Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2025

NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG NGỪA BIỂU HIỆN “NHẠT ĐẢNG, PHAI ĐOÀN” Ở MỘT BỘ PHẬN THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY!

BÀI 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA!

     Phòng ngừa biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận thanh niên Việt Nam (TNVN) hiện nay là đòi hỏi tất yếu trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi sự vào cuộc của các tổ chức, lực lượng, ban ngành, đoàn thể, tổ chức đoàn từ Trung ương đến địa phương, nhất là các cấp ủy, chi bộ, đảng bộ, chính quyền địa phương thực hiện tốt một số giải pháp như sau:
Một là, nâng cao nhận thức đúng về vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên trong tình hình mới; đánh giá đúng biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN hiện nay.

Nhận thức đúng về vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên trong tình hình mới và thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá đúng biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN hiện nay là giải pháp rất quan trọng, chiếm vị trí hàng đầu trong tổng thể hệ thống giải pháp phòng ngừa biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN hiện nay; là yêu cầu bắt buộc đối với các tổ chức, lực lượng, ban ngành, đoàn thể, tổ chức đoàn từ Trung ương đến địa phương, nhất là các cấp ủy, chi, đảng bộ, chính quyền địa phương. Các chủ thể cần có sự đồng thuận, thống nhất trong nhìn nhận, đánh giá, tin tưởng, tập hợp, giáo dục, rèn luyện, tạo động lực, cơ hội để TNVN khẳng định mình, thực hiện tốt trách nhiệm và nghĩa vụ của thanh niên đối với Tổ quốc.

Không phủ nhận, lảng tránh, thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá đúng biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận thanh niên trong cơ quan, đơn vị, địa phương mình; tổ chức giáo dục, định hướng TNVN thấy rõ tính chất, mức độ nguy hiểm của biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” đối với sự trường tồn và phát triển của đất nước; thực hiện có hiệu quả các văn bản của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội về công tác thanh niên, trọng tâm là: Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030; quy định trong Luật Thanh niên (Luật số: 57/2020/QH14) do Quốc hội khóa 14 ban hành ngày 16-6-2020; Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số: 1331/QĐ-TTg ngày 24-7-2021 của Thủ tướng Chính phủ.

Hai là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với TNVN tại các địa phương.

Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với TNVN sẽ giúp họ nâng cao nhận thức, xây dựng bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, định hướng tư tưởng và hành động đúng là cơ sở để triệt tiêu biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN hiện nay. Qua đó, góp phần phát huy vai trò TNVN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đòi hỏi, các cấp ủy, tổ chức Đảng, đoàn, chính quyền địa phương nhận thức đúng về vị trí, vai trò công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thống nhất nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với TNVN ở địa phương. Chú trọng giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền thống của dân tộc, địa phương, TNVN và vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của thanh niên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng tri thức, hình thành niềm tin, lý tưởng cách mạng cho TNVN. Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và thường xuyên đa dạng hóa hình thức, phương pháp giáo dục chính trị sát với thực tiễn địa phương, đất nước, tránh chung chung, hình thức, phô trương; chú trọng kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục chính trị gắn với các phong trào thi đua, các cuộc vận động, các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước để khơi dậy tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, thổi bùng khát vọng cống hiến, sức trẻ, nhiệt huyết, sáng tạo của tuổi trẻ.

Ba là, nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cách mạng cho TNVN.

Giáo dục đạo đức cách mạng đối với TNVN là quá trình tác động tổng hợp, hợp quy luật của chủ thể giáo dục đến TNVN nhằm giúp họ hình thành hệ thống nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội và hệ thống hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức; biến TNVN thành những con người mới xã hội chủ nghĩa có lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, khiêm tốn, có đức tính cần cù, thông minh sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, linh hoạt, quyết đoán; sống bằng kết quả lao động chân chính; biết đặt lợi ích của xã hội, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; luôn có thái độ tích cực đối với cuộc sống, không buông thả, chạy theo tiền tài, danh lợi và những cái gì xa lạ, thù địch với đạo đức cộng sản chủ nghĩa; xây dựng được tình cảm, trách nhiệm của tuổi trẻ đối với nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao ý thức làm chủ, lòng tự hào về truyền thống dân tộc, địa phương; xây dựng ý thức tự lực, tự cường, tinh thần chủ động sáng tạo; biết hướng suy nghĩ và hành động của mình vào thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao cả của Đảng, của dân tộc ta là “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cách mạng cho TNVN hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng, đoàn, chính quyền địa phương cần: Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030...; chú trọng việc định hướng lựa chọn giá trị đạo đức để họ thấy được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc hiện nay; lan tỏa những tấm gương điển hình để truyền cảm hứng cho thanh niên, để họ tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành, sống có mục tiêu, lý tưởng rõ ràng, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; tự thân có nhu cầu tự giải quyết mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa vinh dự và trách nhiệm, giữa lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của dân tộc với lợi ích của cá nhân và thẳng thắn đấu tranh phê phán các cá nhân có biểu hiện lệch chuẩn giá trị đạo đức của dân tộc. Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng cho TNVN, chủ trọng phát huy vai trò của việc nêu gương về đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, lực lượng tại địa phương.

Bốn là, quan tâm, chăm lo, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng thiết yếu, chính đáng và nâng cao chất lượng các tổ chức đoàn ở các địa phương.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến một bộ phận TNVN có biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” là bộ phận thanh niên này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống, thất nghiệp và chất lượng, hoạt động công tác đoàn và phong trào thanh niên của tổ chức đoàn ở một số địa phương còn hạn chế. Do đó, thực hiện giải pháp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp cho TNVN tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, tham gia nhiệt tình các hoạt động công tác Đoàn và có động lực, nhu cầu phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện nay và những năm tiếp theo, các tổ chức, lực lượng, ban ngành, đoàn thể, tổ chức đoàn từ Trung ương đến địa phương, nhất là các cấp ủy, chi bộ, đảng bộ, chính quyền địa phương cần dành sự quan tâm toàn diện hơn nữa đối với các nhu cầu thiết yếu, chính đáng của TNVN, tập trung giải quyết nhu cầu học tập và việc làm, nhu cầu phát triển toàn diện, nhu cầu được tham gia xây dựng và phát triển đất nước, hội nhập quốc tế cho TNVN, nhất là nhu cầu về học tập, đào tạo và việc làm. Bởi vì, tính đến quý III năm 2025, Việt Nam có: “1,6 triệu thanh niên trong độ tuổi từ 15-24 không việc làm, không học tập, đào tạo”[1], thực trạng này là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến một bộ phận TNVN có biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn”.

Sự quan tâm, định hướng, giải quyết vấn đề này cần đồng bộ, tổng thể, toàn diện đối với các thành phần TNVN, chú trọng tập trung đội ngũ thanh niên là học sinh phổ thông, thanh niên ở vùng nông thôn, miền núi, thanh niên là sinh viên mới tốt nghiệp ra trường…; huy động sự vào cuộc của các tổ chức, lực lượng trong giúp đỡ thanh niên khởi nghiệp với các mô hình khác nhau, bảo đảm tính ổn định, phát triển lâu dài. Đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đoàn ở địa phương, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách ưu tiên đối với cán bộ Đoàn để họ thực sự là đầu tàu, thúc đẩy, nâng cao chất lượng công tác Đoàn và phong trào thanh niên ở mỗi tổ chức, cơ quan, địa phương; lựa chọn những cá nhân tiêu biểu để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao, phát triển tổ chức và thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc, quy định trong tổ chức và hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng các tổ chức Đoàn, các chủ thể cần làm tốt công tác xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, đoàn tiêu biểu, trong sạch, vững mạnh và các tổ chức này cần quan tâm đến công tác phát triển đảng viên đối với các bộ phận TNVN, đảm bảo lực lượng dự trữ, “hậu bị” tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN hiện nay là có thật, là sự biến hình của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là sự suy thoái về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống ở một bộ phận TNVN hiện nay, là mối đe dọa đối với sự nghiệp cách mạng, sự tồn vong của chế độ.

Thực hiện đồng bộ những giải pháp trên là đòi hỏi bắt buộc đối với các chủ thể, qua đó kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn không để biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” phát triển, lan rộng và tạo điều kiện, môi trường phát huy vị trí, vai trò của TNVN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung và đưa đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, hùng cường nói riêng./.
----------
[1] Bảo Ngọc - Hà Quân, “Cục Thống kê nói gì về con số 1,6 triệu thanh niên 15-24 tuổi không có việc làm, không học tập, đào tạo”, Báo Tuổi trẻ online, ngày 3-11-2025.
Môi trường ST.

NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG NGỪA BIỂU HIỆN “NHẠT ĐẢNG, PHAI ĐOÀN” Ở MỘT BỘ PHẬN THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY!

BÀI 1: BIỂU HIỆN VÀ TÁC HẠI 

     Biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận thanh niên Việt Nam (TNVN) hiện nay là sự biến hình mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có tác hại ghê gớm, là lực cản đối với việc giữ vững và phát huy vị trí, vai trò của TNVN và công tác thanh niên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay!

Do đó, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, nhất là cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp cần nhận diện đúng những biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN hiện nay và chủ động phòng ngừa là đòi hỏi tất yếu, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

“Nhạt Đảng” là quan niệm dùng để chỉ lập trường tư tưởng chính trị, cảm xúc, tình cảm, niềm tin của con người nói chung, đảng viên nói riêng đối với tổ chức đảng không còn được nguyên vẹn và mất dần niềm tin, tình cảm, phương hướng, thái đội chính trị đối với chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực chất, “nhạt Đảng” là sự mất dần đi niềm tin của đảng viên đối với các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, nghị quyết, quy định của các tổ chức cơ sở đảng, không thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đảng viên, không có động lực phấn đấu vào đảng… Biểu hiện “nhạt Đảng” ở mỗi đảng viên diễn ra theo một quá trình, “tự diễn biến” - những suy nghĩ sai lệch, mơ hồ, thiếu tin tưởng vào tính khoa học, hiệu quả, thiết thực của những chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, trực tiếp là từ tổ chức cơ sở đảng nơi đảng viên công tác, đến “tự chuyển hóa” - thờ ơ, coi thường, không có động lực, thiếu tôn trọng tập thể đảng viên và cấp ủy.

