừng hiểu lầm, đây không phải là một cuộc biểu tình tự phát. Đây là một chiến dịch chiến tranh lai tạp thứ dân chủ giả cầy nhằm mục đích làm chệch hướng một chính phủ không chịu khuất phục. Đó chính xác là lý do tại sao giới tinh hoa phương Tây không thể chịu đựng được điều này. Bởi vì khi một quốc gia nhỏ bé đứng vững và đó sự thách thức, nó sẽ luôn tạo ra sự bất đồng chính kiến. Ở Ireland, chúng ta nhớ đến Hiệp ước Lisbon và việc chúng ta được yêu cầu bỏ phiếu hết lần này đến lần khác, cho đến khi chúng ta đưa ra được câu trả lời đúng cho Brussels. Họ nói rằng dân chủ là thiêng liêng, nhưng kiểu dân chủ kép cần được hiểu dân chủ theo cách của họ... nếu không bạn sẽ trở thành bất đồng chính kiến khi trái quan điểm với họ.

Câu chuyện của Gruzia giờ đây phơi bày thứ dân chủ giả hiệu và sự đạo đức giả của P Tây. Khi ý chí của người dân nước này không phục vụ lợi ích của EU hay NATO, ngay và luôn thứ "dân chủ" đột nhiên trở thành các vụ bạo loạn hay nói một cách đó là thứ cách mạng màu Hãy nhắc đến các tổ chức phi chính phủ, sự phẫn nộ của truyền thông, mô hình cách mạng màu. Và cũng hãy nhắc đến cái lối nói "đây là lỗi của Nga". Nhưng lần này, kịch bản đang sụp đổ. 

Người dân Gruzia đã chán ngấy việc bị các nhà kỹ trị không được bầu ở châu Âu thuyết giảng. lên lớp về dân chủ và họ nhớ đến Nam Tư, Maidan, Rumani, Moldova, những kẻ đã biến dân chủ thành thứ "tự do" làm loạn, thành thứ vũ khí để nô dịch các quốc gia khác khi trở thành những quốc gia bất đồng chính kiến. TT Kobakhidze không chỉ bảo vệ chính phủ của mình, mà còn bảo vệ nguyên tắc rằng, một dân tộc có chủ quyền có quyền tự quyết, quyết định hướng đi, con đường của mình đã chọn, không bị thao túng, ràng buộc, bởi các tổ chức phi chính phủ phương Tây. 

Cứ để giới tinh hoa nổi giận. Cứ để báo chí thứ lá cải của truyền thông P Tây gào thét. Sự thức tỉnh của Gruzia hòa vào tiếng nói chung ngày càng lớn mạnh từ Serbia, Hungary đến Slovakia, những quốc gia đã quá mệt mỏi vì bị những kẻ hiếu chiến, phản dân chủ đã biến ý nghĩa tốt đẹp của dân chủ, thành vũ khí dạy bảo về tự do.

Khi một dân tộc giành lại tiếng nói của mình, đế chế rung chuyển. Và đêm nay, từ Tbilisi đến Belgrade, bạn có thể cảm nhận được sự rung chuyển đó./.
Khuyết danh ST.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC!

     Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là nền tảng chiến lược, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đoàn kết là sức mạnh, là “điều kiện tiên quyết để thành công”. Vận dụng tư tưởng đó trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi Đảng, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị, các giai tầng xã hội kiên trì củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở tôn trọng sự đa dạng, đề cao lợi ích chung, bảo đảm công bằng, dân chủ và phát triển bền vững. Bài viết làm rõ những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn hiện nay và đề xuất định hướng vận dụng phù hợp trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những tư tưởng lớn, xuyên suốt và nhất quán trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” - một lời hiệu triệu mang giá trị trường tồn, khái quát vai trò sống còn của tinh thần đoàn kết đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Trong tư tưởng của Người, đại đoàn kết không chỉ là mục tiêu, mà còn là phương thức, là động lực để tập hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, bất kể thành phần, tôn giáo, dân tộc hay tầng lớp xã hội, cùng hướng tới lợi ích chung vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và hạnh phúc của Nhân dân. Tư tưởng đó đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo qua các thời kỳ lịch sử, trở thành sợi chỉ đỏ trong đường lối lãnh đạo cách mạng, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về hội nhập quốc tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và bảo đảm công bằng xã hội, thì vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc càng trở nên cấp thiết.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết - nội dung cốt lõi và giá trị nền tảng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết (ĐĐK) được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước, nhân văn và khoan dung của dân tộc Việt Nam, kết hợp với thế giới quan cách mạng và chủ nghĩa nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ĐĐK là sự nghiệp của toàn dân, là sức mạnh tổng hợp từ sự liên kết, thống nhất giữa các giai tầng, các dân tộc, các tôn giáo, mọi thành phần trong xã hội trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng hướng tới mục tiêu chung là độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.

