Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021
Cảnh giác trước các hoạt động lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” để chống phá đất nước
Nhận diện chiêu trò chống phá hoạt động của Quốc hội nước ta hiện nay
Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Tham nhũng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, tham nhũng được nhận diện là một quốc nạn, một trong bốn nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng là vấn đề các thế lực thù địch lợi dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; công tác phòng, chống tham nhũng được xác định là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn và phức tạp. Phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới là vấn đề cấp thiết.
Theo số liệu do Tổ chức Minh bạch thế giới (TI) công bố, Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam trong những năm gần đây đã tăng lên, thể hiện một chỉ báo tích cực đối với các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN). Cụ thể, năm 2018, Việt Nam đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu. Trong năm 2018, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực đẩy mạnh công tác PCTN, điển hình là việc nhanh chóng, kiên quyết xử lý các vụ án tham nhũng lớn và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về PCTN. Tháng 11/2018, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) gồm 10 chương với 96 điều. Chính phủ đã chỉ đạo tăng cường kiểm tra và tổ chức thực hiện nghiêm các biện pháp PCTN như: đề cao tính liêm chính trong khu vực công, thực hiện hiệu quả công tác kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức... Vì vậy, chỉ số CPI của Việt Nam năm 2019 đạt 37/100 điểm, tăng 4 điểm so với năm 2018, đứng thứ 96/180 quốc gia, vùng lãnh thổ trong bảng xếp hạng toàn cầu, tăng 21 bậc so với năm 2018. Đây là mức điểm cao nhất mà Tổ chức Minh bạch thế giới đánh giá đối với Việt Nam và là năm có mức tăng điểm cao nhất từ trước đến nay; cũng là sự khẳng định những kết quả tích cực trong công tác PCTN ở Việt Nam.
Để nâng cao hiệu quả công tác PCTN trong thời gian tới, cần triển khai thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, giữ vững nền tảng tư tưởng, thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ và yêu cầu đặt ra đối với cán bộ, đảng viên trong từng giai đoạn cách mạng.
Chỉ có nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng mới bảo đảm cho cán bộ, đảng viên xác định đúng mục tiêu, lý tưởng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Thực hiện giáo dục liêm chính, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng: “Liêm” là luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân; trong sạch, không tham lam địa vị, tiền của, danh tiếng, không cậy quyền thế mà đục khoét, ăn của dân, dìm dập người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình. “Chính” là thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm điểm mình để phát huy điều hay, sửa đổi những khuyết điểm. Đối với người: không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc. Ðối với việc: đặt việc công lên trên việc tư, làm việc gì cũng phải đến nơi, đến chốn, không ngại khó, nguy hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân, cho nước.
Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Có thấm nhuần đạo đức cách mạng, cán bộ, đảng viên mới giữ gìn được lối sống trong sạch, kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng và mọi tệ nạn xã hội. Chính phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên là sức “đề kháng” mạnh mẽ chống lại mọi suy thoái, biến chất. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên và những giải pháp cơ bản để khắc phục, ngăn ngừa. Trong tình hình hiện nay, cùng với việc thực hiện quyết liệt các giải pháp nêu trên, cần bổ sung thêm những biện pháp, những cách làm mới, thiết thực. Đổi mới công tác quản lý, kê khai tài sản của đảng viên đối với chi bộ; tăng cường các biện pháp giáo dục, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên. Nếu như những biểu hiện “lệch chuẩn”, sự suy thoái về đạo đức, lối sống sớm được phát hiện, chấn chỉnh từ nơi đảng viên công tác, thì sự tha hóa, tham nhũng sẽ được ngăn chặn kịp thời.
Ba là, xác định tiêu chí và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, kết hợp hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa XI) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII của Đảng gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức bao gồm toàn bộ các hoạt động, từ giáo dục cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý theo pháp luật và kỷ luật đảng đối với cán bộ, đảng viên vi phạm; rèn luyện lập trường quan điểm, bồi dưỡng tư tưởng, lý tưởng cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức, lối sống theo chuẩn mực tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đến xây dựng tiêu chuẩn đạo đức của cán bộ, đảng viên, cụ thể hóa thành tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ; phát huy tính tiền phong gương mẫu, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên… Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khóa XI) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII của Đảng chỉ phát huy hiệu quả nếu mỗi cán bộ, đảng viên và cơ quan, đơn vị kiên trì, kiên quyết từng bước đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Bốn là, các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị.
