Thứ Hai, 28 tháng 12, 2020

"64 tấm gương thanh niên khuyết tật là động lực cho những người còn tự ti"

 Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung xúc động khi lắng nghe câu chuyện của những bạn trẻ khiếm thị, khiếm thính nhưng có nghị lực phi thường để trở thành người có ích cho xã hội, cho đất nước.

Tối 28/12, tại Hà Nội, Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật Việt Nam phối hợp tổ chức chương trình "Tỏa sáng nghị lực Việt" năm 2020.

Tham dự chương trình có ông Đào Ngọc Dung, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam; ông Nguyễn Phước Lộc, Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương; anh Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội LHTN Việt Nam, cùng lãnh đạo các Bộ, ban, ngành Trung ương và 500 đoàn viên, thanh niên.

64 tấm gương thanh niên khuyết tật là động lực cho những người còn tự ti - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung bày tỏ rằng ông rất xúc động khi lắng nghe câu chuyện của những bạn trẻ khuyết tật mà giàu nghị lực.

Gặp gỡ các tấm gương thanh niên khuyết tật, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung bày tỏ rằng sự xúc động khi lắng nghe câu chuyện của những bạn trẻ khiếm thị, khiếm thính nhưng bằng nghị lực phi thường đã miệt mài chinh phục hành trình tri thức theo cách riêng của mình để trở thành người thành đạt, có ích cho xã hội, cho đất nước.

Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung khẳng định: "64 thanh niên khuyết tật này là đại diện cho hàng ngàn thanh niên từ nhiều vùng miền, nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, đang học tập, công tác ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, khoa học… không cam chịu hoàn cảnh của người yếu thế, không chấp nhận những rào cản khiếm khuyết thể chất và khó khăn của hoàn cảnh sống, bền bỉ vượt qua nỗi buồn, sự bi quan, vươn lên khẳng định giá trị bản thân và đóng góp cho xã hội những điều tốt đẹp".

Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH tin tưởng những tấm gương chân thực này sẽ khơi gợi, lôi cuốn, trở thành động lực để nhiều người còn đang mặc cảm tự ti, yếu thế vì hoàn cảnh khuyết tật, can đảm hơn, mạnh dạn hơn bước ra khỏi sự bi quan, hòa nhập với cộng đồng.

"Tôi mong rằng các em, các cháu sẽ giữ mãi ngọn lửa ý chí và lan tỏa mạnh mẽ hơn nghị lực sống tích cực của mình cho cộng đồng và những người đồng cảnh ngộ. Đây chính là giá trị đóng góp xứng đáng của các em, các cháu cho sự phát triển vững bền của đất nước", Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nói.

64 tấm gương thanh niên khuyết tật là động lực cho những người còn tự ti - 2

Nhấn để phóng to ảnh

Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung tặng quà động viên 64 tấm gương thanh niên khuyết tật tiêu biểu cả nước.

Chương trình "Tỏa sáng nghị lực Việt" năm 2020 do Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Ủy ban Quốc gia về người Khuyết tật Việt Nam phối hợp tổ chức nhằm tìm kiếm và tôn vinh các tấm gương thanh niên khuyết tật tiêu biểu, giàu nghị lực, vượt qua nghịch cảnh và tích cực đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng; góp phần bồi đắp lý tưởng sống tốt đẹp cho thanh niên, thúc đẩy sự vươn lên của thanh niên Việt Nam.

Đồng thời, chương trình cũng mong muốn tạo sự lan tỏa và quan tâm, kêu gọi cộng đồng xã hội tiếp tục hỗ trợ, đồng hành cùng thanh niên khuyết tật Việt Nam. Thông qua chương trình, ban tổ chức cũng mong muốn tìm ra các mô hình phù hợp, bền vững để hỗ trợ thanh niên khuyết tật hòa nhập cộng đồng bình đẳng, tự tin và hiệu quả.

64 tấm gương thanh niên khuyết tật là động lực cho những người còn tự ti - 3

Nhấn để phóng to ảnh

MC truyền hình Lê Hương Giang đảm nhiệm vai trò dẫn dắt chương trình này. Cô cũng là 1 trong 64 gương thanh niên khuyết tật tiêu biểu được tuyên dương "Tỏa sáng nghị lực Việt" năm 2020.

Chương trình "Tỏa sáng nghị lực Việt" năm 2020 lựa chọn ra 64 tấm gương thanh niên khuyết tật tiêu biểu nhất. Các đại biểu được xét chọn tham gia chương trình hiện đang sinh sống, học tập, lao động, công tác tại tất cả các địa bàn trong cả nước từ nông thôn, biên giới, vùng sâu, vùng xa đến khu vực đô thị; thuộc mọi tầng lớp, ngành nghề trong xã hội.

Trong đó, nhiều người đạt được thành tích cao trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và truyền cảm hứng mạnh mẽ cho thanh thiếu nhi.

Tiêu biểu như Hoa khôi vẻ đẹp Vầng Trăng khuyết Bế Thị Băng, đam mê khởi nghiệp và phụng sự cộng đồng. Nhà văn Trần Thị Trà My, người truyền lửa cho thanh niên bằng tấm gương vượt qua nghịch cảnh của bản thân. Anh Lê Thanh Tùng đến từ Yên Bái không những vượt qua khiếm khuyết về thể chất, hăng say, sáng tạo trong lao động mà còn hỗ trợ nhiều thanh niên có việc làm và thu nhập ổn định.

Chị Lê Hương Giang, người con của Thủ đô đã vượt qua bóng tối để trở thành người dẫn chương trình tài năng, trí tuệ và duyên dáng của Đài Truyền hình Việt Nam.

64 tấm gương thanh niên khuyết tật là động lực cho những người còn tự ti - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Chương trình này là dịp để người khuyết tật nói lên tiếng nói của mình, thể hiện tài năng, giá trị đối với xã hội.

Chương trình "Tỏa sáng nghị lực Việt" năm 2020 diễn ra trong 2 ngày (27-28/12/2020) tại Hà Nội với nhiều nội dung như: Tham quan Khu di tích Phủ Chủ tịch, Gặp mặt lãnh đạo Bộ, ngành Trung ương, Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật Việt Nam; Đêm hội vinh danh "Tỏa sáng Nghị lực Việt".

Đêm hội vinh danh 28/12 cũng là nơi các thanh niên khuyết tật được nói lên tiếng nói của mình, thể hiện những khả năng của mình như làm thơ, chơi nhạc cụ, hát, diễn thuyết... Mỗi đại biểu tham gia chương trình sẽ được tặng Bằng khen của Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, biểu trưng của chương trình; quà tặng của Bộ Trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật Việt Nam và 1 sổ tiết kiệm trị giá 10 triệu đồng.

64 tấm gương thanh niên khuyết tật là động lực cho những người còn tự ti - 5

Nhấn để phóng to ảnh

Trình diễn trong đêm tuyên dương "Tỏa sáng nghị lực Việt" là chính những thanh niên khuyết tật có giọng ca truyền cảm hứng.

64 tấm gương thanh niên khuyết tật là động lực cho những người còn tự ti - 6

Nhấn để phóng to ảnh

64 tấm gương thanh niên khuyết tật là động lực cho những người còn tự ti - 7

Nhấn để phóng to ảnh

Các tấm gương thanh niên nghị lực tiêu biểu toàn quốc.

Tiến tới Đại hội XIII của Đảng

 


Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về mọi mặt, mạnh mẽ, toàn diện; sẽ khẳng định vị thế, uy tín, trách nhiệm cao nhất trước cộng đồng quốc tế cũng như sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước vững bước theo con đường XHCN.


