Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: HÀNH TRÌNH CỦA MỘT QUỐC GIA ĐƯỢC THẾ GIỚI TÍN NHIỆM!

     Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2026-2028 với 163/193 phiếu thuận cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đây là lần thứ hai trong vòng mười năm Việt Nam được bầu vào cơ quan này, thể hiện uy tín ngày càng tăng và niềm tin của cộng đồng quốc tế vào con đường phát triển lấy con người làm trung tâm.

Thành quả đó không đến từ một hành trình dài: giữ vững ổn định giữa thế giới biến động, cải thiện thực chất quyền con người bằng chính sách cụ thể, và đóng góp vào các nỗ lực hòa bình toàn cầu.

ỔN ĐỊNH

Hiện nay, các cuộc xung đột vũ trang tại Ukraine, Gaza, Sudan, Myanmar… đã khiến hàng triệu người thiệt mạng hoặc mất nhà cửa. Lạm phát, đói nghèo và bất bình đẳng gia tăng sau đại dịch COVID-19; theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hơn 1,8 tỷ người trên thế giới đang sống trong khu vực có chiến tranh hoặc khủng hoảng nhân đạo. Trong bức tranh toàn cầu đầy bất ổn ấy, Việt Nam được nhìn nhận là quốc gia giữ vững ổn định, bảo đảm an ninh xã hội và duy trì đà phát triển kinh tế.

Theo Chỉ số Hòa bình Toàn cầu 2025, Việt Nam xếp thứ 38/163 quốc gia, thuộc nhóm an toàn hàng đầu châu Á. Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2025 xếp Việt Nam 46/143 nước, tăng tám bậc, điểm trung bình 6,04/10 vượt ngưỡng toàn cầu. Kinh tế dự kiến tăng trưởng 8,3%, nằm trong nhóm phục hồi nhanh nhất thế giới. Báo cáo UPR 2024 của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã hoàn thành 220/241 khuyến nghị, tỷ lệ thực hiện thuộc nhóm cao nhất toàn cầu.

Sự ổn định đó là kết quả của một triết lý xuyên suốt. Từ các nghị quyết của Đại hội XIII đến các văn kiện chuẩn bị Đại hội XIV, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Lấy con người làm trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước.” Tư tưởng ấy đã trở thành nền tảng của mọi chính sách:

- Giáo dục: miễn, giảm học phí từ mầm non đến THPT khoảng 30.000 tỷ đồng/năm.
- Y tế: tiến tới miễn viện phí cơ bản trước 2030, 90% dân số có bảo hiểm y tế.
- Nhà ở: triển khai đề án 1 triệu căn nhà xã hội giai đoạn 2025–2030.
- Giảm nghèo: tỷ lệ nghèo đa chiều còn 2,9% năm 2024.
- Tiếp cận thông tin: Internet phủ 99% xã, phường; 98% trẻ em đến trường đúng độ tuổi.

CẦU NỐI CÂN BẰNG TRONG CƠ CHẾ NHÂN QUYỀN TOÀN CẦU

Nếu ở trong nước, nhân quyền được nuôi dưỡng bằng chính sách phát triển, thì trên trường quốc tế, Việt Nam thể hiện nhân quyền bằng đối thoại, trách nhiệm và lòng nhân đạo.

Trong 3 năm qua, Việt Nam tham gia hơn 30 phiên thảo luận, đề xuất 10 sáng kiến về quyền con người, với quan điểm nhất quán “đối thoại, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau”. Trong nhiệm kỳ 2023–2025, Việt Nam đồng chủ trì Nghị quyết về quyền của người yếu thế trong khủng hoảng kinh tế xã hội, được 145 quốc gia ủng hộ. Là thành viên Nhóm Điều phối khu vực châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam đóng vai trò cầu nối giữa các nước phát triển và đang phát triển, theo phương châm “đối thoại thay vì đối đầu, hợp tác thay vì áp đặt”.

Không chỉ nói trong các phiên họp, Việt Nam còn hành động:

- Hơn 1.000 cán bộ, bác sĩ, kỹ sư Việt Nam đã và đang phục vụ trong lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, Abyei.
- Việt Nam đóng góp 500.000 USD hỗ trợ nhân đạo cho người dân Gaza, Palestine, rất nhiều lần kêu gọi dỡ bỏ cấm vấn cho Cuba đồng thời liên tục kêu gọi bảo vệ dân thường và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoàn bình và tuân thủ luật pháp quốc tế.
- Nhiều sĩ quan, bác sĩ Việt Nam đảm nhiệm vị trí chỉ huy, được Liên Hợp Quốc đánh giá là “một trong những lực lượng kỷ luật và nhân ái nhất châu Á.”

Chính vì vậy, 163/193 phiếu thuận dành cho Việt Nam không chỉ là sự tín nhiệm về ngoại giao, mà là sự công nhận cho một mô hình nhân quyền cân bằng nơi phát ngôn và hành động đi cùng một chiều. Và cũng là minh chứng rõ ràng nhất về hình ảnh:

Một đất nước từng đi qua chiến tranh, hiểu giá trị của hòa bình hơn ai hết. Một dân tộc nói về nhân quyền không bằng lý thuyết, mà bằng ký ức của những người từng mất mát. Khi có nơi lấy “nhân quyền” làm cớ để trừng phạt, Việt Nam chọn biến nó thành cơ hội để gắn kết./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGƯỜI PHỤ NỮ PHI THƯỜNG NHẤT VIỆT NAM!

     Đó là câu nói của lãnh tụ Cuba Fidel Castro về nữ tướng Nguyễn Thị Định. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, phụ nữ Việt Nam luôn có vai trò to lớn, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử đấu tranh cách mạng của phụ nữ Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều cá nhân tiêu biểu, trong số đó nổi bật là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thiếu tướng Nguyễn Thị Định.

Lãnh tụ Cuba Fidel Castro từng gọi bà là “người phụ nữ phi thường nhất Việt Nam” bởi ở bà hội tụ bản lĩnh của một vị tướng, trái tim của một người mẹ và tầm nhìn của một nhà văn hóa. Cuộc đời và sự nghiệp của bà mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ phụ nữ Việt Nam noi theo.

Người chỉ huy mưu trí, vị nữ tướng tài ba và gần gũi. Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền năm 1945, Nguyễn Thị Định là người đi đầu dẫn hàng nghìn người dân tiến vào giành chính quyền ở thị xã Bến Tre. Tháng 3/1946, bà đã vinh dự được tham gia đoàn cán bộ miền nam vượt biển ra miền bắc báo cáo với Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình chiến trường Nam Bộ. Tháng 10/1946, bà được giao nhiệm vụ vận chuyển 12 tấn vũ khí từ bờ biển Nam Trung Bộ chi viện cho chiến trường Nam Bộ.

Trước nhiệm vụ đầy khó khăn, thử thách, Nguyễn Thị Định vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ với một lòng quyết tâm phải mang bằng được số vũ khí này về đến miền nam an toàn. Số vũ khí đó là tài sản, là hy vọng và cả tình cảm mà miền bắc gửi tới mặt trận phía nam.

Bà cùng đồng đội đã xếp đầy hàng hóa lên trên để ngụy trang và chờ đợt gió chướng để giương buồm ra khơi. Trên chuyến tàu chở vũ khí có Nguyễn Thị Định và 3 đồng chí đều không có kinh nghiệm đi biển, vì vậy bà đã thuê 4 người đi biển giỏi, có thiện cảm với kháng chiến đi cùng.

Nằm chờ mất 1 tháng, đến tháng 11/1946, thấy có gió chướng nổi lên mù mịt, biển động, bà cho thuyền nhổ neo ra biển. Chuyến tàu rời bến, trên đường gặp bão, chính vì vậy mà thuyền đã tránh được sự dòm ngó của địch, vượt qua dông bão cập bến an toàn. Kết quả chuyến vượt biển thành công đó đã trở thành kinh nghiệm đi biển cho quân ta trong kháng chiến.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, phong trào Đồng khởi Bến Tre năm 1960 nổi lên như một mốc son, gắn liền với tên tuổi của bà Nguyễn Thị Định. Là người chỉ huy phong trào, bà đã thể hiện đầy đủ phẩm chất của một lãnh đạo có tài thao lược, đầy bản lĩnh, mưu trí và sáng tạo.