Những biểu hiện “nhạt Đảng” chỉ là hiện tượng, mang tính lịch sử, gắn với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, nhất là khi đảng viên gặp khó khăn trong cuộc sống, trước những bế tắc trong công việc, tương lai, trong hoàn cảnh gia đình. Đặc biệt, những khó khăn đó bị giấu kín, tổ chức cơ sở đảng, cấp ủy không nhận diện được, không có những biện pháp giúp đảng viên cách vượt qua nó thì sẽ biến suy nghĩ không đúng chuyển thành lời nói không đúng, việc làm không đúng, vi phạm những quy định đảng viên không được làm, thậm chí là đánh mất bản chất của người đảng viên, vô tình bán mình cho địch. Thực tiễn cuộc sống chứng minh, mỗi cá nhân có hoàn cảnh khác nhau, có những mối quan hệ khác nhau, có cách nghĩ, cách làm khác nhau. Song, “con đường đời” của bất cứ ai cũng có thăng, trầm, có vui, có buồn, hỉ, lộ, ái, ố, thậm chí có những thời điểm hoài nghi chính mình và “tự đánh mất mình một lần nữa”. Vì lẽ đó, biểu hiện “nhạt Đảng” có thể tồn tại trong chủ thể là đảng viên, đoàn viên thanh niên.

“Phai Đoàn” là quan niệm dùng để chỉ sự mờ dần đi vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và đoàn viên, thanh niên. Khi đó, tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh không giữ được vị trí, vai trò là đội “hậu bị” tin cậy của Đảng, không còn là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên; đoàn viên, thanh niên không giữ được mục tiêu, lý tưởng, tính năng động, xung kích, sáng tạo, cống hiến của tuổi trẻ. “Phai Đoàn” là hiện tượng diễn ra theo một thời gian tương đối dài, gắn với điều kiện lịch sử, hoàn cảnh nhất định.

Đối với con người cụ thể là đoàn viên, thanh niên, biểu hiện “phai Đoàn” diễn ra ở bên trong và bên ngoài. Bên trong là tâm trạng, cảm xúc, niềm tin, tình cảm, tri thức, ý chí. Mỗi đoàn viên, thanh niên trong tâm trạng, cảm xúc, tình cảm bị phai mờ, bị nhạt đi trong mối quan hệ với tổ chức, từ thấp, đến cao, đến Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, dẫn đến không có xu hướng, động cơ học tập, nghiên cứu, công tác, không có ý chí phấn đấu, xung khích, sáng tạo, không phát huy được vai trò của tuổi trẻ. Biểu hiện bên ngoài là động cơ, xu hướng, tính hiệu quả trong tham gia thực tiễn hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Ở đó, đoàn viên, thanh niên không có nhu cầu tham gia sinh hoạt, công tác, không mặn mà với mục tiêu, nghị quyết, chương trình hành động của Đoàn, có tham gia hoạt động thì cũng chỉ là hình thức bắt buộc, tính hiệu quả thực tiễn công tác đoàn và phong trào thanh niên rất hạn chế, và không có động cơ phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Như vậy, biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở con người cụ thể là đoàn viên thanh niên mang tính lịch sử cụ thể, chỉ là hiện tượng, không phải là bản chất và có nguyên nhân khách quan và chủ quan nhất định; làm cho đoàn viên, thanh niên đánh mất tính năng động, xung kích, sáng tạo, nhiệt huyết của tuổi trẻ, và mất động lực, nhu cầu phấn đấu vươn lên, động lực trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; dẫn đến hoạt động công tác đoàn và phong trào thanh niên chỉ là “hình thức”, tổ chức đoàn mất vị trí, vai trò, không còn là “đội hậu bị” tin cậy của Đảng.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, TNVN luôn giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là “rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng vị trí, vai trò của thanh niên; Người cho rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, mạnh hay yếu, một phần lớn là do các thanh niên…”[1]; “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai - tức là các cháu nhi đồng”[2]…

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên và đặc biệt chú trọng đến công tác thanh niên. Trong các văn bản về công tác thanh niên, Đảng, Nhà nước đều xác định thanh niên là lực lượng xung kích của cách mạng, lực lượng kế thừa, tiếp nối, phát huy thành quả cách mạng và là tương lai của nước nhà[3]; đồng thời, đã ban hành nhiều văn bản xoay quanh vấn đề công tác thanh niên[4]. Đặc biệt, ngày 16-6-2020, Quốc hội khóa 14 ban hành Luật Thanh niên, khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước về vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên; trong đó, khoản 1, Điều 4, Chương I của Luật khẳng định “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”… Nhìn chung, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán quan điểm, luôn đặt niềm tin đối với thanh niên và luôn quan tâm lãnh đạo, chăm lo công tác thanh niên.

Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, TNVN luôn phát huy được vị trí, vai trò của mình, là biểu tượng về sự trẻ trung, mạnh mẽ, có nhiều hoài bão, ham hiểu biết, nhạy cảm, sáng tạo, ưa thích cái mới, cái đẹp và tiến bộ, xứng đáng là lực lượng xung kích, sáng tạo, đi đầu và là tương lai của nước nhà; đóng góp to lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể khẳng định, phần lớn TNVN đều có nhận thức chính trị đúng đắn, sống có ý thức, quyết tâm cống hiến, không ngại khó khăn, gian khổ, sống có lý tưởng, hoài bão, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, xứng đáng với vị trí, vai trò của mình, và có rất nhiều tấm gương tuổi trẻ xung kích, sáng tạo, đi đầu trong một số lĩnh vực, có đóng góp không nhỏ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một bộ phận TNVN chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của cách mạng, còn hạn chế, thiếu sót. Bên cạnh những hạn được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) chỉ ra: Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hoá dân tộc… thì hiện nay, có một bộ phận TNVN nhận thức về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới chưa sâu sắc; nhận diện về đối tượng, đối tác còn giản đơn; phẩm chất đạo đức, nếp sống văn hoá có thời điểm còn hạn chế; còn có biểu hiện chạy theo lối sống thực dụng, tìm cách thu vén lợi ích cá nhân, không quan tâm chăm lo tới lợi ích của đơn vị và xã hội; có thời điểm có biểu hiện giảm sút niềm tin, lý tưởng cách mạng, thờ ơ với sự biến đổi của thời cuộc, thiếu niềm tin vào cương lĩnh, điều lệ, chủ trương, nghị quyết của Đảng, Đoàn; chủ nghĩa bình quân, phấn đấu cầm chừng, ngại rèn luyện, thiếu nhiệt huyết, không muốn tham gia các hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh niên, lý tưởng phấn đấu vào Đảng chưa cao; chưa tự giác chấp hành pháp luật, vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của dân tộc nói chung, TNVN nói riêng.

Những hạn chế trên là những biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn”, là sự biến hình của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nhận thức và hành động của một bộ phận TNVN và những biểu hiện này làm cho một bộ phận này rơi vào các trạng thái: Thờ ơ với chính trị, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng; động cơ phấn đấu thấp; nhận thức mơ hồ, lệch lạc; coi thường Điều lệ Đảng, Đoàn, pháp luật của Nhà nước và các quy định của các tổ chức, địa phương, dễ vi phạm pháp luật, kỷ luật; Không hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của thanh niên…

Biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một một bộ phận TNVN hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó, nguyên nhân chủ quan là cơ bản, quyết định. Song, biểu hiện đó không đồng hành cùng thời gian của chủ thể, nó tồn tại theo từng thời điểm, từng giai đoạn, hoàn cảnh, tính chất nhiệm vụ cụ thể và thông qua các giai đoạn từ mầm mống, chuyển hóa trong nhận thức đến hành động cụ thể. Những biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN hiện nay chỉ là hiện tượng, không phải là bản chất, không kéo dài, nó sẽ mất đi khi các nguyên nhân cơ bản được các tổ chức, lực lượng nói chung, TNVN nói riêng nhận diện và khắc phục, nhất là khi cấp ủy, chính quyền các địa phương có chủ trương, chính sách thiết thực, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng thiết yếu, chính đáng của TNVN. Mặc dù biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” diễn ra ở một một bộ phận TNVN hiện nay, theo từng thời điểm cụ thể, nhưng nó có sức “lây nhiễm” mạnh mẽ trong TNVN. Đặc biệt, trước sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, sự tác động của lối sống, văn hóa phương Tây, mặt trái của mạng xã hội và sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sự nắm bắt, quan tâm, động viên chưa thường xuyên của gia đình, việc tổ chức, duy trì hoạt động công tác đoàn, phong trào thanh niên và thực hiện các chính sách liên quan đến công tác thanh niên ở một số địa phương chưa thiết thực, chung chung, hình thức sẽ là điều kiện thúc đẩy biểu hiện “nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN “lây nhiễm” và “phát triển” mạnh mẽ trong bộ phận lớn của TNVN.

Nếu biểu hiện “Nhạt Đảng, phai Đoàn” ở một bộ phận TNVN tiếp tục “lây nhiễm” rộng rãi trong TNVN thì sẽ trở thành mối đe dọa đối với sự tồn vong của chế độ, là thách thức đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và là lực cản mạnh mẽ, kìm hãm Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, giàu mạnh và hùng cường./.

Ảnh: Thanh niên trên địa bàn tỉnh Cà Mau tích cực tham gia hoạt động tái tạo nguồn lợi thủy sản.
---------------
[1] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2021, tập 5, tr. 216.
[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2021, tập. 13, tr. 298.
[3] Như: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV khẳng định: “Tiền đồ rạng rỡ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nằm trong tay thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”. Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14-1-1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25-7-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) nhấn mạnh: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội…”…
[4] Như: Ngày 24-3-2015, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030; Ngày 16-6-2020, Quốc hội khoá 14 ban hành Luật số: 57/2020/QH14, Luật Thanh niên; Ngày 24-7-2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 1331/QĐ-TTg, quyết định ban hành Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021-2030…
Môi trường ST.

KIÊN ĐỊNH ĐỐI SÁCH “TRONG ẤM, NGOÀI ÊM”, “NỘI YÊN, NGOẠI TĨNH”!

     Chỉ đạo Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương yêu cầu phải kiên định đối sách “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh”. Trong bối cảnh thế giới biến động, diễn biến phức tạp, khó lường, đối sách đó vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát...