Với phương châm chỉ đạo: "Dân chủ, đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo, phát triển". Cùng chủ đề: "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Khẳng định mục tiêu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII sẽ mạnh, đoàn kết, thống nhất, vững vàng về chính trị, trong sáng về phẩm chất đạo đức, thực sự tiêu biểu cho trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân; đủ sức lãnh đạo, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững./.

NHỮNG TÂM SỰ, CHIA SẺ CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC


---

Sau nội dung chỉ đạo về định hướng, phương hướng phát triển kinh tế-xã hội năm 2021 và thời gian tới tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc của Chính phủ với địa phương*, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có những tâm sự, chia sẻ liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cho biết, những kết quả, thành tựu của đất nước năm 2020 và cả nhiệm kỳ là công lao của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó có công lao rất lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương.

Nhấn mạnh, “Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, biểu dương và cảm ơn những đóng góp lớn lao của các đồng chí”, song Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng một lần nữa nhắc lại, tuyệt nhiên chúng ta không được chủ quan, tự mãn, say sưa với ánh hào quang của vòng nguyệt quế vì phía trước, khó khăn, thách thức đang còn nhiều; công việc nặng nề, phức tạp đang chờ đón chúng ta.

Tất cả chúng ta, nhất là các cán bộ có chức, có quyền, đang nắm trong tay quyền và tiền và một tài sản khổng lồ của đất nước, lại đang sống và làm việc trong môi trường có rất nhiều cám dỗ, rất dễ xảy ra tham nhũng, hư hỏng, tiêu cực như quản lý và sử dụng đất đai; xây dựng cơ bản, thu chi ngân sách, sử dụng tài sản công, tài nguyên môi trường; cổ phần hóa và tài chính trong các doanh nghiệp, thực hiện chính sách an sinh xã hội, công tác tổ chức cán bộ...

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra số liệu thống kê, trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, đã có 113 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đã bị thi hành kỷ luật, thậm chí một số đồng chí bị xử lý hình sự.

Đáng lưu ý là, trong số đó có đến 53 đồng chí công tác ở các cơ quan chính quyền, 31 cán bộ lực lượng vũ trang nhưng các vi phạm phần lớn là thuộc các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, nhắc đến những con số này chúng ta thật đau lòng. Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình, trái lại rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người.

Nêu rõ, nhiệm vụ của chúng ta trong thời gian tới hết sức nặng nề, phức tạp, phải luôn đấu tranh với chính mình để không phạm phải những cám dỗ đời thường, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng bày tỏ: 

“Tôi chia sẻ với các đồng chí và mong các đồng chí hãy luôn luôn tâm niệm, nhớ rằng chúng ta là những đảng viên, hơn nữa là những cán bộ rường cột của nước nhà, là công bộc của dân, hãy làm việc hết sức mình, trước hết, trên hết là vì dân, vì đất nước; luôn trau dồi, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống, luôn tự soi, tự sửa lại mình để không xảy ra những điều mà không ai muốn. Nếu để xảy ra thì không chỉ Đảng, Nhà nước, cơ quan, đơn vị và nhân dân mất cán bộ mà chính các đồng chí mất uy tín, danh dự, làm ảnh hưởng và mang đến nỗi đau không chỉ cho chính mình mà cả gia đình, người thân, đồng chí, đồng đội mình”.

TÂM NGÁO SƯ

 Chém gió trên nhà đài RFA, cụ “giáo sư” Nguyễn Đình Cống lại vừa cho rằng “việc chống tham nhũng đúng ra là công việc của chính quyền, của hành pháp, của tư pháp, thế mà Đảng ôm vào để làm. Nhưng vì Đảng không đa nguyên nên không giải quyết được tham nhũng”. Đúng là tầm "giáo sư" nên có những suy nghĩ quái chiêu thật.

Tại Việt Nam, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tham nhũng được xác định là giặc nội xâm nên cả hệ thống chính trị phải vào cuộc chống tham nhũng, thế mà cụ Cống lại tư duy là Đảng ôm vào để làm để lấy tiếng!!!

Tham nhũng nó đe dọa tới sự tồn vong của chế độ nên Đảng phải giải quyết. Chống tham nhũng cũng là chống suy thoái, là xây dựng chỉnh đốn Đảng, sao Đảng lại có thể đứng ngoài cuộc. Còn chuyện muốn chống tham nhũng phải đi nguyên đa Đảng, nghe nó cũ rích từ lâu rồi. Nhiều nước có một Đảng vẫn chống tham nhũng tốt mà nhiều nước đa đảng vẫn cứ đầy tham nhũng đấy thôi.

Xem ra anh Cống nhiều tuổi nên cũng bắt đầu lẫn rồi đây!

Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua trong giai đoạn cách mạng hiện nay