Sau đó, phong trào Đồng Khởi phát triển sâu rộng trên toàn miền nam, với cái tên “Đội quân tóc dài” - một lực lượng quan trọng, độc đáo, một nét sáng tạo trong hình thức tổ chức chính trị, góp phần hoàn thiện phương châm ba mũi giáp công, một phương châm đấu tranh hiệu quả của cách mạng miền nam.

“Đội quân tóc dài” đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng của miền nam thời kỳ chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước, bất khuất, trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Định trở thành niềm tự hào của nhân dân Bến Tre và của dân tộc Việt Nam.

Dấu ấn của vị tướng quân sự tài ba Nguyễn Thị Định còn in đậm và thể hiện rõ trong những lần bà cầm quân, chỉ đạo phong trào cách mạng miền nam trên cương vị Phó Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền nam Việt Nam từ năm 1965 đến 1975.
Bà đã chỉ đạo hiệu quả các đơn vị văn công, tuyên huấn, du kích, đoàn thể của căn cứ Trung ương Cục miền nam, đánh bại chiến dịch Junction City của Mỹ tấn công vào khu căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh) năm 1967.

Bà chỉ đạo đưa cán bộ nữ vào ấp chiến lược, xây dựng cơ sở… tranh thủ tín đồ, làm công tác binh vận để tan rã quân Cao Đài ở Tây Ninh trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Đặc biệt là những quyết định sáng suốt, sự chỉ đạo thông minh công tác bảo vệ căn cứ, di chuyển cơ quan đầu não của ta là Chính phủ Cách mạng lâm thời ở chiến khu Tây Ninh trong năm 1970.

Bà còn được nhắc tới với hình ảnh của một vị tướng luôn có bên mình cuộn kim chỉ để khi nghỉ ngơi tranh thủ khâu vá quần áo cho chiến sĩ. Bà thường xuyên thức khuya, dậy sớm, hướng dẫn anh chị em chế biến, nấu nướng món ăn. Hình ảnh vị Phó Tư lệnh như người mẹ hiền, như người chị cả in đậm trong tâm hồn chiến sĩ khắp các chiến trường miền nam.

Phát biểu tại cuộc mít-tinh kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Phó Tổng Tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền nam, cho cả dân tộc ta"./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: AN TOÀN THÔNG TIN, AN NINH MẠNG LÀ GÌ?

      Trong bối cảnh công nghệ phát triển vũ bão, không gian mạng đã trở thành ''biên giới mềm'' quyết định sức mạnh quốc gia. Cùng với cơ hội phát triển, những mối đe dọa an toàn thông tin và an ninh mạng ngày càng gia tăng. Hiểu rõ bản chất, nâng cao nhận thức và có biện pháp bảo vệ phù hợp chính là nhiệm vụ cấp bách để giữ vững ''chủ quyền số'', bảo đảm an ninh quốc gia và lợi ích của từng cá nhân.

Thực trạng và thách thức

Trong đời sống số, khái niệm an toàn thông tin và an ninh mạng thường được nhắc tới cùng nhau, song không hoàn toàn đồng nghĩa. Theo Luật An ninh mạng năm 2018, an ninh mạng là việc bảo đảm cho các hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Hiểu một cách khái quát, đây là lĩnh vực tập trung bảo vệ hệ thống máy tính, mạng viễn thông, cơ sở dữ liệu và các ứng dụng số khỏi những hành vi xâm nhập, phá hoại, chiếm quyền kiểm soát hoặc tấn công có chủ đích.

Trong khi đó, an toàn thông tin là tập hợp các giải pháp kỹ thuật và tổ chức nhằm bảo vệ dữ liệu trước ba nguy cơ chính: Mất bảo mật (thông tin bị truy cập trái phép); mất toàn vẹn (thông tin bị thay đổi ngoài ý muốn); mất khả dụng (thông tin không sẵn sàng khi cần). Nếu ví an ninh mạng là tấm “lá chắn” bao trùm, thì an toàn thông tin chính là những “ổ khóa” kiên cố bảo vệ từng cánh cửa dữ liệu. Hai phạm trù này gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, cùng hướng tới một mục tiêu chung là duy trì trật tự, an toàn và bền vững trong kỷ nguyên số.

Không gian mạng ngày nay đã trở thành môi trường sinh tồn mới của mỗi quốc gia. Từ giao dịch tài chính, dịch vụ công trực tuyến, điều hành doanh nghiệp cho tới sinh hoạt xã hội, mọi hoạt động đều phụ thuộc ngày càng nhiều vào hạ tầng số. Song song với cơ hội, các mối đe dọa an ninh mạng cũng ngày càng tinh vi, khó lường. Thực tế cho thấy, các loại hình tấn công phổ biến hiện nay gồm: Phần mềm độc hại - Malware (lén lút cài vào hệ thống để chiếm quyền điều khiển, xóa hoặc đánh cắp dữ liệu); mã độc tống tiền - Ransomware (khóa dữ liệu, buộc trả tiền chuộc); lừa đảo trực tuyến - Phishing/Scam (giả mạo email, mạng xã hội để đánh cắp thông tin, phát tán mã độc); tấn công có chủ đích (chiến dịch tinh vi, kéo dài, thường nhắm vào cơ quan trọng yếu); khai thác tâm lý (lợi dụng sự cả tin, thao túng con người để lấy thông tin mật); tấn công chuỗi cung ứng (xâm nhập qua nhà cung cấp, đối tác); mối nguy từ nội bộ (nhân viên có quyền truy cập vô tình hoặc cố ý gây rò rỉ dữ liệu)...

Thực tiễn tại nước ta cho thấy các mối đe dọa an ninh mạng có mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng. Trong giai đoạn 2010-2019, hơn 53.000 lượt website tên miền “.vn” bị tấn công, trong đó có 2.300 lượt thuộc cơ quan Đảng, Nhà nước. Năm 2022, số vụ lừa đảo mạng lên tới 14.500, gấp 14 lần năm 2021. Quý I/2024 ghi nhận 32.265 nguy cơ tấn công nhằm vào hệ thống trọng yếu của Chính phủ và doanh nghiệp Nhà nước, tăng gần 19% so với cùng kỳ 2023. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn thiếu hụt trầm trọng nhân lực chuyên trách, chưa đủ nguồn vốn đầu tư và phụ thuộc lớn vào hạ tầng công nghệ nước ngoài. Thực trạng này cho thấy, bảo vệ an ninh mạng không đơn thuần là xử lý sự cố kỹ thuật, mà còn là cuộc đấu tranh quyết liệt nhằm giữ vững chủ quyền số và an ninh quốc gia.

Giải pháp và định hướng bảo vệ chủ quyền số

Trước những diễn biến phức tạp về an toàn thông tin và an ninh mạng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm củng cố “lá chắn số” quốc gia. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật đơn thuần, mà còn là chiến lược toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa an ninh mạng với an ninh chính trị, trật tự xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.

Một trong những yêu cầu then chốt là tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Việc bảo đảm an ninh mạng cần được xem như nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, gắn liền với bảo vệ chủ quyền và ổn định quốc gia. Trên nền tảng đó, công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cộng đồng cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Khi người dân hiểu biết, có kỹ năng sử dụng Internet an toàn, họ sẽ trở thành “lá chắn” đầu tiên trước nguy cơ tấn công, lừa đảo và lan truyền thông tin độc hại. Đưa nội dung giáo dục an toàn thông tin vào trường học chính là bước đi bền vững, hình thành thói quen, kỹ năng bảo mật ngay từ thế hệ trẻ.

Song song với nâng cao nhận thức, đầu tư cho hạ tầng công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều không thể thiếu. Các trung tâm giám sát, ứng cứu sự cố an ninh mạng hiện đại cần được xây dựng, duy trì đồng bộ, đủ sức ứng phó kịp thời trước mọi tình huống. Đội ngũ kỹ sư, chuyên gia được đào tạo bài bản, có năng lực làm chủ công nghệ, chính là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ không gian mạng quốc gia.

Cùng với đó, công tác phòng ngừa, dự báo và đấu tranh kiên quyết phải đi trước một bước. Việc tổ chức diễn tập quốc gia về phòng, chống tấn công mạng không chỉ rèn luyện năng lực phối hợp liên ngành, mà còn góp phần tạo dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc trong môi trường số. Trong bối cảnh các mối đe dọa ngày càng tinh vi, chủ động tấn công phủ đầu vào những “điểm nóng” nguy cơ cao sẽ hiệu quả hơn nhiều so với chỉ tập trung khắc phục hậu quả.

