Thứ Tư, 5 tháng 5, 2021

ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG – NHIỆM VỤ THƯỜNG XUYÊN VÀ CẤP BÁCH

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên được Đảng ta luôn coi trong quá trình xây dựng và phát triển, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những thành quả quan trọng và kinh nghiệm của Đảng trong công tác này đã góp phần quan trọng củng cố niềm tin, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên con đường đổi mới, vững bước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình hiện nay, việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp bách. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, một lần nữa Đảng ta xác định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phn bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị bằng mọi âm mưu, thủ đoạn, đã tăng cường xuất bản, tán phát nhiều loại ấn phẩm, tài liệu, sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… Đặc biệt, các đối tượng này đã lập hàng nghìn trang web, blog, các ứng dụng mạng xã hội; hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các đài phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt, tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng nhằm phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc chiến tranh đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Bởi vậy, mỗi chúng ta cần chủ động, tăng cường đối phó, đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch; các cơ quan báo chí, truyền thông phải thường xuyên cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin chính thống để nâng cao nhận thức, tri thức cho nhân dân, giúp mỗi cá nhân phân biệt đúng - sai, tích cực - tiêu cực, tốt - xấu, từ đó, tạo nên sức đề kháng trước những thông tin xấu độc, những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Đồng thời, xác định công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ vừa mang tính thường xuyên, vừa mang tính cấp bách, cần quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc, chung tay của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

KHẲNG ĐỊNH TÍNH ĐÚNG ĐẮN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII

 Các quan điểm, chủ trương trong Văn kiện Đại hội có tính toàn diện, tính khái quát và hệ thống hóa cao, phản ánh mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH. Đại hội không chỉ tập trung bàn về quá trình và kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và 35 năm đổi mới; mà còn đặc biệt tập trung phản ánh quá trình, kết quả và mục tiêu, định hướng của công tác tổ chức xây dựng Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn đã qua cũng như thời gian tới. Từ đó, lý luận của Đảng về mô hình và con đường quá độ lên CNXH ở nước ta, về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền - vấn đề trọng tâm, xuyên suốt, mang tính nguyên tắc và có giá trị chỉ đạo chiến lược trong đường lối của Đảng “ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”.

Chúc mừng thành công của Đại hội XIII, trong đó có thành công của công tác nhân sự và công tác soạn thảo, thông qua các Văn kiện, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội, lãnh đạo nhiều nước trên thế giới, bạn bè quốc tế đã gửi điện, thư chúc mừng Đảng Cộng sản Việt Nam. Điện chúc mừng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc viết: “Kể từ Đại hội thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chú trọng tăng cường công tác xây dựng Đảng, dẫn dắt nhân dân Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới. Đứng trước tác động của dịch bệnh COVID-19, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy vai trò lãnh đạo kiên cường, phòng chống dịch bệnh hiệu quả, duy trì tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, thể hiện ưu thế của chế độ XHCN...”. Thư của Tổng thống Mỹ Joe Biden có đoạn: “Năm qua đánh dấu kỷ niệm 25 năm quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Quan hệ đối tác toàn diện mạnh mẽ, đầy sức sống mà hai nước chúng ta đã và đang cùng nhau xây dựng là dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Tôi luôn tự hào ủng hộ mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ...”. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đánh giá: “Dưới sự lãnh đạo của ngài, Việt Nam đã phát triển vượt bậc trong thập niên vừa qua. Đại hội Đảng lần thứ XIII đánh dấu sự khởi đầu một giai đoạn then chốt mới của quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam”… Như vậy, chính đại diện chính phủ của các nước lớn, các nước trong khu vực và bạn bè quốc tế đã thay chúng ta khẳng định thành công của sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cũng chính là khẳng định giá trị, ý nghĩa đường lối của Đảng mà Văn kiện Đại hội XIII là sự kế thừa, bổ sung, phát triển và dần hoàn thiện./.

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng hành cùng dân tộc Việt Nam

 Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng Tháng Mười Nga thành công và sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới là những thành quả rực rỡ của chủ nghĩa Mác-Lênin. Những năm gần đây, đời sống chính trị - xã hội thế giới có nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào. Các thế lực thù địch ra sức phê phán, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và những người sáng lập nhằm phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin trong giai đoạn hiện nay. Nhưng bằng tính nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội, những nhân tố của chủ nghĩa xã hội vẫn đang nảy sinh và phát triển ngay trong lòng nhiều nước tư bản, và dù con đường đi có khác nhau, có lâu dài, có những bước thăng trầm, nhưng lịch sử nhân loại tất yếu dẫn tới chủ nghĩa cộng sản như lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra.

Giá trị tư tưởng của Chủ nghĩa Mác

Ngày 5/5/2021, giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới tưởng nhớ tới Karl Heinrich Marx (Các Mác), một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của thế giới nhân kỷ niệm 203 năm Ngày sinh của ông (5/5/1818 - 5/5/2021).

Những cống hiến tiêu biểu của Các Mác

Ngày 5/5/2021, giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới tưởng nhớ tới Karl Heinrich Marx (Các Mác), một trong những nhà tư tưởng vĩ đại của thế giới nhân kỷ niệm 203 năm Ngày sinh của ông (5/5/1818 - 5/5/2021).

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

Hãy soi mình trong những điều “không thể nào quên”

Không chỉ bắn vào quá khứ, từ bất đồng, mâu thuẫn đến lún sâu vào suy thoái tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; từ những hận thù cá nhân đến bị các thế lực thù địch kích động, lôi kéo, họ đã bắn vào chính mình.

Có những người từng mang trên mình bộ quân phục nhưng đã đánh mất đi điều thiêng liêng nhất: Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ. Từ niềm tự hào binh nghiệp cách mạng, họ đã đánh mất tất cả, đánh mất danh dự, đánh mất niềm tin của gia đình, bạn bè, đồng đội, nhân dân và đánh mất chính bản thân mình!

Ngược dòng và đánh mất

Ít ai biết rằng vị tiến sĩ, doanh nhân trên đã từng là một sĩ quan, con trai duy nhất trong gia đình có cha là liệt sĩ chống Pháp và được Đảng, Nhà nước cử đi học ở châu Âu những năm chiến tranh chống Mỹ, được trọng dụng với nhiều vị trí công tác tốt sau này lại trở thành kẻ chống phá đất nước. Vậy mà càng về sau, vị tiến sĩ này càng đổi màu, suy thoái về tư tưởng chính trị. Ông ta đứng tên trong những đơn, thư đòi đổi tên Đảng, tên nước, xóa bỏ Hiến pháp, thay đổi chế độ; từng cùng nhóm “Diễn đàn xã hội dân sự 21” sang Đức trình bày kế hoạch về lật đổ chế độ ở Việt Nam; thường xuyên nói, viết trên các hãng truyền thông nước ngoài để đưa ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá. Ông ta còn lập ra cái gọi là “Quỹ tù nhân lương tâm”, xuyên tạc sự thật về các vụ án Đồng Tâm, Hồ Duy Hải.

