Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2025

BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Thực hiện chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch “coi việc chống phá Đảng Cộng sản là một nhiệm vụ cơ bản, một khâu đột phá quyết định”[1]. Trong đó, họ hướng trọng tâm vào chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là “mũi đột phá”, “cây cầu dẫn vào trận địa” để loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc nhận diện, bóc trần bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch là vấn đề cấp bách hiện nay.

1. Những âm mưu thâm độc, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch thì việc nhận diện, bóc trần bản chất các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là đặc biệt quan trọng. Qua nghiên cứu cho thấy các loại luận điệu chống phá sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng hiện nay gồm: Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; xuyên tạc, phủ nhận Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng; xuyên tạc lịch sử Đảng; bôi nhọ cá nhân các lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng; lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để xuyên tạc bản chất Đảng; ca ngợi chủ nghĩa tư bản để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đưa Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng rất đa dạng, vừa hằn học trắng trợn vừa giả dối, tinh vi và thâm hiểm, tập trung ở những vấn đề chính sau:

Thứ nhất, xuyên tạc, phủ nhận giá trị, bản chất cách mạng, khoa học của học thuyết Mác - Lênin.

Từ khi học thuyết Mác - Lênin ra đời chẳng những phải đấu tranh không khoan nhượng chống lại những tư tưởng tư sản phản động mà còn phải đương đầu với những “học giả” khoác áo mác xít trong suốt gần hai thế kỷ qua. Bởi lẽ, như V.I.Lênin đã cảnh báo ngay từ năm 1913, rằng: Trong toàn thế giới văn minh, học thuyết của C.Mác đã gây ra sự cừu địch mạnh nhất và lòng “căm thù” toàn thế giới khoa học tư sản. Đặc biệt, từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ ở thập niên 80 và 90 cuối thế kỷ XX, các thế lực thù địch đã lớn tiếng, hoan hỉ cho rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chết”.

Nhưng sự thật minh chứng rõ ràng rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin (CNM-LN) vẫn luôn là nền tảng tư tưởng, lý luận của các đảng cộng sản và giai cấp công nhân trên thế giới. Đặc biệt, trong bất luận hoàn cảnh, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định lấy CNM-LN và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Chính vì thế, hiện nay, khi Đảng ta đang khẩn trương chuẩn bị cho Đại hội XIV, với việc tiếp tục khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam lấy CNM-LN làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng trong Dự thảo Báo cáo chính trị, thì các thế lực thù địch càng ra sức xuyên tạc, phủ nhận giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin nhằm phá vỡ nền tảng tư tưởng, thay đổi định hướng kim chỉ nam, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi đời sống chính trị, xã hội. Những luận điệu mà chúng tung ra không mới, nhưng rất tinh vi và thâm độc.

Một là, chúng xuyên tạc lý luận hình thái kinh tế - xã hội (KT-XH) trong học thuyết Mác - Lênin. Các thế lực thù địch sử dụng một số trang mạng xã hội và internet làm phương tiện để phát tán, đăng tải khuếch trương, cổ xúy các học thuyết chính trị tư sản: “thuyết ba làn sóng văn minh”, “thuyết hội tụ”, “thuyết thế giới phẳng”.... Họ tuyệt đối hóa yếu tố khoa học, công nghệ, coi đó là yếu tố quyết định sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Theo họ, sự phát triển của xã hội loài người trải qua nền “văn minh nông nghiệp” tới “văn minh công nghiệp” và cuối cùng là “văn minh hậu công nghiệp”.

Trong khi đó, cả lý luận Mác - Lênin và thực tiễn lịch sử cho thấy tới nay xã hội loài người đã trải qua bốn hình thái KT-XH và đang quá độ tiến vào hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa theo đúng quy luật vốn có của nó. Với quan điểm mà họ nêu ra về thực chất là phủ nhận vai trò đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp. Đây là cách biện luận phản khoa học, trái với quy luật khách quan của lịch sử. Với cách lập luận này, theo họ, ở những nước phong kiến, tiền tư bản như ở Việt Nam thì không thể bỏ qua chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Do đó, họ “khuyên” Việt Nam hãy từ bỏ con đường đi lên CNXH để quay lại đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Hai là, phủ nhận quy luật giá trị thặng dư trong học thuyết Mác - Lênin. Bằng phát minh thứ hai, vạch thời đại của C.Mác về quy luật giá trị thặng dư, C.Mác đã “vén lên bức màn bí mật” của các quan hệ KT-XH dưới chủ nghĩa tư bản, vạch trần một sự thực là, giai cấp tư sản đã bóc lột lao động làm thuê của công nhân một cách rất tàn bạo. C.Mác đã từng nhấn mạnh, sự bóc lột cũng là “công nhiên, vô sỉ”, sự tích tụ giàu có ở cực này (các nhà tư bản) đồng thời là sự nghèo nàn, cực khổ, bần cùng hóa ở cực kia (vô sản và lao động). Đó còn là sự bóc lột về kinh tế đi liền với áp bức về chính trị và nô dịch về tinh thần, đẩy những người vô sản và quần chúng lao động nghèo khổ vào tình trạng tha hóa, từ tha hóa lao động đến tha hóa bản chất con người.

Xuyên tạc, phủ nhận quy luật giá trị thặng dư trong học thuyết Mác - Lênin, họ cho rằng, lý luận này là đúng đắn nhưng chỉ đúng trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất khi nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí. Họ biện luận rằng hiện nay, nhân loại đã chuyển sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số và thời đại hiện nay là “thời đại hậu công nghiệp”, KT-XH có rất nhiều đổi thay, với nền sản xuất hiện đại đã sử dụng nhiều người máy, tự động hóa, người công nhân được sử dụng rất ít, nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân lao động. Vì vậy lý luận về giá trị thặng dư trong học thuyết Mác - Lênin không còn phù hợp nữa. Với luận điệu này, các thế lực thù địch muốn bác bỏ sự phát hiện của C.Mác và Ph.Ăngghen về các quan hệ KT-XH dưới chủ nghĩa tư bản và sự vạch trần của các ông về một sự thực là giai cấp tư sản đã bóc lột lao động làm thuê của công nhân một cách tàn bạo. Đồng thời, họ phủ nhận con đường xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, nguyên nhân sâu xa của mọi áp bức và bóc lột để giải phóng con người mà học thuyết Mác - Lênin đã chỉ ra.

Ba là, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân (GCCN) được chỉ ra trong học thuyết Mác - Lênin. Học thuyết Mác - Lênin đã chỉ ra sứ mệnh lịch sử của GCCN, của đội tiền phong là Đảng Cộng sản trong công cuộc xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản, đem lại lời giải thích khoa học và cách mạng về sứ mệnh lịch sử đó. Đây là cốt lõi lý luận chính trị của CNM-LN thể hiện ở tư tưởng giải phóng con người và xã hội bằng cách mạng để thay đổi hoàn cảnh, xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, kiến tạo một xã hội tương lai cộng sản chủ nghĩa. Thực hiện lý tưởng và mục tiêu cao cả ấy, đó là sứ mệnh của GCCN mà đội tiền phong của GCCN là Đảng Cộng sản.

Hiện nay, trước sự phát triển mới của chủ nghĩa tư bản và những biến đổi trong GCCN, họ cho rằng vai trò sứ mệnh lịch sử của GCCN được chỉ ra trong học thuyết Mác - Lênin không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện hiện nay GCCN không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại. Từ lập luận về sự thay đổi “quyền lực”, họ cho rằng “quyền lực” trong quá trình vận động và phát triển của chính bản thân nó đã trải qua các hình thức phát triển: Từ bạo lực quyền, đến của cải quyền, rồi đến tri thức quyền (còn gọi là “trí quyền”). Tức là thuở sơ khai ban đầu để có quyền lực, phải dùng sức mạnh bạo lực thông qua xâm lược; sau đó kẻ nào có tiền là có quyền lực và đến hiện nay, chỉ những ai có trí tuệ, có tri thức mới có quyền lực.

Qua đây, họ muốn khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi, không còn xâm lược hay bạo lực nữa, GCCN cũng không còn vai trò sứ mệnh lịch sử giải phóng lao động nữa mà tầng lớp trí thức mới đóng vai trò này trong xã hội hiện đại. Từ đó, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc và lập luận rằng: GCCN và những lãnh tụ của họ đều là những người có học vấn thấp, do vậy sẽ không thể lật đổ được chế độ cũ và lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển.

Họ đặt vấn đề, nếu GCCN có sứ mệnh lịch sử là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”, xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò sứ mệnh lịch sử của mình. Đồng thời, họ đề cao vai trò của đội ngũ trí thức trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ phát triển, cho rằng đội ngũ này mới có khả năng lãnh đạo cách mạng theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực chất của luận điệu này là sự biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản nhằm khẳng định sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản, qua đó phủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN mà học thuyết Mác - Lênin đã chỉ ra.

Bốn là, cố tình đánh đồng sự đổ vỡ mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự “sụp đổ” của Chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Sau khi diễn ra chấn động chính trị kinh hoàng của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở thập niên 80 - 90, cuối thế kỷ XX, họ đã đồng nhất sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự sụp đổ của CNXH nói chung, sự sụp đổ của CNM-LN về CNXH nói riêng.

Từ đây, họ cho rằng các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng tốc độ phát triển kinh tế nhanh, những vấn đề xã hội, môi trường thường được giải quyết tốt hơn các nước đi theo CNXH. Còn các nước đi theo CNXH thường xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán và chính tình trạng này đã cản trở xã hội phát triển lành mạnh, tiến bộ. Họ thường đồng nhất những yếu kém, hạn chế của CNXH hiện thực và những sai lầm, hạn chế của một số đảng cộng sản để minh chứng cho sự không đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin.

Những luận điệu này đều sai lầm ở một điểm là đồng nhất một mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu với CNM-LN về CNXH nói chung. Họ đồng nhất tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán với CNXH và cố tình không thấy hiện trạng này cũng đang tồn tại ở các nước tư bản phát triển. Chúng ta không phủ nhận những hạn chế biểu hiện ở tình hình tham nhũng, quan liêu, độc đoán ở một số nước xã hội chủ nghĩa và dường như hiện trạng này tồn tại khá phổ biến trên thế giới, không loại trừ quốc gia nào. Nó chính là căn bệnh của bộ máy quan liêu mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang nỗ lực kiên quyết loại bỏ.