Người nhấn mạnh, đoàn kết không phải là khẩu hiệu hình thức, mà phải trở thành nguyên tắc hành động, được thể chế hóa bằng chính sách cụ thể, được thực hiện thông qua thực tiễn vận động quần chúng. Đại đoàn kết phải dựa trên nền tảng lợi ích dân tộc, đặt quyền lợi Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, kết hợp hài hòa lợi ích các giai tầng trong xã hội. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vai trò của Mặt trận Dân tộc Thống nhất như một hình thức tổ chức chủ đạo để thực hiện ĐĐK toàn dân.

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐK là hệ thống những luận điểm, mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp giáo dục, tổ chức hướng dẫn hành động của Người với các lực lượng cách mạng, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc, sức mạnh quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đó chính là chiến lược xây dựng, củng cố, mở rộng, tăng cường lực lượng cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Tư tưởng ĐĐK Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết ở chỗ: Đại đoàn kết là sức mạnh, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định sự thành công của cách mạng. Người cho rằng đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh bởi đoàn kết, ĐĐK là sự tập hợp và phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Nhưng đây không phải là sự tập hợp rời rạc của các phép cộng giản đơn mà luôn có sự tuyên truyền vận động, giáo dục, giác ngộ, hướng dẫn, tổ chức quần chúng thành lực lượng thống nhất để tạo nên sức mạnh vô địch chống mọi kẻ thù. Người nói: ĐĐK là “sức mạnh”(1), là “lực lượng”(2), “là then chốt của sự thành công”(3), đoàn kết là “điểm mẹ”, “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”(4).

Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là nội dung tư tưởng lớn, cơ bản xuyên suốt, nhất quán trong suốt cuộc đời hoạt động lý luận và thực tiễn của Người. Đồng thời, đó cũng là đường lối chiến lược của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhờ đó Đảng ta đã xây dựng được khối ĐĐK toàn dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một chủ trương, một chiến lược xuất phát từ sự cần thiết, từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh đạo cách mạng, mà là sự đúc kết từ những nhu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng do quần chúng tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những nhu cầu đòi hỏi khách quan của quần chúng từ sự tự phát thành tự giác, thành hiện thực, có tổ chức, có sức mạnh. Người nhấn mạnh: đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng “dân” và lấy “dân” là trung tâm, là gốc rễ, là nền tảng, là chủ thể, là nguồn sức mạnh vô tận của khối ĐĐK, quyết định thành bại của cách mạng. Theo Người, ĐĐK toàn dân là tập hợp mọi người dân không phân biệt giới tính, lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo… kể cả người Việt Nam ở nước ngoài hay những người lầm đường lạc lối đã biết hối cải trở về với chính nghĩa, miễn là người Việt Nam yêu nước vào thành một khối thống nhất của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong khối ĐĐK đông đảo, rộng rãi ấy, Người sắp xếp vị trí, vai trò của từng giai cấp một cách đúng đắn, khoa học, trong đó, giai cấp công nhân, nông dân, trí thức là nòng cốt của khối ĐĐK, để tập hợp các lực lượng tiến bộ khác. Liên minh này được coi là xương sống, là sức mạnh của khối ĐĐK. Người ví “Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây”, “Nền có vững nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi”(5). Tổ chức thể hiện khối ĐĐK toàn dân tộc chính là Mặt trận Dân tộc thống nhất (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Cho dù tên gọi của Mặt trận qua các thời kỳ có khác nhau, nhưng thực chất là một tổ chức chính trị rộng rãi, có vai trò vận động quần chúng đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam vì mục tiêu hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, cùng nhau bàn bạc đi đến nhất trí, loại trừ mọi sự áp đặt hoặc dân chủ hình thức. Trong đại đoàn kết phải có vai trò lãnh đạo của Đảng. Muốn tập hợp đoàn kết, quy tụ được cả dân tộc thì trước hết đảng đó phải là đảng cách mạng và trí tuệ. Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc xác định chính sách mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ của cách mạng và phải theo nguyên tắc của Mặt trận. Đảng dùng phương pháp vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương, lấy lòng chân thành của mình để đối xử, cảm hóa, không lấy quyền uy của mình buộc các thành viên khác tuân theo. Muốn lãnh đạo được Mặt trận, lãnh đạo được khối ĐĐK, trước hết Đảng phải thật sự đoàn kết, nhất trí. Sự đoàn kết của Đảng, của đội ngũ cán bộ là cơ sở cho đại đoàn kết toàn dân tộc.