Từng tổ chức cơ sở đảng cần hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là của bí thư cấp ủy các cấp. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại đấu tranh với những biểu hiện vi phạm. Đồng thời, có cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dám đấu tranh, bảo đảm ngăn chặn kịp thời mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cần tích cực, chủ động và kịp thời bổ sung những nội dung phù hợp; phối hợp chặt chẽ với công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong phát hiện, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm. Từng cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp nắm rõ thực trạng và nguy cơ của tình hình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong tổ chức mình; kịp thời phát hiện sớm và ngăn chặn hiệu quả mọi biểu hiện vi phạm. Tăng cường hơn nữa vai trò, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, các cơ quan nội chính, ủy ban kiểm tra các cấp cũng như các cơ quan pháp luật.
Về cán bộ và công tác cán bộ, Đảng ta đã luôn khẳng định: công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Cuộc đấu tranh PCTN có thành công vững chắc hay không phụ thuộc một phần quan trọng vào việc có làm tốt công tác cán bộ hay không. Vì vậy, trong thời gian tới cần thực hiện nghiêm Quyết định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.
Năm là, phát huy vai trò tích cực của báo chí, truyền thông, kiểm soát, quản lý tốt các hoạt động báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan báo chí, truyền thông trong đấu tranh với các luận điệu thù địch, sai trái, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cơ quan báo chí, truyền thông phải phản ánh trung thực, kịp thời, góp phần đưa chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống và là kênh thông tin quan trọng phát hiện những mặt tiêu cực trong xã hội, những biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Bên cạnh đó, báo chí, truyền thông đóng vai trò giám sát và phản biện xã hội; nâng cao hiệu quả tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt, lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực, chú trọng việc giáo dục đạo đức bằng cách nêu gương của cán bộ, đảng viên, thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.
Sáu là, hoàn thiện chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ để từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và lợi ích thiết thân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Bảo đảm thu nhập, tiền lương tương xứng với sự đóng góp, phù hợp với công sức, trí tuệ của mỗi người đã cống hiến; thực hiện đẩy mạnh cải cách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức để góp phần PCTN. Ngoài sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thì trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị các cấp phải thật sự quan tâm đến điều kiện làm việc, thu nhập và cuộc sống cho họ. Chống đặc quyền, đặc lợi, đồng thời có những chính sách, quy định chế độ khen thưởng cả về vật chất và tinh thần, bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng giữa các cấp quản lý cán bộ và giữa cán bộ, công chức với nhân dân./.
Những âm mưu chống phá trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII
CÁI KẾT CỦA TỘI CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC
Những chiêu trò lợi dụng góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội XIII để chống phá Đảng, Nhà nước
DIỄN BIẾN MỚI NHẤT TÌNH HÌNH COVID-19 TẠI VIỆT NAM
Như vậy, đến nay nước ta ghi nhận tổng cộng 1513 bệnh nhân Covid-19, 35 trường hợp tử vong.
Tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe (cách ly): 17.634, trong đó:
- Cách ly tập trung tại bệnh viện: 146
- Cách ly tập trung tại cơ sở khác: 15.875
- Cách ly tại nhà, nơi lưu trú: 1.613.
Về tình hình điều trị, theo báo cáo của Tiểu ban Điều trị Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid-19:
- 4 bệnh nhân được công bố khỏi bệnh: BN1381, BN1397, BN1428, BN1436 - Số ca âm tính với SARS-CoV-2:
+ Lần 1: 9
+ Lần 2: 8
+ Lần 3: 8
- Số ca tử vong: 35 ca.
- Số ca điều trị khỏi: 1.361 ca.
KHÔNG NƯỚC NÀO CÓ THỂ BUỘC VIỆT NAM CHỌN BÊN’
"Việt Nam là của thế giới, Việt Nam vì thế giới, nhưng giá trị của Việt Nam là của Việt Nam và Việt Nam tự bảo vệ lấy. Chúng tôi chọn chính chúng tôi. Không ai và không nước nào có thể bắt Việt Nam phải chọn bên vì chúng tôi độc lập, tự chủ, giành và giữ độc lập bằng sức của mình".