Một hướng đi quan trọng khác là phát triển công nghiệp an ninh mạng trong nước. Khi doanh nghiệp Việt Nam được khuyến khích nghiên cứu, sản xuất phần mềm và thiết bị bảo mật “Make in Vietnam”, chúng ta vừa có cơ hội làm chủ thị trường, vừa giảm sự phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài. Đây cũng là yếu tố then chốt để đảm bảo chủ quyền số.

Hành lang pháp lý là nền tảng không thể bỏ qua. Luật hóa các quy định về phòng, chống tin giả, tin xấu độc; xác định rõ trách nhiệm tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp và sử dụng thông tin; đồng thời ban hành bộ quy tắc ứng xử văn minh trên mạng xã hội, tất cả đều nhằm hướng tới một môi trường số trong sạch, an toàn.

Ngoài ra, an ninh mạng vốn không có biên giới, nên hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu. Việt Nam cần chủ động phối hợp với các quốc gia, tổ chức toàn cầu để trao đổi kinh nghiệm, xử lý tội phạm mạng xuyên biên giới, đồng thời hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực. Đây chính là cách để chúng ta vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, vừa đóng góp trách nhiệm vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế.

An toàn thông tin và an ninh mạng không chỉ là trách nhiệm của lực lượng chuyên trách, mà là nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Mỗi hành vi sử dụng thông tin có trách nhiệm, mỗi cú click chuột an toàn sẽ góp phần dựng nên tuyến phòng thủ vững chắc trên “biên giới số” của Tổ quốc./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH!

     Công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời gắn liền với hoạt động tổ chức, xây dựng, lãnh đạo quân đội của Đảng Cộng sản Việt Nam. CTĐ, CTCT hình thành, hoạt động ngay từ những ngày đầu tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, trong các đội quân đầu tiên và từng bước phát triển, hoàn thiện gắn với sự trưởng thành, chiến thắng của quân đội.

Lý luận CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một hệ thống thống nhất các quan điểm, tư tưởng lý luận, sản phẩm nhận thức của các chủ thể hoạt động CTĐ, CTCT, phản ánh bản chất của hoạt động CTĐ, CTCT. Được hình thành trên cơ sở thực tiễn CTĐ, CTCT và đúc kết thông qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT qua các thời kỳ.

Giai đoạn 1930 - 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động CTCT tập trung chủ yếu vào các mặt công tác như: Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác tổ chức xây dựng Đảng, công tác cán bộ, công tác dân vận, công tác địch vận. Đây là giai đoạn sơ khai hình thành CTCT trong các tổ chức vũ trang cách mạng, từ những đội tự vệ công nông, du kích cứu quốc, đến các đội cứu quốc quân, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Việt Nam giải phóng quân. Bên cạnh việc tiến hành CTCT trong đội, hoạt động CTCT còn góp phần đặc biệt quan trọng trong tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân. Bằng các hình thức như tố khổ, kể khổ, phát hành bản tin du kích, ra bích báo, kết hợp các hoạt động bảo vệ, giúp đỡ nhân dân trong các cuộc bãi công, bãi thị, kháng sưu, kháng thuế, hoạt động CTCT đã giác ngộ quần chúng, thu phục quần chúng theo ảnh hưởng cộng sản, vùng lên đấu tranh theo con đường cách mạng của Đảng. Mặc dù mới sơ khai hình thành, có những lúc tiến hành một cách mò mẫm, nhưng hoạt động CTCT đạt hiệu quả rất thiết thực, phản ánh đúng bối cảnh lịch sử giai đoạn này.

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, hoạt động công tác chính trị có sự trưởng thành rõ rệt. Thực tiễn đã tập trung vào các nội dung, các mặt công tác như: Công tác tư tưởng; công tác tổ chức xây dựng Đảng; thực hiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; công tác cán bộ; xây dựng cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp; công tác bảo vệ an ninh; công tác dân vận; công tác địch vận; công tác chính sách; xây dựng các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân. Song do điều kiện lịch sử, thời kỳ này CTCT trong Quân đội chưa tổng kết được kinh nghiệm thực tiễn nên việc hình thành nguyên tắc tiến hành CTCT còn dừng lại ở những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo từng nội dung, từng mặt công tác, chưa khái quát được thành những nguyên tắc chung nhất chỉ đạo toàn bộ hoạt động CTCT.

Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, hoạt động CTĐ, CTCT có sự phát triển vượt bậc. Tập trung toàn diện vào các mặt công tác, phù hợp với đặc điểm từng giai đoạn, từng nhiệm vụ, từng chiến trường cụ thể. Làm cho bộ đội thấu suốt đường lối, chủ trương chiến lược, sách lược cách mạng của Đảng, nhiệm vụ của quân đội; hiểu rõ bản chất âm mưu thủ đoạn của kẻ thù; phát động cao trào chống Mỹ, cứu nước; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước quyết tâm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội. Hoạt động tổng kết thực tiễn được tiến hành, Tổng cục Chính trị đã chủ trì tổng kết CTĐ, CTCT của Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi thành lập cho đến năm 1959, đã rút ra 7 bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và chỉ đạo thực tiễn sâu sắc. Ban hành Điều lệ (dự thảo) CTCT của Quân đội nhân dân Việt Nam (1958); ban hành Điều lệ công tác của các Cục chức năng, một số đơn vị trong quân đội và bộ đội địa phương. Tuy nhiên hệ thống lý luận về CTĐ, CTCT chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.

Thời kỳ từ năm 1976 đến nay, thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT luôn có sự vận động, biến đổi phù hợp với mỗi giai đoạn của cách mạng. Đã sâu sát bám sát thực tiễn trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam biên giới phía Bắc, trong chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu của Quân đội. 

Hiện nay, đặc điểm tình hình có nhiều biến đổi, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được thực hiện. Trong Quân đội đã tiến hành sát nhập các cơ quan, đơn vị, bỏ mô hình quân sự cấp huyện, bảo đảm xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Việc hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng là một tất yếu khách quan, phong trào bình dân học vụ số đang được triển khai thực hiện tích cực. Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã xác định nhiều vấn đề quan trọng, đặt ra yêu cầu cho tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội đã đề ra.

Theo đó, lý luận CTĐ, CTCT hiện nay cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện một cách toàn diện. Phát triển lý luận CTĐ, CTCT có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp nhằm tiếp tục củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và làm sáng tỏ hơn nữa sự phát triển hoạt động CTĐ, CTCT trong Quân đội từ khi thành lập đến nay, nhất là thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT trong tình hình hiện nay. Nội dung bao gồm các vấn đề: Lý luận về nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam; lý luận về cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; lý luận về công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội; lý luận về công tác tổ chức trong quân đội; lý luận về công tác chính sách trong quân đội; lý luận về CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ của quân đội; nghiên cứu về chính trị của quân đội nước ngoài, về CTCT của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa; nghiên cứu phát triển hệ thống khái niệm phạm trù CTĐ, CTCT. 

Như vậy, lý luận CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay gồm 8 vấn đề cơ bản. Theo đó, nghiên cứu sự hình thành, phát triển lý luận CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cần bám sát những vấn đề trên để làm rõ quá trình hình thành, bổ sung, phát triển qua các giai đoạn cách mạng.

Để phát triển lý luận CTĐ, CTCT trong quân đội hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng bộ Quân đội, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, nâng cao trách nhiệm các tổ chức, cá nhân, các cơ quan chức năng về sự cần thiết nghiên cứu, phát triển lý luận CTĐ, CTCT trong tình hình hiện nay. Đây là giải pháp quan trọng, bảo đảm cho quá trình nghiên cứu, phát triển lý luận CTĐ, CTCT được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ, thống nhất trong quân đội. Các tổ chức, cá nhân, nhất là lực lượng chuyên môn cần xác định rõ trách nhiệm, có kế hoạch nghiên cứu bổ sung làm rõ hơn nhận thức về CTĐ, CTCT trong quân đội. Đầu tư trí tuệ, thời gian, phân công nhiệm vụ cụ thể, đẩy mạnh quá trình nghiên cứu để có sản phẩm cụ thể, chất lượng tốt.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của các cơ quan nghiên cứu trong các học viện nhà trường, phát huy đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Đây là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nghiên cứu, phát triển lý luận CTĐ, CTCT trong quân đội. Cần phát huy khả năng nghiên cứu của các nhà khoa học, các đồng chí nghiên cứu, giảng dạy về CTĐ, CTCT về xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước và một số lĩnh vực khác. Từng cơ sở có thể đặt bài hoặc giao nhiệm vụ cho một số cá nhân nghiên cứu về lĩnh vực này, tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, những điểm mới, điểm nhấn mà Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã đề cập như: Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; đối ngoại quốc phòng; đề nghị của đồng chí Tổng Bí thư về thực hiện tốt “2 kiên định, 2 đẩy mạnh và 2 ngăn ngừa” trong Quân đội hiện nay. 