Người xác định cách mạng Việt Nam muốn thắng lợi phải đoàn kết, liên minh với các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới. Do đó, ĐĐK toàn dân tộc phải gắn liền với ĐĐK quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Đây là mối quan hệ biện chứng. Người khẳng định phải có sự liên hệ chặt chẽ, đoàn kết, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa trong cách mạng vô sản thế giới và chính Người xây đắp mối quan hệ đoàn kết giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Trong đoàn kết quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức lưu ý phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, hữu nghị giữa các quốc gia; phải chống tư tưởng nước lớn, chống kỳ thị dân tộc, tránh sự tự ti, hẹp hòi, vị kỷ. ĐĐK dân tộc phải đi tới ĐĐK quốc tế, đoàn kết dân tộc là cơ sở cho thực hiện đoàn kết quốc tế. Phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam. 

Đại đoàn kết dựa trên các nguyên tắc bất biến: đặt lợi ích tối cao của dân tộc, quyền lợi cơ bản của toàn dân lên trên hết và trước hết. Người đã chỉ ra mẫu số chung, điểm quy tụ của khối ĐĐK, đó là độc lập, tự do, thống nhất, hạnh phúc, dân chủ và giàu mạnh; với phương châm dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, tất cả đều do con người và vì con người. Trong đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân. Người khái quát ngắn gọn mà sâu sắc “Gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(6). Khối ĐĐK phải đứng vững trên lợi ích chung của dân tộc, lợi ích cơ bản của giai cấp công nông, không rơi vào khuynh hướng thoả hiệp vô nguyên tắc. Đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đoàn kết rộng rãi nhưng chặt chẽ, không phải là đoàn kết tràn lan, không có sự lầm lẫn giữa bạn và thù. Người đã luôn nhắc nhở các đồng chí cán bộ Mặt trận: “Chủ nghĩa Mác - Lênin dạy chúng ta rằng: muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”(7). Người nêu rõ: Đoàn kết phải gắn với đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết “Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”(8).      

Thấm nhuần tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, qua các kỳ Đại hội, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao: ĐĐK là để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, ĐĐK trước hết phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, là nhiệm vụ của cả dân tộc phải thực hiện. Đại đoàn kết chính là đồng tâm hiệp lực phát huy sức mạnh toàn dân tộc và sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu của cách mạng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng cốt lõi của ĐĐK là lấy dân làm gốc và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước. Trong các văn kiện, nghị quyết, Đảng đều nhấn mạnh quan điểm chủ đạo, xuyên suốt là coi đại đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đoàn kết là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu có ý nghĩa quyết định và bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết toàn dân trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một mặt phát huy được tính năng động của mỗi người, từ những người dân bình thường trực tiếp lao động, sản xuất và học tập đến đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đều hăng say hoạt động với năng suất, chất lượng hiệu quả ngày càng cao; mặt khác, phải khắc phục được những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt là tâm lý chạy theo đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh, làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa tương thân, tương ái của dân tộc.

Trong đường lối, chiến lược, sách lược, Đảng luôn coi: Đại đoàn kết là phải đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội, xuất phát từ lợi ích dân tộc để mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi khả năng để xây dựng, phát triển đất nước. Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước cần đoàn kết để xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu cũng như sự tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học công nghệ so với các nước trong khu vực và thế giới, để thực hiện cho được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện được ĐĐK phải bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; thực hiện dân chủ gắn liền với kỷ cương, chống quan liêu tham nhũng. Bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ đất nước. Phát triển kinh tế đồng thời giải quyết thỏa đáng các chính sách xã hội và mối quan hệ giữa ba lợi ích: xã hội, tập thể, cá nhân; bảo đảm đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện và nâng cao.

Trải qua 13 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, bài học lớn mà chúng ta rút ra trong sự nghiệp cách mạng là dù khó khăn đến mấy, nếu biết đoàn kết đồng lòng, hiệp lực thì sẽ vượt qua. Do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐK sẽ mãi mãi là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi bởi“Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(9).