Với việc đưa ra những lập luận xuyên tạc, phủ nhận giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin ở một số khía cạnh chủ yếu như trên, họ hô hào đòi từ bỏ CNM-LN, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Thứ hai, xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo CNM-LN vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh...”[2].

Các thế lực thù địch, phản động đã nêu các quan điểm xuyên tạc, bóp méo, thậm chí vu cáo, dựng chuyện, nhằm bôi nhọ đời tư, hạ thấp uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

Họ còn xuyên tạc, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với CNM-LN. Trắng trợn, quy chụp, áp đặt một cách vô căn cứ rằng CNM-LN là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan” đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của học thuyết Hồ Chí Minh” và cho rằng, hiện nay CNM-LN đã “lỗi thời”, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, phù hợp với dân tộc Việt Nam. Do vậy, họ “khuyên” chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh, đề cao “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế CNM-LN. Từ đó, họ đòi đưa CNM-LN ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều này, mới nghe qua có người nhẹ dạ, cả tin dễ lầm tưởng, đó là sự “đánh giá đúng” tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng đây thật sự là một chiêu trò rất nguy hiểm để thực hiện mục tiêu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với CNM-LN. Thực chất của luận điệu trên không chỉ là sự phủ nhận CNM-LN, mà còn xuyên tạc, bóp méo, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh.

Từ luận giải ở trên cho thấy, các luận điệu sai trái, thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam rất đa dạng, tinh vi và thâm độc. Nhận diện đúng và bóc trần bản chất những luận điệu sai trái, thù địch là cơ sở quan trọng để chúng ta kịp thời có những biện pháp đấu tranh phản bác không khoan nhượng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

2. Kiên định và vận dụng sáng tạo CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng vững chắc cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: Đảng lấy CNM-LN và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta và là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thực tế cho thấy, từ Cách mạng Tháng Tám đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, từ công cuộc Đổi mới năm 1986 đến sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với việc kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều đó khẳng định rõ, không có con đường nào khác ngoài con đường mà Đảng ta, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đó là con đường cách mạng vô sản. Chính CNM-LN đã soi đường để Đảng ta xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Đảng và nhân dân ta kiên trì con đường cách mạng, đặt lợi ích dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân lên hàng đầu, từ đó tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ vận dụng đúng đắn và sáng tạo nền tảng lý luận đó, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, từng bước đưa đất nước tiến lên CNXH, phát triển toàn diện, để đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với những tác động đa chiều của mặt trái kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch,… đòi hỏi chúng ta càng phải kiên định, bảo vệ và vận dụng sáng tạo CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Theo đó, cần tập trung thực hiện tốt một giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường giáo dục CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững niềm tin, lý tưởng cách mạng. Theo đó, tập trung giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nắm vững bản chất cách mạng, khoa học của CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng thấm sâu vào đời sống xã hội, mãi là nền tảng tinh thần, định hướng, dẫn dắt sự phát triển của đất nước. Muốn vậy, cần phải tích cực đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học các môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tập trung tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nắm vững những nội dung cơ bản, cốt lõi của CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật những nội dung phát triển mới, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, làm cơ sở cho việc vận dụng trong chỉ đạo và hoạt động thực tiễn. Quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho thế hệ trẻ; nâng cao tính hấp dẫn, tính thuyết phục của việc dạy, học các môn lý luận Mác - Lênin trong các học viện, nhà trường. Chú trọng xây dựng chương trình đào tạo lý luận chính trị phù hợp với từng đối tượng và cấp học, đảm bảo tính liên thông.

Hai là, tích cực đổi mới tư duy lý luận, vận dụng và phát triển sáng tạo CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. CNM-LN là học thuyết khoa học và cách mạng, luôn vận động cùng thực tiễn. Do đó, một yêu cầu khách quan là phải không ngừng đổi mới tư duy lý luận, nghiên cứu, bổ sung, phát triển học thuyết cho phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng, nhất là trong bối cảnh mới. Để làm tốt được việc này, các cơ quan nghiên cứu lý luận, đội ngũ nhà khoa học, giảng viên lý luận cần tập trung làm sáng rõ những vấn đề mới phát sinh trong thời kỳ hội nhập, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,… trên nền tảng tư tưởng của CNM-LN và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận nhằm làm rõ con đường đi lên CNXH, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta... Khuyến khích tư duy đổi mới, tư duy phản biện, vận dụng sáng tạo để bổ sung, phát triển lý luận của Đảng.

Ba là, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, báo chí, truyền thông giữ vai trò tuyến đầu trong trận tuyến tư tưởng. Các cơ quan báo chí cần chủ động đưa tin chính xác, kịp thời, sâu sắc về các vấn đề lý luận và thực tiễn cách mạng, giúp định hướng dư luận, nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò, bản chất cách mạng và khoa học của CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường truyền thông tích cực, lan tỏa giá trị tốt đẹp của CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội. Khơi dậy lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm công dân, niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Cùng với đó, cần tăng cường sản xuất các nội dung sinh động, dễ tiếp cận, phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là giới trẻ. Phát huy nền tảng số, mạng xã hội để lan tỏa tư tưởng đúng đắn, gắn lý luận với thực tiễn, xây dựng niềm tin xã hội vững chắc. Đồng thời, đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái, thù địch, phản bác kịp thời các thông tin xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, gắn chặt giữa lý luận với thực tiễn trong chỉ đạo, điều hành mọi mặt của đời sống xã hội. Thực tế cho thấy, tư tưởng cách mạng chỉ có sức sống khi được vận dụng đúng và hiệu quả vào thực tiễn. Do vậy, kiên định CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là học thuộc lòng những khẩu hiệu, mà phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, trên cơ sở đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn đề ra chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn để dẫn dắt hành động cách mạng của quần chúng. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương phải cụ thể hóa quan điểm, tư tưởng chỉ đạo thành chính sách cụ thể, phù hợp, hiệu quả, gần dân, sát thực tiễn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Khi người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chính sách đúng đắn, họ sẽ là “lá chắn” vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Do đó, cần huy động sự vào cuộc của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, giáo viên, sinh viên, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang,… có vai trò rất quan trọng. Vì vậy, cần phải phát huy sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng.

Công tác tuyên truyền, đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, khoa học, có tính thuyết phục cao, hướng vào vạch trần mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, khẳng định và làm rõ bản chất cách mạng, khoa học và giá trị trường tồn của CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở nước ta. Từ đó khơi dậy niềm vinh dự, tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, ra sức thi đua góp phần xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đúng như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, dù thế giới có nhiều đổi thay, song “Tính khoa học và cách mạng triệt để của CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học...”[3]. Vì thế, chúng ta phải tiếp tục kiên định với tư tưởng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011): “Đảng lấy CNM-LN và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[4]. “Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”[5]. Bảo đảm cho CNM-LN, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Đảng ta tiếp tục sứ mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo toàn dân vững vàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước.
-------------------------
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2021), Tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nxb CTQG ST,HN.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I và II, Nxb CTQG, HN.
5. Học viện Chính trị (2009), Phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CTQG, HN.
6. Học viện Chính trị (2022), Vai trò của Quân đội trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, HN.
7. Hội đồng Lý luận Trung ương (2017), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG ST, HN.
8. Hội đồng Lý luận Trung ương (2017), Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng, Nxb CTQG ST, HN.
9. Nguyễn Phú Trọng (2012), Xây dựng, chỉnh đốn Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb CTQG ST, HN.
10. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG ST, HN.
11. Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (2014), Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” góp phần làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, HN.
-----
[1] - Nguyễn Phú Trọng - Xây dựng, chỉnh đốn Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. CTQG ST, H, 2012, tr. 301.
[2] - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 20-21.
[3] - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Báo Nhân Dân, ngày 17-5-2021.
[4] - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 88.
[5] - ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, H. 2021, tr. 33.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

VÌ SAO "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH" ĐƯỢC ĐƯA VÀO SÁCH GIÁO KHOA?

SÁCH GIÁO KHOA.
Từ năm 2018, 5 bộ sách giáo khoa (SGK) bắt đầu thay thế một bộ SGK chuẩn Quốc gia. Sau đó, giảm xuống còn 3 bộ.

Trên diễn đàn Quốc Hội, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu phải có và chỉ có một bộ SGK chuẩn Quốc gia duy nhất. 
Trên diễn đàn Quốc Hội, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường đại biểu đoàn Hà Nội phát biểu rằng, một bộ sách giáo khoa e rằng sẽ triệt tiêu sự sáng tạo. 
Ngày 10/12/2025 Quốc Hội đã sửa Luật giáo dục, bãi bỏ "Xã hội hóa SGK", đưa về một bộ chuẩn Quốc gia.

Lời bàn:
- Thưa TS Hoàng Văn Cường ! Hội đồng thẩm định Quốc gia lựa chọn từ nhiều sáng tạo để đưa một sáng tạo ưu việt nhất vào SGK, vậy tại sao ông nói "Triệt tiêu sự sáng tạo" ?
Quả là "Một sự ngây ngô ở người vĩ đại".
- Ba bộ SGK gây rối cho các Nhà trường, phải mất thời gian họp hành quyết định bộ SGK nào được chọn.
- Ngay từ đầu, tôi đã nhìn ra âm mưu thâm độc của bọn âm mưu diễn biến hòa bình kiểu Gorbachev:
Thứ nhất, hai quyển sách, thì đương nhiên sẽ có một quyển có chất lượng tốt hơn quyển kia. 
Điều đó tạo ra sự bất bình đẳng:
Về lý thuyết, có 50% học sinh cả nước may mắn được học cuốn sách có chất lượng tốt hơn, 50% học sinh cả nước còn lại bị thiệt thòi vì thầy cô chọn nhầm cuốn sách có chất lượng kém hơn. 
Thứ hai, tạo cho nhân dân quen với "quyền lựa chọn" (không đáng có) rằng "Sách còn được lựa chọn thì đa đảng tại sao lại không ?"
Đây là âm mưu (?) hay tác hại lâu dài cổ xúy cho diễn biến hòa bình. 
Tôi đã từng viết trên Facebook nhưng không mấy ai quan tâm.