"Sau lưng người làm công tác đối ngoại thì đất nước phải mạnh, quân đội phải vững, đường lối phải rõ ràng. Đất nước yếu, quân đội không có khả năng tốt nhất để bảo vệ Tổ quốc, đường lối lúc thế này lúc thế khác thì đối ngoại sẽ thất bại". ST NTC
CẢNH GIÁC VỚI HOẠT ĐỘNG NÚP BÓNG “NHÀ XUẤT BẢN TỰ DO”
Vừa
qua, Hiệp hội các nhà xuất bản quốc tế đã trao giải thưởng Prix Voltaire năm 2020 cho “Nhà xuất bản tự do”,
“ghi nhận sự can đảm trong việc giữ vững quyền tự do xuất bản, tự do thông
tin”. Thế nhưng, thực chất, đây lại là một tổ chức dân sự trá hình, chuyên xuất
bản, in ấn và phát hành các ấn phẩm có nội dung tiêu cực, xuyên tạc, kích động
bạo lực, chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Mỗi
công dân Việt Nam nhất là thế hệ trẻ, cần chủ động nâng cao tinh thần cảnh giác
khi tiếp cận thông tin bên ngoài không để bị lợi dụng, kích động. Nguồn: BBD
Được
thành lập vào tháng 2 năm 2019, “Nhà xuất bản tự do” là nơi tụ tập một bộ phận
chống đối, phản động và cơ hội chính trị. Chúng công khai “hoạt động độc lập, không
chịu sự kiểm duyệt của chính quyền Việt Nam”. Nhà xuất bản này đã cho ra đời
hàng nghìn ấn phẩm đen như “Chính trị bình dân,” “Cẩm nang nuôi tù,” “Phản
kháng phi bạo động”… kể về những bất mãn cá nhân bằng thái độ tiêu cực; bôi nhọ,
xuyên tạc thể chế chính trị, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước; vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”; hướng dẫn, phổ biến biện
pháp, cách thức “đấu tranh” phi bạo động, “không gây thương vong”; kêu gọi, tập
hợp lực lượng biểu tình trái pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước; bóp méo hoạt
động của lực lượng Công an, Quân đội; hướng dẫn các đối tượng đối phó lại với
cơ quan chức năng, cách lợi dụng, vận động quốc tế…
Sau
khi in ấn, xuất bản “chui”, những cuốn sách trên được ngang nhiên quảng cáo, giới
thiệu, rao bán trên website của nhà xuất bản, trên mạng xã hội và một số trang
thương mại điện tử với giá không hề rẻ. Người mua đặt hàng và sẽ “giao tận
nơi”. Bên cạnh đó, những đối tượng này đã phát tặng, gửi tặng hàng chục nghìn
cuốn sách ở nước ngoài và tại nhiều tỉnh thành ở Việt Nam. Nguy hiểm hơn, chúng
còn công khai đăng tải một số ấn phẩm dưới dạng sách điện tử (ebook) để người đọc
tải về miễn phí.
Thế
mới thấy sự tinh vi, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch trong việc lưu
truyền, phát tán thông tin xấu độc. Mục đích của chúng là nhằm kích động tâm lí
người đọc, người xem, gây hoang mang dư luận; làm phai nhạt niềm tin, chia rẽ mối
đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; lôi kéo lực lượng tham gia biểu
tình, gây rối an ninh, trật tự tạo ra điểm nóng, khủng hoảng chính trị, tiến tới
kịch bản bạo loạn và lật đổ chế độ. Không những thế, sự lộng ngôn, “đánh lận bản
chất” nói trên còn làm ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế. Chúng vu cáo để tìm kiếm hậu thuẫn cũng như kêu gọi sự can thiệp của
nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động móc nối, tạo dựng lực lượng
chống đối nước ta.
PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI ĐÒN VÔ VỌNG CỦA NHỮNG KẺ CÓ MƯU ĐỒ ĐEN TỐI
Trước Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIV, các thế lực thù địch và những
kẻ thiếu thiện chí tập trung chống phá, xuyên tạc về hoạt động của Quốc hội ta.
Họ cho rằng, Quốc hội ta hoạt động không dân chủ, Quốc hội không có vai trò
thực chất(!) Nhưng thực tế, hiệu quả hoạt động và sự quan tâm đặc biệt của xã
hội đối với hoạt động của Quốc hội những năm qua đã vạch trần các luận điệu
xuyên tạc nói trên. Các luận điệu đó, chỉ là đòn vô vọng của những kẻ có mưu đồ
đen tối nhằm chống phá cách mạng nước ta.