Nhận thức đúng về đối sách chiến lược

Chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương là sự cụ thể hóa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta trong tình hình mới. Đối sách “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh” thể hiện tầm nhìn chiến lược, khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế quốc gia trong kỷ nguyên cạnh tranh địa chính trị gay gắt hiện nay. Đặc biệt là sự cạnh tranh lợi ích giữa các cường quốc trong các khu vực, lĩnh vực có ảnh hưởng sâu rộng.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, tư tưởng hòa hiếu, trọng hòa bình, lấy ổn định làm lợi ích căn bản luôn là nội dung cốt lõi trong quan hệ quốc tế. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, khẳng định sự kiên định mục tiêu chiến lược phải đi đôi với sự linh hoạt, sáng tạo về sách lược, giải pháp. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển của Đảng ta theo trường phái “ngoại giao cây tre” là sự cụ thể hóa, phát triển sáng tạo bản sắc của tiên tổ, ông cha. Trong bối cảnh hiện nay, đối sách giữ cho “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh” vừa là chiến lược căn cốt lâu dài, vừa là yêu cầu thời sự cấp bách. Mục tiêu của đối sách này là nhằm ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, ngay từ nơi xuất phát. Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII vừa qua, đối sách này là một trong “Hai ngăn ngừa” của chính sách quốc phòng và nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, được Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh. “Hai kiên định”, “Hai đẩy mạnh”, “Hai ngăn ngừa” được người lãnh đạo cao nhất Đảng ta, đứng đầu Quân ủy Trung ương khái quát, có mối quan hệ biện chứng, thống nhất, thể hiện rõ mục tiêu, sách lược, giải pháp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cần nhấn mạnh thêm, những nội dung ấy không phải đến bây giờ chúng ta mới đặt ra. Đó là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt trong lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong thời đại Hồ Chí Minh. Trong từng giai đoạn lịch sử, căn cứ vào tình hình thế giới, xu thế thời đại và hoàn cảnh đất nước, Đảng ta có sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận, tư tưởng chiến lược cho phù hợp.

Nhấn mạnh vấn đề này để thấy rõ hơn, trong khi Đảng, Nhà nước, Quân đội ta kiên định, nhất quán, công khai, minh bạch đường lối hòa bình, tự vệ thì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại cố tình xuyên tạc, bóp méo bản chất vấn đề. Thời gian gần đây, uy tín Quân đội, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ được tô đậm, tỏa sáng từ các sự kiện diễu binh, diễu hành kỷ niệm các ngày lễ lớn cùng các hoạt động đối ngoại, triển lãm quốc phòng, làm nhiệm vụ quốc tế, diễn tập, sắp xếp tổ chức theo hướng tinh, gọn, mạnh, giúp dân phòng, chống thiên tai... Trong bối cảnh đó, mạng lưới truyền thông “bẩn” của các thế lực thù địch lại dấy lên các thông tin xuyên tạc, bóp méo, lèo lái dư luận hiểu sai lệch bản chất vấn đề. Họ quy chụp, võ đoán rằng Việt Nam “chạy đua vũ trang”, mua sắm vũ khí, hiện đại hóa tiềm lực quân sự để làm đối trọng “răn đe”, “đe dọa” nước khác. Thậm chí trên không gian mạng có không ít “chuyên gia bàn phím” lớn giọng “lên mặt dạy đời”, “khuyên nhủ” rằng Việt Nam cần dựa vào ai, cần chống nước nào, nên tham gia liên minh quân sự với bên nào... Những luận điệu này hoàn toàn sai trái, phi lý, đi ngược lại phương châm đối ngoại và thực tiễn sinh động của ngoại giao Việt Nam. Việc xử lý hài hòa quan hệ với các nước, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn, cho thấy bản lĩnh độc lập, tự chủ và mục tiêu nhất quán của chúng ta là không chọn bên, chỉ chọn lẽ phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới.

Một trong những nền tảng cốt lõi để Quân đội nhân dân Việt Nam với vai trò nòng cốt trong hiện thực hóa đối sách “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh” là chính sách quốc phòng “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đây là tuyên bố chính sách rõ ràng, minh bạch, thể hiện tính chất hòa bình, tự vệ của nền quốc phòng Việt Nam.

Chính sách “bốn không” cũng chính là cơ sở để chúng ta lấy chính nghĩa phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ chọn đối đầu với bất cứ quốc gia nào. Chúng ta không theo phe, không liên minh quân sự mà luôn là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đó chính là bản chất của “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh”. Và để có “trong ấm”, “nội yên”, chúng ta coi trọng củng cố, chăm lo từ gốc rễ. Đó là xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; chủ động ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ và tự phê bình, phê bình. Khi nội bộ thống nhất, tư tưởng thông suốt, tổ chức vững mạnh thì sức mạnh của Quân đội không ngừng được nhân lên, nền quốc phòng toàn dân được củng cố vững chắc, bền vững.

Nhận thức đúng về đối sách chiến lược “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh” còn là căn cứ để chúng ta lấy “xây” để “chống”, thực hiện thắng lợi vai trò chủ công trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Niềm tin chiến lược và sức mạnh đoàn kết, thống nhất

Trong quan hệ quốc tế, niềm tin chiến lược là nền tảng, điều kiện đảm bảo cho chất lượng, hiệu quả và tính ổn định, bền vững của sự hợp tác. Những năm qua, trên các diễn đàn quốc tế, đối thoại về các vấn đề hợp tác quốc phòng, chúng ta luôn nhấn mạnh và cam kết với các đối tác về vấn đề này. Việt Nam mong muốn đẩy mạnh hợp tác quốc phòng song phương và đa phương, tham gia hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, ứng phó thảm họa thiên tai, tìm kiếm cứu nạn... Đây chính là những biểu hiện cụ thể của việc tạo dựng và củng cố niềm tin chiến lược với cộng đồng quốc tế. Cơ sở để chúng ta cam kết, xây dựng lòng tin với bạn bè quốc tế chính là ở sự củng cố tiềm năng nội tại, sức mạnh nội lực, xây dựng môi trường chính trị ổn định, nhất quán đường lối độc lập tự chủ, đa phương hóa và chính sách quốc phòng “4 không”. Niềm tin chiến lược được xác lập từ hai phía, ta đặt niềm tin vào bạn và bạn có niềm tin vào chúng ta. Việt Nam luôn nhất quán với mục tiêu hòa bình và phát triển, minh bạch trong chính sách quốc phòng, có trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế, tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Sự tin cậy mà quốc tế dành cho Việt Nam ngày càng tăng chính từ những giá trị này. Đó chính là mục tiêu, giải pháp của “ngoài êm”, “ngoại tĩnh”.

Từ góc nhìn biện chứng mà suy, chúng ta nhận thức rõ, trong đối sách “trong ấm, ngoài êm”, “nội yên, ngoại tĩnh” thì yếu tố then chốt, quyết định là phải xây dựng được nền tảng “trong ấm”, “nội yên”. Đó chính là sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong Quân đội và trong toàn dân. Đó là tinh thần đồng lòng, ý chí kiên cường, là “ý Đảng hợp lòng dân”. Khi hậu phương vững mạnh, khi niềm tin xã hội được củng cố, khi sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy thì “trong ấm” sẽ tạo ra sức mạnh giúp “ngoài êm”, “nội yên” ắt sẽ “ngoại tĩnh”.

Chúng ta đang đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. “Hai đẩy mạnh” gồm đẩy mạnh xây dựng con người hiện đại trong Quân đội là nhân tố tiên quyết và đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, hiện đại, lưỡng dụng. Khi Quân đội mạnh về chính trị, giỏi về quân sự, tinh nhuệ trong ứng phó thách thức an ninh phi truyền thống, chủ động về công nghệ, sáng tạo trong tác chiến thì “nội yên” sẽ là lá chắn vững chắc bảo vệ Tổ quốc. Đi liền với đó là vai trò của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân trong việc chủ động tham mưu chiến lược, nắm chắc và dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ. Khi đối sách chiến lược đúng, khi lực lượng nòng cốt đủ mạnh thì mọi âm mưu phá hoại, mọi ý đồ gây bất ổn đều có thể bị đẩy lùi, vô hiệu từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.

Mỗi đảng viên, cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta là một nhân tố tích cực, đoàn kết thống nhất cho “trong ấm”, “nội yên” thì môi trường văn hóa và mặt trận tư tưởng chính trị, nhất là trên không gian mạng, sẽ lan tỏa sức mạnh nội sinh, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch./.
Môi trường ST.

HÁM DANH LÀ THAM LAM, VÔ ĐẠO ĐỨC, LÀ BIỂU HIỆN MANH NHA CỦA HÀNH VI PHẠM PHÁP!

     Một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân có căn nguyên sâu xa từ "bệnh thành tích, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, đánh bóng tên tuổi, chạy thành tích, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu" mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã phê phán.

1. Khát khao có một công trạng nào đó để được ghi danh trong đời là mong ước chính đáng, bình thường của con người một khi họ đã ý thức được về danh hiệu được tôn vinh. Lúc đầu khao khát ấy không phải là thói xấu mà là một ước muốn khẳng định mình, mong được người đời ghi nhận.

Thời cổ đại Hy Lạp, đã có những truyền thuyết về chiến công của các dũng sĩ mà tiêu biểu là 12 chiến công của dũng sĩ Heracles (Hercules) như nguồn cảm hứng cho các câu chuyện mang màu sắc thần thoại ca ngợi sức mạnh, lòng dũng cảm, sự thông minh... của con người. Hình tượng người anh hùng này ra đời trong thời kỳ xã hội đề cao khí chất dũng sĩ và mẫu hình người chiến thắng tất cả mọi trở lực đã thành lý tưởng sống của những người chân chính.

Khi Nguyễn Công Trứ (1778-1858) tuyên bố “Làm trai sống ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” thì dù cái danh ấy còn mang dấu ấn của lý tưởng Nho giáo nhưng cũng không thể phủ nhận tính tích cực của khao khát vào đời ấy. Nó bộc lộ một thái độ sống tích cực, muốn được người đời thừa nhận bằng thực lực, tài năng và trí tuệ hơn người của mình, là danh thơm chứ không phải danh vọng theo kiểu tầm gửi, càng không phải là “xú danh” đáng khinh bỉ theo quan niệm của các trí thức Nho giáo.

Đưa ra ví dụ như vậy để muốn nói rằng danh tiếng tốt, thực danh là kết quả công sức và trí tuệ của các anh hùng, chí sĩ, tự nó là tấm gương có tác dụng khích lệ người đời sống theo họ để đóng góp cho đời nhiều điều tử tế và hữu ích hơn. Những người theo lý tưởng nhập thế giúp đời ít khi suy nghĩ được, mất khi bắt tay vào hành động. Họ xác định được hướng đi của đời mình thì một lòng một dạ theo hướng đó. Họ coi những thử thách trong đời như những trở lực cần vượt qua để khẳng định sức mạnh và niềm tin vào những gì tốt đẹp và họ được sinh ra để hoàn thành các nghĩa vụ với đời, không tính toán hơn thiệt, không bận lòng về những thua thiệt mình phải chịu. Bởi vậy, họ được người đời tôn vinh cả khi sống và sau khi chết. Ở Việt Nam, rất nhiều người như vậy đã được nhân dân lập đền thờ như những phúc thần.