Thứ ba, tổ chức các cuộc hội thảo, tổng kết thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT. Tổng kết thực tiễn là một khâu quan trọng trong công tác nghiên cứu lý luận CTĐ, CTCT, nhằm kiểm nghiệm các tri thức lý luận đã có, đồng thời thu thập, bổ sung những tri thức thực tiễn mới vào hệ thống lý luận CTĐ, CTCT. Thông qua đó, những vấn đề thực tiễn đặt ra, những mâu thuẫn cần giải quyết, những thay đổi của tình hình được nghiên cứu kỹ và có những giải pháp thực hiện phù hợp. Việc tổ chức hội thảo, tổng kết thực tiễn cần xác định rõ chủ đề, nội dung sát với thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT. Quá trình đó cần khắc phục chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, cần thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên thành lý luận CTĐ, CTCT.

Thứ tư, có cơ chế, chính sách bảo đảm điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, phát triển lý luận CTĐ, CTCT. Trước hết, cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ chuyên gia nòng cốt để họ yên tâm công tác, trau dồi nghề nghiệp, dành tâm huyết cho nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT. Xây dựng hệ thống dữ liệu và trang bị các công cụ, phương tiện cần thiết để đội ngũ cán bộ chuyên trách nòng cốt thuận lợi trong tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học. Tạo điều kiện tốt nhất về mặt thời gian để các nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu, luôn luôn chủ động và kịp thời đánh giá đúng thực trạng, đề ra các giải pháp có tính khả thi cao góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT.

Cũng như hoạt động thực tiễn CTĐ, CTCT, lý luận CTĐ, CTCT cũng trải qua quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện dần từng bước. Từ chỗ quan niệm chưa rõ về CTĐ, CTCT đến chỗ khái quát đúng bản chất, chức năng, nhiệm vụ CTĐ, CTCT.

Sự phát triển tư duy lý luận CTĐ, CTCT là một tất yếu khách quan, song nhận thức đầy đủ về quá trình lịch sử sự vận động đó cho phép chúng ta nhìn nhận, đánh giá đúng về những thành công, hạn chế hoạt động CTĐ, CTCT, có quan điểm biện chứng trong đổi mới tư duy lý luận về CTĐ, CTCT, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong từng giai đoạn cách mạng. 

Trong tình hình hiện nay, cần tiếp tục nghiên cứu, luận giải sâu sắc, cụ thể, khái quát và toàn diện hơn lý luận CTĐ, CTCT, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong Quân đội./.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THÚC ĐẨY GIẢI NGÂN ĐẦU TƯ CÔNG!

     Sáng 18-10, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị toàn quốc thúc đẩy đầu tư công năm 2025. Đây là hội nghị lần thứ 4 trong năm về đầu tư công, được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại trụ sở Chính phủ, trực tuyến với 34 tỉnh, thành phố.

Cùng dự hội nghị có các Phó thủ tướng Chính phủ: Trần Hồng Hà, Lê Thành Long, Hồ Đức Phớc, Mai Văn Chính; lãnh đạo bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố, tập đoàn kinh tế.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, chỉ còn chưa đầy 1 quý nữa là hết năm 2025. Cả nước phải thực hiện giải pháp nước rút hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng, Quốc hội giao. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hơn 8% trong năm 2025, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho tăng trưởng 2 con số trong những năm tiếp theo, một trong những động lực tăng trưởng là đầu tư, trong đó có đầu tư công.

Trong nhiệm kỳ này, toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, toàn quân, toàn dân thực hiện quyết liệt các giải pháp tăng thu, giảm chi, dành nguồn lực cho tăng đầu tư công. Theo đó, vốn đầu tư công cả nhiệm kỳ tăng 55% so với nhiệm kỳ trước. Đến nay công tác giải ngân vốn đầu tư công được triển khai cơ bản tốt, tránh đầu tư dàn trải, riêng năm 2025 đầu tư công khoảng 1,11 triệu tỷ đồng và phấn đấu giải ngân 100%, góp phần thúc đẩy phát triển, mục tiêu tăng trưởng.

Trong bối cảnh cả nước triển khai nhiều công việc quan trọng, với khối lượng công việc rất lớn, Thủ tướng đề nghị lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan, địa phương phát huy tinh thần trách nhiệm và lương tâm đối với quốc gia, dân tộc, nhân dân, tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện giải ngân đầu tư công, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nhân dân.

Thủ tướng cho biết, theo tổng hợp đến ngày 16-10, cả nước mới giải ngân đầu tư công đạt 455.000 tỷ đồng, đạt 50,7%, thấp so với yêu cầu. Trong đó, còn 29 bộ, cơ quan Trung ương và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới mức trung bình của cả nước. Vừa qua, Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 366 - QĐ/TW về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, trong đó, kết quả chỉ đạo, tổ chức thực hiện giải ngân vốn đầu tư công là một tiêu chí.

Nhấn mạnh, “mỗi ngôi nhà mọc lên, mỗi công trình, công việc được hoàn thành mang lại niềm vui, phấn khởi, hạnh phúc của nhân dân, đóng góp vào sự phát triển của đất nước”, Thủ tướng yêu cầu các đại biểu tập trung kiểm điểm, đánh giá kết quả công tác giải ngân đầu tư công, làm rõ nguyên nhân việc giải ngân đầu tư công chậm tại một số bộ, ngành, cơ quan, địa phương, trong khi có cùng điều kiện, mặt bằng pháp lý.

Thủ tướng lưu ý tinh thần “nói ít, làm nhiều, bằng những sản phẩm cụ thể”, các đại biểu làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm trong công tác giải ngân đầu tư công; những vướng mắc cần xử lý, trách nhiệm xử lý ở cấp nào, ngành nào; tránh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm…

Theo Bộ Tài chính, tổng kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ giao là hơn 897.000 tỷ đồng. Tổng số vốn các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã phân bổ là hơn 871.000 tỷ đồng, đạt 97,1% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao; số vốn còn lại chưa phân bổ chi tiết là 26.202 tỷ đồng. Đến hết ngày 16-10-2025, có 9 bộ, cơ quan trung ương và 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên mức bình quân chung cả nước.

Cũng theo Bộ Tài chính, giải ngân vốn đầu tư công được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt ngay từ những ngày đầu năm, đã chỉ đạo tổ chức nhiều hội nghị toàn quốc và ban hành hàng loạt công điện, chỉ thị.

Thủ tướng, các Phó thủ tướng Chính phủ thường xuyên có các chuyến công tác, làm việc với địa phương để trực tiếp chỉ đạo, giải quyết vướng mắc, khó khăn về thể chế, quy trình, quy phạm... kiểm tra tiến độ, chất lượng trên thực địa của những công trình quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm.

Để nâng cao kỷ luật, kỷ cương, đẩy nhanh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, Thủ tướng đã ban hành Quyết định điều chỉnh kế hoạch vốn ngân sách trung ương từ các bộ, địa phương giải ngân thấp sang các bộ, địa phương có nhu cầu bổ sung vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện; có nhiều công điện để thúc đẩy giải ngân đầu tư công. 

Đặc biệt, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các quy định của nhiều luật, nghị định, nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; tăng cường phân cấp, phân quyền, cắt bỏ, đơn giải hóa quy trình, trình tự, thủ tục, hồ sơ, số hóa toàn trình quá trình phê duyệt, phân bổ, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công.

Dưới sự điều hành quyết liệt, công tác bố trí và giải ngân vốn đầu tư công đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Vốn ngân sách nhà nước được tập trung cho các dự án hạ tầng trọng điểm, cao tốc, sân bay, đường sắt tốc độ cao, tạo động lực phát triển mới cho các vùng, địa phương.

