Cần nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hòng gây
chia rẽ, làm suy yếu lực lượng vũ trang cách mạng; kiên định lập trường, xây dựng
lực lượng CAND, QĐND trong sạch, vững mạnh, hoàn thành trọng trách mà Đảng,
nhà nước và nhân dân giao phó.
Cần nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hòng gây
chia rẽ, làm suy yếu lực lượng vũ trang cách mạng; kiên định lập trường, xây dựng
lực lượng CAND, QĐND trong sạch, vững mạnh, hoàn thành trọng trách mà Đảng,
nhà nước và nhân dân giao phó.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và các ứng dụng trên không gian mạng đã mang lại nhiều thay đổi trên các lĩnh vực. Ảnh hưởng của không gian mạng không chỉ làm thay đổi căn bản theo hướng tích cực trên các mặt của đời sống xã hội. Đồng thời, không gian mạng đã và đang đặt ra nhiều thách thức, các thế lực thù địch đang lợi dụng không gian mạng để chống phá chúng ta.
Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế.
Vào buổi sáng mùa thu lịch sử cách đây 74 năm, trước cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và nhân dân thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam).
Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và âm mưu “diễn biến hòa bình” luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận diện và đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ tình trạng này đã và đang là một nhiệm vụ cấp thiết.
Theo quan niệm chung, dân chủ là chế độ chính trị trong đó toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình bầu ra... Đó là các cơ quan quyền lực và chính quyền các cấp.
Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật” (Điều 3), đồng thời khẳng định các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo bị nghiêm cấm: “Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (TTATXH), môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân” và “lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi” (Điều 5). Tuy nhiên, thời gian qua, bất chấp pháp luật, đã có một số chức sắc, tín đồ lợi dụng chính tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm đạo đức, vi phạm giáo lý, giáo luật và đi ngược với truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Nói về những điểm mới trong Sách trắng lần này, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho biết, từ chính sách "ba không" trước đây, nay có thể được hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn thành "bốn không" là: Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh cũng cho biết, Việt Nam sẽ tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung.
Ấy vậy mà gần đây, trên một vài trang mạng lại có kẻ xuyên tạc rằng: Quân đội không vì mục đích lý tưởng mà vì miếng cơm, manh áo và lợi ích cá nhân, sẵn sàng phản bội Đảng khi không được cung cấp đủ lợi ích... Đây là một giọng điệu hết sức nguy hiểm bởi lẽ nó đã trắng trợn xuyên tạc bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta.
Những ngày
trước và trong Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, cả hệ thống chính trị từ Trung ương
đến địa phương và quân dân ta đều chung sức, đồng lòng, nỗ lực tham gia phòng,
chống dịch (PCD) Covid-19.
Nhiều đồng
chí lãnh đạo họp xuyên đêm để chỉ đạo PCD; Bộ đội Biên phòng tăng cường lực lượng
trực tại các tổ, chốt trên biên giới trong dịp Tết để ngăn chặn xuất, nhập cảnh
trái phép phòng dịch bệnh xâm nhập vào nội địa; hàng vạn cán bộ, chiến sĩ LLVT
và nhân viên y tế cùng nhiều lực lượng túc trực, phục vụ tại các khu cách ly,
khu phong tỏa và phun khử trùng, điều trị cho người nhiễm Covid-19...
Thế nhưng
một số trang mạng nước ngoài, một số cá nhân có tâm địa xấu xa lại rêu rao rằng
“việc PCD Covid-19 lần này ở Việt Nam có vẻ chủ quan” hoặc “lần này
"toang" rồi”; thậm chí chúng còn “mong có lãnh đạo nhiễm Covid-19 thì
vui biết mấy”... Đây vẫn là những chiêu bài rất cũ kỹ của những “anh hùng bàn
phím” có tư tưởng bất mãn, phản động nhằm đánh lạc hướng, lung lạc niềm tin của
nhân dân đối với công tác PCD ở nước ta.
Trực tiếp
tham gia cùng các lực lượng PCD của quân đội tại tỉnh Gia Lai và Bình Định, tôi
thấy rõ quyết tâm cao độ từ chính quyền địa phương đến người dân. Tính từ khi
có ca nhiễm đầu tiên ở Gia Lai đến nay, với sự chỉ đạo quyết liệt từ Trung
ương, sự hỗ trợ từ các cơ quan chuyên môn, sự sâu sát của cán bộ các cấp và ủng
hộ của nhân dân, dịch Covid-19 trên địa bàn đã cơ bản được khống chế, hàng
nghìn trường hợp F1, F2, F3... được truy vết, đưa đi cách ly tập trung hoặc vận
động cách ly tại nhà. Hằng ngày, các cơ quan truyền thông, báo chí kịp thời
thông tin những ca nhiễm mới để người dân được biết, phòng tránh...