Những người từng là đồng đội với ông có lẽ giờ đây sẽ cảm thấy rất xấu hổ khi ông đã làm vấy bẩn bộ quân phục và lún sâu trong vũng bùn đen tối, quay lưng lại với đất nước, với dân tộc, làm tổn thương cả máu xương và sự hi sinh của người cha liệt sĩ.

Có một người “cùng hội cùng thuyền” với ông ta, là một nhà thơ từng đi qua cuộc kháng chiến chống Mỹ với nhiều áng thơ dạt dào lý tưởng thì nay lại có lúc phát ngôn tùy tiện, phỉ báng cả hình tượng Anh hùng liệt sĩ. Chính nhà thơ này từng nhắc người lính thời bình đừng quên ánh trăng nơi chiến trường song chính ông ta lại phản bội ánh trăng bằng việc tham gia các hội, nhóm đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phi chính trị hóa quân đội.

Sự hi sinh, cống hiến của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như bộ đội tình nguyện là vô giá, thiêng liêng vậy nhưng gần đây, có những đối tượng xét lại lịch sử, đưa ra những quan điểm lệch lạc trong những bài viết, cuốn sách để muốn xóa nhòa, đảo ngược chân lý. Họ cho rằng, chẳng nên tổ chức ăn mừng chiến thắng, mừng Tết Độc lập, Tết Thống nhất bởi “phe nào thắng thì nhân dân đều bại”. Họ núp bóng hòa hợp dân tộc để đánh đồng công-tội, coi nhẹ xương máu, hi sinh của bao triệu người đã đánh đổi vì hòa bình, hạnh phúc hôm nay.

Thật đau xót khi nghĩ về những trường hợp đó, dẫu họ chỉ là cá biệt. Đất nước đã đổi mới, vươn lên mạnh mẽ từng ngày nhưng họ lại lầm đường, ngược lối và ngã xuống ngay dưới chân mình. Có người đã ngộ nhận về sự phản biện xã hội và thiên chức cao cả của văn học để rồi viết nên những tác phẩm nhìn đời qua đôi kính đen, phỉ báng cả sự nghiệp đổi mới, nổi tiếng bằng kiểu “đốt đền” đâu chưa thấy, chỉ thấy hậu quả nhãn tiền là sự ghê sợ, xa lánh của bạn bè, đồng đội.

Có cả những người từng mang quân hàm, chức vụ rất cao nhưng lúc nghỉ hưu lại bị lôi kéo tham gia những hội, nhóm, đứng tâm thư, thỉnh nguyện có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước núp dưới bóng “yêu nước”, “chống nội xâm”. Việc làm của họ nhiều người đặt câu hỏi: Họ từng chiến đấu, hy sinh xương máu trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nay sao lại làm những việc như vậy. Họ xét lại quá khứ cũng là đánh mất chính mình?

Cách đây vài năm, chúng tôi được dự phiên tòa xét xử trường hợp Trần Anh Kim ở Thái Bình. Là người lính nhập ngũ từ những năm chống Mỹ, trải qua cả đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương, lại là cán bộ chính trị, nhưng từ những sai phạm về kinh tế, Trần Anh Kim bị khởi tố, phải đi tù. Cải tạo tốt, Kim được giảm án nhưng sau đó vì bất mãn, Kim lại tìm đến các tổ chức phản động, tham gia các nhóm khiếu kiện và dần chuyển sang chống phá Đảng, Nhà nước và bị đi tù lần thứ hai. Ra tù vào đầu năm 2015, lẽ ra, với trải nghiệm cuộc đời mình, Kim phải rút ra những bài học đắt giá thì ở tuổi 66, Kim lại bị bắt giam vì đã lập ra một tổ chức kêu gọi quân nhân hai miền Nam, Bắc “dựng cờ dân chủ”. Tháng 5-2017, Kim vào tù lần thứ 3 với mức án 13 năm tù về tội "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân". Giá như ông ta biết trân trọng phẩm giá, giữ gìn lời thề và danh dự người lính Bộ đội Cụ Hồ thì đâu đến nỗi.

Một trường hợp khác trẻ tuổi hơn là Lê Văn Thương, sinh năm 1988 ở tỉnh Quảng Ngãi. Thương từng là Thượng úy, Phó đại đội trưởng một đơn vị ở Quân đoàn 3. Vì vi phạm kỷ luật, Thương được cho phục viên về quê mở xưởng mộc. Lẽ ra, nếu giữ gìn bản lĩnh và nhân cách, Thương có thể làm lại cuộc đời, sửa chữa sai lầm bởi xưởng mộc của Thương cũng khá đông khách. Nhưng Thương lại bị kích động, lôi kéo, bỏ trốn ra nước ngoài và lên mạng xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, quân đội. Nhiều đồng đội đau xót cho Thương chỉ vì thiếu bản lĩnh mà sa ngã. Đó là bài học đắt giá về việc rèn luyện, giữ gìn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nếu không tu dưỡng, rèn luyện có thể sa ngã, thậm chí từ tự diễn biến tự chuyển hóa chuyển rất nhanh sang tiếp tay cho thế lực thù địch đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Soi mình để giữ mình

Một trong những vụ việc mà Cục Bảo vệ An ninh quân đội xử lý gần đây là trường hợp Trung tá, QNCN Trần Nam ở một công ty phía nam tuyên bố ra khỏi Đảng. Trần Nam liên tục đăng tải, chia sẻ nhiều nội dung từ những trang phản động hoặc có thông tin xấu độc, thậm chí còn có cả bài viết với xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Nguyên nhân sâu xa ở Nam là do làm ăn thua lỗ, nợ nần dẫn đến bi quan, tiêu cực. Trong những dòng trên trang cá nhân, có lần Nam kể lại chuyến thăm của một vị thủ trưởng nghỉ hưu đến thăm Nam. Ông thắp hương trên bàn thờ có hình ảnh cha Nam-cũng là một người lính. Nam viết: “Chỉ có hai chúng tôi tâm sự hàn huyên về cuộc đời này của những người lính lúc về già. Thủ trưởng thắp nén nhang trên bàn thờ. Nơi ấy có ảnh hình của một đồng đội, đó là cha tôi. Đất nước này, mảnh đất hình chữ S này, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, đã có biết bao nhiêu những người lính đã nằm xuống, đã cống hiến cả một cuộc đời cho sự toàn vẹn lãnh thổ của ông cha để lại...”.

Theo cán bộ cơ quan chức năng, qua đấu tranh, Nam cũng ân hận mình từng là quân nhân, là cán bộ từng công tác tại một học viện lớn của quân đội. Giá như ông ta sớm biết ranh giới đỏ, không đi ngược lại với truyền thống gia đình và đồng đội thì đâu đến nỗi.

Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, tác giả bài hát nổi tiếng “Bài ca không quên” từng tâm sự: “Chúng ta phải biết trân trọng quá khứ, là Bộ đội Cụ Hồ đã vào sinh ra tử thì càng phải giữ gìn, trân trọng quá khứ thiêng liêng ấy. Đó cũng là thông điệp tôi gửi trong ca khúc Bài ca không quên viết năm 1981". Ông kể: “Cha tôi hy sinh năm 1946-người cha mà tôi còn chưa được thấy mặt, chỉ được ngắm ông qua những tấm hình. Năm 1964, trong một lần công tác cùng đoàn cán bộ của Ban Tuyên huấn, có vợ tôi và bà vợ của nhà thơ Giang Nam vào thăm chồng, cả đoàn bị lọt trúng ổ phục kích ở Tây Ninh, vợ tôi chấp nhận bị bắt đưa về nha cảnh sát để bảo vệ an toàn cho 18 cán bộ nhưng cô con gái đầu lòng của tôi lúc đó mới vừa được 6 tháng tuổi đã mất trong trận đó”.

Nhạc sĩ cho rằng nỗi đau riêng của gia đình ông có thể là rất lớn nhưng sẽ chẳng thấm tháp gì nếu đem so nỗi đau của mình với hàng ngàn, hàng triệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tiễn cả chục người con lên đường ra trận không có ngày trở lại. Vì thế, “Bài ca không quên” viết cho tất cả sự hy sinh của những người con anh dũng của đất nước, rất nhiều hoàn cảnh đau thương trong chiến tranh mà chỉ nghe kể thôi chúng ta phải soi mình trong đó, để hiểu có hòa bình hôm nay đã biết bao mồ hôi, nước mắt và tính mệnh đã ngã xuống nên chúng ta không được phép quên, không thể nào quên!.

Biết soi mình trong những điều không thể nào quên chính là đòi hỏi cần thiết với bất kỳ ai từng mang trên mình bộ quân phục xanh màu đất nước. Là người chiến sĩ, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ đã biến thành giá trị văn hóa trong mỗi chúng ta. Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành danh xưng cao quý, là báu vật mà nhân dân trao cho quân đội. Nhưng thực tiễn thời gian qua, có những người không có sự tỉnh táo cần thiết hoặc thiếu bản lĩnh mà đã đánh mất đi điều thiêng liêng nhất. Chúng ta phải cảnh giác với các thế lực thù địch nhưng cũng cần cảnh giác với chính bản thân mình bởi nếu không có sự kiên định cần thiết sẽ rất dễ bị “cuốn theo chiều gió”. Không phải cứ mang trên mình bộ quân phục hay cứ từng đội mũ, đeo sao là có thể được yêu mến, trân trọng mà phải luôn rèn luyện, giữ gìn để ngôi sao trên mũ mãi soi sáng, dẫn chúng ta đi trọn lời thề của binh nghiệp cách mạng.

NGUYỄN VĂN MINH

Qdnd.vn

 

Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo

 Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.

Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?

Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.

Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.

VŨ HÙNG

Qdnd.vn

 

Hà Nội đóng cửa rạp chiếu phim, quán massage, phòng gym từ hôm nay

 Nhận định thời gian tới, trên địa bàn sẽ có thêm nhiều ca bệnh trong cộng đồng, Hà Nội quyết định từ 0h ngày 5/5 tạm dừng hoạt động quán massage, trung tâm chiếu phim, cơ sở spa, phòng tập gym…

Kết luận buổi họp chiều tối 4/5, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chử Xuân Dũng, Trưởng Ban Chỉ đạo công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 TP Hà Nội, cho biết, từ 0h ngày 5/5 tạm dừng hoạt động dịch vụ massage, trung tâm chiếu phim, cơ sở spa, phòng gym và sân vận động trên địa bàn; tạm dừng các sự kiện đông người không cần thiết, tăng cường xử phạt nghiêm vi phạm…

Trước đó tại cuộc họp, đại diện Sở Y tế Hà Nội, lãnh đạo Công an TP Hà Nội đã có đề nghị tiến hành xét nghiệm diện rộng ở các khu vực có nguy cơ; dừng hoạt động massage, cơ sở spa… vì nhận định tình hình dịch bệnh trên địa bàn thành phố trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều ca mắc cộng đồng.

Ông Dũng cũng cho biết sẽ mở rộng xét nghiệm trên diện rộng đối với các vùng có nguy cơ.

"Giao Sở Giao thông vận tải chỉ đạo đơn vị ngồi giãn cách trên phương tiện giao thông với hình thức cách ghế và không quá 50% số ghế hoặc đảm bảo cách tối thiểu 1 m…" - ông Dũng nói.

Liên quan đến công tác phòng chống dịch tại thủ đô, trước đó, ngày 3/5, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh đã vừa ký công điện hỏa tốc yêu cầu tạm dừng các hoạt động không thiết yếu để phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn.

Cụ thể, từ 17h ngày 3/5, TP Hà Nội tạm dừng hoạt động quán ăn, uống đường phố, trà đá, cà phê vỉa hè đến khi có chỉ đạo mới; các khu di tích, cơ sở tôn giáo cũng được yêu cầu không mở cửa đón khách…

Hà Nội phong tỏa nơi ở của nam bác sĩ dương tính với SARS-CoV-2

 Tối 4/5, lực lượng chức năng Hà Nội đã phong tỏa, phun khử khuẩn ngõ 409 Kim Mã, nơi ở của nam bác sĩ Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, được ghi nhận dương tính với SARS-CoV-2.

Phường Ngọc Khánh (quận Ba Đình, Hà Nội) đã phong tỏa, cách ly, phun khử khuẩn ngõ 409 Kim Mã. Đây là nơi cư trú của bác sĩ đang làm việc tại Bệnh viện Nhiệt đới trung ương, có kết xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2.

Quận Ba Đình cho biết, khu vực phong tỏa, cách ly có 26 hộ dân với 72 nhân khẩu. Hiện lực lượng chức năng đã truy vết được tổng số 11 trường hợp F1 liên quan và được đưa đi cách ly theo quy định.

Hiện nay, quận Ba Đình đã chỉ đạo sát sao truy vết các trường hợp tiếp xúc gần với bác sĩ. Chính quyền phường Ngọc Khánh cho biết, nơi ở của nam bác sĩ dương tính với SARS-CoV-2 đã xác định được 6 F1, 39 F2... Phường đã bố trí lực lượng trực tại điểm ra vào nơi ở của bác sĩ, không để người dân tự ý đi lại.

Vụ 52 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép: Lộ diện đối tượng chủ mưu

 Liên quan đến vụ việc 52 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép ở tỉnh Vĩnh Phúc, cơ quan công an đã xác định được đối tượng chủ mưu và bắt tạm giam người này.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Thị Hồng Hạnh (SN 1985, trú ở phường Liên Bảo, TP Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc) về tội "Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép".

Trước đó, qua công tác quản lý cư trú, ngày 3/5, Công an TP Vĩnh Yên kiểm tra, phát hiện tại số nhà 19 đường Ngô Gia Tự (phường Khai Quang, TP Vĩnh Yên) có 9 người Trung Quốc đang lưu trú nhưng không có hộ chiếu và thị thực. Sau đó, Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức kiểm tra nhiều địa điểm khác TP Vĩnh Yên và phát hiện thêm 30 người Trung Quốc khác.