Quan điểm, chủ trương của Đảng về ĐĐK, về xây dựng khối ĐĐK toàn dân trong thời kỳ hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước được tổng kết và khái quát rất rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), được thể chế hóa bằng các bản Hiến pháp (đặc biệt là Hiến pháp sửa đổi năm 2013) và nhiều văn bản pháp luật khác. Quan điểm ĐĐK toàn dân tộc, đi vào cuộc sống đã khơi dậy quyền làm chủ, sự năng động, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân trên mọi lĩnh vực. Kết quả của các cuộc vận động “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”… đã khẳng định đường lối ĐĐK toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là vô cùng đúng đắn.

Thành tựu 95 năm xây dựng Đảng, 80 năm xây dựng Nhà nước Việt Nam XHCN đã minh chứng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, các giai cấp, các tầng lớp nhân dân đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có những đóng góp to lớn vào thành quả chung của đất nước, vào việc củng cố, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những thành quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng, về xây dựng khối liên minh công - nông - trí đã góp phần củng cố niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân với Đảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh “với hơn 10 triệu người, chiếm gần 30% lực lượng lao động xã hội, có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, giữ vai trò nòng cốt tiếp thu và làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến, góp phần quan trọng vào việc hình thành các ngành công nghiệp hiện đại và sự tăng trưởng của nền kinh tế”(10). Giai cấp nông dân Việt Nam với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, vượt khó với “gần 20 triệu người, chiếm hơn 47% lực lượng lao động xã hội”(11), góp phần vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Đội ngũ trí thức phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng “với 4,9 triệu người, chiếm hơn 11,5% lực lượng lao động xã hội, đi đầu trong các hoạt động khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế tri thức”(12) đã tạo ra nhiều giá trị khoa học, giá trị tinh thần, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ thanh niên, phụ nữ, người cao tuổi, doanh nhân Việt Nam, các lực lượng vũ trang… phát huy truyền thống, phẩm chất để ngày đêm hăng say lao động, sáng tạo đóng góp khả năng và trí tuệ cho công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước, đảm bảo an sinh xã hội và đẩy nhanh tiến trình thực hiện CNH, HĐH đất nước

Quan tâm, chăm lo, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, Đảng ta đặc biệt quan tâm giải quyết tốt vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo trong xã hội. Với quan điểm dựng xây đất nước “Dân giàu, nước mạnh”, giảm dần khoảng cách phát triển giữa các dân tộc với nhau, giữa vùng thuận lợi phát triển với vùng đặc biệt khó khăn, giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân tộc thiểu số (DTTS) với dân tộc đa số, giữa các DTTS với nhau trên nguyên tắc “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”, vùng DTTS và miền núi được ưu tiên hỗ trợ, đầu tư và phát triển. Đồng bào các DTTS trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc đã một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng và ngày nay trong công cuộc dựng xây quê hương đất nước ngày càng có nhiều đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo. “Với hơn 13 triệu người, chiếm 14,4% dân số cả nước, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ngày càng được cải thiện trên cơ sở thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước và nỗ lực, sáng tạo của đồng bào các DTTS”(13). Đồng bào tín đồ các tôn giáo “khoảng 24 triệu người, chiếm gần 27% dân số cả nước”(14), đã tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, “sống tốt đời, đẹp đạo”, tham gia các phong trào thi đua yêu nước, nỗ lực trong sản xuất, kinh doanh, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước. Bên cạnh đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng đã nêu cao tinh thần đoàn kết gắn bó với quê hương, đất nước, làm cầu nối góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Những đóng góp to lớn của các giai cấp, tầng lớp xã hội là những yếu tố cực kỳ quan trọng, là động lực chủ yếu đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triển.

Trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã triển khai nhiều cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước có ý nghĩa thiết thực, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, tham gia với tinh thần hăng hái và sáng tạo, đóng góp có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân, cán bộ, đảng viên đã tích cực hưởng ứng học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với nội dung ngày càng thiết thực, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” ở từng cơ quan, địa bàn dân cư, góp phần đề cao giá trị đạo đức trong xã hội, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, tăng cường gắn bó, đoàn kết giữa Đảng, chính quyền, nhân dân. Đặc biệt, công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội... đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc và đã đạt được những thành quả rất quan trọng, cho thấy ĐĐK toàn dân tộc được phát huy cao độ trong giai đoạn hiện nay, luôn là căn nguyên cơ bản tạo sự chuyển biến mạnh trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hiện nay, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, các bộ, ngành triển khai đánh giá hiệu quả của hệ thống chính sách dân tộc, nhất là các chính sách giảm nghèo đã triển khai trong thời gian qua, để đề xuất định hướng chính sách từ năm 2021 đến năm 2025 và năm 2030. Với quan điểm là tạo điều kiện để đồng bào DTTS bình đẳng hơn trong tiếp cận các cơ hội việc làm, an sinh xã hội, thông tin, thị trường, giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực… Tăng cường thực hiện các mục tiêu thiên nhiên kỷ, không để ai bị bỏ lại phía sau. Để thực hiện mô hình tăng trưởng gắn với giảm nghèo nhanh và bền vững ở vùng dân tộc, thời gian tới cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, có những giải pháp mang tính đột phá, tăng cường quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0…