Tại những
địa phương khác trên cả nước có người nhiễm Covid-19, dù trong dịp Tết nhưng cán
bộ các cấp vẫn duy trì họp PCD thường xuyên và trực tiếp đến những khu vực có
người nhiễm, nghi nhiễm để chỉ đạo khoanh vùng, phun dung dịch khử khuẩn. Hàng
nghìn y sĩ, bác sĩ, cán bộ, chiến sĩ LLVT đã gác lại việc riêng, chấp nhận khó
khăn, rủi ro xung phong vào tâm dịch làm nhiệm vụ... Những việc làm cụ thể đó
là minh chứng sinh động, đập tan những luận điệu phản động vu khống rằng “Việt
Nam chỉ lo đại hội đảng, không lo PCD”, “không kiểm soát được tình hình dịch bệnh”...
nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, xóa nhòa thành quả của cả hệ thống chính trị
cùng tinh thần đoàn kết của dân tộc ta.
Tết cổ
truyền vừa qua, người dân nước ta vẫn vui xuân, đón Tết trong trạng thái bình
thường mới; vẫn đến chợ hoa, đi siêu thị mua sắm, tham quan vãn cảnh... mà
không lo sợ dịch Covid-19 khi thực hiện đầy đủ "5K" (khẩu trang-khử
khuẩn-không tụ tập đông người-khai báo y tế-khoảng cách). Thực tế, nhiều quốc
gia, tổ chức quốc tế uy tín vẫn đánh giá Việt Nam là một trong những nước và
vùng lãnh thổ xử lý đại dịch Covid-19 hiệu quả nhất.
Những luận
điệu phản động, cố tình xuyên tạc công tác PCD Covid-19 ở nước ta thật là lố bịch./.
Hiện nay, tình hình dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, tình hình dịch trên cả nước đã và đang được kiểm soát tốt. Tuy nhiên, trong công cuộc đẩy lùi COVID-19, cùng với việc thực hiện nghiêm các giải pháp ứng phó thì ý thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân và gia đình rất quan trọng.
![]()
Dựa và quần chúng nhân dân để xây dựng
Đảng là một nguyên lý; là vấn đề thuộc quan điểm và là giải pháp cơ bản, thường
xuyên rất quan trong của Đảng ta trong suốt hơn 90 năm qua và sẽ được tiếp tục
thực hiện trong thời gian tới. Thực tiễn chỉ rõ, chính thực hiện tốt vấn đề trên
mà Đảng ta được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là người lãnh đạo,
người cầm lái con thuyền cách mạng Việt nam vượt qua bao khó khăn, thách thức,
có lúc hết sức ngặt ngèo để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đại đa số nhân dân ta đều hiểu rõ điều đó, luôn biết ơn, quý
trọng, gần gũi, gắn bó và “một lòng một dạ” đi theo Đảng; tuy nhiên, thời nào
cũng vậy, có một số phần tử phản động, cơ hội, bất mãn trong nước cùng với các
thế lực thù địch ngoài nước cố tình không nhận ra điều đó và tìm mọi cách xuyên
tạc, nói xấu... để chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Hiện nay, chúng thường dùng chiều trò “thư ngỏ”, “góp ý”, “kiến
nghị” với Đảng, Nhà về vấn đề nọ, vấn đề
kia... Khi chúng ta bác bỏ những ý kiến sai trái, phản khoa học, phản động, thù
địch thì chúng lu loa là không tiếp thu “quan điểm khác”, là thành kiến, trù
dập những người có “quan điểm” khác... Vậy vấn đề nên được cắt nghĩa như thế
nào cho khách quan?
Chẳng
khó gì trong phân biệt rõ giữa “quan điểm khác” với “quan điểm thù địch”. Về
vấn đề này, cụ thể là: Nếu “quan điểm khác”, tức là không giống quan điểm của
Đảng (điều đó là bình thừơng) mà không trái với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có
lợi cho đất nước và nhân dân, có lợi cho việc giải quyết vấn đề “quốc kế dân
sinh” trong quá trình phát triển của quốc gia dân tộc thì cần nghiên cứu tiếp
thu. Nếu như “quan điểm khác” nhưng trái với mục tiêu, lý tưởng, trái với chủ
trương, đường lối của Đảng, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc thì cần
phải kiên quyết lên án và đấu tranh bác bỏ bằng những biện pháp cần thiết. Như
vậy, và chỉ như vậy chúng ta mới dứt khoát được về nhận thức, lập trường và
biện pháp cụ thể trong xử lý với những vấn đề trên. Tin tưởng rằng tuyệt đại đa
số cán bộ, đảng viên và nhân ân ủng hộ và các thế lực thù địch, kẻ xấu khó có
bề lợi dụng “dân chủ” để chống phá./.
Lịch sử nhân loại không bao giờ quên Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại. Cách mạng Tháng Mười là bước đột phá lịch sử, chặt đứt một mắt xích quan trọng của chủ nghĩa đế quốc, lật đổ giai cấp bóc lột ở một quốc gia rộng lớn, thiết lập Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng chế độ mới xã hội chủ nghĩa, đánh dấu bước ngoặt căn bản trong tiến trình phát triển của nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng. Cách mạng Tháng mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay. Cách mạng Tháng Mười đã mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”(1)
Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Chiến công chói lọi đập tan chủ nghĩa phát xít, bảo vệ quê hương Cách mạng Tháng Mười càng làm ngời sáng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống tốt đẹp của nhân dân Xô viết. Giáo dục truyền thống yêu nước luôn là bài học quý, có ý nghĩa to lớn không chỉ với hôm nay mà còn mãi mãi về sau.