Từ đầu năm đến nay, cả nước đã hoàn thành hơn 455km đường cao tốc; khởi công mới 364km đường cao tốc, hướng tới hoàn thành mục tiêu 3.000km vào cuối năm 2025. Kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công được tăng cường. Các bộ, ngành, địa phương thường xuyên rà soát, điều chỉnh, điều chuyển vốn giữa các dự án, bảo đảm hiệu quả, minh bạch, đúng tiến độ, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô và phát triển bền vững…/.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "THEN CHỐT CỦA THEN CHỐT"!

     Công tác cán bộ là “công việc đặc biệt hệ trọng, then chốt của then chốt”, quyết định không chỉ thành công của Đại hội XIV mà còn định hình tương lai phát triển của đất nước trong thập niên tới. Gần đây, có một số thông tin diễn giải sai lệch về tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn nhân sự cấp cao, gây hiểu lầm rằng công tác này còn thiếu minh bạch hoặc dễ bị chi phối tại quy định số 365-QĐ/TW ngày 30/8/2025 của Ban Chấp hành Trung ương.

QUY TRÌNH TẬP THỂ VÀ KIỂM SOÁT NHIỀU TẦNG

Quy định 365, Phần I, Mục 1.2, nêu rõ: mọi quyết định về nhân sự phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Chấp hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đảm bảo tính tập thể, dân chủ, khách quan và công khai. 

Thực tế, các bước đánh giá, thẩm định, lấy phiếu tín nhiệm và biểu quyết đều trải qua ít nhất ba cấp thẩm quyền theo Quy định 105-QĐ/TW (2017). Trong kỳ Đại hội XIII, danh sách nhân sự trình Ban Chấp hành Trung ương gồm hơn 200 cán bộ, nhưng chỉ khoảng 20% được giới thiệu chính thức sau quá trình rà soát và lấy ý kiến rộng rãi. Điều này cho thấy công tác bổ nhiệm nhân sự cấp cao vận hành trên nguyên tắc tập thể và có kiểm soát chặt chẽ, tránh mọi diễn giải cảm tính về quyết định cá nhân hay nhóm lợi ích.

CƠ CHẾ LINH HOẠT VÀ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

Quy định 365 đồng thời khẳng định tính linh hoạt và cơ chế “trường hợp đặc biệt”, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và bảo đảm tính kế thừa trong đội ngũ lãnh đạo. Phần III, Mục 3.5 nêu rõ: “Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ chính trị cụ thể.” Cơ chế này kế thừa từ Quy định 214 (2020) và đã từng được áp dụng tại Đại hội XII và XIII. Tại Đại hội XIII, có ba trường hợp đặc biệt được Ban Chấp hành Trung ương biểu quyết với tỷ lệ trên 80% tán thành, cho thấy cơ chế vừa đảm bảo linh hoạt vừa được thực hiện theo nguyên tắc tập thể, minh bạch, không phụ thuộc cảm tính hay yếu tố cá nhân.

CHUẨN HÓA HỒ SƠ VÀ TĂNG CƯỜNG MINH BẠCH

Quy định 365 đặt trọng tâm vào chuẩn hóa hồ sơ, tiêu chuẩn năng lực và cơ chế công khai thông tin trong nội bộ Đảng, góp phần nâng cao niềm tin xã hội và đảm bảo mọi nhân sự chiến lược đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, năng lực, đạo đức và uy tín. Trong giai đoạn 2021–2024, Ban Tổ chức Trung ương đã rà soát, tinh giản gần 1.200 trường hợp không đủ chuẩn chính trị hoặc năng lực. Hiện Ban Tổ chức Trung ương quản lý hơn 40.000 hồ sơ cán bộ cấp chiến lược, mỗi hồ sơ được thẩm định và giám sát định kỳ bởi ít nhất ba cơ quan độc lập. Những con số này cho thấy công tác cán bộ đang được chuẩn hóa, minh bạch hóa và kiểm soát chặt chẽ, loại bỏ mọi sai phạm và củng cố niềm tin xã hội.

Quy định 365 thể hiện ba trụ cột quan trọng trong công tác cán bộ: tính tập thể, nguyên tắc linh hoạt và cơ chế minh bạch, chuẩn hóa. Có thể nói, Quy định 365 ra đời nhằm chuẩn hóa, thống nhất và tăng cường tính công khai trong công tác cán bộ, là căn cứ pháp lý cao nhất hiện nay thể hiện tính hệ thống và minh bạch trong toàn bộ quy trình nhân sự cấp cao./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ DỰ LỄ KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG TÌNH BÁO QUỐC PHÒNG!

     Dự lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao Huân chương Hồ Chí Minh cho lực lượng Tình báo Quốc phòng Việt Nam.

Sáng 18/10, Tổng cục II tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống Tình báo Quốc phòng Việt Nam (25/10/1945-25/10/2025) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương, dự và phát biểu chỉ đạo buổi lễ.
Trình bày diễn văn tại buổi lễ, Trung tướng Trần Công Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục II đã ôn lại chặng đường 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của ngành Tình báo Quốc phòng Việt Nam.

Ra đời từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, trưởng thành cùng với sự lớn mạnh của Quân đội và phát triển của đất nước, Tình báo Quốc phòng Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Quân đội, dựa vào dân và đi sát địch, liên tục trưởng thành, tiến bộ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Ghi nhận những thành tích, đóng góp to lớn đó Đảng, Nhà nước đã trao tặng Tình báo Quốc phòng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao vàng, 2 Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 lần phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân,...

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống, Tình báo Quốc phòng vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ 3./.

#KBC-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM “VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CẦN ĐÓNG VAI “NHẠC TRƯỞNG”, LÀM GƯƠNG MẪU MỰC”!

     Chiều 18-10, tại Hà Nội, Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 95 năm Ngày truyền thống Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy (18-10-1930 / 18-10-2025); đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất và tuyên dương các điển hình tiên tiến giai đoạn 2020-2025. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu tại Lễ kỷ niệm.

Tham dự Lễ kỷ niệm có: Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn.

Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng: Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Nguyễn Duy Ngọc; các đồng chí: Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; Ngô Văn Dụ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban đảng Trung ương, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các Văn phòng và Văn phòng Trung ương Đảng.

* Tô thắm truyền thống: “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, sáng tạo, tận tụy, chu đáo, giữ vững nguyên tắc công tác”

Đọc Diễn văn tại Lễ kỷ niệm, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Phạm Gia Túc nêu rõ, cách đây 95 năm, sau Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam họp lần đầu tiên vào tháng 10-1930 đã quyết định thành lập các bộ phận chuyên môn giúp việc cho Trung ương Đảng, trong đó có văn phòng cấp ủy. Từ sự kiện lịch sử này, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã quyết định lấy ngày 18-10 làm ngày truyền thống của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy đảng các cấp.

Tháng 5-1947, tại căn cứ địa Việt Bắc (xã Quảng Nạp, huyện Định Hóa, nay là xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng (nay là Văn phòng Trung ương Đảng), cử đồng chí Lê Văn Lương làm Bí thư Văn phòng. Tháng 6-1949, tại căn cứ địa Việt Bắc, Trung ương đã triệu tập Hội nghị Văn phòng toàn quốc và thông qua nghị quyết quan trọng, xác định những vấn đề cơ bản của công tác văn phòng cấp ủy như: Nguyên tắc và hình thức tổ chức, lề lối làm việc, quan hệ công tác; vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, cán bộ của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy các cấp. Đây là dấu mốc đặt nền móng căn bản cho hoạt động của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy các cấp.

Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Phạm Gia Túc nhấn mạnh, nhìn lại 95 năm xây dựng và phát triển, hoạt động của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy luôn gắn liền với lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, với hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và lãnh đạo các cấp ủy đảng. Các thế hệ cán bộ của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy đã vượt qua biết bao gian lao thử thách, sẵn sàng hy sinh xương máu, một lòng, một dạ kiên trung với Đảng, luôn bám sát và hoàn thành nhiệm vụ, góp phần rất quan trọng vào việc giữ vững các mối liên lạc, bảo đảm cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Bác Hồ, của các cấp ủy đảng, đưa đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc và đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của đất nước với mục tiêu trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường, văn minh, người dân ấm no, hạnh phúc.

Trải qua 95 năm xây dựng và phát triển, với những chiến công, thành tích đạt được, Văn phòng Trung ương Đảng đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng; Văn phòng Khu ủy Khu 5 và Ban Tài mậu, Khu ủy Khu 5 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; nhiều danh hiệu cao quý khác đã trao tặng cho các tập thể và cá nhân của Văn phòng Trung ương Đảng...