2. Ý nghĩa của tư tưởng đại đoàn kết đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam

Trong suốt sự nghiệp cách mạng, tư tưởng đại đoàn kết đã chứng minh là một trong những yếu tố quyết định mọi thắng lợi. Từ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đến sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước, đoàn kết toàn dân luôn là điều kiện tiên quyết để biến ý chí của dân tộc thành hiện thực. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Không có đoàn kết thì việc nhỏ mấy cũng không làm xong. Có đoàn kết thì việc khó khăn mấy cũng làm được”.

Tư tưởng đại đoàn kết không chỉ có ý nghĩa trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn giữ vai trò chiến lược trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, khi các mâu thuẫn xã hội, sự khác biệt về lợi ích, văn hóa và tôn giáo có nguy cơ bị lợi dụng để gây chia rẽ, tư tưởng đại đoàn kết càng cần được vận dụng để định hướng dư luận, ổn định xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trước hết, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc khẳng định sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng, cách mạng không thể thành công nếu thiếu sự đồng thuận, gắn bó của mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc anh em trong một khối thống nhất. Đại đoàn kết không chỉ là sự liên kết về mặt chính trị mà còn là sự hòa hợp về văn hóa, xã hội, kinh tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam. Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp đất nước thoát khỏi ách thống trị của thực dân, đế quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, đề cao sự tôn trọng và phát huy vai trò của mọi thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo, và các tầng lớp nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng đoàn kết phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đồng thời biết dung hòa các lợi ích khác biệt để hướng tới mục tiêu chung vì sự nghiệp cách mạng và hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng này đã góp phần xóa bỏ những định kiến, hận thù giai cấp và dân tộc, tạo ra môi trường xã hội hòa bình, ổn định để phát triển.

Thứ ba, ý nghĩa của tư tưởng đại đoàn kết còn nằm ở chỗ nó tạo ra nguyên tắc tổ chức và phương thức vận động quần chúng đặc thù cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng linh hoạt, không chỉ trong giai đoạn kháng chiến mà còn trong xây dựng chính quyền mới, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đây là chiến lược then chốt để huy động sức mạnh toàn dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong việc xây dựng khối đại đoàn kết vững chắc.

Tư tưởng đại đoàn kết còn có ý nghĩa về mặt giáo dục và đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa với tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng và lòng yêu nước sâu sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đại đoàn kết là biểu hiện cụ thể của đạo đức cách mạng và là nhân tố quyết định sự bền vững của cách mạng.

Tóm lại, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và thực tiễn quan trọng nhất, góp phần làm nên bản sắc riêng có của cách mạng Việt Nam. Ý nghĩa sâu sắc và giá trị trường tồn của tư tưởng này tiếp tục là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh mới, đặc biệt trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn lực chiến lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền và phát triển bền vững đất nước.

Vì vậy, để vận dụng hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong điều kiện mới, cần nhìn nhận một cách khách quan các thách thức lớn đang đặt ra, bao gồm: (1) Đa dạng xã hội ngày càng cao, thể hiện ở sự phân hóa giàu nghèo, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, trình độ dân trí, và cơ hội tiếp cận dịch vụ công không đồng đều đang tạo ra những rào cản trong gắn kết xã hội. (2) Tác động của toàn cầu hóa và mạng xã hội dẫn đến những luồng tư tưởng đối lập, thông tin sai lệch, kích động dân tộc, tôn giáo, và chia rẽ xã hội có thể xâm nhập nhanh chóng nếu không có định hướng đúng đắn. (3) Xu thế cá nhân hóa, thực dụng trong xã hội thị trường đã và đang tiếp tục làm suy giảm tinh thần cộng đồng, trách nhiệm xã hội, gây ra sự thờ ơ chính trị và giảm sút niềm tin vào hệ thống chính trị - xã hội. (4) Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức, quan liêu, tham nhũng làm xói mòn niềm tin của Nhân dân, gây tác động tiêu cực tới tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước.