72 năm qua, “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị, luôn là lời hiệu triệu cho phong trào thi đua yêu nước của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” chứa đựng những tư tưởng lớn về thi đua yêu nước có ý nghĩa chỉ dẫn công tác thi đua - khen thưởng khi chúng ta đang tổng kết phong trào thi đua giai đoạn 2016-2020 và tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. 1. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bối cảnh giặc đói, giặc dốt hoành hành khắp nơi, giặc ngoại xâm lăm le, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ, trước tình thế cách mạng ngàn cân treo sợi tóc, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27-3-1948, BCH Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc, trong đó xác định “Mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”. Ngày 11-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” động viên đồng bào, chiến sỹ phát huy truyền thống yêu nước thực hiện những nhiệm vụ cấp bách chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, góp của, góp công vào sự nghiệp kiến thiết và bảo vệ đất nước. Lời kêu gọi của Bác với những ngôn từ vừa giản dị, gần gũi, rõ ràng, dễ hiểu, đã nêu bật ý nghĩa mục đích thi đua, mục tiêu thi đua, lợi ích thi đua. Bác còn phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người có sức lan tỏa sâu rộng, lôi cuốn mạnh mẽ, thôi thúc mọi ngành, mọi cấp, mọi người cùng thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn 70 năm qua có thể khẳng định mọi thành quả của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đều gắn liền với việc tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước. Từ những ngày đầu lập nước, Bác Hồ và Đảng ta đã khẳng định: Nước ta phải thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, rồi tiến lên CNXH, trong điều kiện một nước nghèo. Bác Hồ nói: “Tiến lên CNXH không phải muốn là tự khắc có, mà phải làm thế nào cho nó tiến lên, tức là phải lao động, lao động thiết thực”. Nên phong trào thi đua do Bác phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Bác phân tích: “Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến không thể có phong trào thi đua yêu nước. Vì giai cấp lao động không dại gì mà ra sức thi đua làm giàu thêm cho bọn chủ rồi lại bị chúng áp bức, bóc lột thêm. Chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và XHCN, dưới chế độ mà nhân dân lao động làm chủ nước nhà thì mới có phong trào thi đua”. Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”. Nhằm nâng cao ý thức tự giác lao động, khuyến khích lòng nhiệt tình, khả năng của mọi người trong xây dựng và kiến thiết đất nước, Người yêu cầu: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua”. Đây chính là một cuộc vận động sâu rộng, toàn dân, toàn diện, tất cả cho lao động sản xuất. Để phát động phong trào thi đua lao động đều khắp và tác dụng thiết thực, Bác kêu gọi: “Mọi ngành, mọi người, mọi tổ chức phải ra sức thi đua, phải thực hiện khẩu hiệu: nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Phải chống tư tưởng bảo thủ, chống tác phong quan liêu, chống lãng phí. Người còn nói: “Thi đua là đoàn kết. Trong phong trào thi đua chúng ta thấy có đủ các dân tộc: Kinh, Thổ, Mán, Mường, đủ các tín ngưỡng: lương có, giáo có, đủ các tầng lớp công, nông, binh, sỹ, đủ các người già, trẻ, gái, trai, tất cả đều nhằm vào mục đích chung: tăng gia sản xuất và diệt giặc lập công”. Hiểu được ý nghĩa như vậy, các tầng lớp nhân dân Việt Nam đã thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là nhằm mục đích ích nước lợi nhà nên đúng là “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những yêu nước nhất”. Theo Bác, thi đua không phải là tranh đua. Không phải là giấu nghề, giấu nghề cho riêng mình, cho nhà mình. Trái lại trong thi đua phải giúp đỡ nhau, trao đổi kinh nghiệm cho nhau để cùng tiến bộ, điều đó cũng thể hiện rõ thi đua phải đoàn kết, đoàn kết để thi đua. Xuất phát từ ý nghĩa của phong trào thi đua mà Bác nhấn mạnh: “Thi đua phải lấy tinh thần yêu nước làm gốc”. Trên cơ sở đó mà xác định chỉ tiêu thi đua thiết thực, rõ ràng, định mức phù hợp, kế hoạch thực hiện đơn giản, có nhiều biện pháp phong phú để động viên được nhiều người tham gia phong trào. Bác gợi ý “không nên đặt nhiều việc quá, mức quá cao, rồi làm không được thì nản lòng. Không nên chép của nhau, kế hoạch của người nào, nhóm nào phải do người ấy, nhóm ấy tự động, tự giác, tự nguyện làm lấy. Không nên bao biện như cán bộ tự mình đặt kế hoạch rồi đem đọc qua trước hội nghị để mọi người giơ tay tán thành. Thế là cách làm quan liêu, hình thức, sẽ không có kết quả”. Bác còn hướng dẫn những điều cần làm là: “khi đặt kế hoạch nên bàn kỹ, khi đã nhận kế hoạch nên công bố đường hoàng, chép và gián lên tường để luôn luôn trông thấy, ghi nhớ và luôn cố gắng”. Còn những cán bộ tổ chức theo dõi phong trào thi đua “thì phải luôn khuyến khích, giúp đỡ, kiểm tra sửa chữa hoặc bổ sung kịp thời. Tuỳ công việc mà định kỳ hạn tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng hoặc phê bình”. Phong trào thi đua sẽ xuất hiện những anh hùng, chiến sỹ thi đua, họ chính là những hạt nhân của phong trào bởi họ là “những người tiên phong trong sản xuất mà cũng là gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc trên lợi ích riêng cá nhân… họ không sợ khó nhọc, ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng, Chính phủ giao cho, chứ họ không suy bì hơn thiệt cá nhân, không ganh tỵ về địa vị và hưởng thụ. Họ không giấu nghề, không dìm những anh em chung quanh mình. Họ giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ…”. Mặt khác, Bác cũng căn dặn các anh hùng chiến sỹ thi đua: “Thành tích là thành tích của tập thể, tách rời tập thể thì dù tài giỏi mấy, một cá nhân cũng không làm gì được, cho nên càng có thành tích thì càng phải cố gắng, càng phải khiêm tốn, tuyệt đối chớ tự mãn, tự túc. Các anh hùng, chiến sỹ thi đua cần phải luôn dìu dắt giúp đỡ những người xung quanh mình cùng tiến bộ”. 2. Toàn bộ những hoạt động thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phong trào thi đua trong suốt lịch sử cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lãnh đạo là minh chứng sinh động cho Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước. Những tư tưởng và hành động của Bác tập trung khơi dậy phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần đó của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc của cách mạng, thực hiện tốt hơn trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày. Người chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày. Ngày 17-9-1947, Chủ tịch Hồ Chí minh ký sắc lệnh 83/SL thành lập Viện Huân chương. Ngày 1-6-1948, Người ký sắc lệnh 195-SL thành lập Ban vận động thi đua ái quốc Trung ương để vận động, đôn đốc thi đua và phổ biến kinh nghiệm trong toàn quốc. Năm 1950 Bác cùng bộ đội hành quân đi Chiến dịch Biên giới. Tháng 8-1951 Bác chỉ đạo phong trào thi đua và Hội nghị Thi đua của thanh niên. Tháng 1-1952 Bác chỉ đạo Đại hội Thi đua toàn quốc lần đầu tiên. Tháng 3-1958 Bác đến với bà con nông dân xã Lại Sơn (Vĩnh Phúc). Tháng 11-1965 Bác ân cần tiếp đón Đoàn đại biểu Anh hùng chiến sỹ thi đua lực lượng vũ trang miền Nam. Khi đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc, Bác nhiều lần đến thăm bộ đội tại trận địa pháo Phòng không. Ngày 19-7-1965 Bác đến thăm Đại đội 1 Trung đoàn Pháo Phòng không 234, sau khi ân cần thăm hỏi các chiến sỹ, Bác nói: Hôm nay, Bác đến thăm các chú, thấy chú nào cũng mạnh khỏe, vui vẻ, Bác mừng. Bác khen bộ đội đánh giỏi, bắn rơi gần 400 máy bay Mỹ. Bác nhấn mạnh: “…Dù đế quốc Mỹ lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B57, B52 hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh thắng. Từng ấy máy bay, từng ấy lính Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng…”. Theo thống kê trong 10 năm (1955-1965) giữ cương vị Chủ tịch nước, Bác đã có tới hơn 700 lần trực tiếp tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân (không kể các chuyến làm việc). Cho đến những ngày cuối đời, sáng ngày 1 Tết Kỷ Dậu (1969) Bác còn đến thăm Bộ đội Phòng không và thăm bà con nông dân xã Vật Lại, trồng cây đa và căn dặn bà con thi đua trồng cây. Quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, điều quan trọng nhất trong thi đua yêu nước là phải xác định được nội dung phong trào thi đua. Phong trào càng thiết thực, càng cụ thể thì hiệu quả càng cao. Đó là cơ sở để làm tốt công tác vận động nhân dân hưởng ứng tham gia, vừa có chiều sâu, vừa có chiều rộng, vừa có sức hút, vừa có khả năng lan tỏa, với phương pháp đúng, khẩu hiệu thiết thực, rõ ràng, có sức động viên mạnh mẽ, chống bệnh hình thức. Theo Bác, nếu không gắn được nhiệm vụ chung với công việc hằng ngày thì chỉ là “đánh trống bỏ dùi”, “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” hoặc “đầu voi đuôi chuột”. Bác luôn gắn liền phong trào thi đua với công tác khen thưởng, khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Chính vì vậy, Người vừa khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, vừa quan tâm đến công tác khen thưởng, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương người tốt, việc tốt. Kể từ khi phát động phong trào thi đua yêu nước, Bác thường xuyên theo dõi động viên, khuyến khích, gửi tặng Huy hiệu của Người cho những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong học tập, lao động sản xuất và chiến đấu. Suốt 72 năm qua, phong trào thi đua đã lan rộng cả nước, mỗi địa phương, mỗi ngành nghề đều có những thành tựu từ phong trào thi đua, xuất hiện những anh hùng, chiến sỹ thi đua và những tập thể lao động xuất sắc. Như vậy, thi đua yêu nước theo Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Bác Hồ cũng chỉ rõ: “Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng”, có sự chỉ đạo thống nhất, có sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức đảng với tổ chức chính quyền và đoàn thể quần chúng. Người chỉ ra những nơi phong trào thi đua yếu kém là do có khuyết điểm trong công tác tổ chức lãnh đạo phong trào. Người nhắc nhở: “Tổ chức và lãnh đạo còn kém, không phát triển được hết sáng kiến và năng lực của quần chúng”. Người luôn yêu cầu cán bộ phải thật sự mẫu mực, luôn gương mẫu trong phong trào thi đua, thực sự là tấm gương sáng để cấp dưới và quần chúng noi theo. 3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, được hình thành trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng và truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc, đường lối và thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ nội dung của “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” thể hiện nổi bật tư tưởng của Người về thi đua ái quốc như sau: Một là, quan điểm thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng. Theo Người, thi đua là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Hai là, mục đích thi đua yêu nước nhằm khơi dậy, phát huy được tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, làm cho mọi người đều hăng hái, tích cực, sáng tạo, ngày càng làm được nhiều điều tốt hơn trong xã hội… Như vậy, đời sống của nhân dân sẽ ngày càng đầy đủ, no ấm, đất nước sẽ ngày càng giàu lên, quân đội sẽ ngày càng vững mạnh và sẽ hoàn thành được mục tiêu của cách mạng đề ra. Ba là, nội dung thi đua yêu nước phải toàn diện, phải xuất phát và phục vụ nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng, phải thiết thực, ở tất cả các lĩnh vực hoạt động của đất nước, gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng ngành, từng cấp, hướng vào cải tạo và xây dựng con người mới, hướng vào giải quyết những vấn đề cơ bản, thiết thực của nhân dân; thi đua phải gắn với công việc hằng ngày của mỗi người. Bốn là, cách tổ chức phong trào thi đua yêu nước: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân”; các phong trào thi đua yêu nước cần phải đa dạng, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự giác, sáng tạo và sức lực của các tầng lớp nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng. Trong quá trình thi đua, Người thường lưu ý, phải coi trọng sáng kiến, tổng kết kinh nghiệm. Từ những sáng kiến và kinh nghiệm trong từng ngành, lĩnh vực, ở một địa phương, cơ quan, đơn vị… sẽ được phổ biến, lan rộng ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều cơ quan, cho đến cả nước; phải coi những sáng kiến, kinh nghiệm là tài sản vô giá, cần được phát huy và phổ biến. Năm là, phương châm thi đua yêu nước, Người chỉ rõ “thi đua chứ không phải ganh đua” nên cần phải đoàn kết, thân ái giúp đỡ lẫn nhau để đạt thành tích cao; “giúp đỡ những người và những nhóm còn kém theo kịp mức cao hiện nay”; thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng; khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua; khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục. Như vậy, thi đua để tăng cường đoàn kết, mà đoàn kết lại đẩy mạnh thi đua. Sáu là, lực lượng thi đua, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng của phong trào thi đua yêu nước là toàn thể nhân dân: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa”. Từ đó, Người nhận định: “Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc Thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to”. Ngày nay, cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế, Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Để vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp: tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về ý nghĩa và tác dụng của phong trào thi đua yêu nước; tăng cường giáo dục lòng yêu nước, ý thức tự lực, tự cường, tự hào dân tộc và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo nên sự đồng thuận thực hiện phong trào thi đua ngày càng phát triển. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thi đua khen thưởng. “Sáng kiến và kinh nghiệm cũng như những con suối nhỏ chảy vào sông to, những con sông to chảy vào bể cả. Không biết quý trọng sáng kiến và phổ biến kinh nghiệm tức là lãng phí của dân tộc” – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguồn: Xây dựng Đảng