Đối với thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay, những người được sinh ra trong chế độ mới, lớn lên trong khung cảnh hòa bình, được thừa hưởng thành quả và những giá trị chân chính từ Cách mạng Tháng Mười Nga, từ Cách mạng Tháng Tám và đại thắng mùa xuân 1975 mang lại, luôn mang trong mình truyền thống yêu nước được hun đúc từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc và được nhân lên trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định: “giáo dục chính trị,tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức lối sống lành mạnh,ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ”(2).
Nhớ lại thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Nhân dân Việt Nam nói chung, tuổi trẻ Việt Nam nói riêng, càng nhận rõ hơn vinh dự tự hào, niềm tin và trách nhiệm được sống và cống hiến ở Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ hiện nay có ý nghĩa to lớn, là sự giữ gìn, tiếp lối và phát huy giá trị to lớn, mang tầm thời đại của cách mạng Tháng Mười, khơi dậy và phát huy chủ nghĩa yêu nước, hình thành và phát triển nhận thức, tình cảm, thái độ, niềm tin, ý chí quyết tâm và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ biểu hiện ra hành động đúng đắn, tích cực, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ là hoạt động có mục đích, có tổ chức, mang tính chủ động, tự giác, của cả hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay, cần quán triệt những quan điểm chỉ đạo dưới đây:
Một là, vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Hai là, giáo dục truyền thống yêu nước phải gắn liền với tổ chức những hoạt động sáng tạo, xung kích của tuổi trẻ
Ba là: Giáo dục truyền thống yêu nước phải đi đôi với phát huy tinh thần quốc tế vô sản cho thế hệ trẻ
Bốn là , phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng trong hệ thống chính trị giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ
Hiện nay trong quá trình hội nhập, mở cửa, giao lưu quốc tế, tham gia vào sân chơi chung của thế giới, chúng ta phải vươn lên khẳng định được sức mạnh của mình đồng thời phải luôn luôn giữ được bản sắc, truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng. Trách nhiệm đó đòi hỏi thế hệ trẻ phải được đào tạo, giáo dục một cách toàn diện đáp ứng tốt mục tiêu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đó cũng chính là làm cho truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được lưu truyền và luôn tỏa sáng trong thời kỳ mới.
Quán triệt đường lối cách mạng của Đảng qua các thời kỳ và từ thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng ở nước ta từ sau năm 1975 đến nay, tư duy về bảo vệ Tổ quốc của chúng ta đã có sự phát triển từng bước và đổi mới mạnh mẽ trong quá trình đổi mới đất nước.
Tư duy về bảo vệ Tổ quốc từ chủ yếu là tư duy về quân sự, về chiến tranh đã phát triển một cách toàn diện hơn về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quân sự; về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân để chủ động ứng phó với mọi tình huống, ngăn ngừa chiến tranh, tạo môi trường hoà bình để xây dựng đất nước, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc
Phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng – an ninh với đối ngoại; quốc phòng, an ninh, đối ngoại với xây dựng kinh tế, xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng. Trong khi đặt nhiệm vụ trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta không một phút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn coi trọng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, coi đó là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ, quan hệ khăng khít với nhau
Yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau đây:
Bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc gắn chặt với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay là bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ.
Xây dựng và phát triển chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa một cách toàn diện, vững mạnh, đồng thời phải trực tiếp bảo vệ từng tế bào của chế độ một cách kiên quyết và thường xuyên. Xây dựng và bảo vệ xâm nhập lẫn nhau, diễn ra một cách phổ biến, thường xuyên ở mọi lúc mọi nơi, trên tất cả các mặt, các lĩnh vực hoạt động, trong mỗi tổ chức, mỗi con người.
Tư duy mới về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, một mặt nhấn mạnh tích cực xây dựng đất nước về mọi mặt theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; mặt khác không coi nhẹ các biện pháp vũ trang bảo đảm có đủ sức mạnh cần thiết để răn đe, giữ vững hoà bình và sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược. điều đó đòi hỏi:
Phải chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước: tiềm lực kinh tế, tiềm lực chính trị – tinh thần, tiềm lực khoa học – công nghệ và tiềm lực quân sự tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ, giữ gìn hoà bình, không để xảy ra chiến tranh là thượng sách để giữ nước. Xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là tạo ra sức mạnh lớn nhất để bảo vệ đất nước, là quá trình bảo vệ tích cực nhất, chủ động nhất. Mỗi bước phát triển của quá trình xây dựng là tạo nên một sức mạnh mới để bảo vệ Tổ quốc
Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng an ninh và đối ngoại trong công cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ động đối phó có hiệu quả và sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá từ bên trong và tấn công quân sự từ bên ngoài của các thế lực thù địch.