2. Tuy nhiên, như mặt trái của tấm huân chương, khao khát lập nhiều chiến công để có một danh thơm để đời là một phần của cuộc sống và có thể đem lại những lợi ích nào đó nên không ít người, dù không có năng lực thực sự nhưng lại muốn được vinh danh nên đã mượn danh, giả danh, chiếm đoạt chiến công của người khác bằng nhiều thủ đoạn. Họ dùng mọi "mưu ma chước quỷ" để giành chiến công của người khác về mình, sống hai mặt, thậm chí còn lập ra bè phái để hãm hại người tốt, toan tính những lợi ích riêng cho mình và gia đình. Đây không chỉ còn là những hành vi giới hạn trong khuôn khổ ứng xử, đạo đức, lối sống, nó liên quan tới một thực tế khác rộng và mang ý nghĩa xã hội lớn hơn. Đó là sự ích kỷ, thói tham lam, là phần xấu xí của tính cách con người và của đời sống. Khi những thói xấu của con người có điều kiện trỗi dậy, nó sẽ làm băng hoại đời sống.

Một khi những điều dối trá lấn lướt, thắng thế, nó có thể làm đạo đức xã hội suy tàn. Nó không chỉ là chuyện tranh hơn một lợi lộc nào đó mà có nguy cơ hủy hoại con người, vì nó bắt đầu từ sự giả dối, rồi từng bước đưa giả dối lên tầm cao hơn, biến nó thành lợi lộc cho cá nhân và đồng bọn. Đám người này dùng giả dối để sống nên dùng giả dối để gạt người, lừa đời và từng bước leo lên các bậc thang danh vọng.

“Trưởng thành” từ giả dối, dùng giả dối để ứng xử với đời nên từng bước, đám người này dù chỉ lo mưu lợi cho mình nhưng về khách quan lại làm băng hoại xã hội. Bởi vậy, trong các câu chuyện cổ, bao giờ cũng có một minh quân thay trời hành đạo, trừng phạt cái giả dối lúc này đã thành cái ác, lập lại kỷ cương để bảo đảm đời sống con người diễn ra bình thường.

Câu chuyện dân gian về Lý Thông và Thạch Sanh của dân tộc ta là một sự tổng kết thực tiễn và đúc kết ra những bài học về luật nhân quả, về lẽ công bằng, về sự trừng phạt những giả dối, tàn ác, tranh công đổ lỗi (người có thể tha thứ nhưng trời đất không dung túng tội ác) theo triết lý dân gian. Nó thể hiện mơ ước của con người về sự công bằng: Cái xấu phải bị trừng trị, sự tử tế, những điều tốt đẹp phải được đáp đền mặc dù trong đời thực không phải kẻ xấu, kẻ ác nào cũng bị trừng trị và người tốt nào cũng được hạnh phúc. Người ta biết cả nhưng vẫn cứ mơ ước vì ước mơ nhiều khi trở thành điểm tựa tinh thần cho con người tồn tại, hành động và mơ về một thế giới công bằng hơn.

3. Thói hám danh từ bình diện đạo đức sau một thời gian không được ngăn chặn kịp thời đã ngày một trầm trọng hơn thành sự tha hóa, rồi lan ra những lĩnh vực khác. Nó không chỉ làm băng hoại đời sống tinh thần mà còn gây ra những hậu quả tai hại trong đời sống kinh tế, quan hệ xã hội, chui cả vào những lĩnh vực xưa nay vốn được coi là thiêng liêng như đức tin, lĩnh vực tinh thần, vào bộ máy quản lý vốn được coi là nghiêm cẩn như thanh tra, kiểm sát, tòa án...

Không ít người đã tìm mọi cách để được tặng những danh hiệu cao, xã hội gọi cách làm khuất tất này một cách mỉa mai là chạy danh hiệu (giáo sư, phó giáo sư, nhà giáo nhân dân, chiến sĩ thi đua, thậm chí cả danh hiệu anh hùng). Mỗi kỳ bình bầu các danh hiệu lại xuất hiện những chuyện lùm xùm, thiếu minh bạch, không đúng chuẩn. Nhiều danh hiệu cao quý về thực chất không còn là sự tôn vinh của tổ chức, ngành, xã hội mà là danh hiệu của các hội đồng. Đó cũng là một dạng hành vi tham nhũng có dự mưu, có tổ chức, gây tổn hại cho xã hội, làm loạn các chuẩn giá trị cần nhanh chóng loại bỏ khỏi đời sống.

Không chỉ những người ít học làm việc này mà có cả những người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ-những người lâu nay vốn được xã hội coi trọng vì trí tuệ, nhân cách cũng mắc phải. Danh hiệu đem lại lợi lộc. Đó là sự đánh bóng tên tuổi, là điều kiện để có thể được bổ nhiệm ở những chức danh quản lý nào đó hay ít nhất cũng đem lại cho họ những “danh hiệu” để người đời tôn vinh.

Rất nhiều loại kỷ lục, danh hiệu “chui” người ta đã làm bất chấp đạo lý. Vì có cầu nên có cung. Người có quyền ban ân huệ nhiều khi biết người “xin” các danh hiệu không xứng đáng nhưng vì logic quan hệ, logic lợi ích nên đã nhắm mắt làm liều. Thói hư vinh không chỉ còn là hiện tượng của cá nhân mà đã “lấn sang” bộ máy quản lý. Tình trạng “làm láo nháo, báo cáo hay” trong thực thi các nhiệm vụ của nhiều cơ quan khá phổ biến. Mấy năm trước, có vị lãnh đạo Quốc hội than thở ngành nào, tỉnh nào cũng báo cáo chỉ tiêu tăng trưởng GDP vượt chỉ tiêu nhưng thực chất thấp hơn nhiều. Cái hại của việc làm này là người ta tạo ra những giá trị ảo cho xã hội, đã tin vào những “chiến công tưởng tượng” rồi lại bắt người khác tin đó là “chiến công có thực”.

4. Tính tư hữu là một thuộc tính của con người. Danh vọng là một thứ của cải, hàng hóa thì khao khát sở hữu một danh vị nào đấy cũng là thói quen của con người. Nhưng con người là một sinh vật có ý thức, cần phải hiểu được giới hạn của mình. Lòng tham, nhất là tham nhũng thứ không thuộc về mình dễ dẫn đến những hành vi nhẹ thì là thiếu đạo đức, nặng thì vi phạm pháp luật. Hám danh, tự đánh bóng tên tuổi ở một chừng mực nào đó sẽ bị cộng đồng chê cười.

Còn chạy chức, chạy danh hiệu, chạy khen thưởng lại là hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước, thậm chí vi phạm pháp luật. Giả dối sẽ không còn là hành vi trái đạo lý nữa khi nó có dự mưu, có kế hoạch, có nhắm đến những mục đích vượt ra ngoài đạo đức, nó là một hành vi tham nhũng, là sự vi phạm pháp luật cần được xử lý bằng luật pháp. Đó là sự ứng xử công bằng và văn minh, bảo đảm cho xã hội phát triển lành mạnh.

Với các quan chức trong bộ máy công quyền, sự hám danh, thói giả dối, tự đánh bóng tên tuổi bằng các danh hiệu học vấn không còn là hành vi thiếu đạo đức nữa mà nó tác hại hơn nhiều. Những người này không hề hành động bột phát theo kiểu nhất thời hưng phấn mà họ tính toán kỹ lưỡng và có những bước đi rất kín kẽ để đạt mục đích.

Họ hiểu rằng khi xã hội coi trọng danh hiệu, bằng cấp thì để có thể lọt vào diện quy hoạch, họ đã lo trước các loại bằng cấp, các danh hiệu để vừa làm đẹp lý lịch, vừa đạt chuẩn theo tiêu chí. Thế là từng bước họ đi đến đích không bằng tài năng đích thực mà bằng sự lắt léo của các quan hệ và sự hỗ trợ của các danh hiệu, bằng cấp dù các danh hiệu đó hợp pháp nhưng bản thân họ không có thực lực.

Họ là những đồ giả khoác bộ cánh đẹp và điều nguy hại ở chỗ bộ cánh ấy có thể lừa người. Rồi khi đã ổn định ở vị trí có thể ban phát ân huệ, họ bắt đầu gia ân, ra oai để kết bè cánh dối trá với cấp trên, đè nén cấp dưới, xem thường các quy định và luật pháp, một tay che trời như những ông vua con thống trị một lĩnh vực, một vùng, một tổ chức. Trong các báo cáo lên cấp trên, bao giờ họ cũng tự khen cơ quan mình, trong đó có cá nhân hết lời khen như một đơn vị mẫu mực, trong sạch, đoàn kết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Rồi xin các danh hiệu này, danh hiệu khác như những bảo đảm bằng vàng cho vị trí của họ.

Thông tin bị bưng bít, sự thật bị giấu kín. Chỉ đến khi mọi chuyện bị phanh phui thì xã hội mới biết sự sa sút về phẩm chất ở một nơi nào đó đã mục ruỗng tất cả. Việc phải xử lý “cả cụm” ở một bộ, ngành, địa phương, một đơn vị, nhiều cán bộ đứng đầu có bề dày cống hiến, có danh vọng rất lớn phải dính vòng lao lý, phải nhận các hình thức trừng phạt thời gian qua là những dẫn chứng sinh động về sự tha hóa này. Có thể nói, quá trình từ háo danh, tha hóa đến vi phạm quy định, vi phạm pháp luật không phải là ngẫu nhiên. Háo danh chỉ như bước đầu mà nếu không bị ngăn chặn, tất yếu sẽ dẫn đến những sự tha hóa tệ hại hơn.

Như vậy, thói hám danh (đã hàm nghĩa xấu chứ không còn là khao khát lập nên những kỳ tích, chiến công để tỏ mặt với đời của những người chân chính) cần loại bỏ khỏi đời sống chúng ta, vì nó là mầm mống gây ra những thói xấu đầu độc xã hội. Đấy không là chuyện riêng của một ai mà là vấn đề xã hội, cần nhận thức cho rõ. Nó là phần hư hỏng, là thói xấu nhưng tồn tại cùng với đời sống con người. Bởi vậy, một xã hội muốn lành mạnh cần chung tay loại trừ nó ra khỏi đời sống. /.
Khuyết danh ST.