NGUYỄN MINH THUYẾT.
Nguyễn Minh Thuyết sinh năm 1948, là GSTS giảng viên Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn được chủ biên một bộ SGK.
Ông này là Đại biểu Quốc Hội khóa 12, 13, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh Thiếu niên. 
Năm 2013 Quốc Hội phát động nhân dân đóng góp sửa đổi Hiến pháp. 
Lập tức Nguyễn Minh Thuyết trả lời báo chí (Tôi không muốn nêu tên) đòi đổi Quốc hiệu từ Cộng Hòa XHCN Việt Nam quay về Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. 
Tuy nhiên, Quốc Hội đã phủ quyết. 
Tôi hiểu, nếu Quốc Hội bị lừa "Vì VNDCCH là Quốc hiệu do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên", thì tiếp theo bọn họ sẽ đòi đổi:
- Đảng Cộng sản Việt Nam trở về Đảng Lao động Việt Nam cũng do Bác Hồ đặt tên. 
- Đổi Thành phố Hồ Chí Minh trở lại Sài Gòn vì lịch sử chống Pháp và Mỹ (???).
Trên diễn đàn Quốc Hội, Nguyễn Minh Thuyết phản đối khai thác bauxite, trong lúc bọn thù địch lập trang veb "Bauxite Việt Nam" tuyên truyền chống Cộng sản. 
Hôm nay các cơ sở khai thác, chế biến bauxite Tân Rai và Nhân Cơ vẫn đang cung cấp nhôm cho sản xuất công nghiệp, và Cao Bằng đang xây dựng dự án khai thác bauxite. 
Năm 2010, trên diễn đàn Quốc Hội, Nguyễn Minh Thuyết phản đối dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam. 
Nguyễn Minh Thuyết nằm trong "Nhóm 72" ký tên kiến nghị xóa bỏ điều 4 Hiến pháp phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 
Vậy tại sao một kẻ công khai khua môi múa mép chống Cộng rõ ràng như vậy mà vẫn giảng dạy đại học, được chủ biên một hệ thống SGK ?
Nhiều phụ huynh học sinh cho biết, những bài văn, thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà văn, nhà thơ cách mạng mất dần, thay vào là những bài vô thưởng vô phạt giá trị giáo dục thấp.
Vài năm gần đây, mạng xã hội ồn ào vì những phát ngôn của một nữ giảng viên đại học Sư Phạm Hà Nội, đơn vị được tham gia biên soạn SGK.
Trong bối cảnh đó, cuốn "Nỗi buồn chiến tranh" được đưa vào SGK, phải chăng nằm trong âm mưu diễn biến hòa bình lâu dài của các thế lực thù địch chui sâu, leo cao khua môi múa mép hòng lừa phỉnh cả Quốc Hội, Chính phủ?

Ảnh: Nguyễn Minh Thuyết và bè lũ "72 tên".
Khuyết danh ST.

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG CỘNG SẢN URUGUAY RA MẮT TUYỂN TẬP HỒ CHÍ MINH!

     Ngày 9/12, Đảng Cộng sản Uruguay (PCU) đã tổ chức lễ ra mắt Tuyển tập Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm tôn vinh di sản tư tưởng và tình đoàn kết quốc tế của Bác Hồ, cũng như tình cảm gắn bó lịch sử giữa nhân dân hai nước trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Theo phóng viên TTXVN tại Nam Mỹ, tham dự lễ ra mắt có ủy viên Trung ương PCU, Juan Bernassa, và Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Uruguay (UJC), Natalia Díaz, cùng đông đảo các đảng viên.

Trong lời giới thiệu ấn phẩm, PCU nhấn mạnh thế kỷ XX là giai đoạn của những thử thách lớn đối với các dân tộc, từ cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít và đế quốc đến những nỗ lực xây dựng các mô hình xã hội mới. Theo PCU, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ đã góp phần định hình thời đại đó bằng trí tuệ, lòng dũng cảm và khả năng kết nối phong trào giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn cầu.

Tuyển tập gồm các bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gần 50 năm hoạt động cách mạng của Người, phản ánh quá trình học hỏi, đấu tranh và phát triển tư tưởng về độc lập dân tộc, xây dựng lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế và xây dựng xã hội mới. PCU cho biết những văn bản này không chỉ mang giá trị lịch sử, mà còn “soi sáng” cho phong trào tiến bộ hiện nay, bởi chúng thể hiện tinh thần khiêm tốn, lòng dũng cảm và sự tôn trọng sâu sắc đối với nhân dân – những yếu tố cốt lõi làm nên một nhà cách mạng chân chính.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, PCU cho rằng việc xuất bản tuyển tập là hành động tri ân đối với một nhà lãnh đạo kiệt xuất và là thông điệp hy vọng về sự gắn bó hơn nữa giữa nhân dân hai nước. “Chúng tôi kính cẩn cúi đầu trước một anh hùng chân chính của thời đại, một chiến sĩ quốc tế mẫu mực và một tấm gương sáng trong cuộc đấu tranh vì tự do và nhân phẩm của các dân tộc,” lời giới thiệu nêu rõ.

Phát biểu tại buổi ra mắt, Ủy viên Trung ương PCU Juan Bernassa khẳng định các tư tưởng chính trị, lý luận và tổ chức được trình bày trong tuyển tập vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với đói nghèo, thất nghiệp, bất bình đẳng và khủng hoảng môi trường. Di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là “ngọn hải đăng soi đường” cho những lực lượng đấu tranh vì công bằng xã hội.

Trong khi đó, Bí thư UJC Natalia Díaz nhấn mạnh ấn phẩm cũng nhắc lại mối liên hệ đặc biệt giữa Hồ Chí Minh và Uruguay, trong đó có kỷ niệm Người từng làm việc trên một con tàu viễn dương, đã ghé vào Montevideo năm 1920, đồng thời cho biết nhiều tác phẩm của Hồ Chí Minh, cùng các bài viết của Tổng Bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, từng được sử dụng như tài liệu học tập bí mật trong thời kỳ Uruguay chịu sự cai trị độc tài (1973-1984), góp phần bồi dưỡng tinh thần và ý chí của thế hệ cộng sản trẻ ngày nay.

Đáng chú ý, phần cuối cuốn sách dài gần 260 trang, cũng đăng tải nhiều tư liệu ảnh quý giá, phản ánh sinh động tình đoàn kết Uruguay–Việt Nam trong thập niên 1960. Trong đó có nhiều cuộc mít tinh, tuần hành tại Montevideo phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam như các cuộc tuần hành do Ủy ban Thanh niên Công đoàn Uruguay tổ chức yêu cầu Mỹ rút quân tháng 3/1965; và hình ảnh đông đảo người dân Uruguay dự sự kiện “Đêm Việt Nam” ngày 26/3/1968 tại quảng trường trụ sở Hội đồng Thành phố Montevideo. Các bức ảnh đều do phóng viên của nhật báo El Popular, cơ quan ngôn luận của PCU, thực hiện.

Cuốn sách cũng đăng Tuyên bố của Ban Chấp hành Trung ương PCU ở trang nhất tờ El Popular ngày 5/9/1969, bày tỏ “sự xúc động sâu sắc” trước sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khẳng định Người là “biểu tượng cao đẹp của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Tuyên bố nhấn mạnh cam kết của nhân dân Uruguay trong việc tiếp tục ủng hộ Việt Nam cho đến thắng lợi cuối cùng của cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng có bài viết tường thuật lại lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh do PCU tổ chức ngày 5/9/1969 tại Montevideo, một sự kiện thu hút đông đảo quần chúng và trí thức cánh tả.

Theo PCU, việc xuất bản tuyển tập Hồ Chí Minh, với 500 cuốn, không chỉ là sự tri ân một nhà lãnh đạo kiệt xuất, mà còn là biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế và tình cảm nồng hậu đối với nhân dân Việt Nam, góp phần mở rộng quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.

Việc ra mắt Tuyển tập Hồ Chí Minh diễn ra đúng vào dịp PCU chuẩn bị Đại hội toàn quốc lần thứ 33, sẽ diễn ra từ ngày 12-14/12, với khẩu hiệu “Con đường hướng tới hạnh phúc của quần chúng”. PCU khẳng định Đại hội sẽ là diễn đàn củng cố đoàn kết chính trị–xã hội, bảo vệ hòa bình, lên án chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ nhân dân Palestine, và thúc đẩy vai trò của lực lượng cánh tả trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUỐC HỘI CHẤP NHẬN CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CẢNG HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ GIA BÌNH

     Sáng 11-12, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với 410/427 đại biểu có mặt tán thành (bằng 86,68% tổng số đại biểu Quốc hội).

Quy mô của sân bay là cấp 4F (theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế - ICAO); đáp ứng nhu cầu khai thác giai đoạn đến năm 2030 khoảng 30 triệu hành khách/năm và 1,6 triệu tấn hàng hóa/năm; giai đoạn đến năm 2050 khoảng 50 triệu hành khách/năm và 2,5 triệu tấn hàng hóa/năm.

Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình có nhu cầu sử dụng đất khoảng 1.884,93ha, trong đó khoảng 922,25ha là đất trồng lúa nước từ 2 vụ trở lên; thực hiện thu hồi đất một lần theo quy mô quy hoạch và được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Quốc hội quyết nghị tổng vốn đầu tư của dự án là khoảng 196.378 tỷ đồng; trong đó vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư phải bảo đảm không thấp hơn 15% tổng vốn đầu tư của dự án.

Nghị quyết nêu rõ tiến độ giai đoạn 2025-2027, hoàn thành xây dựng các công trình cần thiết để phục vụ Hội nghị cấp cao APEC năm 2027.

Giai đoạn 2026-2030 hoàn thành xây dựng các công trình còn lại của giai đoạn 1 bảo đảm đồng bộ vận hành, khai thác đáp ứng công suất 30 triệu hành khách/năm và 1,6 triệu tấn hàng hóa/năm.

Giai đoạn 2031-2050 hoàn thành xây dựng các công trình đáp ứng công suất 50 triệu hành khách/năm và 2,5 triệu tấn hàng hóa/năm.

Quốc hội đồng ý thời hạn hoạt động của dự án trong 70 năm.

Hình thức lựa chọn nhà đầu tư thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 03/2025/NQ-CP ngày 14-8-2025 của Chính phủ về cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

Trước khi biểu quyết, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết.

Theo Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết nội dung đầu tiên được làm rõ là ảnh hưởng của Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đối với phương thức vận tải và các cảng hàng không lân cận.