Những thực tế này đòi hỏi tư tưởng đại đoàn kết không chỉ dừng lại ở nhận thức hay khẩu hiệu, mà phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, chính sách hiệu quả, tổ chức chặt chẽ và phương pháp linh hoạt.

3. Định hướng vận dụng tư tưởng đại đoàn kết trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay
Thứ nhất, xác lập rõ ràng mục tiêu đại đoàn kết trong chiến lược phát triển quốc gia, coi đó là động lực nội sinh thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế bền vững.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng và cơ hội phát triển cho các dân tộc, vùng miền, tôn giáo, giai tầng trong xã hội. Điều này bao gồm nâng cao hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS, thúc đẩy giáo dục và y tế công bằng.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: tăng cường phản biện xã hội, giám sát việc thực hiện quyền lực, làm cầu nối ý chí của Đảng với nguyện vọng của Nhân dân.

Thứ tư, nâng cao vai trò người có uy tín trong cộng đồng theo hướng đội ngũ trí thức, chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, nhà khoa học, doanh nhân... cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động xã hội, đối thoại chính sách và định hướng dư luận.

Thứ năm, phát triển văn hóa đoàn kết và tinh thần cộng đồng thông qua giáo dục, truyền thông, giao lưu văn hóa; đồng thời sử dụng hiệu quả công nghệ số để lan tỏa thông điệp đoàn kết trong giới trẻ và cộng đồng mạng.

Thứ sáu, tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với Nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, biết lắng nghe và hành động vì lợi ích chung, qua đó khơi dậy niềm tin, tạo dựng sự đồng thuận và gắn bó của toàn thể Nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là một di sản lý luận và thực tiễn có giá trị trường tồn trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là chiến lược hành động trong các giai đoạn lịch sử trước đây mà còn là kim chỉ nam định hướng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hiện nay và tương lai. Với quan niệm “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập đại đoàn kết toàn dân tộc như một nguyên lý phát triển, một phương châm tổ chức và một công cụ thực tiễn để huy động, kết nối mọi lực lượng xã hội vào mục tiêu chung của dân tộc. Bài học sâu sắc rút ra từ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết là: để giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết phải kiên trì xây dựng một Đảng trong sạch, vững mạnh, gắn bó máu thịt với Nhân dân; một Nhà nước của dân, do dân, vì dân; một xã hội thượng tôn pháp luật, công bằng và nhân văn. Chỉ khi niềm tin được củng cố, dân chủ được thực thi thực chất và lợi ích chính đáng của mọi người dân được bảo đảm, thì tinh thần đại đoàn kết mới thực sự trở thành nội lực to lớn, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững./.
----------------------------------------
(1), (3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG-ST, H.1996, tr.22, tr.154.

(2), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, sđd, tr.276, tr.392.

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, sđd, tr.438.

(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, sđd, tr.410.

(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, sđd, tr.605.

(8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, sđd, tr.137.

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.24.

(10), (11), (12), (13), (14) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo tại Đại hội ĐBTQ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2014 - 2019.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHIÊN HỌP XEM XÉT, ĐỀ NGHỊ PHONG TẶNG, TRUY TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN!

     Chiều 6-10, tại Hà Nội, Cơ quan Thường trực Hội đồng Thi đua-Khen thưởng (TĐ-KT) Bộ Quốc phòng tổ chức phiên họp xem xét, đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thời kỳ đổi mới. Thượng tướng Trương Thiên Tô, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng TĐ-KT Bộ Quốc phòng chủ trì phiên họp.

Tại phiên họp, đại diện Cơ quan Thường trực Hội đồng TĐ-KT Bộ Quốc phòng báo cáo kết quả thẩm định hồ sơ, thành tích của các tập thể, cá nhân được đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Theo đó, việc xét đề nghị khen thưởng được các cơ quan, đơn vị thực hiện đúng quy trình, thủ tục; hồ sơ đầy đủ, bảo đảm các tiêu chuẩn theo quy định. Thông tin về các trường hợp được đề nghị phong tặng, truy tặng đã được đăng công khai trên Báo QĐND và Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng. Kết thúc thời gian đăng tải, cơ quan thường trực tổng hợp, tiếp thu các ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân để hoàn thiện hồ sơ theo quy định.