Phê phán quan điểm “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là công việc rất cần thiết. Mỗi quốc gia, dân tộc cần biết mình đang sống trong thời đại gì và bối cảnh thế giới nào, với những tính chất, đặc điểm, nội dung và xu thế phát triển ra sao. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp chúng ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội. Đó cũng là cách giúp chúng ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách đố phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch; từ đó không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của đời sống chính trị quốc tế. Phê phán quan điểm “không có thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội” Ảnh minh họa. Nguồn: bantuyengiao.vn Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như bây giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại; nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy nhưng hiện nay trước Đại hội XIII của Đảng, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Vì vậy, các phần tử phản động, cơ hội chính trị cho rằng: Từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến CNXH nữa. Họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) nữa thì nước ta làm sao có thể đi lên CNXH được? Luận điệu của họ không có gì mới nhưng cách diễn đạt khác đi. Những luận cứ đấu tranh chống các luận điệu này cần được làm rõ. Sự thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH, thì nay CNXH sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của CNTB; rằng CNXH và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa. Cách nhìn nhận của họ rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và rất thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được, mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước tụt lùi. Sự đổ vỡ của mô hình XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản trên thế giới. Ai cũng biết rằng, sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa (TBCN) thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng. Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp, bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay. Thế giới thay đổi khôn lường, nội dung thời đại không thay đổi Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, CNXH ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười cũng chấm hết. Đây đúng là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng, thành quả mà Cách mạng Tháng Mười đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó quyết không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười. Lịch sử đã tỏ rõ, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội TBCN đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Hà Lan, Anh, Pháp... thì hình thái kinh tế-xã hội TBCN mới thực sự thắng thế trước hình thái kinh tế-xã hội phong kiến. Sự phát triển của xã hội loài người từ sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười không chỉ là ngọn đèn pha tỏa sáng dẫn đường, mà còn có những đóng góp thực tế to lớn. Cách mạng Tháng Mười là tiếng chuông đánh thức lịch sử, báo hiệu một trang sử mới của thế giới. Thế giới trước Cách mạng Tháng Mười là một thời kỳ u mê, an phận, là thời đại của CNTB. Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười làm cho CNTB bị đổ vỡ một mảnh lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới với sự hình thành và phát triển của CNXH làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Thành quả của Cách mạng Tháng Mười tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của CNTB, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của CNTB. CNTB không thể sống tự nó nữa mà đã phải cố gắng vì sự tồn tại của nó. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội... ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều do kết quả đấu tranh của những người lao động để giành quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và sâu xa hơn là được ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười. Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định rằng, mặc dù tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn lường, nhưng bản chất của thời đại không thay đổi. Tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động, nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức. Niềm tin vững chắc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nước ta quá độ lên CNXH tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước, nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, không chỉ có thời cơ mà còn có cả những thách thức, những nguy cơ. Trong hợp tác kinh tế với các nước, nhất là với các nước tư bản phát triển, là những trung tâm kinh tế, kỹ thuật hùng mạnh, họ có thể lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để gây sức ép đối với chúng ta, nhất là trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho họ, hòng lái chúng ta đi chệch khỏi định hướng XHCN. Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển là xu hướng của thời đại nhưng còn một xu hướng khác đối lập là xu hướng cường quyền, áp đặt. Mưu toan của các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang thể hiện trong các điểm nóng trên nhiều khu vực của thế giới, đang là những mưu toan độc chiếm các vùng biển đảo, xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước khác. Đó là những thách thức, những nguy cơ mà chúng ta cần có sự nhận thức sâu sắc và tỉnh táo, không một chút mơ hồ, mất cảnh giác, để có những chủ trương, biện pháp ngăn ngừa, đối phó hữu hiệu. Chúng ta thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc về mục tiêu chiến lược và mềm dẻo linh hoạt về sách lược. Đấu tranh không phải để phá vỡ hợp tác mà để phát triển sự hợp tác. Phải biết khéo tận dụng thời cơ, tranh thủ quan hệ với các nước lớn trong xu hướng đa cực hóa để mở rộng sự hợp tác vừa có lợi, vừa bảo vệ được mình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Một vấn đề nữa cũng không kém phần quan trọng là khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chúng ta cũng chịu sự tác động hai chiều tích cực và tiêu cực đến kinh tế của nước ta. Tác động tích cực khi kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ổn định phát triển, tác động tiêu cực khi kinh tế thế giới và kinh tế khu vực rơi vào trì trệ khủng hoảng. Chúng ta cần có chính sách sử dụng tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực, giữ cho nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển. Đây là bài học thực tế đã xử lý trước những tác động tiêu cực của cơn khủng hoảng tài chính-tiền tệ và khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua. Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ TBCN theo quan điểm của V.I.Lênin, người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta. Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; nhất định thực hiện được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nguồn: QĐND