Cùng toàn Đảng, toàn dân tích cực đấu tranh phong chống “Diễn biến hoà bình” , bạo loạn lật đổ; là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngăn chặn và làm thất bại các cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô và cường độ khác nhau, làm tròn chức năng đội quân chiến đấu cả vũ trang và phi vũ trang trong giai đoạn mới
Luôn luôn là lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là trên lĩnh vực chính trị, giữa vững ổn định chính trị của đất nước, tạo môi trường chính trị thuận lợi để phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, làm tròn chức năng đôi quân công tác trong giai đoạn mới.
Tích cực tham gia, xây dựng kinh tế, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lực lượng vũ trang không chỉ là lực lượng bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mà còn là lực lượng quan trọng góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm tròn chức năng lực lượng vũ trang lao động sản xuất trong giai đoạn mới.
Hiện nay cùng với những tàn dư của tư tưởng phong kiến, tư tưởng tiểu tư sản là hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa chống cộng và chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, xét lại đang tấn công toàn diện và mạnh mẽ vào bản chất cách mạng của quân đội ta.
Bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình”chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch coi trọng chống phá ta về chính trị, tư tưởng và văn hoá, chúng tìm mọi cách gieo rắc tư tưởng “về sự phá sản của chủ nghĩa Mác – Lênin”, rêu rao luận điệu “ Phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang làm tha hoá về tư tưởng, đạo đức, lối sóng của cán bộ, chiến sĩ ta, làm cho lực lượng vũ trang biến chất về chính trị.
Đây là cuộc chiến tranh không có khói lửa, không có tiếng súng, không dễ dàng nhận rõ mặt kẻ thù như trong chiến tranh vũ trang trước đây, chúng ta không chỉ chống lại chiến lược “Diễn biến hoà bình” mà còn chống lại cả nguy cơ “Tự diễn biến” từ bên trong.
Trong những điều kiện đó việc giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho hệ tư tưởng đó trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của lực lượng vũ trang, là một nội dung rất cơ bản, có tính chất quyết định đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.
Cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề “ ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của đời sống xã hội những nhân tố kinh tế, chính trị xã hội, giai cấp, tư tưởng đang biến đổi và tác động đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị trên các mặt chủ yếu sau đây:
Sự tác động của nền kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị trường đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị
Sự phát triển của kinh tế, sự ổn định chính trị của đất nước đã tác động tích cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang: lòng tin vào Đảng, vào chế độ được củng cố, ý thức, trách nhiệm chính trị đối với sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được nâng cao, làm tăng thêm sức mạnh chính trị – tinh thần của lực lượng vũ trang .
Tuy nhiên, bên cạnh sự tác động tích cực, thì mặt trái của nền kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường đã làm xuất hiện những tiêu cực mới, tác động không nhỏ đến lực lượng vũ trang như: ý thức giác ngộ chính trị; nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; sự thoái hoá biến chất, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Vì vậy, việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là vấn đề cốt tử trong xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.
Sự tác động của những biến đổi về cơ cấu xã hội – giai cấp ở nước ta hiện nay đến xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị. Trong quá trình vận động, biến đổi, các giai cấp và tầng lớp xã hội có xu hướng xích lại gần nhau, liên kết, hợp tác với nhau, trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mặt khác với cơ cấu xã hội – giai cấp không thuần nhất, phát triển đa dạng, đan xen, vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau dẫn tới sự không thuần nhất về chính trị – tư tưởng, sự xuất hiện các khuynh hướng chính trị – tư tưởng, sự xuất hiện các khuynh hướng chính trị – tư tưởng khác nhau thậm chí đối lập nhau sẽ tác động đến quá trình xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị.
Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay phải giải quyết mâu thuẫn giữa việc tiếp tục xây dựng, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang với thành phần tham gia lực lượng vũ trang từ các giai cấp, tầng lớp khác nhau của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ.
Cục diện kinh tế, chính trị thế giới thay đổi sâu sắc, nhanh chóng, nhất là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu làm cho tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng thay đổi bất lợi cho chủ nghĩa xã hội.
Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc tiếp tục diễn ra trong điều kiện mới, với những nội dung mới, hình thức phức tạp mới, dưới những sắc thái mới, mà tính chất của chúng không kém phần gay go, quyết liệt
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển với tốc độ phi thường đưa tới những tiến bộ to lớn, làm xuất hiện nhiều nhân tố mới trong kinh tế và cả trên các mặt của đời sống xã hội … đồng thời, làm nảy sinh những khó khăn thánh thức mới cực kỳ gay gắt.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định thay đổi chiến lược tiến công chủ nghĩa xã hội và các phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới, từ xâm lược bằng vũ trang là chủ yếu sang xâm lược bằng phi vũ trang, bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình” là chủ yếu, kết hợp với răn đe quân sự, sẵn sàng tiến hành chiến tranh xâm lược, kể cả tiến hành chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao.
Cũng như
giai cấp và nhà nước, chiến tranh và quân đội là những hiện tượng chính trị xã
hội. Sự xuất hiện của chiến tranh và lực lượng vũ trang gắn chặt với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. C.
Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã nghiên cứu lý luận về chiến tranh và lực lượng
vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với lý luận về giai cấp và nhà nước.
Lực lượng vũ trang là một hiện tượng lịch sử. Lực
lượng vũ trang ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người,
khi xuất hiện chế độ tư hữu và loài người bị phân chia thành các giai cấp. Đi
đôi với việc phân chia xã hội thành giai cấp, sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản
càng trở nên sâu sắc, lực lượng vũ trang được tăng cường và có cơ cấu tổ chức
chặt chẽ hơn. Khi xuất hiện bộ máy cưỡng bức đặc biệt là nhà nước, thì
cũng đẻ ra thiết chế xã hội mới về chất
là lực lượng vũ trang
Khi đã xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước,
nảy sinh mâu thuẫn đối kháng thì chiến tranh cũng xuất hiện trong đời sống xã hội.
đối với bọn bóc lột thì chiến tranh đã trở thành phương tiện và công cụ quan trọng
để nô dịch các dân tộc khác, để củng cố địa vị thống trị của chúng ở trong nước.
Ăng ghen đã viết: “ Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà
nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng
ngự”
Như vậy, sự xuất hiện của hiện tượng lực lượng vũ trang trong lịch sử gắn chặt với
sự xuất hiện của chế độ tư hữu, giai cấp, nhà nước và chiến tranh. Lực lượng vũ
trang là công cụ để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước
nhất định.
C. Mác, Ph.
Ăng ghen và Lênin xem xét vấn đề chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối
quan hệ chặt chẽ với chính trị. Phạm trù bạo lực, chiến tranh và lực lượng vũ
trang bao giờ cũng gắn liền với phạm trù chính trị - giai cấp. Chiến tranh là sự
kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực; lực lượng vũ trang là công cụ để tiến
hành chiến tranh, để thực hiện mục đích chính trị của một giai cấp, một nhà nước
nhất định
Lực lượng vũ trang là lực lượng đặc biệt của một
giai cấp, là công cụ vũ trang chủ yếu của nhà nước để tiến hành chiến tranh nhằm
thực hiện mục đích chính trị của giai cấp. lực lượng vũ trang hiện và tồn tại gắn
liền với chính trị, bị chi phối bởi chính trị, là công cụ thực hiện chính trị.
Mọi mặt hoạt động của lực lượng vũ trang đều bị quy định bởi chính trị và phụ
thuộc vào chính trị. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối
quan hệ giữa lực lượng vũ trang với giai cấp, với chế độ xã hôi, với nhan dân,
với dân tộc. Lực lượng vũ trang bao giờ
cũng gắn chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó, mang bản chất giai cấp sâu
sắc. Không có và không thể có lực lượng
vũ trang “phi giai cấp” hoặc “siêu giai cấp”, “quân đội phi chính trị” hoặc “đứng
ngoài chính trị”.
Trong khi chăm lo xây dựng sức mạnh toàn diện của lực
lượng vũ trang, để làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới thực sự trung thành và
phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản, Mác, Ăng ghen và Lênin hết sức chăm lo xây
dựng lực lượng vũ trang về chính trị, nhất
là chăm lo củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ
trang, coi đó là vấn đề sống còn của lực lượng vũ trang cách mạng, là một trong
những nguyên tắc hết sức cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới.
Trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị; xây dựng, củng
cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang C. Mác, Ph.
Ăng ghen và V.I Lênin đã thường xuyên
quan tâm xây dựng cả 3 phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đó là sự
kiên định và thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp công nhân;
giáo dục hệ tư tưởng Mác – Lênin, thực hiện đường lối, nguyên tắc tổ chức của
giai cấp công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan lực lượng vũ trang theo
quan điểm, đường lối của giai cấp công nhân. Mặt khác, C. Mác, Ph. Ăng ghen và
V.I Lênin rất quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa lực lượng
vũ trang với nhân dân, coi đây là một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng
trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, làm cho lực lượng vũ trang kiểu mới
khác về chất với các kiểu lực lượng vũ trang của giai cấp, nhà nước bóc lột trước
đây. Đồng thời, C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin rất quan tâm đến tăng cường
xây dựng các mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, nhất là mối quan hệ
giữa cán bộ và chiến sĩ trên tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật, trên cơ sở
thống nhất về nghĩa vụ và quyền lợi; tăng cường củng cố và phát triển mối quan
hệ hữu nghị giữa lực lượng vũ trang các nước xã hội chủ nghĩa trên tinh thần quốc
tế vô sản.
V.I Lênin đặc biệt quan tâm đến việc giữ vững và
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành công tác tưởng, công tác tổ
chức trong lực lượng vũ trang, coi đó là một nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ
trang kiểu mới, trực tiếp nâng cao chất lượng chính trị, góp phần nâng cao sức
mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. V.I Lênin đã kiên quyết đấu tranh bác bỏ
luận điểm sai lầm và phản động của giai cấp tư sản coi lực lượng vũ trang “ là
trung lập đứng ngoài chính trị”, từ đó đi tới phủ nhận nội dung giai cấp trong
xây dựng lực lượng vũ trang.