TẦM SOÁT MẦM MỐNG SUY THOÁI

     Phát biểu chỉ đạo Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chỉ rõ yêu cầu phải ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân. Đảng, Nhà nước rất tin tưởng, đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao đối với Đảng bộ Quân đội và toàn quân trong thực hiện nội dung này...

Triết lý phòng bệnh hơn chữa bệnh

Nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho Đảng bộ Quân đội và toàn quân trong nhiệm kỳ mới, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nêu rõ, phải ngăn ngừa sự suy thoái ngay từ khi còn là mầm mống, ngay ở trạng thái biểu hiện của nó, nhất định không để nảy nở, phát triển trở thành suy thoái và cao hơn là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Bằng tư duy biện chứng và soi chiếu từ thực tiễn thời gian qua, chúng ta thấy rõ, những ý kiến chỉ đạo của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta, đứng đầu Quân ủy Trung ương vừa mang tính cảnh báo, vừa thể hiện tư tưởng chỉ đạo mang tầm chiến lược. Yêu cầu ngăn chặn suy thoái ngay từ khi còn là mầm mống cũng chính là sự kế thừa triết lý truyền thống của cha ông ta về phòng bệnh hơn chữa bệnh. Đây cũng chính là sự cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương của Đảng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phát triển, phù hợp với yêu cầu đặt ra trong tình hình mới. Ngăn ngừa sự suy thoái còn là điều kiện bảo đảm cho “trong ấm ngoài êm”, “nội yên ngoại tĩnh” trong kế sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường...

Trong tiến trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong thời kỳ đất nước đổi mới, hội nhập, nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội đều nhấn mạnh vai trò, tính cấp thiết của việc phòng, chống suy thoái. Đặc biệt, từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái trong nội bộ. Việc “điểm mặt, chỉ tên” những biểu hiện này chính là cơ sở để cấp ủy, tổ chức đảng các cấp có căn cứ “bắt mạch, kê đơn” những mầm mống, biểu hiện suy thoái từ cơ sở. Từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) đến nay, Đảng ta đã triển khai một cuộc chỉnh đốn sâu rộng chưa từng có, xử lý nghiêm minh nhiều tổ chức đảng và đảng viên suy thoái. Hàng loạt vụ việc lớn được điều tra, kết luận và xử lý công khai, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, “bất kể người đó là ai”. Chính sự kiên quyết ấy đã củng cố niềm tin của nhân dân, củng cố sức mạnh nội sinh để Đảng nâng cao sức đề kháng, tự bảo vệ nội bộ Đảng và hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, với phương pháp luận khoa học biện chứng, chúng ta cần thấy rõ và có trách nhiệm phải làm cho nhân dân và dư luận quốc tế thấy rõ, cách làm của Đảng ta không phải là “thanh trừng nội bộ” như các luận điệu xuyên tạc rêu rao, mà đó chính là cách Đảng ta tự chỉnh đốn để củng cố sức mạnh nội sinh. Cái cốt lõi trong cách chỉnh đốn của Đảng ta chính là trị một người để cứu muôn người, xử một vụ để cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực. Xử lý nghiêm minh là để cảnh tỉnh, để giáo dục, để xây dựng môi trường chính trị trong sạch, chứ không phải để làm tổn hại con người, tổ chức. Đó là bản chất nhân văn của Đảng, một điểm sáng nổi bật trong văn hóa chính trị Việt Nam. Song, để đạt được mục tiêu chung, không thể chỉ trông đợi vào xử lý. Điều quan trọng mang ý nghĩa quyết định là phải phòng ngừa từ gốc, ngăn chặn từ mầm mống. Bài học sau hơn 9 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) cho thấy, bên cạnh làm mạnh công tác kiểm tra, điều tra, xử lý cán bộ, đảng viên suy thoái, vi phạm pháp luật, việc tăng cường các phương thức phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa là vô cùng quan trọng. Trong bối cảnh Đảng lãnh đạo công cuộc sắp xếp, tinh gọn bộ máy toàn diện, chuẩn bị nhân sự cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng thì việc phòng ngừa, kiểm soát suy thoái càng mang ý nghĩa quan trọng. Các biểu hiện tư duy nhiệm kỳ, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bè phái, khôn lỏi chính trị, "phông bạt", làm màu, đánh bóng cá nhân, nói không đi đôi với làm, háo danh, tham vọng quyền lực... nếu không được thanh lọc sẽ biến thành môi trường thuận lợi cho suy thoái hình thành và phát triển. Mọi suy thoái đều có điểm xuất phát. Và điểm xuất phát ấy, nếu được tầm soát, cảnh tỉnh kịp thời, được giáo dục, răn đe đúng lúc, sẽ giảm rất nhiều hệ lụy về sau. Phòng ngừa suy thoái chính là chiến lược bảo vệ Đảng từ gốc rễ.

Vai trò chủ công và trách nhiệm của chúng ta

Chỉ đạo Đảng bộ Quân đội và toàn quân, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nêu rõ: "Phía trước chúng ta là một chân trời rộng mở, tràn đầy cơ hội và thách thức. Làm sao để chúng ta thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm của đất nước? Làm sao để chúng ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV? Làm sao để đất nước có môi trường hòa bình, ổn định; để phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững; để cuộc sống người dân thực sự tự do-ấm no-hạnh phúc? Quân đội phải là lực lượng chủ công thực hiện các nhiệm vụ nêu trên...".

Xác định Quân đội là lực lượng chủ công, bởi Quân đội ta luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Bộ đội Cụ Hồ có truyền thống đoàn kết, thống nhất, mọi cán bộ, chiến sĩ phải chấp hành kỷ luật sắt tự giác nghiêm minh, trung thành tuyệt đối và có năng lực hành động cao. Để Quân đội xứng đáng với vai trò chủ công thì trước hết, Đảng bộ Quân đội phải thực sự trong sạch vững mạnh, từng cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội phải nói không với các biểu hiện suy thoái. Trong những năm qua, cán bộ, chiến sĩ toàn quân, đặc biệt là lực lượng công tác trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, trong đó có Báo Quân đội nhân dân, luôn thể hiện rõ vai trò nòng cốt, vị trí tiên phong trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái; phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự ghi nhận, đánh giá cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và niềm tin của nhân dân đã khẳng định rõ vị trí chủ công của Quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng trên không gian mạng. Đây là một trận tuyến đầy cam go, thử thách. Sự thành công không chỉ đòi hỏi ở trình độ, kỹ năng, chiến thuật, kỹ thuật... mà quan trọng hơn cả là người chiến sĩ trên mặt trận này phải có đủ bản lĩnh, đủ sức đề kháng, miễn dịch trước sự tấn công, xâm nhập của các luồng tư tưởng xấu độc. Muốn ngăn chặn suy thoái trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân, không thể chỉ áp dụng điều lệnh, điều lệ hay xử lý kỷ luật đơn thuần. Điều cốt lõi là phải tầm soát mầm mống suy thoái ngay từ trong tư duy, tức là từ nơi khởi phát của mọi hành vi. Suy thoái về tư tưởng không xuất hiện đột ngột. Nó bắt đầu từ những thay đổi nhỏ trong nhận thức, đó là sự dao động về niềm tin, sự thờ ơ, buông lỏng kỷ luật, các biểu hiện quân phiệt, vụ lợi, tâm lý ngại khó, ngại khổ, tư duy hình thức, bệnh thành tích, sự lệch chuẩn giữa lời nói và hành động... Những biểu hiện ấy nếu không được nhận diện, ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến các hình thức suy thoái rất nguy hại.

Tầm soát suy thoái trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân cần được thực hiện bằng tổng hòa các hình thức, giải pháp, từ giáo dục, rèn luyện đến kỷ luật, xây dựng môi trường văn hóa quân nhân và trên hết, trước hết là sự nêu gương sáng của đội ngũ cán bộ, cấp ủy, chỉ huy các cấp. Sự nêu gương phải đi từ cái gốc của đạo đức quân nhân cách mạng, trung thực, thẳng thắn, không bao biện, không tránh né khuyết điểm. Tầm soát suy thoái không đợi đến lúc cấp trên ra lệnh hay cơ quan kiểm tra vào cuộc, mà nó cần được cụ thể hóa trong hành động hằng ngày, trong học tập, huấn luyện, công tác. Tầm soát suy thoái trong Quân đội cần được xây dựng, nâng lên thành hành vi văn hóa, nhu cầu tự thân của mỗi đảng viên, cán bộ, chiến sĩ, mà trước hết là cấp ủy, chỉ huy các cấp. Cán bộ giữ cương vị càng cao, cấp bậc quân hàm càng lớn, càng phải chú trọng nêu gương. Tuyệt đối không được có tư duy, biểu hiện “phông bạt”, làm màu.

Phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân hiện nay vừa là nhiệm vụ chính trị căn cốt, vừa là yêu cầu cấp thiết để trui rèn sức mạnh chủ công bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức Bộ đội Cụ Hồ. Chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương vừa là lời nhắc nhở mang tính thời sự, vừa là định hướng chiến lược, thể hiện yêu cầu, niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với Quân đội trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Tầm soát mầm mống suy thoái chính là cách để mỗi cán bộ, chiến sĩ xứng đáng với niềm tin mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó và các thế hệ cha anh trao truyền, gửi gắm. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần đưa nội dung này vào nghị quyết lãnh đạo và trong học tập, sinh hoạt để quan điểm, chủ trương của Đảng thấm nhanh, thấm sâu vào đời sống bộ đội, chuyển hóa thành hành động thiết thực...
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030.
Khuyết danh ST.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

TUẤN KHANH - KẺ PHẢN ĐỘNG NGUY HIỂM!

     Với khiếu tấu hài và âm nhạc, Tuấn Khanh thường xuất hiện với vai trò giám khảo trong một số gameshow nổi tiếng như VietNam Idol, Sao Mai điểm hẹn… được giới trẻ yêu thích. Buồn thay, mới vụt sáng trên bầu trời showbiz, Tuấn Khanh quay sang bình luận về chính trị đã phá chính quyền với thái độ hết sức cực đoan, thường xuyên phát biểu trên BBC, RFA, RFI…với những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Nhà nước Việt Nam. 