Trong quá trình lập quy hoạch chuyên ngành quốc gia của 5 lĩnh vực giao thông vận tải, Bộ Xây dựng đã chỉ đạo tính toán nhu cầu vận tải giữa các phương thức vận tải, trong đó có nhu cầu vận tải hàng không khu vực phía Bắc, nhất là mối quan hệ giữa Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, nhằm bảo đảm khai thác hiệu quả giữa hai cảng.

Về tác động đối với di tích lịch sử văn hóa, dự án ảnh hưởng tới 25 di tích, gồm 1 di tích quốc gia và 11 di tích cấp tỉnh. Việc di chuyển các di tích được thực hiện với nguyên tắc "người dân tái định cư ở đâu sẽ được gắn với di tích ở đó", tổ chức tham vấn cộng đồng và bảo đảm việc di dời không làm ảnh hưởng đến giá trị gốc cấu thành di tích./.

Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NGƯỜI ĐÃ CÓ TƯ TƯỞNG LẬT SỬ THÌ KHÔNG LÊN ĐƯA VÀO THAM GIA BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA!

     Tôi đã đọc rất kỹ status của ông Đỗ Ngọc Thống - người tham gia biên soạn CT 2018 - khi ông nói rằng ông “mừng vì đã kiên quyết đấu tranh để đưa tác phẩm này vào SGK”!

Đến đây, mọi thứ đã rõ ràng.

Không phải do vô tình.
Không phải do sơ suất.
Không phải do cách hiểu.

Mà là do “kiên quyết đấu tranh”.
Nghĩa là cố tình đưa bằng được.

Và tôi phải hỏi một câu rất giản dị, rất thẳng, rất công dân:

Ông đấu tranh vì cái gì? 
Vì giáo dục học sinh Việt Nam, hay vì thỏa mãn một quan điểm cá nhân sai lệch về văn chương?

Đưa một tác phẩm tối tăm vào SGK không phải là đổi mới. Đó là đánh đổi.

Một nền giáo dục muốn mạnh thì phải xây nền tảng tinh thần sáng.

Nhưng tác phẩm mà ông cố tình đưa vào lại u ám đến tuyệt vọng, bi kịch hóa chiến tranh đến mức sai lệch bản chất, làm mờ đi chính nghĩa chống xâm lược, gieo vào đầu giới trẻ tâm thế vô vọng và hoài nghi.

Một tác phẩm khiến chính người từng chiến đấu cùng tác giả phải lên tiếng phản đối, vậy mà ông lại gọi đó là “thành công”.

Đó không phải là cải cách.
Đó là việc đánh đổi tinh thần dân tộc để lấy cái gọi là “cá tính nghệ thuật”.

Ông có thể thích tác phẩm ấy. 
Ông có quyền đọc, quyền khen, quyền cảm xúc.
Nhưng đưa vào SGK là trách nhiệm quốc gia.

Ông không được quyền lấy cảm xúc riêng để quyết định cảm xúc của hàng triệu học sinh, lấy sở thích cá nhân để thay đổi chuẩn giá trị của dân tộc, lấy sự “hào hứng” riêng để áp đặt lên tâm hồn thế hệ trẻ.

Đó không còn là lựa chọn nghệ thuật.
Đó là trách nhiệm công vụ.
Và trách nhiệm ấy, ông không thể né.

Nếu ông tự hào vì “đấu tranh để đưa vào”, vậy hãy dũng cảm đứng ra chịu trách nhiệm trước Nhân dân.

Người làm chính sách không được đứng trên cao để tuyên bố “tôi mừng vì tôi đã đúng”.

Người làm chính sách phải biết lắng nghe phản biện của Nhân dân, 
phải dám đối thoại khi xã hội bức xúc, 
phải hiểu rằng chương trình giáo dục không phải nơi để thử nghiệm cái nhìn u tối về lịch sử.

Ông nói ông “mừng”.

Nhưng Nhân dân không mừng.
Cựu chiến binh không mừng.
Những người hiểu chiến tranh không mừng.
Học sinh và phụ huynh lại càng không mừng...

Vậy ông mừng vì điều gì?

Chương trình giáo dục không phải một “khu vực đặc quyền”.

Nó phải được soi chiếu bởi lương tri xã hội, đạo lý dân tộc, ký ức chiến tranh chân thực và trách nhiệm với thế hệ trẻ.

Và bây giờ khi nhiều điều đã sáng rõ, xin ông đừng tiếp tục đứng trên cao mà tự hào về quyết định ấy nữa.

Hãy xuống đây - đối diện với câu hỏi của Nhân dân:
Vì sao ông đưa bóng tối vào sách của trẻ em Việt Nam⁉️

Một người làm giáo dục có thể sai.
Điều đó bình thường.
Nhưng một người làm giáo dục mà kiên quyết sai, thì đó mới là điều nguy hiểm.

Ông hãy trả lời đi!
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẨY NHANH LỘ TRÌNH CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG VÀ TIẾN TỚI TRẢ LƯƠNG THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM!

     Nghị quyết của Quốc hội yêu cầu khẩn trương rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm phù hợp với tổ chức bộ máy sau sắp xếp; đẩy nhanh lộ trình cải cách tiền lương và tiến tới trả lương theo vị trí việc làm gắn với kết quả đánh giá theo sản phẩm đầu ra.

Sáng 11/12, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc thực hiện một số nghị quyết của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề, chất vấn với 439/439 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành.

Đẩy nhanh lộ trình cải cách tiền lương

Nghị quyết nhấn mạnh tập trung thực hiện hiệu quả 17 nội dung, trong đó, về lĩnh vực nội vụ, Quốc hội yêu cầu khẩn trương rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm phù hợp với tổ chức bộ máy sau sắp xếp; đẩy nhanh lộ trình cải cách tiền lương và tiến tới trả lương theo vị trí việc làm gắn với kết quả đánh giá theo sản phẩm đầu ra.

Bổ sung kinh phí từ ngân sách trung ương cho các địa phương chưa cân đối được ngân sách để các địa phương giải quyết chế độ phù hợp đối với số lượng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động dôi dư sau khi sắp xếp đơn vị hành chính.

Trong năm 2026, rà soát, đánh giá tình hình thực hiện Đề án phát triển quan hệ lao động giai đoạn 2021 - 2025, xây dựng, thực hiện Đề án phát triển quan hệ lao động phù hợp với yêu cầu của tình hình mới...

Về giáo dục, nghị quyết nêu rõ việc tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 686/NQ-UBTVQH15 ngày 19/8/2023 của Ủy ban TVQH về giám sát chuyên đề về việc thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

Tổng kết, đánh giá toàn diện việc tổ chức kỳ thi trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai chương trình giáo dục phổ thông (năm 2006 và năm 2018), định hướng lộ trình tổ chức kỳ thi phù hợp, thống nhất và ổn định trong các năm tiếp theo.

Chỉ đạo các địa phương thực hiện tuyển dụng hết số biên chế giáo viên được cấp có thẩm quyền giao, giải quyết triệt để tình trạng thừa, thiếu giáo viên. Xây dựng và phê duyệt đề án phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông giai đoạn 2026 - 2035...

Về y tế, Quốc hội yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến y tế cơ sở, y tế dự phòng, đầu tư công, quản lý tài sản công trong lĩnh vực y tế. Chậm nhất đến quý II năm 2026 ban hành quy định để giải quyết vướng mắc, khó khăn trong quản lý, sử dụng và thanh toán, quyết toán các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Sớm sửa đổi toàn diện Luật Bảo hiểm y tế để giải quyết triệt để những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế.

Phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; hỗ trợ, can thiệp kịp thời cho trẻ em bị xâm hại và hướng dẫn bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Trong năm 2027, 100% xã/phường có người làm công tác bảo vệ trẻ em và đường dây nóng hoạt động 24/7.

Khẩn trương nghiên cứu về việc thành lập sàn giao dịch vàng

Với lĩnh vực ngân hàng, tổng kết việc thực hiện Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai Chương trình tín dụng cho vay dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ; Chương trình tín dụng cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội.

"Khẩn trương nghiên cứu, có giải pháp thực hiện theo lộ trình phù hợp về việc thành lập sàn giao dịch vàng...", nghị quyết yêu cầu.

Đối với lĩnh vực thanh tra, nghị quyết nhấn mạnh khẩn trương rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp còn tồn đọng, nhất là các vụ việc có vướng mắc do có sự thay đổi của pháp luật về đất đai. Khẩn trương ban hành quy định về tiếp công dân trực tuyến...

Nâng cấp, hoàn thiện Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm kết nối dữ liệu liên thông, đồng bộ trên phạm vi toàn quốc. Sớm hoàn thành dự án “Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập”.

Đẩy nhanh tiến độ thanh tra, tiếp tục theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận thanh tra, nhất là các kết luận thanh tra thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đưa vào theo dõi, chỉ đạo. Trong năm 2026, ban hành Bộ chỉ số và tài liệu hướng dẫn công tác đánh giá phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại các Bộ, ngành trung ương.

Còn về lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần đẩy mạnh rà soát, hoàn thiện thể chế pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Hoàn thành tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và ban hành Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026 - 2030. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ, hạn chế các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, ngăn chặn tội phạm ngay từ khi mới phát sinh./.

Môi trường ST.

BẢO VỆ CHÂN LÝ CHIẾN TRANH: LÀN SÓNG PHẢN ỨNG TỪ GIỚI TRÍ THỨC, CỰU CHIẾN BINH, ĐỘC GIẢ YÊU NƯỚC!

     Trong nhiều năm qua, tác phẩm “Nỗi Buồn Chiến Tranh” của Bảo Ninh dù được một số tổ chức và cá nhân vinh danh, vẫn liên tục gây tranh cãi. Bên cạnh ý kiến đề xuất trao giải hay đưa vào sách giáo khoa, một làn sóng phản đối mạnh mẽ từ cựu chiến binh, các nhà nghiên cứu, sử học, giáo sư, cùng đông đảo độc giả yêu nước đã dấy lên như hồi chuông cảnh tỉnh. Nhiều người cho rằng tác phẩm thể hiện góc nhìn lệch lạc, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, lấy nỗi ám ảnh cá nhân bao phủ lên giá trị nhân văn, vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sự phản đối ấy không xuất phát từ cảm xúc nhất thời, mà từ trách nhiệm với lịch sử, phẩm giá dân tộc và thế hệ trẻ.