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2020

 

NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ QUAN HỆ

ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ

 

 

Sau khi “Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ được xác lập (năm 2013), đặc biệt trong bối cảnh Mỹ - Trung Quốc tăng cường cạnh tranh về quyền lực trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Trung Quốc ngày càng bộc lộ tham vọng chủ quyền tại Biển Đông, đã có nhiều quan điểm về khả năng Việt - Mỹ trở thành Đối tác chiến lược được đưa ra. Những quan điểm này đều xoay quanh các nội dung chính và sau đây là một số ví dụ:

- Một là, Việt Nam cần nhanh chóng xác lập quan | hệ “Đối tác chiến lược” với Mỹ để đối phó với những tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông.

Trang tin BBC ngày 17/9/2019, có bài viết:“Việt Nam đã sẵn sàng nâng tầm đối tác chiến lược với Mỹ?”. Tiêu đề bài viết cũng là nhận định của ông Prashanth Parameswaran, biên tập viên cao cấp tờ “The Diplomat” (Nhật Bản), tạp chí chuyên về an ninh và chính sách đối ngoại châu Á - Thái Bình Dương. Theo ông Prashanth Parameswaran: “việc nâng tầm quan hệ Việt - Mỹ CÓ ý nghĩa lớn với các nhà hoạch định chính sách cả hai nước khi phản ánh nỗ lực của Washington trong việc mở rộng mạng lưới các đồng minh và đối tác tại châu Á - Thái Bình Dương và tầm quan trọng của Việt Nam trong mạng lưới này, đồng thời nhấn mạnh cơ hội và thách thức mà Hà Nội phải cân nhắc”.

Trên tờ Asia Times ngày 28/5/2019, Tiến sĩ về quan hệ quốc tế Đoàn Xuân Lộc - nhà nghiên cứu tại Viện chính sách toàn cầu (Anh) có đăng bài: “Việt - Mỹ đã hợp tác chiến lược nhiều mặt, trừ tên gọi”. Trong bài viết, ông Đoàn Xuân Lộc phân tích: “sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông là một trong các yếu tố chính để Việt Nam tìm cách thắt chặt quan hệ với Mỹ, đặc biệt trong an ninh quốc phòng. Mặc dù vẫn có những khác biệt nhất định, đặc biệt là về các quyền tự do chính trị và nhân quyền, lợi ích chiến lược của Mỹ và Việt Nam ngày càng phù hợp với nhau. Đối với Việt Nam, mối quan hệ với Mỹ hiện tại về cơ bản là chiến lược trong nhiều lĩnh vực quan trọng, như an ninh và quốc phòng, mặc dù về tên gọi nó mới chỉ là quan hệ đối tác toàn diện”.

Tờ “The Diplomat” ngày 21/9/2019 đăng bài “Việt Nam có thể hướng về Mỹ sau căng thẳng với Trung Quốc" của Christopher Sharman, chuyên gia nghiên cứu của Viện Hoover, Đại học Stanford, nguyên Tùy viên Hải quân tại Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội, Có đưa ra dự báo: “Chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam dự kiến vào cuối năm nay sẽ tạo động lực cho Bộ Quốc phòng Việt Nam thúc đẩy hợp tác quan hệ quốc phòng toàn diện với Mỹ, trong đó có thể bao gồm các thỏa thuận hợp tác quốc phòng chiến lược mới, ủng hộ tàu sân bay Mỹ thăm cảng Việt Nam lần thứ hai, hoặc cam kết cử tàu tham gia tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) vào năm tới”. Mặc dù dự báo đen là không hoàn toàn chính xác, nhưng nó chứa dựng thông điệp ám chỉ Việt Nam đang hướng tới Các lập quan hệ “đối tác chiến lược” với Hoa Kỳ để đối phó với những tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông.

- Hai là, Mỹ đã “bật đèn xanh” và sẵn sàng ký “đối tác chiến lược” với Việt Nam.

Ông Nguyễn Quang Dy, một nhà ngoại giao đã nghỉ hưu và là Harvard Nieman Fellow (1993), là nhà nghiên cứu độc lập và nhà báo tự do tại Hà Nội đưa thông tin, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper, trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 11/2019 đã nói chuyện tại Học viện Ngoại giao Việt Nam: “Mỹ kiên quyết chống lại sự đe dọa của bất cứ nước nào đòi chủ quyền lãnh thổ hay vùng biển và kêu gọi chấm dứt sự bắt nạt và các hành động phi pháp gây tác động tiêu cực đến các nước ASEAN ven biển... Chúng tôi sẽ tiếp tục ủng hộ nỗ lực của các nước đồng minh và đối tác, nhất là Việt Nam, để đảm bảo tự do hàng hải và cơ hội phát triển kinh tế khu vực”. Thông tin này đã hàm ý về sự“bật đèn xanh” và sẵn sàng ký “đối tác chiến lược” với Việt Nam của Mỹ.

- Ba là, Việt Nam đã để lỡ cơ hội xác lập “Đối tác chiến lược” với Mỹ

Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia trong bài: “Việt - Mỹ vì sao chưa là đối tác chiến lược?” đã nhận định: “Trước khi Tuyên bố chung giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được công bố, dư luận rộng rãi thường cho rằng Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ nâng cấp quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược, lần đầu tiên được đề xuất bởi Ngoại trưởng Hillary Clinton trong chuyến thăm Hà Nội hồi năm 2010”. Phân tích của Giáo sư Carl Thayer Có hàm ý Việt Nam đã để lỡ cơ hội xác lập “đối tác chiến lược” với Mỹ.

Trước tình trạng cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc đang leo thang thời gian qua, Trung tâm Dự báo Chiến lược (Stratfor-Mỹ) đánh giá:“Chính sách của Hà Nội phù hợp với chiến lược hợp tác lâu dài với các cường quốc bên ngoài để đối trọng lại Bắc Kinh và tránh né trực tiếp những thách thức từ nước láng giềng phương Bắc. Nhưng khi Washington quay trở lại Đông Nam Á và Nhật Bản cũng háo hức theo đuổi một sự hiện diện lớn hơn trong vùng, thì cái xung lực khu vực của Việt Nam lại đặt đất nước này vào những đường gạch chéo của Bắc Kinh”. Đánh giá này hàm ý Việt Nam đã để lỡ cơ hội xác lập “đối tác chiến lược" với Mỹ.

Tóm lại, mặc dù còn những khác biệt về thể chế chính trị và nhân quyền trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và Việt Nam đang cân nhắc lựa chọn giải pháp ngoại giao “cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, nhưng đã có nhiều quan điểm, nhận định về khả năng hai nước nâng tầm mối quan hệ từ“Đối tác toàn diện”lên thành “Đối tác chiến lược” được đưa ra như đã nêu. Những quan điểm này đều xuất phát từ những góc nhìn và mục đích khác nhau, không thật sự phù hợp với lợi ích của Việt Nam, trái với chủ trương cân bằng trong quan hệ giữa các nước lớn, nhất là quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc của Đảng ta.