Trên trang RFA tháng 01/2016, Tuấn Khanh thẳng thừng so sánh lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hòa với Hải quân Nhân dân Việt Nam trong trận hải chiến 1988 sặc mùi phản động. Mất dạy hơn, trong vụ 39 người Việt nhập cư trái phép gặp nạn tại Anh, Tuấn Khanh so sánh với hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những ngôn từ khốn nạn: “Ai có quyền đánh giá ước mơ hay phẩm giá của những người trẻ đó? Ai có quyền gọi họ là liều lĩnh hay ngu xuẩn vì không chấp nhận hiện tại? Nếu giả sử chẳng may trong lịch sử, chiếc tàu buôn Latonche Tre’ville chở anh thanh niên Văn ba bị đắm ngoài khơi năm 1911, hôm nay tên gọi về Nguyễn Tất Thành là gì, nhất là khi anh ta không chịu yên phận và chấp nhận cuộc đời một thầy giáo dạy chữ Hán của trường Dục Thanh của Hội Liên Thành”.  

Có thể nói khuyết tật về nhân cách của một kẻ mang danh “nhạc sĩ”, Tuấn Khanh đã bộc lộ tâm địa đen tối, tư tưởng xấu xa, tiếp tay cho các thế lực chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc mà gần đây nhất Hắn xuyên tạc trắng trợn: “Một nữ sinh nhảy lầu tự tử ở Sài Gòn sau khi bị 12 lính Việt Nam cưỡng hiếp” tại Trường Quân sự - Quân khu 7. 

Sau những ngày dư luận phẫn nộ lên án, tưởng rằng Tuấn Khanh đã quay đầu vào bờ. Nhưng không, tính nào tật đó, ngựa quen đường cũ, bản chất của một kẻ lưu manh chính trị vẫn hiện nguyên hình một con quỷ mang danh trí thức đội lốt người. Trong những ngày các tỉnh miền Trung tang thương trong lũ lụt; nhân dân cả nước cùng với Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị làm tất cả sức mình hướng về đồng bào miền Trung ruột thịt thì Tuấn Khanh không những vô cảm mà còn viết bài kích động, xuyên tạc tình hình lũ lụt ở các tỉnh miền Trung; tấn công vào thể chế, bôi xấu Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị; chia rẽ vùng miền, gây hoang mang dư luận, mất niềm tin vào chế độ. 

Những gì Tuấn Khanh làm bộc lộ bộ mặt của một kẻ phản động cực kỳ nguy hiểm. Đã đến lúc cơ quan chức năng phải xử lý nghiêm khắc với đối tượng này để bảo vệ sự bình yên cho nhân dân, đất nước./.
Khuyết danh ST.

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: CAMPUCHIA MUỐN LÀM CẢNG NỘI ĐỊA NỐI VỚI VIỆT NAM!

     Campuchia đang thúc đẩy phát triển hạ tầng logistics tại khu vực giáp Việt Nam. Dự án này được triển khai trong bối cảnh trong bối cảnh hai nước đang hướng đến mục tiêu nâng kim ngạch thương mại lên mức 20 tỷ USD.

Theo thông tin từ Hội đồng Phát triển Campuchia, Công ty SSR đã gửi đề xuất xây dựng cảng cạn trên khu đất rộng 10ha tại huyện Kamchay Mear, tỉnh Prey Veng.

Đây được xem là dự án hạ tầng quan trọng của địa phương nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hóa qua tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam, đặc biệt là tại Cửa khẩu Quốc tế Meun Chey/Tân Nam, kết nối tỉnh Prey Veng và tỉnh Tây Ninh.

Cảng cạn, hay còn gọi là cảng nội địa, là một trung tâm logistics đặt sâu trong đất liền, kết nối với cảng đường thủy thông qua hệ thống đường bộ hoặc đường sắt. Không gian này đảm nhiệm các chức năng phân loại, lưu giữ, làm thủ tục thông quan đối với hàng xuất nhập khẩu.

Nhờ lợi thế vị trí và khả năng trung chuyển, cảng cạn có thể giảm tải cho các tuyến vận tải đường thủy, hỗ trợ lưu thông hàng hóa hiệu quả hơn, đồng thời góp phần cắt giảm chi phí vận chuyển.

Để đánh giá tính khả thi của dự án, Ủy ban Đầu tư Campuchia thuộc Hội đồng Phát triển Campuchia đã tổ chức đoàn khảo sát liên ngành đến khu vực dự kiến triển khai.

Theo Khmer Times, ông Chea Vuthy, Tổng thư ký Ủy ban Đầu tư Campuchia, cho rằng dự án nếu được triển khai sẽ đóng vai trò hỗ trợ đáng kể cho hoạt động vận chuyển hàng hóa qua Cửa khẩu Quốc tế Meun Chey/Tân Nam, đồng thời tạo thêm việc làm cho người dân trong khu vực.

Dự án bao gồm nhiều hạng mục như khu văn phòng và các công trình thương mại, khu giao dịch hàng hóa, hệ thống kho bãi container, được thiết kế để phục vụ trực tiếp cho việc tăng cường kết nối hậu cần giữa Campuchia và Việt Nam. Các hạng mục này nằm trong bối cảnh hai nước đang hướng đến mục tiêu nâng kim ngạch thương mại lên mức 20 tỷ USD.

Theo dữ liệu phía Campuchia cho biết, kim ngạch thương mại Campuchia - Việt Nam năm 2024 đạt hơn 10 tỷ USD, tăng 17,5% so với năm trước. Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2025, kim ngạch song phương ghi nhận mức 6,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Campuchia sang Việt Nam đạt 3,1 tỷ USD.

Hiện Việt Nam có khoảng 215 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Campuchia, tập trung trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, viễn thông, ngân hàng, dịch vụ tài chính, chế biến thực phẩm, khai khoáng, hàng không và du lịch. Tổng vốn đầu tư đạt 2,94 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm bốn nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Campuchia./.

Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: "CỨ LÀM ẦM LÊN LÀ CHÚNG NÓ SỢ, CHÚNG NÓ KHÁM NHANH CHO..." - SỰ THẬT HAY LÀ "TRÁI ĐẮNG" CỦA NGHỀ Y?

     Sau bài viết chia sẻ về việc cách tôi xử lý cấp cứu cho một ca bệnh nhân làm loạn vì tự rút sonde tiểu, chảy máu, tổn thương niệu đạo, bên cạnh những lời động viên, tôi nhận được một gáo nước lạnh từ chính đồng nghiệp:

"Một thằng quậy bác xử lý kiểu này nó kéo một chục thằng quậy tiếp nhá. Bác làm vậy đừng tưởng là hay. Ăn no bớt báo đi ông!"

Một vài comment khác kiểu "Ông này thích làm màu..."

Đau. Nhưng tôi hiểu vì sao bạn ấy nói vậy. Sự bức xúc ấy không tự nhiên mà có. Nó tích tụ từ những lần chúng tôi phải nghe những câu chuyện rỉ tai nhau trên xe bus, ngoài quán nước: "Bây giờ đến viện cứ phải làm ầm lên, chửi bới lên thì chúng nó mới làm nhanh cho mình. Chứ hiền lành là đợi đến tối!"

Và hậu quả là gì? 

Một em đồng nghiệp kể với tôi trong ấm ức: "Anh ạ, có những người họ quá đáng lắm. Lần nào đến cũng kêu gào 'tôi đau lắm, tôi sắp chết rồi' để đòi chen ngang siêu âm, chụp chiếu. Mà mình thì làm liên tục, tối mắt tối mũi ra. Nhưng khi khám xong, thấy không sao thì họ thay đổi thái độ ngay, cười nói như chưa từng có cuộc chia ly."...vv

LÀM ƠN, ĐỪNG BIẾN BỆNH VIỆN THÀNH CÁI CHỢ!

Tôi viết những dòng này, không phải để thanh minh cho mình, mà để chúng ta - cả nhân viên y tế và người bệnh - cùng nhìn lại một thực tế đau lòng.

1. Với nhân viên y tế: Chúng tôi cũng là con người. Chúng tôi được đào tạo để cứu người, chứ không được đào tạo để chịu đựng bạo lực ngôn từ hay những chiêu trò "ăn vạ". Áp lực của chúng tôi không chỉ là con dao mổ, là đơn thuốc, mà còn là sự an toàn. Làm sao một bác sĩ có thể cầm dao mổ chính xác khi ngoài cửa phòng mổ là tiếng chửi bới, đe doạ? Khi bạn cố làm ầm lên, có thể bạn được khám trước vài phút (vì chúng tôi muốn giải quyết cho xong để bảo vệ những bệnh nhân khác), nhưng bạn đã giết chết cảm xúc và nhiệt huyết của người thầy thuốc dành cho bạn. VÀ BẠN SẼ BỊ VÀO DANH SÁCH ĐEN; khi bạn làm loạn để được ưu tiên quá đáng thì bạn sẽ không còn được trân trọng như những bệnh nhân khác nữa.

2. Sự nhầm lẫn tai hại về "Ưu tiên". Trong Y khoa, chúng tôi ưu tiên theo TÌNH TRẠNG BỆNH, không ưu tiên theo ÂM LƯỢNG GIỌNG NÓI.

Một người im lặng, mặt tái nhợt vì chảy máu trong ổ bung sẽ được cấp cứu ngay lập tức.

Một người la hét ầm ĩ vì đau sỏi thận (dù rất đau) nhưng sinh hiệu ổn định, vẫn sẽ phải chờ sau ca ngưng tim. Đó là quy tắc sinh tử... ĐỪNG DẠY CÁC BÁC SĨ "Thế nào là cấp cứu?". 
Xin đừng dùng tiếng ồn để ép chúng tôi phá vỡ quy tắc an toàn đó.

VẬY TẠI SAO TÔI LẠI CHỌN CÁCH XỬ LÝ ÔN HOÀ Ở CA TRƯỚC?

Quay lại câu chuyện "ông già rút sonde tiểu". Tôi không nhượng bộ vì ông ấy làm ầm ĩ. Tôi chọn cách "Lạt mềm buộc chặt". Nếu lúc đó tôi cứng nhắc gọi bảo vệ, lập biên bản, có thể tôi thắng về LÝ (thắng rồi bạn được gì? Sẽ vẫn là sự sứt mẻ mối quan hệ bác sĩ - bệnh nhân; và nhiều sự việc khác nữa), nhưng người bệnh sẽ tiếp tục hoảng loạn, huyết áp tăng vọt, nguy cơ chảy máu càng nặng nề hơn. Tôi xử lý xong phần "Thân", khi họ bình tĩnh lại, tôi mới giáo dục lại phần "Tâm". Và kết quả là họ đã hiểu, đã xin lỗi. 
Sự thật thì bệnh nhân họ cũng lo mà; mình cứ đặt mình ở vị trí của bệnh nhân; bớt đi cái nóng nảy một chút, nghĩ cho nguời bệnh một chút; cố gắng dung hoà.. mọi chuyện sẽ tốt thôi. 