Vì sao tác phẩm gây phẫn nộ trong giới cựu chiến binh và người yêu nước?
Xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là điều không thể dung thứ. Trong “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, hình tượng người lính không còn hiện lên như những con người dũng cảm, kiên cường, giàu lý tưởng và sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, mà lại được khắc họa trong trạng thái tuyệt vọng kéo dài, suy sụp tinh thần, hoang mang và đổ vỡ nội tâm. Nhiều độc giả thẳng thắn chỉ ra: “Đó không phải người lính chúng tôi đã chiến đấu cùng.”

Nhà nghiên cứu Nguyễn Cảnh Toàn đồng đội, cùng đơn vị của Bảo Ninh cũng lên tiếng phản bác, cho rằng tác phẩm đã lấy những lát cắt đau thương của một cá nhân để khái quát thành diện mạo chung của cả đội ngũ chiến sĩ, dễ dẫn đến nhận thức sai lệch cho thế hệ trẻ. Theo ông, những hy sinh, chiến công và phẩm chất cao đẹp của hàng triệu chiến sĩ đã bị phủ lên một màn bi lụy, thậm chí u ám đến phi lý.

Nhiều cựu chiến binh cùng chung nhận định: “Đó không phải là bộ đội chúng tôi đã sống, chiến đấu và hy sinh.” Họ khẳng định, nếu chỉ nhìn chiến tranh qua lăng kính bi thảm ấy, mọi chiến thắng và mất mát đều sẽ bị bóp méo.

Lãng mạn hóa nỗi đau cá nhân, đẩy chiến tranh vào bóng tối bi kịch. Chiến tranh Việt Nam là cuộc kháng chiến chính nghĩa, nơi lòng yêu nước, ý chí độc lập và tinh thần đoàn kết đã đưa dân tộc ta đến thắng lợi vẻ vang. Thế nhưng, “Nỗi Buồn Chiến Tranh” lại trượt dài trong sự tang thương hóa hiện thực, phủ nhận lý tưởng, gieo rắc hoài nghi về chiến thắng và khắc họa con người trong trạng thái lạc lõng trước vận mệnh dân tộc.

Cách thể hiện ấy dễ khiến những độc giả trẻ, chưa có trải nghiệm về chiến tranh hiểu sai rằng: “Chiến tranh không có lý tưởng, chỉ có đau khổ.” Đây là một cách nhìn nguy hiểm, bởi nó tạo ra cảm xúc và nhận thức lệch lạc về lịch sử, làm mờ đi giá trị nhân văn, chính nghĩa và tinh thần anh hùng của dân tộc Việt Nam.

Một góc nhìn cá nhân không thể đại diện cho cả cuộc chiến. Không ai phủ nhận rằng mỗi người lính đều mang trong mình nỗi đau riêng, nhưng nỗi đau cá nhân không thể thay thế cho ý chí toàn quân, tinh thần dân tộc và bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến. Khi tác phẩm lấy sự ám ảnh của một cá nhân để phác họa cả bức tranh chiến tranh, đó là sự lạm dụng góc nhìn chủ quan, dễ dẫn đến những nhận thức sai lệch, đặc biệt trong cộng đồng độc giả trẻ, những người chưa từng trải qua chiến tranh và dễ bị chi phối bởi cảm xúc bi lụy thay vì sự thật lịch sử.

Thiếu tính cách mạng, không có giá trị giáo dục. Giá trị của văn học chiến tranh Việt Nam luôn gắn liền với hai yếu tố: phản ánh trung thực sự thật lịch sử và góp phần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ sau. Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình cho rằng “Nỗi Buồn Chiến Tranh” chưa thể hiện được tinh thần thời đại, mà ngược lại, nuôi dưỡng tâm lý hoài nghi lý tưởng, bi quan trước chiến thắng, đề cao nỗi đau cá nhân hơn là sức mạnh tinh thần tập thể, khiến con người trở nên tách rời khỏi mục tiêu chung của dân tộc.

Những quan điểm này được cho là lệch khỏi chuẩn mực của văn học cách mạng, và vì thế, nhiều ý kiến nhận định tác phẩm không phù hợp để đưa vào môi trường giáo dục, nơi cần lan tỏa tinh thần yêu nước, niềm tin và khát vọng cống hiến cho Tổ quốc.

Phản bác của độc giả và giới nghiên cứu
“Biến nỗi đau chiến tranh thành hàng hóa văn chương gây nhiễu loạn nhận thức”. Nhiều độc giả phản đối cho rằng “Nỗi Buồn Chiến Tranh” mang màu sắc u tối, ám ảnh, đầy hoang mang, chủ yếu khai thác những góc nhìn tiêu cực về chiến tranh. Cách thể hiện này khiến người đọc, đặc biệt là giới trẻ, dễ hiểu sai bản chất của cuộc kháng chiến, một cuộc chiến chính nghĩa, nơi toàn dân tộc đứng lên bảo vệ Tổ quốc.

Không ít ý kiến nhận định việc tôn vinh tác phẩm là đi ngược lại với giá trị truyền thống và lý tưởng cách mạng. Họ cảnh báo rằng, xu hướng văn học tôn vinh sự tuyệt vọng thay vì tinh thần bất khuất sẽ làm lệch hướng cảm thụ văn học, khiến người đọc đánh mất niềm tin và sự tự hào về lịch sử dân tộc.

Những phản ứng gay gắt hướng về Hội đồng thẩm định. Nhiều độc giả đã chỉ rõ trách nhiệm của Hội đồng thẩm định, trong đó có nhà thơ Trần Đăng Khoa, người giữ vai trò chủ trì. Hội đồng bị cho là thiếu khách quan, chưa đánh giá đầy đủ tác động tư tưởng của tác phẩm, đồng thời không tham khảo rộng rãi ý kiến từ giới quân đội và giới sử học.

Dư luận đặt câu hỏi: Vì sao một tác phẩm gây tranh cãi dữ dội như vậy không được xem xét chỉnh sửa, thậm chí đình chỉ, mà trái lại còn được giới thiệu và trao giải? Nhiều ý kiến gọi đây là “sự dễ dãi đáng thất vọng của những người giữ trọng trách trong đời sống văn học”, cho thấy nhu cầu cấp thiết phải xem xét lại tiêu chí thẩm định, để tránh những lệch hướng trong việc tôn vinh các giá trị văn học.

Vấn đề lớn nhất: Nguy cơ bị lợi dụng để bóp méo lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu cảnh báo rằng, các thế lực thù địch thường lợi dụng những tác phẩm có xu hướng bi kịch hóa chiến tranh, nhấn mạnh sự tuyệt vọng hơn là tinh thần đấu tranh, để xuyên tạc và bóp méo bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Từ thực tế đó, các ý kiến phản đối cho rằng việc phổ biến “Nỗi Buồn Chiến Tranh” có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức lịch sử của lớp trẻ, đặc biệt khi tác phẩm bị cho là làm giảm nhẹ tính chính nghĩa của cuộc chiến, che mờ vai trò lãnh đạo của Đảng và làm phai nhạt hào khí chiến thắng của dân tộc.

Giáo dục phổ thông không thể là nơi thử nghiệm với những tác phẩm bi lụy, lệch lạc. Trường học là môi trường định hình lý tưởng và nhân cách cho thế hệ trẻ. Sách giáo khoa không chỉ dạy chữ, mà còn truyền đạt lý tưởng sống, lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Tuy nhiên, trích đoạn trong “Nỗi Buồn Chiến Tranh” của Bảo Ninh bị cho là chưa thể hiện được những giá trị ấy.

Thay vì khơi dậy niềm tin và khát vọng, tác phẩm dễ gieo vào học sinh cảm giác mất phương hướng, nghi ngờ chiến thắng chính nghĩa và nhìn nhận u tối về hình tượng người lính. Nhiều nhà giáo cho rằng học sinh Trung học phổ thông chưa có đủ trải nghiệm và bản lĩnh lịch sử để phân biệt ranh giới giữa hư cấu nghệ thuật và cảm xúc cực đoan, nên việc đưa tác phẩm này vào giảng dạy cần được cân nhắc thận trọng.

Nguy cơ “nhiễu loạn nhận thức lịch sử” trong giới trẻ. Học sinh phổ thông chưa có đủ trải nghiệm để phân biệt giữa tư tưởng cá nhân và sự thật lịch sử, dễ bị chi phối bởi văn chương mang nặng cảm xúc. Khi thiếu khả năng phản biện, các em khó nhận ra đâu là hư cấu nghệ thuật, đâu là sự bóp méo hiện thực.

Nếu chỉ tiếp cận chiến tranh qua lăng kính hoang mang, bi lụy của “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, các em rất dễ hiểu sai rằng cuộc kháng chiến của dân tộc là vô nghĩa, người lính chỉ là những con người đau khổ, thất bại, còn lý tưởng cách mạng chỉ là ảo vọng. Đây là sự sai lệch nguy hiểm, đi ngược lại truyền thống yêu nước, phủ mờ giá trị hy sinh cao cả của thế hệ cha anh và làm tổn hại đến ý thức lịch sử chính nghĩa của dân tộc. Giáo dục không thể để lịch sử bị làm mờ, bị đánh tráo hay bị u tối hóa, đó là trách nhiệm không chỉ của ngành giáo dục, mà còn của toàn xã hội trong việc bảo vệ ký ức và bản lĩnh dân tộc.

Sách giáo khoa không phải nơi thử nghiệm văn chương gây tranh cãi. Ở nhiều quốc gia, việc lựa chọn tác phẩm chiến tranh để giảng dạy luôn được cân nhắc thận trọng. Những tác phẩm có quan điểm gây chia rẽ, thể hiện góc nhìn đối lập hoặc dễ bị hiểu sai thường chỉ được nghiên cứu ở bậc đại học, nơi người học đã có đủ khả năng tư duy phản biện và nền tảng kiến thức lịch sử cần thiết.

Vì vậy, đề xuất đưa “Nỗi Buồn Chiến Tranh”, một tác phẩm gây tranh luận suốt nhiều năm vào chương trình sách giáo khoa Trung học phổ thông bị cho là vượt quá giới hạn an toàn của giáo dục phổ thông. Bởi ở lứa tuổi này, học sinh cần được tiếp cận với những tác phẩm khơi dậy niềm tin, lý tưởng và lòng tự hào dân tộc, thay vì những góc nhìn dễ gây hoang mang, lệch hướng nhận thức lịch sử.