Đến ngày 4/5, lực lượng chức năng phát hiện thêm 13 người Trung Quốc nữa. Đáng chú ý, tổng số 52 người Trung Quốc nhập cảnh, cư trú trái phép tại địa bàn tỉnh do Nguyễn Thị Hồng Hạnh đứng ra thuê và tổ chức cho những người Trung Quốc này lưu trú.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc đang tiếp tục điều tra, mở rộng vụ án và củng cố hồ sơ xử lý các đối tượng theo quy định.

Thêm 8 ca nghi ngờ dương tính, Vĩnh Phúc họp khẩn ngay trong đêm

 Đến 0h ngày 5/5, trong tổng số 2.845 mẫu mới xét nghiệm ở tỉnh Vĩnh Phúc có thêm 8 mẫu nghi ngờ dương tính với SARS-CoV-2. Chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc chủ trì cuộc họp khẩn ngay trong đêm.

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn có những diễn biến phức tạp, rạng sáng nay 5/5, ông Lê Duy Thành - Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã chủ trì cuộc họp với lãnh đạo các sở, ngành, huyện, thành phố bàn giải pháp cấp bách ứng phó với dịch bệnh.

Báo cáo nhanh của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy, liên quan đến các ổ dịch do ca bệnh người Trung Quốc thì ngoài 14 ca dương tính với Covid-19 đã được Bộ Y tế công bố, đến 0h ngày 5/5, trong tổng số 2.845 mẫu mới xét nghiệm có thêm 8 mẫu nghi ngờ dương tính với SARS-CoV-2.

Lực lượng chức năng đã rà soát, truy vết được 911 trường hợp F1; 2.681 trường hợp F2; 1.450 trường hợp F3; đưa 750 trường hợp đi cách ly tập trung tại các cơ sở quân sự; 42 trường hợp cách ly tại cơ sở y tế huyện, thành phố; 4.760 trường hợp cách ly tại nhà.

Tại cuộc họp, lãnh đạo các đơn vị, địa phương đã báo cáo, làm rõ thêm tình hình dịch bệnh, các biện pháp phòng, chống đã và đang được triển khai trên địa bàn. Một số ý kiến đề nghị UBND tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo triển khai phương án thuê xét nghiệm nhằm nhanh chóng sàng lọc, phân loại đối tượng, tránh trường hợp lây nhiễm chéo trong khu cách ly; hỗ trợ tăng thêm nhân lực, cơ sở vật chất, hậu cần tại các khu cách ly tập trung của các địa phương.

Đồng thời chỉ đạo các huyện, thành phố khẩn trương khoanh vùng, ra quyết định cách ly, phong tỏa ngay các khu dân cư khi phát hiện có trường hợp dương tính và tháo gỡ khó khăn cho các địa phương trong thực hiện cách ly tập trung đối với người nước ngoài.

Ông Lê Duy Thành đã chỉ ra những "điểm nghẽn" nhất là về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực phục vụ công tác phòng, chống dịch và yêu cầu ngành y tế ngay trong ngày hôm nay phải có máy xét nghiệm để tăng công suất xét nghiệm lên gấp 5 lần, bảo đảm xét nghiệm xong 100% trường hợp F1. Đồng thời nâng quy mô giường tại các khu cách ly tập trung cấp huyện lên gấp 3 lần; chuẩn bị cơ sở vật chất của bệnh viện dã chiến để sẵn sàng ứng phó khi có tình huống xấu xảy ra.

Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã chỉ định, ủy quyền cho Chủ tịch UBND cấp huyện ký các quyết định thành lập khu cách ly, trường hợp cách ly tập trung. Sở Giao thông vận tải bố trí 5 xe buýt thường trực tại trụ sở UBND tỉnh để sẵn sàng phục vụ các địa phương gặp khó khăn về phương tiện vận chuyển người đi cách ly.

Các địa phương khẩn trương lập danh sách người nước ngoài thuộc diện cách ly tập trung để UBND tỉnh xem xét, quyết định trưng dụng các khách sạn trên địa bàn làm nơi cách ly tập trung cho đối tượng này.

Lào Cai, Yên Bái khẩn tìm người đến quán bar, cafe liên quan ca bệnh COVID-19

 Sở Y tế Yên Bái khẩn tìm người có mặt tại quán cafe Đồng Tâm, TP Yên Bái, còn Lào Cai tìm người từng đến quán bar Face Club.

Tư duy “trồng cây chuối” của những kẻ dân chủ cuội

 

Dịp 30-4 vừa qua, người dân Việt Nam chân chính đã hòa chung niềm hân hoan kỷ niệm 46 năm ngày hội thống nhất non sông. Điều đó khiến những kẻ phản động, cơ hội chính trị tỏ ra không cam tâm khi "trò bẩn" chống phá cách mạng của chúng bị vô hiệu hóa. Một số phần tử chống đối tiếp tục tung luận điệu rằng, giới trẻ Việt Nam nhận thức không đúng về lịch sử nên mới tham gia “cổ xúy” cho ngày độc lập.

Lễ khai mạc cuộc bầu cử được tổ chức như thế nào?

 Khi đến giờ bắt đầu bỏ phiếu theo quy định, Tổ bầu cử phải tổ chức lễ khai mạc cuộc bầu cử tại phòng bỏ phiếu.

Thành phần tham dự lễ khai mạc bao gồm:

- Các thành viên Tổ bầu cử, những người có nhiệm vụ liên quan đến công tác bầu cử.

- Đại diện cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể ở địa phương.

- Đại diện cử tri là người cao tuổi, người có công với cách mạng và chức sắc tôn giáo trong khu vực (nếu có).

- Cử tri đến dự lễ khai mạc.

- Phóng viên báo, đài (nếu có).

Tổ trưởng Tổ bầu cử chủ trì lễ khai mạc theo trình tự sau đây:

- Chào cờ, tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu.

- Đọc diễn văn khai mạc. Diễn văn khai mạc cần được chuẩn bị trang trọng, ngắn gọn, súc tích, nêu được mục đích, ý nghĩa của việc bầu cử.

- Đọc nội quy phòng bỏ phiếu.

- Kiểm tra hòm phiếu chính, hòm phiếu phụ trước sự chứng kiến của cử tri; mời 02 cử tri không phải là người có tên trong danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân tại đơn vị bầu cử nơi có khu vực bỏ phiếu chứng kiến việc kiểm tra hòm phiếu, sau đó niêm phong hòm phiếu chính, hòm phiếu phụ theo quy định.

- Sau khi thực hiện thủ tục niêm phong hòm phiếu, Tổ trưởng Tổ bầu cử tuyên bố cuộc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 bắt đầu./.


Nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược: Tiền đề quan trọng cho sự phát triển của đất nước

Văn hóa chính trị là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa, kết tinh trong đó tri thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng, biểu hiện qua thái độ, hành vi, năng lực hoạt động chính trị của chủ thể chính trị. Trong văn hóa chính trị, cán bộ lãnh đạo là một chủ thể quan trọng. Không thể trở thành nhà lãnh đạo có kinh nghiệm, bản lĩnh, sáng suốt và trí tuệ trong thực tiễn chính trị đất nước nếu không có nguồn lực văn hóa chính trị dồi dào. Do vậy, nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ cấp chiến lược nói riêng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược là những người giữ cương vị chủ chốt trong hệ thống các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội có chức năng, nhiệm vụ đề ra đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện theo phạm vi lãnh đạo của mình; đồng thời, là người lãnh đạo, quản lý toàn diện tổ chức mà họ phụ trách, bảo đảm cho tổ chức đó hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ chính trị được phân công. Trong bài viết Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới nhân dịp chuẩn bị tiến hành đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh việc cần phải thấm nhuần di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”; đồng thời, Người đứng đầu Đảng và Nhà nước khẳng định mạnh mẽ: “công tác tổ chức, cán bộ phải là điểm đột phá”, là “then chốt” của nhiệm vụ “then chốt”, liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Phải hết sức chú trọng xây dựng và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; chức vụ càng cao càng phải gương mẫu(1). Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ, mức độ đúng đắn của đường lối, việc cụ thể hóa đường lối chính xác, kịp thời cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thắng lợi đều phụ thuộc ở chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Vai trò và vị trí đó được quy định bởi các đặc điểm quan trọng: 1- Đây là đội ngũ xây dựng, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; 2- Phạm vi, đối tượng tác động và phương thức hoạt động của họ là rộng lớn, đa dạng và phức tạp; 3- Đạo đức, tác phong, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có ảnh hưởng to lớn đến quyết định, hiệu quả hoạt động tổ chức, cơ quan, đơn vị, rộng hơn là của quốc gia - dân tộc. Xuất phát từ bài học của truyền thống văn hóa chính trị Việt Nam về tôn trọng và sử dụng hiền tài trong việc trị nước. Trong lịch sử Việt Nam, việc dùng người và sử dụng nhân tài vào các công việc nhà nước bao giờ cũng giữ một vị trí trọng yếu. Xây dựng đội ngũ quan lại là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi triều đại phong kiến. Các quan lại được gọi là sĩ đại phu (người có chức tước) có địa vị và thứ bậc cao trong cơ cấu tổ chức xã hội, là những người lãnh trọng trách cai trị đất nước và quản lý nhân dân. Vì thế, để được đứng vào hàng ngũ quan lại đòi hỏi những tiêu chuẩn rất cao về trí tuệ và đạo đức, phải là những hiền sĩ để cai trị và giáo hóa thiên hạ. Tổng kết di sản của cha ông về việc dùng người dưới chế độ phong kiến, các nhà sử học đã rút ra một quy luật, có thể trình bày dưới dạng một hằng đẳng thức: “Minh quân (minh chúa) + hiền tài = nước nhà thịnh trị, nhân dân no ấm, yên vui, tiếng thơm muôn thuở để lại trong sử sách và trong lòng người. Bạo quân (bạo chúa) + nịnh thần = nhà nước suy vi, nhân dân đói rách, lầm than, tiếng xấu muôn đời để lại trong sử sách và trong lòng người”(2). Quan điểm “chiêu hiền đãi sĩ” trong lịch sử thực chất là chính sách dùng người hiền tài với cả hệ thống quan niệm và ứng xử kiên trì, tế nhị, bao gồm phát hiện nhân tài, chân thành tha thiết cầu người hiền tài, tiến hiền, treo bảng cầu hiền, tin tưởng vào hiền tài với tầm nhìn xa trông rộng. Từ truyền thống đó, dân tộc ta đã sản sinh ra nhiều người con ưu tú, với hiểu biết phong phú và sâu sắc, có tinh thần dấn thân hành động, biết hy sinh bản ngã trong niềm vui chung của cộng đồng dân tộc rộng lớn. Đó là một nhân tố quan trọng cho sự tiến bộ xã hội được lịch sử thừa nhận và tôn vinh. Xuất phát từ thực trạng chung về văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược ở nước ta hiện nay Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới là kết quả của sự kiên định và vững vàng về lựa chọn chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, dám đối mặt với sai lầm, khuyết điểm, quyết tâm đổi mới dựa trên nguyên tắc, theo đuổi đến cùng mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đó đã cho thấy ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược tinh thần năng động, sáng tạo, ý thức tự lực tự cường, tự tôn dân tộc, vượt lên khó khăn, thách thức để đưa đất nước sớm thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, góp phần hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng và củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng. Mặc dù bị tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự đảo lộn của nhiều thang bậc hệ giá trị xã hội, nhưng số đông cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược vẫn biết bảo toàn, tôn vinh, không ngừng bồi đắp những phẩm chất đạo đức cách mạng của người cộng sản chân chính. Tuy nhiên, cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay, xét về văn hóa chính trị, còn có mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ cách mạng mới. Thậm chí, một bộ phận không nhỏ còn có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm biến dạng hệ thống giá trị và những tiêu chuẩn đích thực của người cán bộ lãnh đạo, gây tác hại không nhỏ cho việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng. Ngày càng nhiều cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược trẻ tuổi sinh ra và trưởng thành sau thời kỳ chiến tranh, ưu điểm nổi bật là năng động, sáng tạo; song, điểm yếu là chưa có độ nhạy cảm chính trị cao, chưa đủ chiều sâu trong nhận thức và vững lập trường với con đường xã hội chủ nghĩa. Đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng; kinh tế tri thức, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường đang đưa lại cho đất nước những thời cơ, thuận lợi và cả những khó khăn, thách thức đan xen nhau. Cách mạng Việt Nam đang ở thời kỳ chuyển đổi mạnh mẽ. Để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi, điều cốt tử và quan trọng nhất chính là coi trọng và phát huy cao độ nhân tố con người Việt Nam nhằm tạo động lực cho sự phát triển toàn diện đất nước. Chúng ta, những con người đang sống trong một môi trường biến động cao độ, không thể là những nhân chứng thụ động; dù muốn hay không cũng phải đối mặt với những vấn đề liên quan đến tư duy về tương lai phát triển của dân tộc và nhân loại. Tốc độ biến đổi của lịch sử sẽ diễn ra nhanh hơn, bất ngờ hơn, căng thẳng hơn, áp lực đè nặng sẽ thường xuyên hơn. Thời đại mới đòi hỏi những nhân tố lãnh đạo mới với một nguồn lực văn hóa chính trị thật dồi dào và giàu năng lực tiếp biến hơn.