N.X.T

 

 

NÂNG CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC

CÔNG TÁC BẦU CỬ TRONG ĐẢNG

Nhận diện luận điệu xuyên tạc

Đại hội Đảng các cấp, Đại hội lần thứ XIII của Đảng là hoạt động chính trị rộng lớn, là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng; qua đó tổ chức đảng từ cơ sở đến Trung ương đánh giá kết quả lãnh đạo trong nhiệm kỳ, đề ra chủ trương, đường lối, nghị quyết lãnh đạo mọi mặt cho nhiệm kỳ tiếp theo.

Đây là sự kiện chính trị trọng đại của toàn Đảng, toàn dân tộc và xã hội nước ra. Tuy nhiên, thời điểm này cũng là dịp nhạy cảm để các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động tung ra các luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng thực hiện mục tiêu “diễn biến hoà bình” đối với cách mạng Việt Nam.

Các đối tượng tập trung chống phá, hạ thấp vai trò, ý nghĩa của đại hội đảng các cấp, Đại hội XIII của Đảng; tấn công, xuyên tạc công tác cán bộ, công tác bầu cử trong Đảng. Một số “trung tâm truyền thông” phản động trong và ngoài nước tổ chức các chương trình “Hội luận”, “Hội nghị”… tập hợp các phần tử phản cách mạng, “trí thức bất mãn”, các nhà “dân chủ” bàn luận, tuyên truyền xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng ở Việt Nam. Các tổ chức phản động cũng thừa cơ tung lên, dẫn lại bài viết, tuyên truyền, tung tin giả, thất thiệt.

Đài BBC tổ chức cái gọi là “Hội nghị bàn tròn” tập hợp nhiều đối tượng vốn có tư tưởng bất mãn, thậm chí có đối tượng thể hiện quan điểm, hành động thù địch với thể chế chính trị ở Việt Nam để xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng.

Họ dẫn kết quả bầu cử một vài Bí thư Tỉnh uỷ có số phiếu bầu với mức tín nhiệm 100%, cho rằng: “Tổ chức bầu cử hình thức để làm gì cho tốn thời gian và tiền bạc”, rồi “Nhìn vào dàn nhân sự mà Bộ Chính trị đã duyệt vào các chức vụ Bí thư tỉnh, Chủ tịch tỉnh và các bộ, ban, ngành ở Trung ương, thì không trông chờ gì ở Đại hội XIII”.

Trên trang mạng của nhiều tổ chức phản động lưu vong ra sức suy diễn, xuyên tạc công tác nhân sự, bầu cử trong Đảng theo kiểu là thủ tục để “hợp lý hoá” hình thức tranh giành quyền lực, phân chia quyền lực trong hệ thống chính trị, trong Đảng.

Tổ chức khủng bố Việt Tân xuyên tạc: “Đúng là một màn trình diễn tuyệt vời của vở kịch “mị dân” do Đảng Cộng sản Việt Nam dựng lên mà thôi. Bầu cử kiểu Việt Nam là kiểu bầu cử dân chủ cuội, bịp bợm, dối trá, gian lận. Ai ai cũng biết...”? Có thể thấy, đằng sau “dòng chảy” tuyên truyền này, thực chất là những luận điệu suy diễn, xuyên tạc với mục đích hạ thấp, tầm thường, phủ định công tác cán bộ, công tác lựa chọn cán bộ thông qua ứng cử, đề cử, bầu cử trong Đảng.

Công tác bầu cử, lựa chọn cán bộ trong Đảng là dân chủ, khách quan

Trái ngược với luận điệu suy diễn, xuyên tạc trên, Hội nghị cán bộ toàn quốc Tổng kết công tác tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 đánh giá: Trong bối cảnh tình hình chung trên thế giới, khu vực và của nước ta trong năm 2020 và đặc biệt là ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, thiên tai, biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và bão, lũ ở miền Trung, nhưng với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động quyết liệt, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp theo đúng tiến độ, kế hoạch, mục đích, yêu cầu đề ra; bảo đảm tuyệt đối an toàn, tiết kiệm và để lại nhiều dấu ấn, tình cảm sâu sắc, tốt đẹp trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Quyết định số 244-QĐ/TW, ngày 9/6/2014 của BCH Trung ương Đảng quy định quy chế bầu cử trong Đảng, chỉ rõ: “Bầu cử trong Đảng thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ; bình đẳng, trực tiếp, đa số quá bán. Kết quả bầu cử từ chi bộ đến đảng bộ trực thuộc Trung ương phải được chuẩn y của cấp uỷ có thẩm quyền theo quy định” (Điều 2). Hay Luật số 85/2015/QH13, ngày 25/6/2015 của Quốc hội quy định nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp quy định: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” (Điều 1).

Mặt khác, các đảng viên của Đảng đều có quyền ứng cử, đề cử vào các cơ quan lãnh đạo theo quy định của Đảng, hay công dân có quyền ứng cử, bầu cử vào cơ quan nhà nước theo luật định. Với quy định chặt chẽ dựa trên nguyên tắc cụ thể, rõ ràng như vậy thì bầu cử ở Việt Nam và bầu cử trong Đảng, đảm bảo thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của đa số để lựa chọn đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

Bên cạnh đó, trong đại hội đảng các cấp, đại biểu dân chủ trong thảo luận, giới thiệu nhân sự tại đại hội được quy định rõ tại Điều 12, khoản 3, Điều lệ Đảng: “Đại biểu có quyền nhận xét, chất vấn về người ứng cử và người được đề cử”. Rồi bầu cử có số dư cũng là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện dân chủ trong bầu cử. Cung cấp danh sách trích ngang của các ứng cử viên để đại biểu nghiên cứu trước là việc làm thiết thực, để thực hiện bầu cử có hiệu quả chất lượng nhất… Với những quy định như vậy thì không thể suy diễn, xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng là không dân chủ, “xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội” như họ rêu rao, suy diễn, xuyên tạc.

Thủ đoạn diễn biến, chống phá

Chống phá công tác cán bộ của Đảng nói chung và hoạt động bầu cử trong Đảng nói riêng, mưu đồ của các đối tượng là gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Họ ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc giới thiệu nhận sự, công tác bầu cử để xuyên tạc là “sắp xếp”, “thanh trừng”, “mất dân chủ”, “bè cánh”, là “chuẩn bị ghế nhân sự” cho Đại hội Đảng...

Không những thế, họ cũng thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, dao động, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...; hạ bệ niềm tin, uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng.

Công cụ được họ triệt để lợi dụng là truyền thông hải ngoại, mạng xã hội để lan truyền trên không gian mạng. Họ “giật tít - câu khách” kính thích, đánh vào sự tò mò của nhiều người, từ đó đưa ra phân tích nhận định, thông tin lệch lạc, hòng tạo nhận thức sai trái công tác cán bộ, nhân sự là có sự “an bài”, “sắp xếp”, “thỏa hiệp”; cuối cùng là rêu rao, xuyên tạc bầu cử trong Đảng, chế độ là mất dân chủ, độc đảng, độc đoán, chuyên quyền, toàn trị. Ngoài ra, họ còn xuyên tạc, nói xấu, vu cáo, rêu rao, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Họ thường phát tán các thông tin, hình ảnh, clip giả tạo, sai lệch, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận xã hội.

Thực tế cho thấy, công tác lựa chọn nhân sự, cán bộ, bầu cử của Đảng được thực hiện trên một quy trình chặt chẽ, công phu, tỉ mỉ, trách nhiệm, được thực hiện trên nguyên tắc vốn là sức mạnh, tiến bộ của chế độ, phát huy được nguyện vọng, ý chí tập thể là nguyên tắc tập trung dân chủ.