Các đại biểu tại phiên họp đã thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến về quá trình thẩm định, xác minh hồ sơ, đánh giá thành tích của các tập thể, cá nhân; đồng thời phân tích, làm rõ thêm những căn cứ, cơ sở để bảo đảm việc đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu được thực hiện chặt chẽ, khách quan, đúng quy định của pháp luật. Nhiều ý kiến nhấn mạnh việc cần tiếp tục nghiên cứu, xem xét toàn diện thành tích trong kháng chiến cũng như trong giai đoạn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của từng tập thể, cá nhân được đề nghị.

Kết luận phiên họp, Thượng tướng Trương Thiên Tô ghi nhận và đánh giá cao công tác chuẩn bị của Cơ quan Thường trực Hội đồng TĐ-KT Bộ Quốc phòng; biểu dương tinh thần làm việc trách nhiệm, nghiêm túc của các thành viên hội đồng. Thượng tướng Trương Thiên Tô yêu cầu Cơ quan Thường trực tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại phiên họp, tiếp tục rà soát, bổ sung hồ sơ, hoàn thiện báo cáo để trình cấp có thẩm quyền xem xét theo đúng quy định.

Việc xem xét, đề nghị phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thể hiện sự quan tâm, ghi nhận, tri ân của Đảng, Nhà nước và Quân đội đối với những tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam anh hùng./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TÌNH CẢM THIÊNG LIÊNG CỦA BÁC HỒ GỬI TRỌN CHO THIẾU NHI MỖI MÙA TRĂNG RẰM!

     Khi những cơn gió mùa thu nhẹ nhàng len lỏi qua từng ngọn cây, khi ánh trăng rằm tháng Tám tròn vành vạnh tỏa sáng khắp mọi nẻo đường làng quê, thành phố, đó cũng là lúc Tết Trung thu - ngày hội cổ truyền của thiếu nhi Việt Nam về trong niềm hân hoan, mong chờ của biết bao em nhỏ.

Trung thu không chỉ là dịp để các em vui chơi, phá cỗ, rước đèn mà còn là thời khắc thiêng liêng để thế hệ trẻ nhớ về tình cảm sâu nặng, bao la mà Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ muồn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam đã dành trọn cho thiếu nhi. Trong tâm hồn của Người, trẻ em là niềm vui, là sự trong sáng, là thế hệ măng non tương lai của đất nước, là lớp người sẽ kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc.

Vì vậy, sinh thời, Bác Hồ luôn dành cho thiếu nhi sự quan tâm đặc biệt. Mỗi dịp Tết Trung thu đến, mặc dù bận trăm công nghìn việc nước, Bác vẫn không quên gửi thư hoặc sáng tác thơ để chúc Tết các cháu. Những lời thơ, lời chúc ấy không chỉ thể hiện sự yêu thương sâu sắc mà còn ẩn chứa bao thông điệp, bài học đạo đức, lối sống mà Bác gửi gắm cho thế hệ tương lai của đất nước. Một trong những câu thơ nổi tiếng nhất, giản dị mà xúc động vô cùng, đó là:“Trung thu trăng sáng như gương/ Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng…”

Câu thơ ấy chính là nỗi nhớ, tình cảm của Bác đối với thiếu nhi, ẩn chứa sâu xa trong đó là tâm hồn cao đẹp, tinh tế và chan chứa tình thương yêu của Người. Trăng Trung thu trong thơ Bác vừa là hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, vừa là biểu tượng cho sự tròn đầy, tinh khôi giống như tâm hồn của trẻ thơ vậy. Trong không gian yên bình của đêm rằm, điều mà Bác nghĩ đến không phải là vinh hoa, quyền lực, mà là những ánh mắt trong veo, những nụ cười hồn nhiên của thiếu nhi khắp mọi miền đất nước. Điều đó cho thấy tình yêu thương của Bác dành cho các em nhỏ không phải là điều ngẫu nhiên hay mang tính hình thức, mà xuất phát từ trái tim đầy nhân ái của một con người hết lòng vì dân, vì nước.

Từ những ngày đầu lập quốc, khi đất nước còn trong cảnh đói nghèo, chiến tranh, thiếu thốn trăm bề, Bác Hồ đã sớm nhấn mạnh vai trò, vị trí đặc biệt của trẻ em trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác từng căn dặn: “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”. Câu thơ ấy hàm chứa sự ví von đầy yêu thương, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Người về thế hệ măng non kế cận, là nền móng cho tương lai, cần được chăm sóc, dạy dỗ, bảo vệ chu đáo.