Tôn vinh cái nhìn bi lụy thay vì phẩm giá dân tộc, một lựa chọn sai hướng. Lịch sử Việt Nam tỏa sáng bởi chủ nghĩa anh hùng, lòng quả cảm của “Bộ đội Cụ Hồ” và niềm tin tất thắng của dân tộc trong mọi cuộc chiến. Thế nhưng, tác phẩm của Bảo Ninh lại chìm đắm trong nỗi buồn cá nhân, sự tan rã tinh thần, cùng những ảo giác và tuyệt vọng.

Nếu được đưa vào sách giáo khoa, tư tưởng chủ đạo mà học sinh tiếp nhận sẽ dễ nghiêng về quan niệm sai lệch: “Chiến tranh chỉ toàn đau thương và vô nghĩa.” Đó không chỉ là sự sai lạc về nhận thức, mà còn là sự bất công với hàng triệu chiến sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do và phẩm giá dân tộc.

Kêu gọi độc giả tỉnh táo, sàng lọc và nói không với những tác phẩm lệch lạc. Trước hàng loạt lập luận phản bác, nhiều tiếng nói từ cộng đồng độc giả, các tướng lĩnh, cựu chiến binh và giới trí thức yêu nước đã thống nhất quan điểm: Không thể để những tác phẩm thiếu tính chân thực lịch sử chi phối cảm xúc và nhận thức của thanh niên Việt Nam. Không thể chấp nhận việc biến nỗi bi quan cá nhân thành “chân lý văn học” về chiến tranh, càng không thể để các giá trị anh hùng, bất khuất của dân tộc bị che khuất bởi những mô tả lệch lạc, phiến diện.

Từ đó, lời kêu gọi được cất lên mạnh mẽ: Hãy tẩy chay những tác phẩm làm tổn thương hình tượng Bộ đội Cụ Hồ; hãy đứng về phía sự thật lịch sử, phía những giá trị thiêng liêng được xây bằng xương máu của hàng triệu chiến sĩ. Đồng thời, hãy chung tay bảo vệ một nền văn hóa đọc lành mạnh, trung thực và chính nghĩa, nơi văn học phải góp phần nuôi dưỡng niềm tin, khát vọng và lòng tự hào dân tộc.

Kiến nghị cơ quan chức năng thẩm định, làm rõ nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật
Cần thẩm định lại “Nỗi Buồn Chiến Tranh” theo đúng quy định. Trong bối cảnh “Nỗi Buồn Chiến Tranh” tiếp tục gây tranh cãi sâu rộng, nhiều ý kiến từ dư luận xã hội, đặc biệt là của các cựu chiến binh, nhà giáo, nhà nghiên cứu và độc giả yêu nước đã đề nghị các cơ quan quản lý văn hóa, cơ quan chuyên môn và cơ quan bảo vệ pháp luật sớm vào cuộc để thẩm định, đánh giá lại toàn bộ nội dung tác phẩm một cách khách quan, đúng quy định.

Đây không phải là cáo buộc hay kết luận vội vàng, mà là một kiến nghị chính đáng, xuất phát từ trách nhiệm xã hội và ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng quốc gia. Kiến nghị này dựa trên ba yếu tố: mức độ lan truyền và tác động xã hội của tác phẩm, những mô tả dễ bị hiểu sai hoặc bị lợi dụng để diễn giải lịch sử theo hướng lệch lạc, và trách nhiệm bảo vệ giá trị văn hóa, lịch sử, giữ vững bản sắc và phẩm giá dân tộc.

Cơ quan pháp luật cần thẩm định khách quan nếu có dấu hiệu vi phạm. Trước phản ánh của dư luận về việc “Nỗi Buồn Chiến Tranh” có thể chứa những nội dung gây hiểu lầm nghiêm trọng về lịch sử, mô tả sai lệch dễ bị lợi dụng để chống phá đường lối, chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, hoặc xuyên tạc hình ảnh người lính, việc đề nghị các cơ quan pháp luật vào cuộc thẩm định, đánh giá khách quan theo đúng quy trình là hoàn toàn phù hợp với trách nhiệm bảo vệ an ninh tư tưởng và văn hóa quốc gia.

Kiến nghị của dư luận hướng tới mục tiêu rõ ràng: Nếu qua thẩm định, tác phẩm được xác định có dấu hiệu vi phạm pháp luật về văn hóa, xuất bản hoặc an ninh quốc gia, thì các cơ quan có thẩm quyền cần xử lý nghiêm minh, đúng quy định, kể cả việc xem xét trách nhiệm của cá nhân và tổ chức có liên quan. Đây không chỉ là hành động bảo vệ luật pháp, mà còn là bảo vệ sự trong sáng của đời sống văn hóa, tinh thần và lịch sử dân tộc.

Không kết luận thay pháp luật, chỉ yêu cầu kiểm tra, làm rõ. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là: dư luận không kết luận tác phẩm có tội, cũng không tự phán xét thay cho các cơ quan có thẩm quyền. Dư luận chỉ yêu cầu được kiểm tra, thẩm định lại nội dung tác phẩm một cách công khai, minh bạch và chính xác, để đảm bảo sự khách quan trong đánh giá và đúng quy trình pháp lý. Đây là thái độ thận trọng, đúng mực và thể hiện tinh thần tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng là sự kiên quyết trong việc bảo vệ giá trị lịch sử, phẩm giá dân tộc và nền tảng tư tưởng của đất nước.

Thẩm định là để bảo vệ Nhà nước, không phải đàn áp sáng tạo văn học. Việc kiến nghị điều tra, nếu có, không nhằm mục đích cấm đoán hay hạn chế tự do sáng tạo trong văn chương, mà nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng quốc gia, giữ gìn hình tượng cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, và ngăn chặn những yếu tố xuyên tạc có thể bị kẻ xấu lợi dụng.

Đồng thời, đây cũng là cách để làm rõ ranh giới giữa quyền tự do sáng tạo và trách nhiệm với lịch sử, với dân tộc. Công tác thẩm định vì thế không phải là rào cản đối với văn học, mà là biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các tác phẩm không vô tình trở thành công cụ làm sai lệch nhận thức, gây tổn hại đến giá trị tinh thần và niềm tự hào chung của đất nước.

Kiến nghị chính đáng của độc giả yêu nước. Nhiều độc giả, đặc biệt là các cựu chiến binh, đã thẳng thắn bày tỏ: “Không thể để một tác phẩm gây tranh cãi nghiêm trọng tùy tiện lan truyền mà không có sự thẩm định chính thống.”

“Nếu có dấu hiệu xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, cơ quan pháp luật phải vào cuộc.” Đó là tiếng nói xuất phát từ tinh thần trách nhiệm với lịch sử và sự trong sạch của môi trường văn hóa. Văn học được sáng tạo trên nền tảng tự do, nhưng tự do ấy phải gắn liền với trách nhiệm, trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân và với sự thật lịch sử.

Lịch sử và Tổ quốc không cho phép bất kỳ tác phẩm nào, nếu có dấu hiệu vi phạm, đứng ngoài sự thẩm định của pháp luật. Nếu một tác phẩm gây nguy hại đến nhận thức lịch sử, làm tổn thương nền tảng tư tưởng của dân tộc, thì các cơ quan chức năng cần vào cuộc, làm rõ và xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Đó không chỉ là yêu cầu của luật pháp, mà còn là đòi hỏi của lương tri, của trách nhiệm công dân và của lòng yêu nước chân chính.

Đưa “Nỗi Buồn Chiến Tranh” vào sách giáo khoa là sai lầm nghiêm trọng, cần bị bác bỏ dứt khoát. Việc đề nghị đưa “Nỗi Buồn Chiến Tranh” vào chương trình sách giáo khoa trung học phổ thông là một bước đi sai lầm, bởi tác phẩm này phi thực tế với lịch sử, không phù hợp với môi trường giáo dục, dễ gây nhiễu loạn tư tưởng học sinh và có nguy cơ bị lợi dụng để bóp méo hình tượng Bộ đội Cụ Hồ.

Tiếng nói của độc giả, cựu chiến binh và giới học thuật đã thể hiện rõ ràng: Không chấp nhận đưa một tác phẩm mang màu sắc bi lụy, lệch lạc về lịch sử vào sách giáo khoa. Không thể để thế hệ trẻ bị dẫn dắt bởi góc nhìn u tối, bi thương hóa cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc; cũng không thể khoan nhượng với bất kỳ biểu hiện nào làm phai nhạt phẩm giá anh hùng của người lính Việt Nam.

“Nỗi Buồn Chiến Tranh” có thể tồn tại như một góc nhìn cá nhân trong đời sống văn học. Tuy nhiên, khi góc nhìn ấy lệch khỏi sự thật lịch sử, gây hoang mang nhận thức và xuyên tạc hình tượng người chiến sĩ, thì việc độc giả lên tiếng phản bác là hành động thể hiện trách nhiệm với quá khứ, với Tổ quốc và với thế hệ mai sau.

Sự tỉnh táo của cộng đồng chính là tấm lá chắn bảo vệ lịch sử, gìn giữ sự thật và phẩm giá dân tộc trước mọi diễn giải sai lệch, dù đến từ bất kỳ hình thức hay danh nghĩa nào./.



Trung tướng Ngô Quý Đức/Nguyên Cục trưởng, Cục Cứu hộ - Cứu nạn.
Khuyết danh ST.

LẬT SỬ - ÂM MƯU XUYÊN SUỐT TỪ QUÁ KHỨ ĐẾN HIỆN TẠI ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI LỘ DIỆN VÀ TRẢ GIÁ!

     Hiện tượng “lật sử” không còn là những manh nha yếu ớt như thuở phong kiến suy tàn, mà nay đã trở thành một trào lưu có tổ chức, tinh vi và nguy hiểm hơn bao giờ hết. Nó không còn dừng ở vài quan điểm nhập nhằng hay những trang tấu sớ yếu hèn, mà đã được đạo diễn, khống chế và tiếp sức bởi truyền thông, xuất bản cùng sự im lặng đáng sợ của một số cơ quan chức năng. Tất cả đang góp phần bóp méo lịch sử, gieo rắc nhận thức lệch lạc trong xã hội. Lịch sử từng chứng kiến những kẻ phản bội khi đất nước bị xâm lăng; và nay, một lớp “trí thức lệch chuẩn” đang tiếp bước, gây tổn hại nghiêm trọng đến nền tảng tư tưởng dân tộc.