Kết quả công tác nhân sự, bầu cử tại đại hội các cấp, tiến tới Đại hội XIII vừa qua của Đảng diễn ra tốt đẹp, đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác nhân sự đại hội có nhiều đổi mới, đã phát huy dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ, đúng nguyên tắc, quy trình, quy định, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Nhân sự được chuẩn bị kỹ lưỡng ở tất cả các khâu, góp phần nâng cao chất lượng nhân sự cấp ủy các cấp và chuẩn bị cho nhân sự Trung ương”. Thực tế đó là minh chứng sinh động phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái nói trên.

N.V.T

 

 

NHẬN DIỆN NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, trong đó chúng tập trung cao nhất vào chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) với những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt và vô cùng nguy hiểm. Bởi vậy, nhận diện những chiêu trò chống phá Đảng của các thế lực thù địch hiện nay là việc cấp thiết nhằm nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và tổ chức của Đảng, nhất là trước thềm Đại hội XIII.

Hiện nay, các thế lực phản động, thù địch chống phá Đảng ngày càng có hệ thống, tổ chức chặt chẽ, thủ đoạn rất tinh vi, chống phá toàn diện trên nhiều phạm vi, lĩnh vực, không chỉ đơn thuần là vấn đề lý luận mà còn bao hàm cả các vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Điều này thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch hiểu rất rõ vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng CSVN. Đảng ta khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Bởi vậy, để chống phá Đảng thì vấn đề quan trọng hàng đầu mà chúng tập trung là phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ hai, chúng xuyên tạc, phủ nhận cương lĩnh, đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng (CSVN). Đây là thủ đoạn cũ rích, nhưng chúng luôn coi là một trọng điểm chống phá với những chiêu trò hết sức tinh vi, thâm độc. Chúng xuyên tạc, phủ nhận đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng. Chúng cố tình lờ đi vấn đề mang tính khách quan trong quy luật phát triển xã hội là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người chỉ thực sự triệt để khi có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, điều này đồng nghĩa với mục tiêu độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH.

Thứ ba, chống phá công tác cán bộ của Đảng. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là “thanh trừng nội bộ”, là “chuẩn bị ghế nhân sự” cho đại hội Đảng... Không những thế, chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... hòng hạ bệ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng.

Thứ tư, chúng phủ nhận thành tựu phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các thế lực thù địch trắng trợn phủ nhận sạch trơn những thành tựu to lớn mà Đảng và quân, dân ta đã đạt được trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu qua gần 35 năm đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (dù thực tế những thành tựu của nước ta đã được nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao)... Mục đích của chúng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.

Những hoạt động chống phá trên đều nhằm tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với những người thiếu bản lĩnh, nhận thức mơ hồ và những kẻ bất mãn vì cho rằng mình không được trọng dụng, đãi ngộ... từ đó gây hoài nghi, suy giảm niềm tin vào Đảng, chế độ XHCN, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trên thực tế, rất khó để tách bạch giữa âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch. Bởi chiêu trò của chúng là kết hợp giữa công khai với ngấm ngầm chống phá, thông qua các phương tiện cả truyền thống và hiện đại, đan xen các cách thức, biện pháp với nhiều màu sắc, quy mô, cấp độ, lẫn lộn trắng - đen, thật - giả... rất khó phân biệt, nhận diện.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu độc thì điểm mấu chốt vẫn là phải đẩy mạnh việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy công quyền, làm cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... mà Đảng ta đã xác định. Bên cạnh đó, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và tính chất nguy hại của nó. Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng việc học tập và nghiên cứu lý luận, không chỉ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thấu suốt, đồng thuận cao với mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mà còn làm cơ sở tiền đề để các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực tiễn một cách mạnh mẽ, hiệu quả./.

L.V.B

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỌC TẬP TƯ CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ QUÂN ĐỘI

THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GÓP PHẦN ĐẨY LÙI ÂM MƯU

“PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA KẺ THÙ

 

 Ngay từ những ngày đầu thành lập, Quân đội nhân dân Việt Nam đã được Đảng ta và Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng quân đội nói chung và xây dựng tư cách người cán bộ quân đội nói riêng. Theo Hồ Chí Minh, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Là người cán bộ cách mạng, cán bộ quân đội phải có đủ “đức” đủ “tài”, phải vừa “hồng” vừa “chuyên”. Xét về mặt đạo đức đó là Trung với Đảng, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư…Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đang được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại…trong khi đó, một bộ phận cán bộ quân đội đã và đang bộc lộ những hạn chế nhất định. Do vậy, việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tư cách người cán bộ quân đội theo tư tưởng Hò Chí Minh để tiếp tục nâng cao hơn nữa phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng với yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ Quân đội trong giai đoạn hiện nay là hết sức quan trọng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tư cách người cán bộ quân đội được đề cập trong nhiều bài nói, bài viết của Người đối với việc xây dựng lực lưỡng vũ trang nhân dân, thể hiện tập trung ở những điểm cơ bản sau:

1. Phẩm chất chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng, của Quân đội ta. Người coi vấn đề xây dựng bản lĩnh chính trị, bản chất giai cấp là mấu chốt nhất của người cán bộ quân đội. Theo Hồ Chí Minh, “quân sự mà không có chính trị thì như cây không có gốc, vô dụng lại có hại ”, chính trị của người cán bộ quân đội “biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”. Người chỉ ra bản chất truyền thống của cán bộ quân đội ta là: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Bản chất này biểu hiện rõ ở các mối quan hệ xã hội, cũng như mục tiêu chiến đấu của người cán bộ quân đội, trong đó nét tiêu biểu tập trung nhất là trung với Đảng, hiếu với dân.

Trung với Đảng, hiếu với dân là chuẩn mực cơ bản, bao trùm nhất về phẩm chất của người cách mạng nói chung và của người cán bộ quân đội nói riêng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “trung” đối với với cán bộ quân đội là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng. Tổ quốc, nhân dân, cách mạng và Đảng là người tổ chức, giáo dục, rèn luyện quân đội và đội ngũ cán bộ quân đội ta từng bước trưởng thành. Lòng trung thành đó thể hiện ở tinh thần sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. “Hiếu”, theo Người, đó là hiếu với dân, hết lòng hết sứ phục vụ nhân dân, lấy dân làm gốc. Đã là người cán bộ quân đội thì dù cấp bậc cao hay thấp, dù ở cương vị nào cũng đều phải cố gắng để xứng đáng là người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân, làm sao để “đi dân nhớ, ở dân thương’. Theo Hồ Chí Minh “quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Người dạy “mình đánh giặc là vì nhân dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân”. Với ý nghĩa đó, Người luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ quân đội phải giữ gìn truyền thống trung với Đảng, hiếu với dân, chỉ có như vậy mới giúp cho người cán bộ quân đội xác định đúng mục tiêu chiến đấu, phân biệt rõ bạn và thù, kiên định với lập trường giai cấp, đoàn kết tốt, kỷ luật nghiêm… và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

2. Đạo đức, lối sống, năng lực

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, người cán bộ quân đội phải luôn tu phẩm chất, đạo đức, lối sống; phải luôn cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nghiêm túc tự phê bình và phê bìn; khiêm tốn, thực sự cầu thị, không chủ quan kiêu ngạo, có ý thức “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; nói đi đôi với làm và phải mẫu mực để chiến sĩ noi gương, học tập. Người dạy: “mỗi người chỉ huy về quân sự cũng như về chính trị phải làm kiểu mẫu”. Người nhắc nhở cán bộ quân đội “từ tiểu đội trưởng trở lên, từ tư lệnh trở xuống phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên… Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt” và “cán bộ phải thương đội viên… có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt” .