Những trường hợp "chí phèo", thích làm loạn thực ra chỉ là con sâu làm rầu nồi canh. Tôi vẫn tin đại đa số người bệnh đều rất hiểu chuyện và tôn trọng bác sĩ.

Nhưng tôi mong rằng, tư duy "Làm ầm lên để được việc" hãy chấm dứt.

Xin hãy tôn trọng quy trình sàng lọc cấp cứu.

Xin hãy trung thực với tình trạng bệnh của mình.

Và xin hãy để cho bác sĩ chúng tôi được làm việc trong một môi trường an toàn, nơi mà sự tôn trọng là liều thuốc đầu tiên chúng ta trao cho nhau.

Chúng tôi muốn cứu người, muốn tận hiến. Nhưng xin đừng bắt chúng tôi phải "gồng mình" đối phó với những chiêu trò.

Hãy tôn trọng lẫn nhau, giữ mối quan hệ tốt đẹp thầy thuốc và nhân dân. 

Bác sĩ cũng biết đau, biết buồn, và biết mệt mỏi...
Môi trường ST.

CUỘC ĐỜI NGƯỜI LÀ CỦA NƯỚC NON: BẠN CÓ BIẾT - CHÂN DUNG CỤ PHÓ BẢNG NGUYỄN SINH SẮC TỪ TÀI LIỆU CỦA MẬT THÁM PHÁP!

     Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (còn gọi là Nguyễn Sinh Huy) thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà khoa bảng xứ Nghệ, từng làm quan triều Nguyễn, người có công truyền bá tư tưởng yêu nước cho nhân dân ở những vùng đất mà cụ đặt chân đến, đặc biệt là đất Hòa An - Cao Lãnh, nơi cụ chọn làm chốn an nghỉ lúc cuối đời.

Các châu bản (văn thư triều Nguyễn) phản ánh cụ Nguyễn Sinh Sắc đã tham gia các khoa thi, đỗ phó bảng, bổ nhiệm làm quan triều Nguyễn, hiện lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia.

Trước khi đi thi đỗ Phó bảng, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã tham gia 2 khoa thi Hương tại Vinh (Nghệ An) năm 1891 và 1894. Khoa này cụ đỗ Cử nhân, năm sau cụ vào Huế thi Hội nhưng không đỗ. Với học vị cử nhân, cụ được bổ làm Hành tẩu bộ Hộ. Năm 1898, cụ tiếp tục đăng kí thi Hội nhưng lại hỏng.

Sau đó cụ được nhận vào học tại trường Quốc Tử Giám tại Huế. Lúc này cụ đổi tên thành Nguyễn Sinh Huy, từ đó về sau, trên tất cả văn bản, giấy tờ cụ đều dùng tên này. Các châu bản liên quan đến cụ cũng đều viết tên Nguyễn Sinh Huy.

Khoa thi Hội năm 1901, cụ Nguyễn Sinh Huy đỗ Phó bảng. Trước đó, cụ Huy được sung vào Hội đồng giám khảo chấm thi tại trường thi hương Bình Định năm 1897 và trường Thanh Hóa năm 1900.

Bản tấu của Bộ Lại ngày 15 tháng 4 nhuận năm Thành Thái 18 (1906) về việc bổ nhiệm Phó bảng Nguyễn Sinh Huy giữ chức Kiểm thảo Viện Hàn lâm ghi lại: “Gần đây, theo lời bẩm của Phó bảng Nguyễn Sinh Huy thì vào năm Thành Thái 13 viên đó dự thi Hội trúng Phó bảng. Lần ấy, lo việc nhà xong, viên bị ốm phải ở quê thuốc thang, nay bệnh đã đỡ xin theo chờ tại bộ thần. Bộ thần xét theo lệ định, Nguyễn Sinh Huy xin nên chiếu lệ bổ thụ Kiểm thảo Viện Hàm lâm, phái theo bộ Lễ làm việc”. Bản tấu có châu điểm của vua Thành Thái.

Bản tấu của Bộ Lễ ngày mùng 8 tháng 9 năm Thành Thái 18 (1906) về sĩ số học sinh trường Quốc học. Cuối bản tấu có kí tên của Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (giữ chức Kiểm thảo Viện Hàn lâm); có Châu phê của vua Thành Thái.

Bản tấu của Bộ Lại ngày 11 tháng 4 năm Duy Tân 3 (1909) về việc bổ nhiệm Phó bảng Nguyễn Sinh Huy giữ chức Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

“Bộ Lại tâu: Phụng xét chức Tri huyện Bình Khê hiện khuyết. Bộ thần chọn đem các viên tại chức lâu năm cần được bổ dụng để bàn việc điền bổ. Kỳ họp bàn ngày 12 tháng trước ngài Khâm sứ đại thần trả lời rằng đồng ý bổ Nguyễn Sinh Huy làm Tri huyện huyện Bình Khê. Về Trước tác Thừa biện tại bộ Lễ Nguyễn Sinh Huy xin đổi hàm Đồng Tri phủ, lãnh chức Tri huyện huyện đó”. Châu điểm của vua Duy Tân.

Năm 1910, cụ Nguyễn Sinh Huy - khi ấy là Tri huyện Bình Khê bị can vào vụ án Tạ Quang. Quang là một địa chủ cường hào, ỷ có thân thế và quen biết rộng nên không chịu nộp thuế và còn chống đối, quan Tri huyện Bình Khê đã cho lính nọc ra đánh đòn để răn đe. Hai tháng sau thì Quang chết. Vợ Quang làm đơn kiện lên thượng cấp, cụ Huy bị đưa ra Bộ Hình xét xử. Sau vụ án này, cụ Nguyễn Sinh Huy bị giáng 4 cấp và cho đổi về kinh làm quan. Tuy nhiên, chán cảnh quan trường, cụ đã bỏ chức từ quan để vào Nam. Xem trong bản tấu của Bộ Hình ngày 15 tháng 8 năm Duy Tân 4 (1910) về vụ án trên, phần kết luận có đoạn: “Xét Tạ Quang bị đánh rồi qua hơn 2 tháng sau bị ốm mà mất, chớ không phải bị đánh chết tức thì, tình có thể tha thứ. Xin được gia ân đổi làm giáng 4 cấp cho lưu… Lại xét viên tri huyện này mới làm quan chưa tường dân chánh, xin cho Bộ Lại đổi chức về Kinh”.

Như vậy qua bản tấu trên, rõ ràng việc cụ Nguyễn Sinh Huy vào Nam không phải do bị triều đình Huế sa thải mà do cụ tự bỏ chức./.
---------
Từ bức ảnh đen trắng, do mật thám Pháp chụp ngày 20/11/1923; chúng tôi vừa phục dựng màu, để giúp bạn đọc cảm nhận được lúc sinh thời (trước khi mất 6 năm) chân dung cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - Thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh; có thần thái, khuôn mặt, ánh mắt và râu tóc... như thế nào./.
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRẬN ĐÁNH HUYỀN THOẠI “ĐẶC CÔNG VIỆT NAM HẠ MÁY BAY MỸ TRÊN ĐẤT THÁI LAN”./.

     Trận đánh sân bay Udon đã gây thiệt hại nặng cho không quân Mỹ: 4 máy bay F-5 trở thành đống sắt vụn, 24 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ đền tội.

Thiếu tướng tình báo Vũ Thắng là Trưởng phòng điệp báo ngoài nước của Cục Tình báo Bộ Quốc phòng (nay là Tổng cục 2) từ năm 1966 cho đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Trong rất nhiều chiến công của những chiến sĩ tình báo ngoài nước, Thiếu tướng Vũ Thắng đã kể lại với phóng viên trận đánh vào căn cứ không quân Udon và U-Tapao, nơi xuất phát những máy bay ném bom của Mỹ đi gây tội ác ở Việt Nam.

Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ thành lập khối quân sự Đông Nam Á (SEATO) gồm 6 nước, biến một số quốc gia ở khu vực này thành căn cứ quân sự của Mỹ.

Ở Thái Lan, ngoài quân cảng Sattahip, Mỹ xây dựng sân bay quân sự chiến thuật và chiến lược cho máy bay F-4, F-5 ở Udon, Ubon, Korat, Takhli, Chiangmai… đặc biệt là căn cứ không quân chiến lược B-52 ở U-Tapao.

Từ những nơi này, máy bay Mỹ hằng ngày mang bom đạn gieo rắc đau thương cho đồng bào ta ở hai miền Nam, Bắc, Lào và Campuchia.

B-52 tại sân bay U-Tapao.
Phải trừng trị kẻ gây tội ác, phải đánh thẳng vào nơi xuất phát của những tên “giặc trời”. Đó là mệnh lệnh của Tổ quốc giao cho Phòng điệp báo ngoài nước.

Một buổi sáng đầu năm 1968, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng gọi Cục trưởng Cục tình báo quân sự Phan Bình và Trưởng phòng Vũ Thắng lên, nói:
- Quân và dân ta đang Tổng tiến công và nổi dậy đánh Mỹ-ngụy ở khắp miền Nam. Để phối hợp với chiến trường này, Bộ Tổng tham mưu giao cho các đồng chí nghiên cứu đánh sân bay U-Tapao. Liệu các đồng chí có thực hiện được không?

Cục trưởng Phan Bình trả lời:
- Báo cáo Tổng tham mưu trưởng, chúng tôi đã có các cơ sở ở các sân bay, sơ đồ bố trí của địch chúng tôi nắm vững. Đề nghị cho Cục thời gian để gọi các đồng chí ấy về huấn luyện cách đánh.

Đồng chí Văn Tiến Dũng căn dặn:
- Tôi đồng ý! Nhưng phải giải thích cho các đồng chí ấy hiểu rằng, đánh U-Tapao là đánh đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam. Tuyệt đối bảo vệ tính mạng và tài sản cho nhân dân Thái Lan.

Ngay lập tức, Cục trưởng Phan Bình cử thêm Thiếu tá Phó trưởng phòng điệp báo ngoài nước Nguyễn Trọng Tể và Đại úy Bùi Nghi, cán bộ tham mưu của phòng hỗ trợ cho Trưởng phòng Vũ Thắng lập phương án tác chiến. Được sự chuẩn y của Tổng Tham mưu trưởng, Phòng điệp báo ngoài nước rút hai tổ của hai đồng chí Phùng Hồng Lâm và Lê Văn Đình đang hoạt động ở Thái Lan về nước, hình thành tổ đánh U-Tapao do Phùng Hồng Lâm chỉ huy.