Văn phòng Trung ương Đảng đã quán triệt và triển khai thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác thi đua khen thưởng; tổ chức nhiều phong trào thi đua trong cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo lời dạy của Bác Hồ: "Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Các phong trào thi đua ở Văn phòng Trung ương Đảng diễn ra sôi nổi, liên tục, thiết thực, có sức lan tỏa lớn, thu hút sự tham gia tự giác, tích cực của đông đảo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, tô thắm thêm truyền thống: “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, sáng tạo, tận tụy, chu đáo, giữ vững nguyên tắc công tác” của Văn phòng Trung ương Đảng. Từ các phong trào thi đua đó, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến có thành tích xuất sắc, được biểu dương, khen thưởng.

* Tham mưu ngắn gọn - đúng việc - đúng lúc - dễ thực thi

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, 95 năm qua, biết bao lượt cán bộ văn phòng cấp ủy đã hy sinh, chịu đựng gian khổ, giữ đúng nguyên tắc, giữ trọn kỷ luật, nhận phần khó về mình để công việc của Đảng thông suốt. Có những cống hiến không được nhắc tới trong văn bản nhưng in đậm trong chất lượng quyết định; có nhiều đêm không ngủ, có nhiều Chủ Nhật, ngày Lễ vẫn đi làm, có những thời gian “chạy nước rút” trước “giờ G” để một công văn kịp phát hành, một văn kiện ra đời đúng hạn, một hội nghị thành công, một chủ trương kịp đi vào cuộc sống...

Tổng Bí thư bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những cán bộ hết lòng vì công việc, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích tập thể, vì cái chung; ghi nhận và tri ân cống hiến của các thế hệ đi trước; trân trọng những đồng chí vẫn ngày ngày “giữ lửa” kỷ cương, chu đáo, khiêm nhường mà hiệu quả và là tấm gương sáng cho những người đi sau, những người thế hệ hôm nay học tập.

Bước vào kỷ nguyên số, xã hội số, kinh tế số, đòi hỏi hệ thống văn phòng cấp ủy chuyển từ “quy trình thủ công” sang “quy trình số”, từ “giấy tờ phân tán” sang “dữ liệu thống nhất, liên thông, an toàn”, từ “thói quen xử lý sự vụ” sang “quản trị theo kết quả”, Tổng Bí thư đề nghị Văn phòng Trung ương Đảng hành động theo 3 định hướng lớn: Sớm số hóa toàn diện vòng đời văn bản, hồ sơ công việc; chữ ký số - lịch số - giao việc số - báo cáo số; xây dựng kho dữ liệu chuẩn dùng chung, bảo đảm bảo mật - an toàn - bền vững. Chuẩn hóa quy trình theo nguyên tắc “một lần nhập - dùng nhiều lần”, rút ngắn thời gian xử lý, truy xuất nhanh, chính xác; lấy mức độ hài lòng của cơ quan, của nhân dân là thước đo. Phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ văn phòng về kỹ năng dữ liệu, an toàn thông tin, phân tích tổng hợp; kết hợp kỷ luật sắt với sáng tạo mềm để tham mưu ngắn gọn - đúng việc - đúng lúc - dễ thực thi.

Tổng Bí thư yêu cầu, Văn phòng Trung ương Đảng thực hiện 6 nhiệm vụ: Cần đóng vai “nhạc trưởng”, làm gương mẫu mực cho toàn hệ thống văn phòng cấp ủy và văn phòng của cả hệ thống chính trị. Khi tham mưu chiến lược cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần nêu rõ vấn đề, nêu đúng phương án, nêu đủ nguồn lực, nêu kỹ lộ trình, nêu rõ trách nhiệm. Xây dựng chuẩn mực nghiệp vụ thống nhất từ Trung ương đến cơ sở: Mẫu hóa hồ sơ, chuẩn hóa quy trình, đo lường thời gian - chất lượng - chi phí; đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đối với cán bộ. Xây dựng văn hóa chất lượng của công việc, của văn bản. Xây dựng văn hóa nêu gương: Lãnh đạo, quản lý nói đi đôi với làm, chấp hành kỷ luật thông tin, giữ bí mật tài liệu, tôn trọng sự thật; đề cao tinh thần hợp tác liên thông giữa các cơ quan tham mưu của Đảng và Nhà nước. Trong thời gian tới Văn phòng Trung ương Đảng cần chuẩn bị thật tốt công tác phục vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Với bề dày truyền thống 95 năm của Văn phòng Trung ương Đảng và Văn phòng các cấp ủy, với tinh thần, ý thức, trách nhiệm đảng viên và của người lao động, Tổng Bí thư tin tưởng toàn thể các đồng chí làm công tác Văn phòng trong hệ thống cấp ủy sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, giữ vững và phát huy truyền thống “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, sáng tạo, tận tụy, chu đáo, giữ vững nguyên tắc” của Văn phòng Trung ương Đảng.

Tại Lễ kỷ niệm, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Văn phòng Trung ương Đảng đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác tham mưu chiến lược phục vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong tổ chức điều hành công việc lãnh đạo của Đảng và có thành tích to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã của đất nước.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã trao tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho tập thể, cá nhân Văn phòng Trung ương Đảng ghi nhận thành tích xuất sắc trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Ghi nhận những thành tích của các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến giai đoạn 2020 - 2025, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng đã tặng Bằng khen cho 16 tập thể và 44 cá nhân.

Nhân dịp này, Văn phòng Trung ương Đảng đã Phát động phong trào thi đua giai đoạn 2025 - 2030 và đợt thi đua cao điểm chào mừng Đại hội XIV của Đảng./.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2025

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: HÀN QUỐC PHÁT LỆNH CẤM ĐẾN CAMPUCHIA SAU LOẠT VỤ BẮT CÓC, TRA TẤN VÀ CÁI CHẾT LIÊN QUAN “TRUNG TÂM LỪA ĐẢO”!

     Chiến dịch quốc tế siết chặt mạng lưới tội phạm Đông Nam Á.
Chính phủ Hàn Quốc đang khẩn trương đưa công dân bị mắc kẹt tại Campuchia về nước, sau khi hàng trăm người bị dụ dỗ sang làm việc tại các “trung tâm lừa đảo trực tuyến” - nơi giam giữ, tra tấn và buộc họ thực hiện các chiêu trò lừa đảo tiền số.

Các điểm chính:
330 người Hàn đã được báo cáo mất tích tại Campuchia năm nay, trong đó 79 người vẫn chưa được tìm thấy.

Một sinh viên 22 tuổi được phát hiện đã chết vì “tra tấn nghiêm trọng”, theo chính quyền Campuchia.

60 người khác đang bị giam giữ và sẽ được Seoul tìm cách hồi hương.

Campuchia, Lào và Myanmar đang trở thành “điểm nóng lừa đảo toàn cầu”, gây thiệt hại hàng chục tỷ USD mỗi năm.

Quốc tế vào cuộc:
🇺🇸 Mỹ và 🇬🇧 Anh vừa trừng phạt tập đoàn Prince Group (Campuchia) và truy tố Chủ tịch Chen Zhi, cáo buộc điều hành trại lao động cưỡng bức và mạng lưới lừa đảo tiền điện tử.

Mỹ thu giữ 127.271 Bitcoin (trị giá khoảng 15 tỷ USD) – vụ tịch thu lớn nhất trong lịch sử Bộ Tư pháp Mỹ.

Trung Quốc trước đó cũng mở chiến dịch truy quét tại Myanmar và Campuchia, đưa hàng trăm người bị ép làm việc trở về nước.

Tình trạng nghiêm trọng:

Người Hàn bị dụ bằng việc làm lương cao (từ 5 triệu won/tuần, ~3.500 USD), sau đó bị ép lừa đảo đồng hương.

Một số nạn nhân bị đánh đập, cưỡng hiếp, ép sử dụng ma túy hoặc khám y khoa để mổ cướp nội tạng.

Tổ chức phi lợi nhuận “Korean Rescue Organization” cho biết: ai từ chối làm việc sẽ bị tra tấn hoặc đòi tiền chuộc từ gia đình.

Quy mô khủng khiếp:
Khoảng 200.000 người thuộc nhiều quốc tịch đang bị cưỡng bức làm việc trong các trung tâm lừa đảo ở Campuchia.

1.000 người Hàn Quốc được cho là nằm trong số đó.

Các nhóm tội phạm Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế, nhưng băng nhóm Hàn và Nhật đang dần mở rộng hoạt động trong khu vực.