Phương hướng và giải pháp nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược ở nước ta hiện nay

Về phương hướng Phương hướng nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược nước ta hiện nay là hướng đến xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu và trung thành tuyệt đối với lý tưởng của giai cấp công nhân và dân tộc; có trình độ kiến thức, năng lực toàn diện, vừa rộng, vừa sâu và thể hiện bằng hiệu quả, kết quả thực tế; có khả năng nắm bắt và xử lý thông tin, nắm bắt được các quy luật kinh tế - xã hội, biết vận dụng các quy luật đó trong lãnh đạo, quản lý ở từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; đồng thời, là người có phong cách lãnh đạo, có khả năng liên kết và quy tụ nhân dân, phát huy được tinh thần lạc quan và nhiệt tình xã hội, thật sự tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phương hướng đó chính là sự tổng hợp những yêu cầu về văn hóa chính trị, những chuẩn mực giá trị mà cộng đồng xã hội đòi hỏi, kỳ vọng ở người cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, được cụ thể hóa trên các mặt: 1- Năng lực hoạt động chính trị, với các yếu tố cấu thành, như trình độ giác ngộ, lý tưởng, niềm tin, bản lĩnh chính trị; năng lực tư duy, trí tuệ; năng lực ra quyết định lãnh đạo; năng lực phát huy nguồn nhân lực và sử dụng người tài trí; khoa học, nghệ thuật và kinh nghiệm hoạt động chính trị; 2- Đạo đức cách mạng, với các chuẩn mực chủ yếu, như nguyện suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính; nhân, nghĩa, trí, dũng, tín; đặt sự nghiệp cách mạng của Đảng, lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết, chống chủ nghĩa cá nhân và các thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra; thường xuyên tu dưỡng và thực hiện trách nhiệm nêu gương; 3- Phong cách lãnh đạo, với các đặc trưng cơ bản: Sự thống nhất giữa tính đảng, tính nguyên tắc cao với tính năng động, sáng tạo, nhạy cảm với cái mới; sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng với tính trung thực, khách quan, khoa học; sự thống nhất giữa cách làm việc tập thể, dân chủ với tính quyết đoán và tinh thần chịu trách nhiệm cá nhân; lý luận gắn liền với thực tiễn, lời nói nhất quán với việc làm; thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân; là hình mẫu về sự ứng xử văn hóa trong môi trường chính trị. Một số giải pháp cơ bản Một là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược cần gắn liền với việc nâng cao kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư­ tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đã lựa chọn đúng cán bộ còn cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ”(3). Lý luận đóng vai trò quan trọng, vì đó là hệ thống tư tưởng chủ đạo được hình thành trên cơ sở tổng hợp các tri thức và kinh nghiệm của loài người tích lũy được trong quá trình lịch sử. Lý luận được đem ra giáo dục cho cán bộ lãnh đạo nước ta là lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lý luận liên quan trực tiếp tới sự lãnh đạo của Đảng, tới việc củng cố lập trường và nhân sinh quan cộng sản của người cán bộ lãnh đạo. Học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là học tập tinh thần, lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra, nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, đặc biệt là khả năng tập hợp, thuyết phục và cổ vũ quần chúng. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là học lý luận mà còn là học tập phương pháp, phong cách, đạo đức, lối sống của Người. Đối với người cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược nước ta, việc không ngừng nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác  - Lê-nin là một điều kiện cơ bản để nâng cao trình độ lý luận, khả năng công tác và đạo đức cách mạng - điều kiện cơ bản để nâng cao văn hóa chính trị. Hai là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược phải gắn liền với việc nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. Nắm vững Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng chính là cơ sở chủ yếu để nâng cao văn hóa chính trị. Cương lĩnh chính trị xác định mục tiêu chủ yếu, con đường và những phương pháp chủ yếu trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, của Đảng và của các lực lượng cách mạng ở một giai đoạn tương đối dài. Nó cũng chỉ ra những động lực, hình thức, phương tiện chủ yếu để đạt được những mục tiêu chiến lược trong những giai đoạn chiến lược cách mạng. Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược cần nắm vững cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ vững tính kiên định chính trị, có khả năng đề ra và thực hiện những chủ trương, chính sách trên các lĩnh vực cụ thể thì mới có thể kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, mới có cơ sở vững chắc để nâng cao phẩm chất và năng lực của người cán bộ lãnh đạo chính trị. Bất kỳ một sự dao động, nghiêng ngả hoặc tính toán sai lầm nào trong những vấn đề thuộc về nguyên tắc của Đảng đều có thể dẫn đến sự suy thoái không chỉ về văn hóa chính trị của cá nhân người cán bộ lãnh đạo, mà còn gây hại lớn cho chế độ và đất nước. Ba là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược cần gắn liền với việc trang bị những kiến thức cơ bản về chính trị học và khoa học lãnh đạo. Đất nước đang phải đối diện với nhiều nhiệm vụ quan trọng: Tiếp tục phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị và thực hiện dân chủ hóa mạnh mẽ đời sống xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, bùng nổ thông tin; cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phòng, chống thiên tai, địch họa, cuộc đấu tranh tư tưởng và chính trị trên quy mô toàn thế giới ngày càng phức tạp và tinh vi,... Muốn giải quyết đúng đắn những vấn đề chính trị thực tiễn hết sức phức tạp hiện nay, chính trị cần phải dựa chắc trên những luận cứ chính xác của khoa học. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo cần được trang bị những kiến thức khoa học, có hệ thống về chính trị, chứ không thể bằng lòng hoặc dừng lại ở tầm hiểu biết của trình độ kinh nghiệm. Khoa học lãnh đạo phải trang bị kiến thức và kỹ năng cho người cán bộ nắm bắt và phân tích kịp thời những sự kiện, quá trình và tình huống chính trị cụ thể, khả năng phân tích tâm trạng, thái độ, phản ứng chính trị ở các đối tượng khác nhau trong những thời điểm khác nhau để có những quyết sách tương ứng và kịp thời, phù hợp. Thực tế cho thấy là, nếu thiếu những kiến thức và kỹ năng hành động chính trị cụ thể do khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo đem lại, người cán bộ lãnh đạo có thể rất lúng túng trước các tình huống chính trị phức tạp và tế nhị đòi hỏi phải ứng xử nhanh nhạy, chính xác. Bốn là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược gắn liền với việc rèn luyện đạo đức, lối sống và phát huy tính tích cực chính trị của chính chủ thể này. Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược phải là những người tiêu biểu về đạo đức và thực hành đạo đức cách mạng để trở thành chỗ dựa và củng cố niềm tin của nhân dân; nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức; chức vụ càng cao thì lại càng phải gương mẫu. Kết hợp giữa tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thượng tôn pháp luật, xây dựng Đảng nghiêm minh với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân. Là những người tiêu biểu về tính tích cực chính trị, cán bộ cấp chiến lược cần không ngừng học tập, mở rộng tầm nhìn, đổi mới tư duy và coi trọng khổ luyện. Để đạt được một nền tảng trí tuệ vững chắc cùng với một phẩm chất cao đẹp thì người cán bộ phải trải qua quá trình gian nan rèn luyện và phấn đấu không ngừng. Người lãnh đạo trước hết phải biết cách thông qua tự lãnh đạo để nắm vững mình; rồi sau đó, mới trở thành cội nguồn phát triển của tổ chức và xã hội. Năm là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược phải gắn liền với việc nâng cao trình độ văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân. Một mặt, nâng cao văn hóa chính trị của nhân dân nhằm lôi cuốn mọi người dân vào hoạt động chính trị - xã hội, phát triển tính tích cực chính trị, sự phản xạ và hưởng ứng nhanh chóng với các phong trào cách mạng, những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đề ra. Trình độ văn hóa chính trị của nhân dân là một thước đo về hiệu quả hoạt động chính trị của những người lãnh đạo hết lòng vì quyền lợi của nhân dân. Mặt khác, chỉ có dựa trên một nền tảng được bảo đảm về văn hóa chính trị của nhân dân thì việc nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo mới có cơ sở thực tế để tiến hành. Khi trình độ văn hóa chính trị của nhân dân được nâng cao sẽ đặt ra yêu cầu bức thiết đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo phải có bước trưởng thành cao hơn, vì tư cách của họ là chủ thể lãnh đạo mang tính tiền phong, dẫn đường. Một quốc gia - dân tộc có nền văn hóa chính trị cao biểu hiện trước hết ở trình độ văn hóa chính trị phổ quát của nhân dân và tầm cao văn hóa trí tuệ của những đại biểu ưu tú xuất hiện trên cái nền tảng phổ quát ấy. Sáu là, nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược phải luôn gắn liền với việc đổi mới công tác cán bộ của Đảng. Công tác cán bộ là một phương diện lãnh đạo chủ yếu và quan trọng của Đảng. Chất lượng công tác cán bộ tác động trực tiếp, nhiều mặt đến đời sống và sự nghiệp của người cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công xây dựng và rèn luyện các thế hệ cán bộ kế tiếp nhau đảm đương và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Trong thời kỳ đổi mới, so với những yêu cầu, nhiệm vụ chính trị đặt ra, đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược nước ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cả về phẩm chất và năng lực. Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là công tác cán bộ còn chưa chủ động, nhạy bén; thiếu một chiến lược cán bộ, chiến lược nhân tài tổng thể; hệ thống chính sách cán bộ thiếu đồng bộ; việc quán triệt các quan điểm và nguyên tắc cơ bản của Đảng về công tác cán bộ chưa đầy đủ và sâu sắc. Do vậy, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ của Đảng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng là điều kiện quyết định chuẩn bị cho Đảng và dân tộc bước vào giai đoạn phát triển mới, giành được những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược ở nước ta hiện nay chính là sự quán triệt tư tưởng, tầm nhìn xa và kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự thống nhất nhuần nhuyễn giữa đức và tài trong hoạt động chính trị thực tiễn, trong một cấu trúc nhân cách sống động của người cán bộ cách mạng. Đó là cơ sở tạo lập uy tín với tư cách là tài sản vô hình quan trọng nhất, là tiêu chuẩn tổng hợp về phẩm chất và năng lực nằm sâu trong trái tim và khối óc của người cán bộ lãnh đạo. Phẩm chất văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược của Đảng phản ánh trình độ, phẩm chất và năng lực cầm quyền của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam đang quyết tâm đổi mới không ngừng để luôn thực hiện đúng tinh thần lời dạy của V.I. Lê-nin và Hồ Chí Minh: “Đảng là trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”, “là đạo đức, là văn minh”. Toàn thể cán bộ, đảng viên, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược phải ra sức phấn đấu, không ngừng nâng cao văn hóa chính trị để thực sự xứng đáng là thành viên của một Đảng như thế./.