Những thảm kịch ở Liên Xô và Đông Âu đầu những năm
90 vừa qua là bài học đau xót và lời cảnh tỉnh cho những ai xa rời những nguyên
lý, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới,
nhất là vấn đề xây dựng lực lượng vũ
trang về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của lực
lượng vũ trang kiểu mới.
Chống
phá Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt của các thế lực
thù địch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, tiến hành tác động, phá hoại nội bộ
Đảng, làm giảm uy tín, nhằm đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước và xã hội. Tuy nhiên, dù có sử dụng “trăm phương nghìn kế”, các thế lực
thù địch cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của toàn
dân ta đối với Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với những thành
tựu to lớn đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận cả trên phương diện lý luận,
thực tiễn và lịch sử.
Mục
đích và thủ đoạn của các thế lực thù địch là gì khi chúng tung ra luận điệu
“Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo
đất nước”?
Về
chính trị, chúng cho rằng “Ở Việt Nam, công nghiệp
chưa phát triển, số lượng, chất lượng công nhân giai cấp công nhân bị hạn chế.
Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, nó có
rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ
nghĩa phong kiến”. Vì thế, “giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản không thể lãnh
đạo, xây dựng được CNXH đích thực ở Việt Nam”(!). “Đảng không nên giữ vai trò
lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”. Chúng xuyên tạc
Đảng ta đã sai lầm về chính trị khi “vội vàng xóa bỏ” đảng Dân chủ và đảng Xã
hội, “tạo điều kiện cho Đảng Cộng sản độc đoán, chuyên quyền, bóp nghẹt tự do,
dân chủ”. Chúng kêu gào: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là
then chốt của chế độ dân chủ. Đảng cho mình cái quyền đứng trên dân tộc, cái đó
không ai chịu chấp nhận”; đòi “xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng”.
Về
tư tưởng, chúng cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin làm nền tảng tư tưởng là sai lầm”, vì rằng “chủ nghĩa Mác - Lênin là
ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây, nên không còn phù hợp với Việt Nam”; rằng
“Học thuyết Mác là sản phẩm của thế kỷ XIX, do vậy, đem đặt nó trong bối cảnh
thế kỷ XXI nếu không lạc hậu, thì cũng chẳng thể là khoa học” (!); “chủ nghĩa
Mác đã đóng góp khá nhiều cho lịch sử, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử rồi, nó
không còn phù hợp với thời đại ngày nay”; v.v.
Đối
với tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng cho rằng, Hồ Chí Minh là nhà “dân tộc chủ nghĩa
chứ không phải là nhà mác-xít”; “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng” vì không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam đề cao tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh, là để “an dân” chứ thực chất không theo Hồ Chí Minh (!?).
Về
phương diện tổ chức, chúng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt
Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Chúng cho rằng, nguyên tắc tập
trung dân chủ đã lỗi thời, nó chỉ thích hợp với hoạt động của Đảng khi chưa
giành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo trong chiến tranh;
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên
quyền trong Đảng và trong xã hội, không có nhân đạo. Chúng còn cho rằng, trong
Đảng có nhiều phe phái: phe cải cách và phe bảo thủ; trong Đảng còn có các nhóm
lợi ích, v.v.
Về
đạo đức, chúng bịa đặt, bôi nhọ, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước,
đánh vào sinh hoạt, đạo đức, lối sống các đồng chí lãnh đạo; tung ra nhiều
chuyện giật gân trong sinh hoạt của lãnh đạo. Chúng cho rằng, Đảng và đảng viên
ngày càng suy thoái, biến chất; tham nhũng, tham ô, lãng phí là căn bệnh trầm
kha không thể chữa trị được. Từ đó chúng suy diễn thành “Đảng tham nhũng”, “Nhà
nước tham nhũng”...
Thực
chất, những “lập luận” trên là thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập hòng vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Vậy hãy giả định rằng, nếu
Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo
đất nước thì lực lượng nào sẽ có đủ khả năng để thay thế vai trò đó? Các thế
lực thù địch thừa hiểu về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản
Việt Nam là như thế nào, và ở Việt Nam hiện nay không một tổ chức nào có thể
thay thế và làm tốt vai trò lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên,
việc nói là cứ nói, “đòi” là cứ đòi, dù biết là “nói lấy được”, mà đòi thì
không được! Vì thế, trong các luận điệu chúng tung ra, rất ít thấy xuất hiện
một lực lượng cụ thể, một gương mặt “sáng giá” khả dĩ có thể thay thế vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đâu
đó họ có nói đến “lực lượng chính trị mới”. Nhưng cái gọi là “lực lượng chính
trị mới” mà các thế lực thù địch tung hô có thể thay thế Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo đất nước và xã hội, thực chất chỉ là lực lượng được các nước tư bản và
các thế lực phản động quốc tế nuôi dưỡng, ủng hộ, cung cấp tài chính, hậu thuẫn
về chính trị, quân sự, ngoại giao. Đó là một tổ chức ô hợp gồm nhiều đại diện
của nhiều lực lượng có thù hận với cách mạng Việt Nam, có tội ác với nhân dân,
những kẻ muốn lợi dụng dân tộc ta làm lá bài chính trị để phục vụ cho lợi ích
ích kỷ của chúng.