Quốc hội-Nơi gặp gỡ của “ý Đảng, lòng
dân”
Mỗi quốc gia đều có một chế độ chính trị phù hợp với lịch sử, văn hóa và
điều kiện kinh tế-xã hội của mình. Chế độ chính trị mà toàn thể dân tộc Việt
Nam đang đồng lòng, nỗ lực xây dựng là chế độ chính trị pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, hướng tới xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã
hội. Đây là vấn đề cốt lõi, hết sức rõ ràng của chế độ chính trị nước ta. Vai
trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong Hiến pháp của Việt Nam, mà mới
nhất là Hiến pháp năm 2013 (Điều 4 của Hiến pháp năm 2013), phù hợp với ý chí
của toàn dân tộc, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trước khi được thông qua,
dự thảo Hiến pháp năm 2013 đã được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi toàn dân, bằng
nhiều hình thức phong phú, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Kết quả lấy ý kiến
cho thấy, đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, người dân đều đồng tình như dự
thảo Hiến pháp và cho rằng mục tiêu, lý tưởng của Đảng không có gì khác hơn là
lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân.
Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động
của Nhà nước”. Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực
hiện quyền lực của nhân dân. Chỉ Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện
vọng của nhân dân thành Hiến pháp và pháp luật, thành các quy định chung mang
tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp trong xã hội.
Hiến pháp đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã
hội. Điều này không hề làm mất đi vai trò của Quốc hội. Bởi quyền lực nhà nước
ở nước ta là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội,
nhưng đó là sự lãnh đạo có nguyên tắc và theo quy định. “Các tổ chức của Đảng
và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Như vậy, mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội
vẫn là mối quan hệ biện chứng, hai chiều, nghĩa là Đảng lãnh đạo hoạt động của
Quốc hội, nhưng sự lãnh đạo đó vẫn phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật,
không thể đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp và pháp luật đã được Quốc hội thông
qua. Đảng lãnh đạo nhưng luôn tôn trọng và phát huy vai trò của Quốc hội, không
áp đặt, không làm thay, mà định hướng nội dung và phương thức hoạt động của
Quốc hội. Đảng lãnh đạo, chứ Đảng không điều hành công việc của Quốc hội.
Nơi nhân dân gửi gắm niềm tin
Có thể thấy, kể từ khi ra đời tới nay, Quốc hội ta đã hoàn thành xuất
sắc vai trò, sứ mệnh của mình đối với đất nước, với dân tộc. Trong những năm
gần đây, hoạt động của Quốc hội ngày càng đổi mới, ngày càng thể hiện rõ tính
dân chủ và hiệu quả ngày càng được nâng cao. Tất cả các vấn đề lớn thuộc mọi
lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh,
đối ngoại,... của đất nước đều được Quốc hội thảo luận và quyết nghị. Với tính chất
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, vì vậy, tất cả chủ trương, đường lối
của Đảng muốn đi vào đời sống, để toàn dân nghiêm túc thực hiện thì đều phải
được thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật.
Vai trò quan trọng của Quốc hội thể hiện qua việc các chương trình, kế
hoạch quan trọng là “xương sống” hoạt động của Nhà nước như kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước hằng năm, các kế hoạch đầu tư
công... phải được Quốc hội thông qua mới có thể triển khai thực hiện.
Công tác xây dựng pháp luật của Quốc
hội được thực hiện theo những quy trình rất chặt chẽ, bảo đảm tính dân chủ,
công khai, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Quốc hội làm
việc theo chế độ nghị trường và quyết định theo đa số. Các dự án luật muốn trình
ra Quốc hội cho ý kiến, xem xét, thông qua thì cơ quan soạn thảo trình Chính
phủ cho ý kiến, rồi Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước
khi trình ra Quốc hội, nếu không đạt phải tiếp tục chỉnh sửa. Khi dự án luật
trình ra Quốc hội, cùng với tờ trình của Chính phủ thì phải kèm theo báo cáo
thẩm tra của cơ quan thuộc Quốc hội. Sau đó, Quốc hội sẽ cho ý kiến trên tinh
thần dân chủ, công khai, theo quy trình thảo luận ở tổ, rồi thảo luận tại hội
trường, được cơ quan báo chí truyền thông phản ảnh minh bạch. Để tăng tốc độ
xây dựng pháp luật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thông thường một dự án luật được
Quốc hội cho ý kiến và thông qua trong 2 kỳ họp. Tuy nhiên, với những dự án
luật quan trọng, nhạy cảm thì Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến trong 3 kỳ
họp. Có những dự án luật phải được chỉnh sửa nhiều lần mới hoàn chỉnh để được
Quốc hội thông qua. Điều này cho thấy, vai trò lập pháp của Quốc hội là rất rõ
ràng, và ý kiến của các đại biểu Quốc hội là rất quan trọng.