Nhìn chung:
Hàn Quốc đã nâng cảnh báo du lịch lên mức cao nhất - “Code Black” cho các khu vực như Poipet, Kampot và Sihanoukville, yêu cầu công dân rời khỏi Campuchia ngay lập tức.

Đây là bước đi nằm trong chiến dịch quốc tế chống lại các mạng lưới lừa đảo xuyên quốc gia, đang gây ra thảm kịch cho hàng nghìn nạn nhân châu Á./.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỌP BÁO THƯỜNG KỲ Bộ NGOẠI GIAO “VIỆT Nam HOAN NGHÊNH TIMOR-LESTE TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN CHÍNH THỨC CỦA ASEAN”!

     Chiều 16-10, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị Người phát ngôn Bộ Ngoại giao bình luận trước thông tin: Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim - Chủ tịch ASEAN 2025, ngày 11-10 xác nhận rằng Timor-Leste sẽ chính thức trở thành thành viên đầy đủ thứ 11 của ASEAN vào ngày 26-10, bà Phạm Thu Hằng cho biết:

Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 46 (5-2025) đã quyết định kết nạp Timor-Leste làm thành viên chính thức thứ 11 của ASEAN. Lễ kết nạp dự kiến diễn ra tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 47 (26-10-2025).

Việt Nam hoan nghênh Timor-Leste trở thành thành viên chính thức của ASEAN và tin tưởng Timor-Leste sẽ đóng góp tích cực vào nỗ lực chung xây dựng Cộng đồng ASEAN tự cường, sáng tạo và lấy người dân làm trung tâm.

Việt Nam sẽ tiếp tục cùng các nước thành viên ASEAN hỗ trợ Timor-Leste nâng cao năng lực, tham gia hiệu quả vào tiến trình hợp tác chung của ASEAN.

*Cũng tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu quan điểm trước thông tin: Ngày 14-10, Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia Mohamad Hasan cho biết, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump sẽ tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 47 và “mong được chứng kiến lễ ký thỏa thuận ngừng bắn giữa Thái Lan và Campuchia”, bà Phạm Thu Hằng cho biết:

“Lập trường của chúng tôi về vấn đề này đã được nhiều lần nêu rõ.

Chúng tôi hoan nghênh và đánh giá cao các nỗ lực, trung gian hòa giải của các nước, nhất là Malaysia, trong vai trò Chủ tịch ASEAN 2025 và các bên liên quan, cùng sự hợp tác tích cực của Thái Lan và Campuchia trong thúc đẩy, giải quyết hòa bình các bất đồng trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN, Hiệp ước Thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) và trên tinh thần hữu nghị, đoàn kết ASEAN vì lợi ích của cả Thái Lan và Campuchia, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới”./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ CHÍNH TRỊ THỐNG NHẤT CHỦ TRƯƠNG ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ ĐỊNH KỲ HẰNG QUÝ, HẰNG NĂM VÀ ĐỘT XUẤT KHI CÓ YÊU CẦU!

     Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương đánh giá đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị (Kết luận số 198-KL/TW, ngày 8-10-2025).

Kết luận nêu: Tại phiên họp ngày 3-10-2025, xem xét báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương về tình hình đội ngũ cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (Báo cáo số 87-BC/BTCTW, ngày 1-10-2025), Bộ Chính trị kết luận như sau:

1. Cơ bản đồng tình với các nội dung của Báo cáo. Để tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả và xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong công tác quản lý, đánh giá cán bộ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương tiến hành đánh giá cán bộ định kỳ hằng quý, hằng năm và đột xuất khi có yêu cầu.

2. Đánh giá đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp

(1) Đối với chức danh diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý

Căn cứ các quy định hiện hành (Quy định số 366-QĐ/TW, ngày 30-8-2025 của Bộ Chính trị về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị; Quy định số 377-QĐ/TW, ngày 8-10-2025 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý và quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, tạm đình chỉ công tác, từ chức, miễn nhiệm đối với cán bộ và các quy định liên quan), giao ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương (các Đảng ủy: Các cơ quan Đảng Trung ương; Chính phủ; Quốc hội; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Quân ủy Trung ương; Đảng ủy Công an Trung ương); ban thường vụ đảng ủy các ban, bộ, ngành, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương trực tiếp quản lý cán bộ thực hiện một số nội dung, yêu cầu sau:
- Định kỳ hàng quý tiến hành đánh giá đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý theo quy định, trong đó tập trung vào một số nội dung, tiêu chí chủ yếu như sau:
(i) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; việc thực hiện quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình và trách nhiệm nêu gương; xây dựng mối đoàn kết nội bộ,...

(ii) Kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao và mức độ hoàn thành của các tổ chức, cơ quan, đơn vị trực thuộc trong phạm vi phụ trách; đối với những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, cần phân tích, đánh giá, làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan và đề ra biện pháp khắc phục.

(iii) Đề xuất xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với cán bộ; đồng thời, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét việc điều chuyển, bố trí công tác khác đối với cán bộ có vi phạm, khuyết điểm hoặc không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.

- Định kỳ báo cáo kết quả với Bộ Chính trị, Ban Bí thư (qua Ban Tổ chức Trung ương) trước ngày 15 tháng cuối của mỗi quý.

(2) Đối với chức danh diện cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị quản lý

- Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị căn cứ các quy định hiện hành có trách nhiệm tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện việc đánh giá định kỳ hàng quý đối với cán bộ thuộc diện cấp mình quản lý, trong đó tập trung vào các nội dung, tiêu chí định hướng nêu tại mục (1); đồng thời, trên cơ sở xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với cán bộ, xem xét, quyết định điều chuyển, bố trí công tác khác đối với cán bộ có vi phạm, khuyết điểm hoặc không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.

- Định kỳ hàng quý báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả đánh giá cán bộ (qua Văn phòng Trung ương Đảng) trước ngày 30 tháng cuối của mỗi quý; đồng thời, gửi Ban Tổ chức Trung ương để theo dõi, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền khi có yêu cầu.

(3) Giao Ban Tổ chức Trung ương

Căn cứ các quy định hiện hành và trên cơ sở kết quả báo cáo, đề xuất của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị: (i) Định kỳ hàng quý, tổng hợp, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình xếp loại, đánh giá hằng quý đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý công tác tại các cơ quan, đơn vị, địa phương. (ii) Phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và các cơ quan liên quan đề xuất việc điều chuyển, phân công, bố trí công tác khác đối với cán bộ có vi phạm, khuyết điểm hoặc không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao theo quy định.

Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị kịp thời báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (qua Ban Tổ chức Trung ương) xem xét theo quy định./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM KIỂM TRA CÔNG TÁC KHẮC PHỤC HẬU QUẢ BÃO, LỤT TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN!

     Chiều 16/10, tại Thái Nguyên, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn công tác của Trung ương đã đi kiểm tra tình hình khắc phục hậu quả cơn bão số 11; thăm hỏi hộ dân bị ảnh hưởng bởi bão, lụt và động viên các lực lượng Quân đội, Công an tham gia hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả cơn bão trên địa bàn.

Cùng đi có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành, địa phương.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Đoàn công tác Trung ương đã tới kiểm tra khu vực cầu Bến Tượng. Tại chân cầu, các lực lượng vũ trang đã nỗ lực đắp kè bờ đê, ngăn lụt sâu và sạt lở.

Đồng chí Trịnh Xuân Trường, Bí thư Tỉnh ủy đã báo cáo với Đoàn công tác tình hình thiệt hại và công tác khắc phục hậu quả cơn bão số 11 (Matmo). Bão và mưa lũ sau bão gây ra trên địa bàn tỉnh đã khiến 7 người chết, 3 bị thương; ước tổng thiệt hại về tài sản hơn 12.200 tỷ đồng, trong đó có 200.000 nhà bị ảnh hưởng; khoảng 13.598ha cây trồng, thủy sản bị ngập, hư hỏng; hơn 1 triệu con vật nuôi bị chết, bị nước cuốn trôi. Hơn 3.170 điểm giao thông bị sạt lở, ngập úng và một số thiệt hại khác. 6 trung tâm y tế, bệnh viện; 25 trạm y tế địa phương bị ngập lụt, sạt lở; 180 điểm trường bị ảnh hưởng và nhiều thiệt hại về hệ thống thủy lợi, công trình cấp nước...