Giải pháp nâng cao văn hóa chính trị cho cán bộ chủ chốt hiện nay

Để xây dựng văn hóa chính trị, nâng cao phẩm chất, năng lực và uy tín cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau: Một là, phát huy vai trò của cấp ủy các cấp, tổ chức đảng trong nâng cao văn hóa chính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Cấp ủy các cấp, tổ chức đảng, với tư cách là chủ thể trực tiếp của quá trình bồi dưỡng, nâng cao văn hóa chính trị cho đơn vị, cần có nhận thức đúng đắn về nội dung này để làm cơ sở cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện bảo đảm hiệu quả; thường xuyên làm tốt công tác quán triệt, giáo dục để các tổ chức, các lực lượng trong từng cơ quan, đơn vị nhận thức rõ thực trạng, đề ra yêu cầu, giải pháp nâng cao trình độ văn hóa chính trị cho họ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, những việc làm sai trái, thiếu trách nhiệm trong xây dựng, nâng cao văn hóa chính trị ở cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, điều chỉnh những nhận thức lệch lạc và việc làm, hành vi không đúng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên để xây dựng văn hóa chính trị; thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo cán bộ và trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên; nội dung xây dựng văn hóa chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; thông qua sinh hoạt, hội họp, phân công nhiệm vụ để giáo dục cho cán bộ, đảng viên. Hai là, nâng cao trình độ tri thức về mọi mặt, đặc biệt về tri thức chính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Chính trị là một lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi con người khi tham gia vào đời sống chính trị, hoạt động chính trị phải có những tri thức và sự hiểu biết toàn diện, đúng đắn và sâu sắc về nó. V.I. Lê-nin đặc biệt coi trọng vai trò của tri thức chính trị trong hoạt động chính trị và khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(4); “một người không biết chữ là người đứng ngoài chính trị”(5). Đối với tổ chức đảng của giai cấp công nhân, V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(6); hay “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng trí thức mà nhân loại đã tạo ra”(7). Chỉ có thông qua rèn luyện trong thực tiễn và học tập tri thức của nhân loại mới tạo ra được điều kiện hướng tới phát huy toàn diện năng lực, phẩm chất chính trị và nâng cao trình độ văn hóa chính trị của cán bộ. Tri thức chính trị của cán bộ lãnh đạo chủ chốt có vai trò định hướng cho các hoạt động trên những lĩnh vực chính trị và xã hội. Trang bị tri thức chính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt cần tập trung vào nâng cao hiểu biết, nhận thức về lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tri thức về chính trị, tri thức về lãnh đạo, quản lý… Đó là những giá trị, tri thức cốt lõi của văn hóa chính trị để cán bộ, đảng viên có cơ sở vững chắc trong nhận thức đầy đủ những đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ba là, nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở nước ta hiện nay. Cán bộ, chiến sĩ Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc giúp bà con nông dân thu hoạch lúa bị ngập úng_Ảnh: TTXVN Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(8). Theo Người, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là giá trị văn hóa cốt lõi của chính trị. Đạo đức chính là nhân tố cơ bản cấu thành nhân cách chính trị của cán bộ, đảng viên. Đạo đức cách mạng bắt nguồn từ bản chất cách mạng, khoa học và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; trong cuộc đấu tranh xóa bỏ giai cấp bóc lột, chế độ bóc lột, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Đạo đức cách mạng là sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị nhằm giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại. Để làm tròn trách nhiệm phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân, người cách mạng nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói riêng phải luôn nỗ lực phấn đấu, thường xuyên nâng cao đạo đức cách mạng; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để “làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(9). Bốn là, nâng cao trình độ năng lực ra quyết định lãnh đạo, điều hành của cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Việc đưa ra quyết định thể hiện năng lực, bản lĩnh chính trị cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Đây được xem là khâu cốt lõi, quan trọng nhất của quá trình chính trị, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Do đó, các quyết định mà cán bộ lãnh đạo chủ chốt đưa ra phải luôn phù hợp với sự vận động của thực tiễn, nhanh chóng, kịp thời, theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó phải là những quyết định khoa học, sáng tạo, kịp thời, đúng đắn, bắt nguồn từ thực tiễn, chứ không phải là những quyết định mang tính cá nhân, trục lợi, dẫn đến “lợi ích nhóm”. Khi ban hành quyết định, phải có tầm nhìn xa, chiến lược, nắm vững chân lý và xu hướng lịch sử để nắm lấy thời cơ, đưa ra quyết định hợp lý; và “phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”(10). Thực tế tác động của hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và mặt trái của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cần phải xử lý. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải nâng cao năng lực ra quyết định và uy tín, giá trị của quyết định. Đó là thước đo trình độ văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo chủ chốt hiện nay. Cần có cơ chế kiểm soát quyền lực đi đôi với bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, biết làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Năm là, chú trọng công tác xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Công tác xây dựng, tạo nguồn cán bộ chất lượng có vai trò quan trọng, quyết định đến văn hóa chính trị của Đảng, Nhà nước nói chung và đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói riêng. Bởi lẽ, chủ thể chính trị là con người; uy tín chính trị của Đảng, Nhà nước, hiệu quả hoạt động của bộ máy phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó, trong công tác cán bộ, cần phải nhanh chóng khắc phục được một số hạn chế, yếu kém, như “việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây búc xúc trong dư luận xã hội”(11). Tình trạng trên, nếu không được khắc phục, sẽ làm cho hoạt động của bộ máy chính trị bị suy thoái về văn hóa chính trị, quan liêu, xa dân, vi phạm dân chủ, lạm dụng quyền lực, không kiểm soát được quyền lực, chạy chức, chạy quyền,... Vì vậy, công tác cán bộ phải được nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng, có tính hệ thống và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng để phát hiện được những cán bộ có trí tuệ, tầm nhìn xa, tư duy chiến lược, có óc tổ chức, quyết đoán và có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức chính trị tốt, góp phần đưa nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, thực hiện khát vọng phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Văn hóa chính trị: Phẩm chất quan trọng đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt

Văn hóa chính trị nói chung là tổng thể những giá trị được hình thành trong thực tiễn chính trị, thể hiện nhận thức, lý tưởng - niềm tin chính trị và cách thức tham gia vào đời sống chính trị của các chủ thể, hướng tới tiêu chí chân, thiện, mỹ. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan đảng, chính quyền, ban, ngành, các đoàn thể chính trị - xã hội là những người lãnh đạo thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vào thực tiễn đời sống; đồng thời, họ cũng là người quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, cho nên những hoạt động của họ rất cần sự nêu gương gắn với nền tảng văn hóa chính trị tương xứng, phù hợp với yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ. Văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở nước ta là sự kết tinh toàn bộ các giá trị phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, nhân cách chính trị; biểu hiện ở các chuẩn mực xã hội, ở trình độ và năng lực nhận thức chính trị trên từng cương vị, trong từng lĩnh vực công tác mà họ được phân công lãnh đạo, quản lý, điều hành. Hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng và sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội, làm thay đổi tác phong công tác của đội ngũ cán bộ các cấp. Song, cùng với đó là những tác động tiêu cực gây ra không ít hệ lụy. Trước tình hình trên, Đảng ta xác định một trong những giải pháp quan trọng là: “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(1). Vì vậy, xây dựng văn hóa chính trị cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở nước ta là vấn đề có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.

Tác động của hội nhập quốc tế, mặt trái của nền kinh tế thị trường tới văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt

Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu khách quan, lôi cuốn tất cả các quốc gia trên thế giới tham gia vào “sân chơi chung” và tác động sâu rộng tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến sự vận động, phát triển của mọi dân tộc. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng và nhân dân ta luôn chủ động, tích cực hội nhập trên các lĩnh vực và điều này được thể hiện rõ trong định hướng chiến lược nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Hội nhập quốc tế bao hàm những yếu tố tích cực, khách quan và là điều kiện thuận lợi đối với quá trình xây dựng văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Về nhận thức, cán bộ, đảng viên tiếp thu những thành tựu to lớn của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; có điều kiện học hỏi, nâng cao trình độ, tiếp thu, trao đổi kinh nghiệm quản lý của thế giới, đặc biệt là những tri thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; điều đó làm cho đội ngũ cán bộ trở nên năng động, linh hoạt, có khả năng tiếp thu tinh hoa khoa học chính trị của thế giới để áp dụng vào trong lãnh đạo, quản lý trên cương vị đảm nhiệm. Về mặt trình độ, cán bộ, đảng viên có điều kiện nâng cao nhận thức về chính trị; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được chuẩn hóa; nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin và hoàn thiện năng lực làm việc trong môi trường quốc tế; tính chuyên nghiệp, minh bạch trong hoạt động lãnh đạo, quản lý được nâng lên… Về tư duy, quá trình hội nhập quốc tế giúp đội ngũ cán bộ mở rộng tầm nhìn mang tính toàn diện về những thuận lợi và khó khăn, những thời cơ và thách thức; có tính sáng tạo trong tư duy chiến lược, nhạy bén, thích ứng nhanh; có khả năng dự báo trong môi trường quốc tế thay đổi nhanh chóng và khó lường như hiện nay. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vận hành theo các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường, có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng, nhằm bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, nâng cao đời sống nhân dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đặc biệt sau 35 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã tác động tích cực đến đội ngũ cán bộ chủ chốt về tác phong, tư duy, năng lực quản trị kinh tế hiện đại. Tuy nhiên, tiến trình hội nhập quốc tế cũng có những tác động tiêu cực, khiến cho chủ thể hoạt động chính trị dễ bị dao động về nhận thức chính trị khi tiếp xúc với đa dạng các quan điểm chính trị phi mác-xít, dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống văn hóa phương Tây; bị lôi kéo, mua chuộc bởi chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tăng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ… Đó là những hệ lụy trái với bản chất văn hóa chính trị của giai cấp công nhân và những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Mặt trái của nền kinh tế thị trường làm cho một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt dễ bị sa ngã, bị cám dỗ trước đồng tiền, quyền lực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Thời gian qua, nhiều vụ, việc vi phạm phải xử lý kỷ luật đối với cán bộ rơi vào những lãnh đạo có vị trí chủ chốt trong các cơ quan, đơn vị, địa phương, do tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định, vi phạm về đạo đức, lối sống… Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật”(2). Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý, cả đương chức và đã nghỉ hưu. Trong đó, có 3 Ủy viên Bộ Chính trị, 1 nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 7 Ủy viên Trung ương Đảng, 16 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 1 bộ trưởng và 4 nguyên bộ trưởng; 22 thứ trưởng và nguyên thứ trưởng; 12 bí thư và nguyên bí thư tỉnh, thành ủy; 3 phó bí thư và nguyên phó bí thư tỉnh ủy; 15 chủ tịch và nguyên chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; 26 sĩ quan cấp tướng trong Quân đội, Công an(3)... Những tiêu cực đó đã tạo lực cản đối với sự phát triển của đất nước, làm sụt giảm niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan công quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.