Phan Thanh Giản với những văn sớ cầu hòa, đầu hàng, đã để lại vết nhơ đau xót trong lịch sử dân tộc. Trương Vĩnh Ký, dù được ca ngợi là “học giả uyên bác”, thực tế lại trở thành cầu nối giúp thực dân Pháp thâm nhập sâu vào đời sống văn hóa, tư tưởng Việt Nam. Lê Văn Duyệt một ngu trung, Nguyễn Ánh một ông vua cầm cố và bán nước cũng là những kẻ đặt lợi ích, quyền lực cá nhân và ngai vàng lên trên vận mệnh quốc gia, vô tình mở đường cho ngoại bang xâm lược và đô hộ Việt Nam gần một thế kỷ.

Những cái tên ấy không chỉ dừng lại ở vai trò lịch sử, mà còn là biểu tượng cho sự suy thoái ý chí dân tộc, cho tư tưởng tự hạ thấp mình trước kẻ thù. Đáng lo ngại hơn, hiện nay xuất hiện xu hướng cố tình “tẩy trắng”, phục hồi danh dự cho những nhân vật từng bị xem là phản bội, thậm chí nâng họ lên hàng “khai sáng văn minh”, “mang tư duy tiến bộ”.

Đó chính là mầm mống của hiện tượng “lật sử”, một âm mưu đã manh nha từ nhiều thế kỷ trước và nay đang tiếp diễn tinh vi hơn. Nhiều người, nhân danh tri thức hay cán bộ, đang vô tình hoặc hữu ý tiếp tay cho sự xuyên tạc lịch sử, phủ nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa, mang tầm vóc lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Ngày nay, những người theo đuổi tư tưởng “lật sử” không còn sử dụng bom đạn, chất độc hay mệnh lệnh của quân xâm lược như trong quá khứ. Họ lựa chọn những công cụ mềm mại hơn nhưng thực sự nguy hiểm: văn chương, truyền thông, xuất bản và mạng xã hội. Thông qua đó, họ gieo vào giới trẻ tâm lý hoài nghi, cảm giác mất cội nguồn, khiến ranh giới giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa trở nên mờ nhạt. Đỉnh điểm của xu hướng nhập nhằng này là việc một số người tán tụng cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” như một “kiệt tác phản chiến”, “tác phẩm dũng cảm đối diện lịch sử”.

Nhưng sự thật là gì? Một cá nhân được biến thành đại diện cho cả dân tộc. Một góc nhìn bi lụy lại được nâng lên thành “bản chất chiến tranh”. Những chi tiết sai lệch về quân đội, đồng đội, về tinh thần chiến đấu được thổi phồng, coi như “chứng cứ lịch sử”. Nguy hiểm hơn cả, tác phẩm ấy gieo vào tâm trí người đọc trẻ tuổi sự hoang mang về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại của dân tộc.

Một cuốn tiểu thuyết bị biến thành vũ khí đánh vào niềm tin, bởi những kẻ mang danh “trí thức” nhưng đi ngược dòng lịch sử. Một tác phẩm văn chương bị lợi dụng thành công cụ gây nhiễu nhận thức, phá hoại nền tảng tư tưởng. Đó chính là biểu hiện của “lật sử” trong thời hiện đại, không ồn ào, nhưng âm thầm, tinh vi và đặc biệt nguy hại.

Thế nhưng, dù những kẻ muốn “lật sử” đã lộ diện rõ ràng, dù nhân dân đã lên tiếng mạnh mẽ, mọi thứ dường như vẫn không chuyển động. Vẫn còn đó sự thờ ơ, bàng quan trước vận mệnh của lịch sử dân tộc.

Điều khiến xã hội phẫn nộ không chỉ nằm ở một cuốn sách hay người viết ra nó, mà ở thực tế đáng lo hơn: sự im lặng khó hiểu của những cơ quan, tổ chức lẽ ra phải đứng mũi chịu sào trong việc bảo vệ nền tảng lịch sử, đạo đức và truyền thống dân tộc. Chính sự im lặng ấy khiến lòng dân bất an, khiến niềm tin vào giá trị lịch sử bị bào mòn từng ngày.

Đỉnh điểm của sự nhập nhằng ấy chính là cuốn sách “Nỗi buồn chiến tranh”, được một số người tung hô như “kiệt tác phản chiến”, “thẳng thắn đối diện lịch sử”. Không ai lên tiếng rõ ràng về nhân vật “Kiên”, liệu có thật hay không. Không ai kiểm chứng mức độ sai lệch trong nội dung. Không ai đặt câu hỏi về hệ quả tư tưởng đối với hàng triệu thanh niên. Và cũng không ai đủ mạnh mẽ để bảo vệ hình ảnh người lính, những con người đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc.

Vậy vì sao vẫn có người chọn im lặng? Im lặng nghĩa là buông bỏ trách nhiệm. Im lặng là sự thỏa hiệp nguy hiểm. Và im lặng chính là mở đường cho những “bầy sói” mặc sức cắn xé lịch sử dân tộc. Trong khi lẽ ra, mỗi tiếng nói trung thực, mỗi hành động bảo vệ sự thật lịch sử đều là một tấm khiên vững chắc gìn giữ lòng tự tôn và niềm tin của nhân dân.

“Thế giới trở nên tồi tệ hơn không phải vì sự tàn bạo của kẻ xấu, mà vì sự im lặng của những người tốt”, Napoleon.

Napoleon từng cảnh báo bằng một chân lý không thể phủ nhận, kẻ xấu dù tàn bạo đến đâu cũng không đáng sợ bằng sự im lặng của những người tốt, bởi chính sự im lặng ấy mở toang cánh cửa cho cái ác hoành hành. Lời cảnh báo ấy hôm nay vang lên như tiếng chuông thức tỉnh, khi trước mắt chúng ta đang xuất hiện những “mũi dao” chĩa thẳng vào lịch sử dân tộc, thứ được dựng xây bằng máu, bằng trí tuệ và bằng niềm kiêu hãnh của hàng triệu người Việt Nam qua bao thế hệ.

Thực tế cho thấy, một cuốn sách không đủ sức lật đổ lịch sử. Một tác giả đơn lẻ cũng không thể phá vỡ nền tảng tư tưởng quốc gia và một nhóm truyền thông, dù khéo léo đến đâu, cũng không thể tự mình làm lung lay niềm tự hào dân tộc. Thế nhưng, tất cả những “nọc độc” đó vẫn ngang nhiên tồn tại, vẫn có thể thao túng dư luận, vẫn âm thầm gieo từng “mũi độc tư tưởng” vào nhận thức xã hội. Vì sao những hành vi bóp méo, xuyên tạc và lật sử ấy lại có thể tồn tại dai dẳng, thậm chí ngạo nghễ thách thức cả dư luận? Câu hỏi ấy cần được đặt ra một cách thẳng thắn, không né tránh, không vòng vo nếu chúng ta thực sự muốn bảo vệ sự thật lịch sử và niềm tự tôn dân tộc.

Chỉ còn một lời giải thích duy nhất: có những bàn tay đang đứng sau thao túng. Đâu đó trong bóng tối, có những thế lực cố tình đẩy lịch sử vào vùng nhiễu loạn, gieo hoài nghi vào lòng nhân dân, kích hoạt sự chia rẽ trong giới trí thức và từng bước bào mòn nền tảng niềm tin xã hội.

Câu hỏi không thể né tránh nữa: Phải chăng đang tồn tại một thế lực có tổ chức, có mục tiêu và có chiến lược, đứng sau việc đạo diễn, cổ súy cho những luận điệu xuyên tạc, bảo trợ cho các tư tưởng lệch lạc, và che chắn cho những cú đâm hiểm vào lịch sử dân tộc?

Điều chúng hướng tới là gì? Là bôi nhọ cuộc kháng chiến, hạ thấp hình tượng anh hùng, làm phai nhạt giá trị dân tộc, tẩy trắng kẻ phản bội, đánh tráo chính nghĩa và từng bước làm suy yếu tinh thần yêu nước trong thế hệ trẻ. Nếu không được ngăn chặn, âm mưu đó sẽ còn tiếp diễn mạnh mẽ hơn, tinh vi hơn và một ngày nào đó, lịch sử dân tộc có thể bị bóp méo đến mức không còn nhận ra chính mình.

Vì vậy, đã đến lúc phải hành động! Đã đến lúc nhân dân cần đồng lòng lên tiếng, và các cơ quan chức năng phải vào cuộc kiên quyết. Bởi im lặng lúc này đồng nghĩa với tiếp tay cho sai trái. Lịch sử dân tộc, vốn được viết bằng máu, trí tuệ và lòng quả cảm cần được bảo vệ bằng chính sự tỉnh táo và trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Những kẻ lật sử và tiếp tay cho lật sử hãy nhớ: Lịch sử dân tộc này không phải tấm vải để ai muốn xé là xé, không phải cỗ máy để ai muốn thao túng là thao túng và càng không phải món hàng để bất kỳ thế lực ngầm nào đem ra mặc cả, trao đổi. Lịch sử Việt Nam không phải bản nháp để ai tùy tiện gạch xóa.

Bởi lịch sử ấy được viết bằng máu, bằng xương, bằng linh hồn của hàng triệu người Việt Nam qua bao thế hệ. Lịch sử không phải trò chơi cho kẻ phản bội, càng không phải công cụ để đầu độc nhận thức thế hệ trẻ. Không ai được phép bóp méo nó. Không ai được phép xuyên tạc nó. Và càng không ai được phép dùng văn chương để che phủ sự thật.

Ngày hôm nay, nhân dân đã lên tiếng, xã hội đã cảnh báo, và những người yêu nước đã nhận ra nguy cơ. Vì thế, người tốt không được phép im lặng thêm nữa. Bọn lật sử phải cúi đầu trước sự thật và công lý. Đất nước này phải dọn sạch bóng tối đang bao phủ lịch sử.

Đã đến lúc các cơ quan có trách nhiệm, những người có lương tri phải hành động ngay bây giờ nếu không muốn thế hệ tương lai phải đau đớn hỏi lại: “Việt Nam ta ở đâu?”. Bởi lịch sử không chỉ là những trang quá khứ, mà là linh hồn của dân tộc, nơi kết tinh bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng Việt Nam. Mỗi người Việt, dù ở đâu, làm gì, đều đang mang trong mình sứ mệnh gìn giữ và tiếp nối ngọn lửa ấy. Khi sự thật được bảo vệ, khi niềm tin được củng cố, đất nước sẽ mãi trường tồn, và lịch sử Việt Nam sẽ tiếp tục tỏa sáng như biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và tự hào dân tộc./.




Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: PHẢI CHĂNG NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ VĂN HÓA KHÔNG BIẾT HAY CỐ TÌNH VINH DANH NHỮNG NHÂN VẬT BÁN NƯỚC CẦU VINH VÀ TÁC (RÁC) PHẨM HẠI DÂN NHƯ "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH"!

     Có một sự thật là ngày nay đất nước được hưởng nền Hòa Bình, sống trong đầy đủ thì không ít kẻ trong giới trí thức, cán bộ, nhà báo... ngồi phòng máy lạnh tiếp xúc với nhiều người cả ta lẫn tây, trơn lông đỏ da thì phong cách sống của họ trở nên xôi thịt, thực dụng chứ không vì cống hiến , nhất là những thành phần đi lên bằng cửa sau, bằng đầu gối dẫn đến bất mãn dù vẫn chễm chệ ngồi hưởng lương, hưởng lợi nhưng mang tư tưởng tây hóa, họ sẵn sàng làm nô lệ cho đồng tiền dù cho đó là những việc làm gây hại đất nước đâm chọc đồng bào.

Tôi gọi đó là những thành phần suy thoái biến chất tư tưởng chính trị, những thành phần này dễ nhận thấy nhưng khó xử lý vì nó mông lung, chưa được qui định rõ trong luật định.

Hãy xem sự việc nóng đang diễn ra và đang gây tranh cãi nảy lửa trên mạng XH như công nhận, tôn vinh công trạng bằng cách đặt tên đường, tên trường thậm chí đưa cả vào SGK cho các thế hệ học tập, noi gương một số nhân vật bán nước cầu vinh như Gia Long (Nguyễn Ánh), Lê Văn Duyệt, Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản... và gần đây nhất là rác phẩm vh Nỗi Buồn Chiến Tranh của tên suy thoái tư tưởng Bảo Ninh.

Tất nhiên thường dân thì không ai làm được việc đó ngoài các vị trí thức trí ngủ ngồi máy lạnh trong bộ máy công quyền như Viện sử, Bộ Giáo dục, Bộ Văn hóa, các nhà báo hại báo đời và những lãnh đạo, cán bộ chức năng có thẩm quyền .

Không ai khác chính họ đã trực tiếp hay gián tiếp, tiếp tay vực dậy khiến chúng dậy sóng gây mất đoàn kết dân tộc, rồi hô biến ghi nhận, ghi danh đặt tên đường, tên trường, vinh danh, trao giải... thử hỏi họ làm như vậy để làm gì? Làm như vậy có ích lợi gì cho dân cho nước?
Câu trả lời: Tất nhiên là không rồi.

Vậy họ làm như vậy có lợi cho ai nếu không phải phục vụ thế lực chống phá đất nước?

Tôi chỉ là một thường dân thôi nhưng tôi còn nhận ra đó là mối nguy hại cho đất nước khi mà những thứ kể trên xa rời tính Đảng, mang nặng tính xôi thịt.

Hãy xem rác phẩm NBCT xem tên suy thoái BN viết cho ai đọc, tính Đảng, tính chiến đấu ở đâu trong cuốn sách và nó mang tính định hướng, tuyên truyền giáo dục ra sao mà bộ GD thì đưa vào sách GK cho con cháu ta học, bộ VH thì vinh danh trao giải, báo hại báo đời thì ra sức đánh bóng? Hỏi rằng tư tưởng chính trị, tinh thần phụng sự đất nước, phụng sự Nhân dân của các vị ở đâu? Các vị có hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là gì không hay các vị chỉ đọc cho sang mồm vậy hả?

Không biết ai thế nào chứ cá nhân tôi cảm nhận bộ GD và bộ VH, báo hại báo đời có lúc như là của Mỹ hay phương tây đặt nhầm vào nước ta í, đau vô cùng./.



Khuyết danh ST.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2025

TỈNH TÁO NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG NGỪA HOẠT ĐỘNG NHIỄU LOẠN, XUYÊN TẠC THÔNG TIN!

     Thế giới đang bước vào thời kỳ toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực xã hội với sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Lợi dụng thế mạnh của thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là không gian mạng, những năm qua, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền các thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc hòng gieo rắc tư tưởng hoài nghi, gây mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta, qua đó hòng xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, từng bước thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Bản chất không gian mạng là môi trường mở cho phép người sử dụng tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin, chia sẻ, kết nối cộng đồng. Thông qua đó, con người được tiếp cận với lượng thông tin, kiến thức xã hội khổng lồ, được cập nhật thường xuyên với tốc độ rất nhanh, nội dung phong phú, đa dạng… nên rất khó quản lý, giám sát và kiểm duyệt. Đây chính là một trong những thế mạnh của không gian mạng được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để tuyên truyền thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc đối với nước ta.

Về nội dung thông tin xuyên tạc, kẻ địch triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi dụng các vụ việc phức tạp xảy ra ở trong nước… để rêu rao, xuyên tạc rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, cần thay thế bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản để “phù hợp với xu thế phát triển”.

Đặc biệt, mới đây, nhân việc Đảng, Nhà nước ta thực hiện việc tinh giản biên chế và sắp xếp lại hệ thống chính trị, kẻ địch đã ra sức xuyên tạc rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là “hình thức, mị dân, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách”; là “miếng bánh phân chia quyền lực của các phe phái”. Hay nhân Hội nghị Trung ương XIV vào 2 ngày 5 và 6/11/2025 vừa qua để cho ý kiến về công tác chuẩn bị Đại hội Đảng XIV, công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ, chúng cho rằng, việc giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV chỉ mang tính hình thức, thực chất chỉ là việc “củng cố hay thâu tóm quyền lực” của một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Lợi dụng sự thay đổi về nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước và ở một số bộ, ngành địa phương trước đại hội, các tổ chức phản động đồng loạt đăng tải các bài viết xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng là “không bảo đảm dân chủ”,“áp đặt”,“đặt lợi ích nhóm lên trên lợi ích quốc gia - dân tộc”…

Thậm chí, kẻ địch tìm cách bịa đặt đời tư cá nhân; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức lối sống... của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyên truyền xuyên tạc tình hình sức khỏe; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của các đồng chí lãnh đạo, nhất là các đồng chí được giới thiệu vào Ban Chấp hành Trung ương và UBKT Trung ương khóa XIV.

Về phương pháp, thủ đoạn: Các thế lực thù địch lập ra hơn 380 báo, tạp chí, hàng ngàn các trang web, blog, tài khoản mạng xã hội và hội, nhóm trên mạng Facebook và lợi dụng chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt của hãng BBC, VOA, RFA… để đăng tải tin, bài, clip có nội dung xuyên tạc, nhiễu loạn, thông tin xấu, độc theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” để chống phá nước ta. Chúng tìm cách trộn lẫn thông tin thật - giả một cách tinh vi để hướng lái người dân theo luồng thông tin sai lệch; núp bóng “phản biện độc lập”, ngụy tạo sự khách quan để xuyên tạc nhiều vấn đề trong xã hội rất khó nhận biết. Chúng còn lợi dụng công nghệ để cắt dán, trích dẫn sai lệch các hình ảnh, tài liệu; lập những tài khoản giả mạo trên mạng xã hội, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhân vật nổi tiếng để đăng tải thông tin sai sự thật, gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi, mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Tính riêng năm 2020, cơ quan chức năng đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh YouTube, 49 Fanpage, 765 tài khoản Facebook đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Các thế lực thù địch còn thiết lập cơ sở dữ liệu, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), Internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn (Big Data)... để tạo ra các dữ liệu, tài liệu giả theo kiểu “có giá trị như thật” nhằm chống Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, chúng còn sử dụng người nhẹ dạ, cả tin, có nhận thức hạn chế hoặc vì lợi nhuận kinh tế đứng ra “làm chim mồi” đóng vai “nhân chứng” chứng minh “độ tin cậy” cho thông tin xuyên tạc mà chúng đã tuyên truyền, xuyên tạc.   

Về đối tượng, đối tượng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc rất đa dạng, phức tạp, đó là một số người nghiên cứu lý luận, thực tiễn bài xích tư tưởng XHCN trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; một bộ phận cán bộ, đảng viên bất mãn, cơ hội, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những người nhận thức thấp bị lôi kéo, lừa bịp… nhưng lực lượng chủ yếu chính là đối tượng trong các tổ chức phản động lưu vong cấu kết với các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị trong nước. Số này giữ vai trò nòng cốt trong triển khai các chiến dịch phá hoại tư tưởng, tiến hành các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc.

Về thời điểm, chúng triệt để lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử Quốc hội hoặc xảy ra các vụ việc nhạy cảm, phức tạp, những vấn đề mà xã hội quan tâm, những “điểm nóng” về an ninh trật tự trong nước; những biến động lớn về chính trị, kinh tế của thế giới… để đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, thù địch đối với nước ta.  

Nhằm góp phần khắc phục hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc, cần xác định rằng đó là một nội dung quan trọng trong công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng; đây là một trong những nhiệm vụ mang tính cấp bách, thường xuyên và lâu dài của cả hệ thống chính trị. Do vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp các tầng lớp nhân dân trong triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn nhằm tranh thủ được sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và cộng đồng người Việt ở nước ngoài một cách thực chất, thiết thực và hiệu quả nhất. Chủ động tăng cường nắm tình hình, phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, đặc biệt là phương thức hoạt động mới của kẻ địch để tuyên truyền luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch. Xây dựng và phát huy vai trò của phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng nhằm huy động sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong tham gia hoạt động phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động này.    

Phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của các cơ quan chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và hệ thống cơ quan báo chí, đài truyền hình trong phòng ngừa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Chú trọng đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có đạo đức, bản lĩnh, trí tuệ, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Các cơ quan chức năng cần chủ động hướng dẫn người dân được tiếp cận thông tin chính thống về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và từng địa bàn.

Tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, truyền thông, Internet và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này nhằm chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các trang mạng thường đăng tải các tin, bài, phim có nội dung xấu, độc hại, trái với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác phòng chống các loại tội phạm trên không gian mạng có phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh nhuệ, hiện đại, có trình độ chuyên môn sắc bén. Tiếp tục đầu tư, trang bị các trang thiết bị nghiệp vụ chuyên dụng và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống hoạt động tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc, thù địch chống phá nước ta./.
Môi trường ST.