Ngay khi nước rút, lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đi kiểm tra và thăm hỏi, động viên các gia đình có người chết, người bị thương, bị thiệt hại do bão số 11 và mưa lũ sau bão gây ra; đồng thời tổ chức họp, chỉ đạo, triển khai công tác khắc phục hậu quả bão số 11 và mưa lũ sau bão.

Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Quân khu 1 đã huy động 17.317 lượt cán bộ, chiến sĩ với 254 xe ô-tô các loại, 140 xuồng; Công an tỉnh huy động hơn 18.000 lượt cán bộ, chiến sĩ; 3.260 lượt phương tiện (xe tải, xe chở quân, xe chữa cháy, xe chỉ huy, xe máy, xuồng máy…) tham gia cứu nạn, cứu hộ tại các địa bàn bị ngập lụt, chia cắt, sạt lở, tiếp tế, hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho người dân.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị xã hội tỉnh đã huy động hàng nghìn hội viên, thanh niên tham gia hỗ trợ dọn dẹp, vệ sinh môi trường, khắc phục hậu quả thiên tai.

Hiện nay, công tác khắc phục hậu quả thiên tai vẫn đang tiếp tục được nỗ lực thực hiện với tinh thần khẩn trương nhất, quyết liệt nhất.

Thăm hỏi, tặng quà đại diện các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi bão, lụt và lực lượng vũ trang tham gia hỗ trợ người dân khắc phục thiệt hại, Tổng Bí thư Tô Lâm chia sẻ với những khó khăn, mất mát của người dân; động viên bà con nỗ lực khắc phục để cuộc sống sớm trở lại bình thường. Tổng Bí thư đề nghị chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng tích cực, chủ động triển khai các biện pháp hỗ trợ nhằm khẩn trương khắc phục thiệt hại, giúp các hộ dân bị ảnh hưởng sớm ổn định cuộc sống, khôi phục các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, diễn biến rất khó lường, chính quyền địa phương và nhân dân cần nâng cao tính chủ động để thích ứng kịp thời, có phương án dự phòng từ xa nhằm hạn chế thấp nhất những hậu quả có thể xảy ra; chú trọng việc đầu tư gia cố hệ thống giao thông, đê điều, thủy lợi…

Tổng Bí thư mong muốn chính quyền và nhân dân trên địa bàn phát huy tinh thần đoàn kết và truyền thống “tương thân tương ái” tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đùm bọc, động viên, giúp đỡ nhau sớm vượt qua hoàn cảnh khó khăn, ổn định cuộc sống, tiếp tục xây dựng phát triển quê hương./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM dự LỄ KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LLVT QUÂN KHU 1!

     Chiều 16-10, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống LLVT Quân khu 1 (16-10-1945/ 16-10-2025) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh.

Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gửi lẵng hoa chúc mừng. 

Dự lễ kỷ niệm có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương. 

Dự lễ kỷ niệm có Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương. 

Trong không khí trang trọng và tự hào, diễn văn lễ kỷ niệm do Thiếu tướng Trương Mạnh Dũng, Tư lệnh Quân khu 1 trình bày đã ôn lại truyền thống anh hùng, vẻ vang của LLVT Quân khu. Cách đây đúng 80 năm, ngày 16-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập 12 chiến khu trong cả nước, trong đó có Chiến khu 1 và từ đó ngày 16-10 hằng năm trở thành Ngày truyền thống của LLVT Quân khu 1.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, Việt Bắc luôn là “phên giậu” vững bền, “tấm lá chắn” phía Đông Bắc của Tổ quốc. Với truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên cường, bất khuất của đồng bào các dân tộc Việt Bắc - Quân khu 1 trở thành “Chiếc nôi của cách mạng”, nơi ra đời các Đội Cứu Quốc quân và Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng ngày nay, là “An toàn khu”, “Thủ đô kháng chiến”, “Chiến trường chính của chiến trường Bắc Bộ” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; hậu phương lớn của hậu phương miền Bắc… Ngày nay, Việt Bắc - Quân khu 1 vẫn là địa bàn chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Qua chặng đường 80 năm đầy gian khó nhưng hào hùng, LLVT Quân khu 1 luôn tỏ rõ lòng trung thành, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, quyết tâm vượt qua gian khổ, hy sinh, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ: “Cách mạng đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi”.

Với những chiến công và thành tích tiêu biểu đã đạt được trong 80 năm qua, LLVT Quân khu 1 vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Sao vàng, 2 Huân chương Hồ Chí Minh, 1 Huân chương độc lập hạng nhì, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, 1 Huân chương Quân công hạng Ba và 2 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc. Những chiến công và thành tích tiêu biểu đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang “Trung hiếu, tiên phong, đoàn kết, chiến thắng” của LLVT Quân khu 1.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư Tô Lâm gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, ghi nhận và biểu dương những chiến công, thành tích mà cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 1 đã đạt được trong 80 năm qua.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, ra đời trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, LLVT Việt Bắc - Quân khu 1 sớm hình thành, phát triển lớn mạnh, là lực lượng “tiên phong” cho phong trào đấu tranh vũ trang, lực lượng nòng cốt, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chuyển mình qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân khu 1 tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, nòng cốt vào nhiệm vụ Quốc phòng trong thời chiến.

Phát huy truyền thống quê hương cách mạng, 80 năm qua, cùng với nhân dân các dân tộc Việt Bắc, LLVT Quân khu 1 thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, Nhà nước; chủ động nắm chắc, dự báo đúng tình hình, phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy, chính quyền địa phương, thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự và quốc phòng trên địa bàn. Tập trung xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng, thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc; kết hợp với việc phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Luôn nắm vững định hướng xây dựng LLVT Quân khu vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; tích cực huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chủ động đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn.

Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội giao phó, tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của Quân khu và để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của đơn vị cấp chiến dịch-chiến lược của Bộ Quốc phòng trên địa bàn trọng yếu của đất nước, Tổng Bí thư yêu cầu LLVT Quân khu 1 cần thường xuyên quán triệt sâu sắc, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhất là Nghị quyết Trung ương 8 Khóa XIII về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Tiếp tục chủ động nắm, dự báo chính xác tình hình, trên cơ sở đó tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đề xuất với Đảng, Nhà nước những giải pháp lớn về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn Quân khu quản lý. Thực hiện tốt “2 kiên định, 2 đẩy mạnh và 2 ngăn ngừa” nhằm thực hiện thắng lợi những phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội, Quân khu.

Quan tâm xây dựng khu vực phòng thủ trên địa bàn Quân khu vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, đặc biệt là “thế trận lòng dân” trên địa bàn; gắn phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo Tổ quốc “từ sớm”, “từ xa”, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định khu vực biên giới để xây dựng, phát triển đất nước.

Tổng Bí thư yêu cầu phải chăm lo xây dựng LLVT Quân khu vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, tập trung quán triệt triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội các cấp; các kết luận, quy định của Ban chấp hành Trung ương, của Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; bảo đảm cho LLVT Quân khu thực sự có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

Tổng Bí thư yêu cầu thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự - quốc phòng của Đảng, nắm vững nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tập trung xây dựng LLVT Quân khu tinh, gọn, mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, nâng cao sức mạnh tổng hợp và trình độ, khả năng chiến đấu.

Tổng Bí thư yêu cầu LLVT Quân khu 1 bảo đảm tốt lượng dự trữ hậu cần, kỹ thuật cho sẵn sàng chiến đấu. Trong đó, kết hợp chặt chẽ giữa nguồn trên cấp với nguồn khai thác trên địa bàn và khả năng bảo đảm của Quân khu. Đồng thời chủ động phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong thực hiện chính sách đối ngoại, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác” làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân; đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, thực hiện tốt phong trào “LLVT Quân khu chung sức xây dựng nông thôn mới”; thực hiện có hiệu quả các dự án phát triển kinh tế kết hợp với quốc phòng và dân sinh...

Phát huy truyền thống của LLVT Quân khu 1, Tổng Bí thư tin tưởng cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu và nhân dân các dân tộc Việt Bắc sẽ đoàn kết, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Tại lễ kỷ niệm, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đã trao Huân chương Hồ Chí Minh tặng LLVT Quân khu 1 vì đã có bề dày truyền thống, có công lao to lớn, đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Dịp này Tổng Bí thư Tô Lâm tặng LLVT Quân khu 1 tác phẩm “Bác Hồ về thăm quê”./.





Yêu nước ST.