LÝ LUẬN ĐI ĐÔI VỚI THỰC TIỄN
HỌC TẬP THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Khi nghiên cứu về vai trò của lý luận và thực tiễn trong cải tạo và xây
dựng xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định, lý luận là
những kinh nghiệm đã được tổng kết đúc rút từ thực tiễn và khái quát hoá trong
ý thức con người, lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Thực tiễn là nguồn gốc, động lực của nhận thức, là
tiêu chuẩn của chân lý. Lý luận và nhận thức là hai mặt của quá trình nhận thức
và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người. V.I Lênin, người đặt nền
móng cho nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nước Nga đã đặc biệt quan tâm đến
nguyên lý kết hợp giáo dục với lao động sản xuất và đấu tranh cách mạng, Người
nói: “Người ta không thể hình dung được xã hội lý tưởng tương lai mà trong đó
nền giáo dục lại sẽ không kết hợp với lao động sản xuất hoặc lao động sản xuất
không có sự giảng dạy và giáo dục thích hợp”.
Kế thừa tư tưởng về kết hợp giáo dục với lao động
sản xuất và đấu tranh cách mạng trong chỉ đạo xây dựng nền giáo dục ở Việt Nam
đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rất nhiều tới vấn đề giáo dục “Học đi
đôi với hành, lý luận gắn với gia đình và xã hội”. Trong lần nói chuyện với cán
bộ, học sinh Trường Chu Văn An – Hà Nội, Người đã
nhấn mạnh: “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường học đi đôi với lao động,
lý luận đi đôi với thực tiễn”.
Bác Hồ là người Thầy vĩ đại, người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang,
sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến xây dựng Quân đội về mọi mặt,
đặc biệt là vấn đề giáo dục cán bộ, chiến sĩ. Khi bàn về vấn đề huấn luyện quân
nhân, các nội dung huấn luyện đã toát lên tư tưởng của Người về huấn luyện phải
bảo đảm tính toàn diện, tính thiết thực và tính hệ thống. Tính toàn diện mà Chủ
tịch Hồ Chí Minh chỉ ra bao hàm cả chính trị, văn hoá, lý luận và nghề nghiệp,
Người khái quát: “Quân nhân phải biết võ, biết văn, võ là như tay phải, văn là
như tay trái của quân nhân. Biết võ biết văn mới là quân nhân hoàn toàn”.
Đối với công tác huấn luyện bộ đội, Người đặc biệt nhấn mạnh huấn luyện
phải thiết thực, nội dung huấn luyện phải gắn với hoạt động thực tiễn của bộ
đội. Trong bài “Nói về công tác huấn luyện và học tập”, Người đặt vấn đề thiết
thực lên hàng đầu. Người đưa ra và tự trả lời cho các câu hỏi: “Huấn luyện ai?
Ai huấn luyện? Huấn luyện gì? Huấn luyện như thế nào? Tài liệu huấn luyện ở đâu?”.
Theo tư tưởng của Người, tính thiết thực phải
xuyên suốt trong tất cả các khâu của quá trình huấn luện. Từ việc xác định mục
đích, vai trò đến cấu trúc chương trình, lựa chọn nội dung, phương pháp và hình
thức tổ chức huấn luyện.
Nội dung thiết thực có ý nghĩa là trong huấn luyện phải lựa chọn những
nội dung ngắn gọn, đầy đủ sát với thực tiễn chiến đấu của Quân đội ta – phải
thực sự cần thiết, sát thực, không thiếu, không thừa theo chức trách, nhiệm vụ
mà người quân nhân đảm nhiệm, sau khi học tập người học có thể áp dụng, thực
hành được ngay. Người nói: “Những tài liệu huấn luyện phải nhằm vào sự cần
dùng, cần thiết của quần chúng. Phải hỏi: người đến chịu huấn luyện rồi, có áp
dụng được ngay không? nếu không thiết thực như thế, thì huấn luyện mấy năm cũng
vô ích”.
Đối với huấn luyện quân sự, nghiệp vụ, nhất là trong điều kiện có chiến
tranh hoặc trong những điều kiện hoạt động nghiệp vụ có tính chất khó khăn, phức
tạp, thì yêu cầu tính thiết thực trong huấn luyện càng phải nghiêm ngặt hơn.
Người phê phán mọi biểu hiển của việc huấn luyện thiếu thiết thực như: “Dạy
chính trị thì mênh mông, học rồi không dùng được”, Người chỉ ra
phải chống các bệnh “chủ quan, hẹp hòi, ba hoa” trong huấn luyện đó là chứng
bệnh huấn luyện không thiết thực.
Về con đường và cách thức huấn luyện, tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ
Chí Minh là học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn hoạt động quân sự.
Huấn luyện không được tách rời công tác và chiến đấu của quân nhân. Người nói:
“Học tập thì theo nguyên tắc kinh nghiệm và thực tế phải đi cùng nhau”.
Người phê phán mọi biểu hiện tách rời giữa lý luận với thực tiễn: “Nghiên cứu
mà không thực hành là nghiên cứu suông, thực hành mà không nghiên cứu thì
thường hay mù quáng”(5). Người chỉ ra cách thức kết hợp lý luận với
thực tiễn là: “Phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại
đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”.