Không khí dân chủ, cởi mở của Quốc hội, vai trò của các đại biểu Quốc
hội càng được thể hiện rõ trong các phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Đại
biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân
dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà
nước. Người được chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên
họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường
hợp cần thiết, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho phép trả lời bằng văn
bản.
Các nội dung bàn về kinh tế-xã hội, và đặc biệt là các phiên chất vấn
trong những kỳ họp của Quốc hội khóa XIV ngày càng sôi nổi, được phát
thanh-truyền hình trực tiếp, thu hút sự quan tâm theo dõi, đánh giá, góp ý của
cử tri và nhân dân cả nước. Việc tranh luận được khuyến khích khiến vấn đề chất
vấn được làm rõ ràng hơn, nhất là các mặt hạn chế, trách nhiệm cán bộ và nêu rõ
giải pháp. Sau phiên chất vấn, Quốc hội sẽ ra nghị quyết về nội dung này, từ đó
có cơ sở để theo dõi vấn đề đã được đặt ra và giám sát lời hứa hẹn của những
người trả lời chất vấn. Việc Quốc hội tăng cường hoạt động chất vấn, khiến cho
những người giữ các chức danh mà Quốc hội bầu, phê chuẩn luôn phải nỗ lực thể
hiện rõ trách nhiệm của mình, không thể lơ là.
Một hoạt động cũng thể hiện vai trò,
vị thế của Quốc hội, đó là hoạt động lấy phiếu tín nhiệm. Qua 3 lần lấy phiếu
tín nhiệm của hai nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII và khóa XIV, hoạt động này đã cho
thấy hiệu quả trong việc thúc đẩy những người giữ chức danh được lấy phiếu tín
nhiệm phải tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành bộ, ngành,
cơ quan mà mình phụ trách. Vì vậy, có những vị bộ trưởng, trưởng ngành rất buồn
khi có nhiều phiếu tín nhiệm thấp, nhưng chính sự đánh giá đó là cơ hội để họ
nhìn lại mình, biến thành động lực vươn lên, khắc phục những điểm còn hạn chế,
hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước.
Thực tế, ở lần lấy phiếu tín nhiệm sau, đại đa số các vị bộ trưởng, trưởng
ngành nói trên đều có số phiếu tín nhiệm cao hơn hẳn lần trước đó.
Các chương trình giám sát của Quốc hội cũng thể hiện rõ hiệu quả. Cùng
với những nội dung giám sát thường xuyên như về kết quả thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước... thời gian qua, Quốc hội đã chọn
những vấn đề “nóng” nhất, được cử tri và nhân dân quan tâm nhất để tiến hành
giám sát tối cao. Ví dụ, tại Kỳ họp thứ chín vừa qua, Quốc hội đã thực hiện
giám sát chuyên đề: “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm
hại trẻ em” khi trong xã hội xuất hiện những vụ xâm hại trẻ em gây bức xúc dư
luận.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, cùng với việc quyết liệt đấu tranh
chống tham nhũng, chống tiêu cực trong bộ máy hành chính Nhà nước nói chung,
Quốc hội cũng rất quyết liệt chống tiêu cực trong đội ngũ của mình. Quốc hội
khóa XIV ghi nhận số đại biểu Quốc hội phải rời vị trí khi chưa hết nhiệm kỳ,
có lẽ ở mức độ kỷ lục. Có những trường hợp không được công nhận tư cách đại
biểu Quốc hội do vi phạm pháp luật như Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Thị Nguyệt
Hường; có những trường hợp bị mất quyền đại biểu Quốc hội vì vi phạm pháp luật,
như Đinh La Thăng, Nguyễn Quốc Khánh, Châu Thị Thu Nga; một số trường hợp vì vi
phạm kỷ luật Đảng đã bị miễn nhiệm, cho thôi nhiệm vụ đại biểu Quốc hội như Lê
Đình Nhường, Võ Kim Cự, Phan Thị Mỹ Thanh, Hồ Văn Năm. Có thể nói, việc gương
mẫu xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của các đại biểu Quốc hội,
cho thấy hiệu lực của Quốc hội không chỉ từ vai trò, chức năng theo quy định
của Hiến pháp, pháp luật mà còn từ phẩm chất, tư cách và năng lực hoạt động của
các đại biểu Quốc hội.