Bác không chỉ nói suông mà còn luôn quan tâm bằng những hành động cụ thể. Bất cứ khi nào có điều kiện, Bác đều dành thời gian đến thăm các trường học, trại hè, nhà thiếu nhi, hỏi han tình hình học tập, sinh hoạt của các em. Có lần, Bác đến thăm một lớp học, thấy học sinh không thuộc bài, Bác không trách mà nhẹ nhàng động viên, nhắc nhở các em cố gắng hơn. Cũng có lần, khi đang trong một cuộc họp quan trọng, nghe tin có đoàn thiếu nhi đến thăm, Bác đã dừng cuộc họp lại để ra tiếp, ôm hôn từng em nhỏ và trò chuyện thân mật, như một người ông hiền từ trong gia đình.

Một kỷ niệm đầy xúc động được kể lại là vào dịp Trung thu năm 1945 - Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Dù đất nước còn rất nghèo, chính quyền non trẻ mới thành lập, muôn vàn khó khăn bủa vây, Bác vẫn không quên viết thư chúc Tết Trung thu đầu tiên cho thiếu nhi cả nước. Trong thư, Bác viết: “Các cháu yêu quý! Trung thu là Tết của các cháu. Tết Trung thu năm nay là Tết Trung thu đầu tiên của nước ta độc lập. Bác mong các cháu vui vẻ, mạnh khỏe, chăm học, ngoan ngoãn…”. Những lời chúc tưởng chừng giản đơn ấy đã trở thành động lực lớn lao, là minh chứng cho tấm lòng yêu thương, bao dung của Bác dành cho thế hệ mầm non của đất nước.

Không chỉ yêu thương thiếu nhi thành thị hay con em cán bộ, Bác còn đặc biệt quan tâm đến các em nhỏ vùng sâu, vùng xa, con em đồng bào dân tộc thiểu số, các em có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi, bệnh tật. Có lần, một cháu bé mồ côi đứng ngoài hàng rào nhìn vào nơi Bác đang thăm thiếu nhi. Biết chuyện, Bác đã gọi cháu vào, ôm vào lòng và nói: “Bác là Bác của tất cả các cháu”. Câu nói ấy như một lời khẳng định về tình yêu thương vô hạn, không phân biệt giàu nghèo, dân tộc hay hoàn cảnh, với Bác, mọi trẻ em đều xứng đáng được yêu thương và bảo vệ.

Trung thu ngày nay đã khác xưa rất nhiều. Đất nước hòa bình, đời sống nhân dân không ngừng nâng cao. Những chiếc lồng đèn giấy nay được thay bằng đèn điện nhấp nháy, mâm cỗ Trung thu được bày biện đầy đủ hơn với bánh, kẹo, hoa quả. Thế nhưng, hình ảnh Bác Hồ vẫn luôn hiện diện trong lòng thiếu nhi Việt Nam mỗi độ trăng rằm. Những vần thơ của Bác, những câu chuyện về Bác đã trở thành bài học đầu đời cho các em, nuôi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, lòng biết ơn và ý thức vươn lên trong học tập, rèn luyện.

Tình cảm thiêng liêng mà Bác dành cho thiếu nhi cũng là kim chỉ nam cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam hiện nay. Đảng, Nhà nước và toàn xã hội luôn xác định: chăm lo cho thiếu nhi là trách nhiệm của cả cộng đồng. Nhiều chương trình, chính sách, mô hình chăm sóc trẻ em đã được triển khai rộng khắp: từ các lớp học miễn phí cho trẻ em nghèo, học bổng vượt khó, đến các chương trình “Trung thu cho em”, “Vầng trăng yêu thương” mang niềm vui đến với các em ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít thách thức mà trẻ em phải đối mặt: áp lực học tập, tai nạn thương tích, bạo lực học đường, sự xâm hại trong môi trường số… Những điều ấy càng thôi thúc xã hội phải hành động nhiều hơn nữa để trẻ em thực sự được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, được yêu thương và phát triển toàn diện.

Mỗi mùa Trung thu về, ánh trăng lại nhắc chúng ta nhớ đến Bác Hồ với bao tình yêu thương Người đã dành cho thiếu nhi. Câu thơ “Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng” mãi mãi là biểu tượng của một tình cảm thiêng liêng, trong sáng, cao đẹp. Tình cảm ấy không chỉ để chúng ta tưởng nhớ, mà còn là ngọn đuốc soi đường cho hành trình chăm lo, bảo vệ thế hệ tương lai của đất nước, những chủ nhân của ngày mai sẽ tiếp bước hiện thực khát vọng Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Yêu nước ST.