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt phê phán những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, coi chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh mẹ đẻ ra hàng trăm thứ bệnh con nguy hiểm khác như: quan liêu, hách dịch, tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa… làm tha hoá, biến chất người cán bộ. Người xem chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch hết sức nguy hiểm đối với người cán bộ quân đội và yêu cầu chống giặc này như chống giặc ngoại xâm. Lịch sử đã ghi lại nhiều bài học của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, rèn luyện cán bộ trong quân đội với thái độ rất khoan dung, nhân ái, song cũng rất cương quyết. Người rất đau lòng khi phải xử lý kỷ luật những cán bộ quân đội do thiếu ý thức mà vi phạm nghiêm trọng đến phẩm chất đạo đức của người quân nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ quân đội phải vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn; nghề nào cũng phải học, phải thông thạo, bởi lẽ chỉ có nhiệt tình không thôi thì chưa đủ, mà còn phải có tri thức nữa. Người căn dặn đội ngũ cán bộ quân đội phải “học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu”; đồng thời, “phải ra sức học chính trị…; văn hoá, cần phải nâng cao lập trường và tư tưởng của giai cấp công nhân”. Người chỉ rõ việc học tập lý luận không phải chỉ thuộc lòng từng câu, từng chữ, mà phải nắm vững bản chất cách mạng và tính biện chứng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin để vận dụng và giải quyết đúng đắn trong lĩnh vực quân sự; thực hiện nhiệm vụ cụ thể ở đơn vị thể hiện vai trò, vị trí của người cán bộ. Đồng thời, Người phê phán những biểu hiện lệch lạc, như: chỉ coi trọng kinh nghiệm mà xem thường lý luận, hoặc chỉ coi trọng lý luận mà xem nhẹ kinh nghiệm. Người căn dặn: học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn; thao trường, bãi tập gắn với chiến trường, không lý thuyết suông, giáo điều sách vở.

3. Phong cách và tác phong làm việc

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ quân đội phải thực sự gương mẫu, dân chủ, cởi mở, sâu sát với đồng sự, với chiến sỹ và nhân dân; “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”. Người quan tâm lấy giáo dục, thuyết phục, nêu gương làm chính. Trong lời nói, việc làm phải lấy chính trị trọng hơn quân sự. Người đòi hỏi đội ngũ cán bộ quân đội phải biết làm cho tinh thần của bộ đội, sức mạnh của tổ chức được truyền qua súng, phải thực sự làm sao cho chính trị là linh hồn của quân đội cách mạng. Người kiên quyết chống lối làm việc chủ quan, đại khái, phô trương, ham chuộng hình thức, lối làm việc gặp đâu hay đấy, nói hay làm dở, nói nhiều làm ít, nói mà không làm hoặc làm việc thiếu kế hoạch, thiếu kiểm tra, kiểm soát.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình chiến đấu và xây dựng quân đội, đội ngũ cán bộ trong các lực lượng vũ trang đã không ngừng phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng nhân cách, luôn xứng danh Bộ đội Cụ Hồ, được dân tin, dân phục, dân yêu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đa số cán bộ quân đội đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng của mình; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tích cực tham gia vào công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; không ngừng nâng cao trình độ, năng lực; giữ vững phẩm chất cách mạng. Tuy nhiên, trước những biến đổi phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của khu vực, thế giới; sự tác động của cơ chế thị trường… đã ảnh hưởng xấu đến một số cán bộ quân đội.

Trước những âm mưu, thủ đoạn về diễn biến hoà bình; bạo loạn lật đổ; thực hiện phi chính trị hóa quân đội của các thế lực thù địch, hơn bao giờ hết, đội ngũ cán bộ quân đội hôm nay phải tích cực học tập, rèn luyện và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tư cách người cán bộ trong quân đội nhân dân Việt Nam. Phải luôn kiên định lập trường, tư tưởng, trau dồi đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân ủy Trung ương đã có Nghị quyết 769-NQ/QUTW  ngày 21/12/2012 về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 – 2020 và những năm tiếp theo, xác định rõ yêu cầu, tiêu chuẩn của đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới: “Có bản lĩnh chính trị vững vàng, trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa... Có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, giữ vững kỷ cương, giữ gìn bí mật quân sự, bí mật quốc gia... Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Trung thực thẳng thắn, không cục bộ bản vị, không tham vọng cá nhân, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, không cơ hội và chống mọi biểu hiện của cơ hội... Có trình độ kiến thức lý luận chính trị, quân sự, nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng vào xây dựng quân đội nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; có trình độ khoa học nghệ thuật quân sự và những kiến thức cần thiết về quản lý kinh tế, xã hội, pháp luật, có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ theo yêu cầu của mỗi chức danh; có năng lực trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn, biết làm việc một cách chủ động, tự lực, sáng tạo có hiệu quả... ”

Phương hướng, tiêu chuẩn trên chính là việc quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về yêu cầu tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới, đồng thời là sự vận dụng những yêu cầu về tư cách người cán bộ quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới. Đó cũng chính là mục tiêu, yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ quân đội phải ra sức phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng nhằm đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội trong tình hình hiện nay.

Để làm tốt việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về tư cách người cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lượng và tiến hành bằng nhiều nội dung, biện pháp; tăng cường giáo dục, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống; chú trọng gắn chặt tư tưởng Hồ Chí Minh về tư cách người cán bộ trong quân đội với việc đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” góp phần xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong tình hình mới.

C.T.M

 

YÊU NƯỚC THÌ VIỆC GÌ CÓ LỢI CHO NHÂN DÂN, DÙ KHÓ MẤY CŨNG PHẢI RA SỨC LÀM CHO KỲ ĐƯỢC. ĐIỀU GÌ CÓ HẠI CHO NHÂN DÂN, DÙ KHÓ MẤY CŨNG PHẢI RA SỨC TRỪ CHO KỲ HẾT

          Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài:“Vệ sinh yêu nước” (Phong trào diệt ruồi, muỗi), đăng trên Báo Nhân dân, số 1572, ngày 02 tháng 7 năm 1958. Đây là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, miền Bắc bắt đầu bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội.

          Theo Hồ Chí Minh, yêu nước không thể tách rời thương yêu nhân dân, yêu nước không phải là cái gì chung chung, trừu tượng, mà nó được bắt đầu từ những việc nhỏ nhất và thể hiện ở việc làm cụ thể của mỗi người trong đời sống hằng ngày. Người có tinh thần yêu nước sẽ luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân và dù khó khăn, gian khổ thế nào cũng ra sức làm cho kỳ được, còn việc gì có hại cho nhân dân phải ra sức trừ cho kỳ hết. Người cho rằng, ruồi muỗi là bạn đồng minh của giai cấp bóc lột. Nó gây ra nhiều tật bệnh, làm cho nhân dân ta ốm đau. Người ốm đau thì sức lao động bị giảm sút, công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa bị hạn chế. Vì vậy, chúng ta phải ra sức tiêu diệt những kẻ địch độc ác bảo vệ sức khỏe, tính mạng và tài sản của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân mẫu mực của một người chiến sĩ cách mạng đã hiến dâng trọn vẹn cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang và cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

          Quán triệt và thực hiện lời dạy trên của Người, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, chấp hành nghiêm 12 điều kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, ghi nhận và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Tích cực làm công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,…. Các binh đoàn, đoàn kinh tế - quốc phòng đã gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng - an ninh, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh; củng cố, phát huy tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em, xây dựng quê hương giàu mạnh, văn minh./.