Phùng Hồng Lâm vốn là nhân viên đường sắt, được ta đào tạo trở thành tổ trưởng tổ tình báo ở Băng Cốc dưới bình phong một nhà buôn. Nhiệm vụ của tổ anh là móc nối các cơ sở để nắm tình hình các căn cứ không quân Mỹ trên đất Thái Lan.

Còn Lê Văn Đình cũng là tổ trưởng tình báo, giỏi sử dụng điện đài, lại nguyên là sĩ quan lục quân nên có kiến thức quân sự. Đó là sự bổ sung rất tốt cho Phùng Hồng Lâm.

Nhưng muốn đánh U-Tapao, trước hết phải đánh Udon. Căn cứ quân sự Udon nằm ở đông bắc Thái Lan, giáp với nước Lào, nơi xuất phát những máy bay F-4 đi oanh tạc ở thượng Lào và Bắc Việt Nam. Đây là đòn thử phản ứng với Mỹ, đồng thời đánh lạc hướng chúng để tổ của Phùng Hồng Lâm đánh U-Tapao được thuận lợi.

Tổ đánh sân bay Udon được thành lập gồm 5 người, do Đại úy Trần Viết Tính, Tổ trưởng tình báo tại Udon làm chỉ huy. Các tổ viên gồm có: Thượng úy Bùi Thế Sách, Trung úy Lê Đức Mục, Trung úy Võ Tá Kiều và Thượng sĩ Nguyễn Văn Triêm. Ngoài ra, Phòng điệp báo nước ngoài còn chọn một số đồng chí khác, vốn là cán bộ giao thông và điệp báo ta tại Lào làm nhiệm vụ hỗ trợ khi cần thiết. 5 tình báo viên được triệu tập về nước, nhờ Binh chủng Đặc công huấn luyện chiến thuật vượt rào, đặt mìn…

Phòng điệp báo ngoài nước cử Đại úy Lê Thoong, người thông thạo địa hình hai nước Lào và Thái, làm nhiệm vụ đưa đón 2 tổ đánh sân bay Udon và U-Tapao, đồng thời vận chuyển vũ khí, thuốc nổ đến nơi tập kết.

Tháng 5-1968, tổ đánh sân bay Udon lên đường.
Từ Hà Nội, các chiến sĩ tình báo đi ô tô vào Quảng Bình, lên đường 12 qua nước Lào, vượt qua vùng địch tạm chiếm, rồi đến trạm 12, một cơ sở của Phòng điệp báo nước ngoài ở Thà Khẹc. Từ đây, có một con đường bí mật để cả tổ vượt sông qua Thái Lan.

Trong tổ, có tình báo viên Bùi Thế Sách từng sống nhiều năm ở Thái Lan, nên từ hình thức, cử chỉ đến giọng nói rất giống người Thái. Hằng ngày, anh trà trộn vào toán lao công ở sân bay rồi sau đó về báo cáo với chỉ huy sơ đồ sân bay và các quy luật hoạt động của địch.

Sau khi đã nghiên cứu kỹ, cả tổ quyết định tập kích…
Giờ đây ngồi kể chuyện với tôi, Thiếu tướng Vũ Thắng còn nhớ nội dung bức điện của Tổ trưởng Trần Viết Tính gửi về trước giờ ra trận: “Mấy ngày qua, chúng tôi theo dõi qua đài được biết đế quốc Mỹ đã cho máy bay ném bom ác liệt, giết hại nhiều đồng bào vô tội ở miền Bắc nước ta. Toàn tổ chúng tôi kiên quyết hành động để trả thù, dù có phải hy sinh trên đường băng Udon”.

Một đêm cuối tháng 5-1968, sau khi dùng chiến thuật đặc công đột nhập và đặt mìn vào 4 máy bay, trên đường rút ra, 5 chiến sĩ tình báo bị địch phát hiện. Thượng úy Bùi Thế Sách và Trung úy Lê Đức Mục tình nguyện ở lại kìm chân địch để 3 người còn lại rút lui an toàn. Sau một hồi quần nhau với địch, chưa kịp rút cùng đồng đội thì 4 quả mìn phát nổ, Bùi Thế Sách và Lê Đức Mục anh dũng hy sinh.

Trận đánh sân bay Udon đã gây thiệt hại nặng cho không quân Mỹ: 4 máy bay F-5 trở thành đống sắt vụn, 24 sĩ quan và nhân viên kỹ thuật Mỹ đền tội./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỌC VẤN “KHỦNG” CỦA DÀN BTV THỜI SỰ 19H KHIẾN AI CŨNG PHẢI NGƯỠNG MỘ!

     Đã bao lần chúng ta ngồi trước màn hình lúc 19h, lắng nghe từng câu chữ xuất hiện đều đặn trên sóng VTV, nhưng ít ai biết rằng đằng sau sự điềm tĩnh, chỉn chu ấy là cả một nền tảng học vấn đồ sộ và hành trình rèn luyện nghiêm túc của những BTV Thời sự. Họ không chỉ là người truyền tải thông tin, mà còn là biểu tượng của tri thức, sự kỷ luật và tinh thần cống hiến cho nghề.

Nhìn vào hồ sơ của họ, nhiều người phải thốt lên: “Đây đúng là những gương mặt hội tụ cả sắc vóc lẫn trí tuệ!”. Từ giải học sinh giỏi quốc gia, thủ khoa đại học, hai bằng cử nhân, thạc sĩ, đến vai trò giảng viên… mỗi người đều có một hành trình riêng nhưng điểm chung là sự nỗ lực phi thường.

BTV Tuấn Dương – một trong những gương mặt trụ cột của Thời sự 19h, sở hữu hai bằng đại học (Văn hóa Hà Nội và Luật Hà Nội). Phong thái đĩnh đạc, giọng đọc ấm và sự thông minh đã giúp anh ghi dấu mạnh mẽ, thậm chí chiến thắng hạng mục “Người dẫn chương trình ấn tượng” tại VTV Awards. Ít ai biết anh còn chơi piano và hát rất hay – một sự đa tài đầy bất ngờ.

BTV Thu Hà, cựu học sinh trường Hà Nội – Amsterdam, từng đoạt Miss Duyên dáng, đỗ cùng lúc hai trường đại học và còn là thủ khoa Diễn viên Sân khấu Điện ảnh. Nhưng cô chọn Ngoại thương và tốt nghiệp loại giỏi. Mới 23 tuổi đã dẫn Thời sự 19h – điều mà đến hôm nay nhiều người vẫn không khỏi ngưỡng mộ. Lối dẫn duyên dáng, tinh tế nhưng sắc sảo đã giúp Thu Hà giữ trọn tình cảm khán giả suốt nhiều năm.

BTV Minh Trang, điềm tĩnh, hiện đại và giàu năng lượng, xuất thân từ ngành Biên kịch rồi rẽ sang báo chí bằng đam mê. Với 18 năm gắn bó VTV, hơn 10 năm dẫn Thời sự, cô còn hoàn thành thạc sĩ và giảng dạy tại trường đại học. Minh Trang từng là tác giả của một vở kịch gây tiếng vang – cho thấy sự sáng tạo và chiều sâu tri thức hiếm có.

BTV Linh Thủy, gương mặt trẻ nhất nhưng học vấn lại khiến nhiều người “ngả mũ”. Từ giải Nhì Văn quốc gia, tốt nghiệp Ngoại thương chương trình Chất lượng cao đến việc trở thành thủ khoa thạc sĩ EMBA, cô ghi dấu bằng sự hồ hởi, bản lĩnh và lựa chọn đầy quyết đoán khi bước vào Ban Thời sự năm 2014. Từ đó, cô gắn bó đến hôm nay và ngày càng trưởng thành trong nghề.

BTV Khánh Trang – gương mặt thanh lịch, nhẹ nhàng nhưng kiên trì đáng nể. Vượt qua gần 1.000 thí sinh để vào Đài Hà Nội, rồi trải qua 8 năm làm phóng viên – biên tập viên – tổ chức sản xuất, cô chuyển sang VTV, dẫn Chào buổi sáng và đến năm 2017 chính thức xuất hiện trên Thời sự 19h. Không dùng tên thật nhưng lại trở thành một trong những BTV được yêu mến bởi tác phong chuyên nghiệp và giọng đọc cuốn hút.

BTV Quốc Anh, người được mệnh danh là “quý ông ngoại ngữ” của VTV, với hai bằng cử nhân Ngôn ngữ Anh và Ngôn ngữ Trung. Sự mạch lạc, rõ ràng và khả năng chuyển đổi ngôn ngữ nhanh – chính xác giúp anh đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng từ dẫn bản tin đến phiên dịch các sự kiện quốc tế. Ngoài truyền hình, anh còn giảng dạy và đào tạo kỹ năng mềm – một hình ảnh đầy tri thức và nhiệt huyết.

BTV HỮU BẰNG, sinh năm 1979. Trước khi vào VTV, anh từng làm trong PR và giáo dục, nhờ đó có nền tảng giao tiếp – xử lý thông tin rất chắc. Anh gia nhập VTV vào cuối 2006, từng công tác tại VTV6, rồi trở thành một trong những gương mặt Thời sự 19h được yêu mến nhờ phong thái chững chạc, giọng trầm ấm và cách dẫn mạch lạc, điềm tĩnh. Hữu Bằng được đánh giá là người có nền tảng chuyên môn tốt. Anh từng lọt Top 5 Dẫn chương trình ấn tượng – VTV Awards 2018. Ngoài đời, Hữu Bằng khá giản dị, thậm chí từng gây chú ý khi để lộ cảnh dẫn chương trình… đi chân trần trong trường quay – một khoảnh khắc đời thường khiến khán giả càng thêm yêu mến.

Càng đọc, càng thấy dàn BTV Thời sự 19h không chỉ có một ngoại hình chỉn chu trên sóng. Họ là những người dành nhiều năm để học, để rèn luyện, để trau dồi và để xứng đáng với từng giây mình xuất hiện trước hàng triệu khán giả.

Và có lẽ, chính vì vậy mà mỗi bản tin Thời sự 19h không chỉ là câu chuyện thông tin – mà còn là sự tin tưởng, sự ngưỡng mộ dành cho những con người tận tụy và trí tuệ sau màn hình.

Còn bạn, trong số những gương mặt tài năng này, bạn ấn tượng và yêu thích nhất BTV nào?






Môi trường ST.