Qua các cuộc tiếp xúc cử tri trước và
sau các kỳ họp Quốc hội, đại đa số cử tri và nhân dân đều vui mừng vì hiệu quả
hoạt động, uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao, Quốc hội ngày càng thể
hiện tốt vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Điều đó đã
tăng cường niềm tin của cử tri và nhân dân đối với Quốc hội. Mỗi kỳ họp Quốc
hội luôn là sự kiện chính trị-xã hội được cử tri và nhân dân đặc biệt quan tâm,
theo dõi. Bởi cử tri tin tưởng rằng, những nguyện vọng, ý kiến tâm huyết của
mình luôn được Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trân trọng, lắng nghe, bàn thảo
nghiêm túc và từ đó cho ra những quyết sách đúng đắn, đóng góp tích cực cho sự
phát triển của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Thực tế đó là minh chứng bác bỏ đanh thép đối với những luận điệu của
những đối tượng có âm mưu đen tối, cố tình xuyên tạc rằng “Quốc hội không có
vai trò thực chất, chỉ quyết nghị theo chỉ đạo của Đảng, chỉ mang tính hình
thức, người dân thì quay lưng, ngoảnh mặt với hoạt động của Quốc hội”.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn vì lợi ích của nhân dân, Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng luôn vì lợi ích của nhân dân! Điều đó không
chỉ đúng và biện chứng về mặt lý luận, mà luôn được chứng minh rõ ràng trong
thực tế, không ai có thể phủ nhận!
BẢO VỆ TUYỆT ĐỐI AN NINH, AN TOÀN ÐẠI HỘI XIII CỦA ÐẢNG
Cho đến thời điểm hiện nay, công tác bảo đảm an ninh,
trật tự phục vụ tổ chức Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã được chuẩn bị
chu đáo, kỹ lưỡng với cấp độ cao nhất, sẵn sàng bảo vệ tuyệt đối an
ninh, an toàn Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Quá trình triển khai
các biện pháp công tác bảo đảm an ninh, trật tự, có thể rút ra một
số nhận thức sau đây:
(1) Bám sát và triển khai thực hiện nghiêm túc, có
hiệu quả mọi chủ trương chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về tổ chức Đại
hội Đảng bộ các cấp và Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng là yếu
tố then chốt quyết định chất lượng, hiệu quả công tác bảo đảm an
ninh, trật tự.
(2) Công tác bảo đảm an ninh, trật tự phải được triển
khai chủ động, từ sớm, từ xa, ngay từ quá trình chuẩn bị Đại hội Đảng
bộ các cấp, huy động toàn lực lượng CAND dưới sự lãnh đạo, chỉ
đạo tập trung thống nhất của lãnh đạo Bộ Công an, phát huy tinh thần
trách nhiệm của từng cán bộ, chiến sĩ ở từng vị trí công tác, đề
cao trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy.
(3) Đặc biệt coi trọng phối hợp giữa lực lượng Công
an với lực lượng Quân đội và các cơ quan, ban, ngành có liên quan,
tranh thủ tuyệt đối sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân trong
triển khai các mặt công tác bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ tổ
chức Đại hội.
(4) Trong công tác bảo vệ Đại hội Đảng bộ các cấp, vấn đề cơ
bản, quan trọng nhất là phải làm tốt công tác phòng ngừa, "giữ vững bên
trong" là chính, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị nội bộ, chú trọng bảo
đảm an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng; chủ động, kịp thời tham
mưu giải quyết có hiệu quả các yếu tố tiềm ẩn phức tạp đối với an ninh quốc
gia gắn với đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng, củng cố xã
hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, tạo môi trường trong sạch
phục vụ Đại hội.
(5) Chủ động thiết lập các vòng tuyến an ninh, an
toàn nơi diễn ra đại hội với các phương án bố trí lực lượng, phương
tiện cụ thể; thường xuyên kiểm tra, rà soát, bảo đảm bịt kín mọi sơ
hở, thiếu sót; chủ động phương án xử lý các tình huống có thể xảy ra.
Không tô hồng, bôi đen bức tranh kinh tế