Với
lực lượng chính trị như vậy thì chắc chắn con đường mà họ hay “lực lượng chính
trị mới” lựa chọn cho đất nước ta sẽ là con đường TBCN. Khi nắm được quyền lãnh
đạo, họ sẽ từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, xóa bỏ thành tựu mà nhân dân
ta đã hy sinh bao xương máu mới giành được, sớm đưa đất nước đi vào quỹ đạo của
CNTB. Với một mục tiêu chính trị và một nhân thân như vậy, chúng biết rằng,
Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ trao cho
chúng quyền lãnh đạo đất nước. Cho nên, các chiêu bài được tung ra cũng chỉ
nhằm gây chú ý, tạo dư luận, gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân ta, trong xã hội
ta, đồng thời để tranh thủ sự ủng hộ của các nước tư bản và các thế lực phản
động quốc tế hòng gây sức ép, đặt điều kiện với chúng ta… để từng bước vô hiệu
hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về
thực chất, cái gọi là “lực lượng chính trị mới” không phải là lực lượng vì dân
vì nước, mà chủ yếu là vì quyền lợi giai cấp, vì mục tiêu chính trị phản
động. Do đó, một khi lực lượng này lãnh đạo đất nước thì hệ quả tất yếu
sẽ là: lái đất nước đi theo con đường TBCN. Theo đó, thì cái lợi trước hết
không phải cho nhân dân lao động, cho dân tộc ta mà cho giai cấp bóc lột, cho
các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia. Còn nhân dân ta phải đổ bao xương máu mới
giành được độc lập, mới thoát khỏi kiếp nô lệ, là người làm chủ đất nước, làm
chủ vận mệnh của mình, thì sẽ phải quay lại địa vị cũ, đất nước lại rơi vào
vòng lệ thuộc của các nước tư bản, đế quốc.
Thực
tế lịch sử đã chứng minh, sau khi lãnh đạo nhân dân giành được những thành tựu
vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, trong các cuộc kháng chiến giành lại độc lập,
thống nhất cho non sông đất nước, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời
kỳ mới - thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH. Đất nước chuyển sang giai
đoạn mới, vừa có hòa bình vừa có chiến tranh; vừa phải đối phó với kiểu chiến
tranh phá hoại nhiều mặt của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế, vừa
chống lại sự bao vây, cấm vận và cô lập tứ phía. Khó khăn chồng chất khó khăn.
Kinh nghiệm lãnh đạo đất nước xây dựng CNXH được tích lũy trong những năm lãnh
đạo miền Bắc xây dựng CNXH trong điều kiện đất nước có chiến tranh trước đây
tuy rất quý báu, nhưng chừng đó là chưa đủ cho việc lãnh đạo, tổ chức xây dựng
và quản lý phát triển đất nước trong điều kiện mới với quy mô và tầm vóc mới.
Mọi việc dường như phải làm lại từ đầu, để xây dựng xã hội XHCN ở một nước
thuộc địa nửa phong kiến, vừa mới giành được độc lập và vừa bước ra khỏi các
cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài 30 năm. Chưa hết, CNXH hiện thực ở Liên
Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ đã giáng một đòn mạnh vào hệ thống
XHCN làm nó tan rã. Đất nước rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm
trọng chưa từng có và đang đứng trước nguy cơ của sự sụp đổ. Trong hoàn cảnh
lịch sử ngặt nghèo ấy, bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng được phát
huy và thể hiện trong điều kiện thực tiễn mới. “Đổi mới hay là chết” đó không
chỉ là khẩu hiệu mà còn là mệnh lệnh của những con tim và khối óc có đủ sự
nhiệt huyết và sự tỉnh táo để đưa đất nước thoát khỏi sự hiểm nguy.
Nhưng
thật trớ trêu thay, trong những lúc đất nước khó khăn và lâm nguy như vậy, đã
không có một lực lượng nào, một tổ chức nào đồng lòng cùng chung tay gánh vác
trách nhiệm trước non sông, đất nước, dân tộc và nhân dân. Trái lại, chỉ thấy
nhưng tiếng kêu la, oán thán, những điều chỉ trích, gây chia rẽ phân tâm, làm
ngã lòng người từ phía các thế lực thù địch và cơ hội... Thực tiễn lịch sử lại
cho thấy một lần nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xứng đáng và
tin cậy của dân tộc và nhân dân Việt Nam; lịch sử và nhân dân Việt Nam lại một
lần nữa tin tưởng trao cho Đảng sứ mệnh lãnh đạo dân tộc, dẫn dắt giống nòi Lạc
hồng tiến bước cùng thời đại. Đó là sự thật hiển nhiên không phải bàn cãi.
Bởi vậy, chúng ta
phải kiên định con đường mà Đảng và Bác đã chọn thường xuyên, liên tục đấu
tranh phê phán với các quan điểm trên.
Trước hết về cơ sở lý luận
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là cần thiết, tất yếu, khách quan. Đảng
Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng
nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn CNTB. Nhưng
muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có
“đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong” để lãnh đạo.
Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công
nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra
đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực
lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph.Ăngghen
cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng
XHCN giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu
giai cấp.
Kế
thừa tư tưởng trên của Mác - Ăngghen, Lênin khẳng định: Về nguyên tắc, Đảng
Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa.
Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ
nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có
đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới.
Lênin cũng chỉ rõ: Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà
nước mà là lãnh đạo cả xã hội. Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là trí
tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại.
Giải
đáp vấn đề “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: trước hết
phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh
mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Có thể khẳng định dứt khoát đây
là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ
chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nó
chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Bên cạnh đó, Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp
pháp. Trên thế giới, việc quy định về đảng chính trị trong Hiến pháp mang tính
phổ biến. Chẳng hạn: Hiến pháp của Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc
có 1 điều; Hiến pháp của Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Ba Lan có 2 điều; Hiến pháp
Udơbêkixtan có 3 điều,… quy định về đảng chính trị. Các bản Hiến pháp nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 1 điều quy định: Đảng
Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là phù hợp với xu
hướng chung của thế giới hiện nay, không phải là cá biệt. Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng
định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội
Việt Nam. Điều lệ Đảng quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng
lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy.
Như
vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ
sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy
định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng đơn
phương quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ
được quy định tại Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã
hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác
ở Việt Nam.
Mặt khác, Đảng
cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: Đảng Cộng sản Việt
Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của
nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của
giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân
và phong trào yêu nước. Trên thực tế, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc
phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam
độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc
lột người, thực hiện thành công CNXH và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
Về cơ sở thực tiễn.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà
nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn
bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai
trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước. Bởi vì:
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
được khẳng định trong thực tế tiến hành cách mạng và được nhân dân thừa nhận. Thực
tiễn Việt Nam đã từng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản Việt
Nam còn tồn tại hai đảng đối lập là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách
mạng Đồng minh Hội. Hai đảng này không đại diện cho lợi ích quốc gia, dân tộc
và nhân dân, mà bám gót ngoại bang, nên không được nhân dân chấp nhận.
Có
thời kỳ, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 -
1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 - 1988), nhưng các đảng ấy cũng không được
đa số nhân dân giao cho sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Các đảng ấy, đều
tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân giao phó,
ủy thác. Sau đó hai đảng này tuyên bố tự giải thể và chỉ còn lại Đảng Cộng sản
Việt Nam. Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hiển nhiên,
là sự lựa chọn và giao phó của lịch sử, của nhân dân và dân tộc Việt Nam,
Đảng không tranh giành vai trò lãnh đạo với bất kỳ đảng phái nào. Trong
hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, Đảng ta là đảng cầm quyền chính là thông qua việc
nắm quyền, Đảng thực hiện sứ mệnh lãnh đạo xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị,
lãnh đạo nhân dân, để đạt được mục tiêu cách mạng mà Đảng và dân tộc đều đồng
thuận.
Bên cạnh đó, vai trò
lãnh đạo lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất
là vào những bước ngoặt của lịch sử. Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài,
gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi
vĩ đại: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của
thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta
tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống
xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn
nghĩa vụ quốc tế, đưa cả nước đi lên CNXH. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi: đất nước đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với
những năm trước đổi mới; quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống
nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt; đất nước chưa bao
giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.
Tuy
nhiên, trong lãnh đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm
nghiêm trọng. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới,
chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Nhưng, một số kẻ thù
địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế, họ
còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm của Đảng và quy kết Đảng không đủ
năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước. Rõ ràng đây là một sự xuyên
tạc, vu cáo Đảng ta, nhằm kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà
nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết
sức thâm độc và nguy hiểm.
Nhân
dân Việt Nam đã thừa nhận và ủy quyền Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất
lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Quan hệ Đảng - dân là mối quan hệ
bản chất và máu thịt của Đảng ta. Ngay từ khi ra đời Đảng luôn gắn bó mật thiết
với nhân dân, phục vụ nhân dân, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở và
xây dựng. Hơn 90 năm đi theo Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân
dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực
lượng, một tổ chức nào có thể đại diện chân chính cho lợi ích của mình. Vì thế,
nhân dân tin tưởng ủy thác trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực
tế cách mạng Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với đất nước là sự lựa
chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của nhân dân. Vì thế, các tầng lớp nhân
dân mong muốn Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, không chia sẻ quyền lực với
các lực lượng khác khác trong vai trò cầm quyền của mình. Bởi đó là nguyên tắc
đã được được hiến định và là một kết quả tất yếu của lịch sử cách mạng Việt
Nam, không thể thay đổi.
Ở
Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt
Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước
và xã hội. Tuyệt đại đa số nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các
khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã
hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây
dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách
nhiệm là đội tiền phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải
quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải
pháp thư tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân
trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Tóm
lại, quan điểm cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không
còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước” là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi
thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán,
thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và
phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt
được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm
sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy
nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho
nhân dân.