Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan

 

    Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

    Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

    Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

    


Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam.

 


Các thế lực thù địch vẫn đang chống phá Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; chủ trương từng bước diễn biến và tự diễn biến; chúng xác định mũi tiến công về dân tộc, tôn giáo là “ngòi nổ” của toàn bộ chiến lược; tiến công về dân chủ, nhân quyền để gây rối, kích động, bóp méo kết hợp với răn đe, uy hiếp về quân sự. Do đó, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch luôn gắn liền và thống nhất trong quá trình giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TƯ TƯỞNG, GIỌNG ĐIỆU LẠC LÕNG VỚI SỰ HY SINH TÍNH MẠNG CỦA NHỮNG CÁ NHÂN TIÊN TIẾN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI!

 SÂN SI VỚI ANH HÙNG


Thú thực, là một bộ phận cộng đồng mạng rất tàn nhẫn và vô tâm.

Hôm trước đọc ở đâu đó một bài viết về sự ra đi của bạn sinh viên Nguyễn Văn Nhã sau khi cứu 4 bạn nữ sinh viên khỏi tay của “thần biển”, có một vài bình luận nói rằng, sự ra đi của Nhã là một sự hi sinh đầy bao đồng, để lại một khoảng trống mênh mông trong lòng bố mẹ và gia đình, còn những người được cứu chưa chắc đã biết ơn và họ sẽ nhanh chóng quên đi để sống tiếp. Có một vài người độc mồm hơn, nói Nhã là một người “bất hiếu với gia đình”, chữ “hiếu” là nặng nhất mà bạn Nhã lại không làm tròn được.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị chính quyền cơ sở công nhận bạn là một liệt sĩ. Thì có một vài bình luận, tại một số diễn đàn hóng biến, nói rằng việc công nhận liệt sĩ chỉ dành cho quân nhân khi làm nhiệm vụ, không dành cho dân thường, rồi chính quyền sử dụng danh hiệu ấy tràn lan, dùng để tuyên truyền là chính. Nhưng họ không biết rằng, tại Điều 11, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng sửa đổi 2012 có ghi rõ, người được phong tặng danh hiệu liệt sĩ nếu họ “dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân”. Tại một trang báo chí phản động, còn giật một tiêu đề rất bố láo: “Người hùng chết đuối còn chính quyền treo huy chương tuyên truyền”, và một đám người được thế lao vào hạ thấp sự ra đi của bạn Nhã.

Tối qua, ĐH Huế làm lễ tưởng niệm và vinh bạn Nhã ngay tại khuôn viên trường, nơi mà người anh hùng của chúng ta đã gắn bó trong mấy năm học. Cả nhà trường và gia đình đều có nguyện vọng tấm bằng tốt nghiệp sẽ xuất hiện trên ban thờ của bạn ấy. Vậy mà, tự dưng khi đang cảm động và lại bị nghẹn, khi xuất hiện một vài ý kiến cho rằng trường và các bạn sinh viên làm màu, không lo chống dịch mà lại tập trung đông, người mất rồi thì hỗ trợ tiền hay làm gì thiết thực hơn đi (?)

Đã rất nhiều lần, có những sự phán xét rất lạ kỳ, hay đúng hơn là rất dở hơi của một bộ phận cộng đồng mạng lại xảy ra, từ câu chuyện của anh Trần Văn Tròn cứu 3 em học sinh, rồi vụ việc anh Mạnh cứu cháu bé rơi từ trên tầng cao xuống… Họ dường như là luôn muốn hạ thấp những việc mà người khác làm, cho dù những việc đó cao thượng thế nào đi chăng nữa. Điều gì khiến một số người trong cộng động làm vậy? Dân trí kém? Hay vì một điều gì khác?

Xin mượn một đoạn văn từ BEATVN: “Có người hỏi rằng khi quyết định xả thân cứu người, họ có nghĩ gì không? Có biết sẽ nguy hiểm ra sao? Phải đánh đổi nhường nào không? Rất nhiều giả thuyết phức tạp được đặt ra, nhưng câu trả lời đơn giản lắm: Họ chả nghĩ cái gì hết. Thấy người bị nạn, thì cứu, có vậy thôi. Thời gian đâu mà suy tính thiệt hơn….”

Việc chính quyền xét danh hiệu liệt sĩ cho bạn Nhã là một việc rất phù hợp với pháp luật, đạo đức và dư luận. Việc này nhằm hỗ trợ cho gia đình bạn ấy trong cuộc sống sau này, khuyến khích một lối sống tốt đẹp và là một sự ghi nhận lớn lao về những gì mà bạn ấy đã làm cho người khác. Chứ chẳng phải một mục đích quảng bá hay trục lợi gì cả. Cuộc sống của bạn đen tối và hằn học, nhưng với người khác thì không như vậy, đừng có cố gắng phủ bóng đen suy nghĩ chủ quan bản thân vào người khác.

Dám chắc rằng, với cá nhân bạn Nhã, những chiến sĩ cứu hỏa, hay với bất cứ ai xả thân cứu người, họ sẽ không hề nghĩ đến việc được vinh danh như thế nào, nhận tiền hay hiện vật ra sao. Và với tâm thế của những người như chúng ta, cả những người được cứu sống, việc cần làm là phải vinh danh họ và chỉ duy nhất một điều ấy mà thôi, không xét lại, không đánh giá, không hạ thấp, không moi móc đời tư hay bàn luận về cuộc sống nhiều.

Lỗ Tấn viết: “Người ta chỉ chết hẳn khi họ chết trong lòng những người còn sống”.

Các ngôi sao có thể chết nhiều năm trước khi chúng thực sự biến mất giữa vũ trụ. Phải mất nhiều thời gian để ánh sáng của chúng mờ đi, có nhiều ngôi sao vẫn được chúng ta nhìn thấy ngay cả khi chúng đã lụi tàn. Cuộc sống có thể kết thúc, nhưng ký ức về cuộc sống đó vẫn tiếp tục.

Yêu nước.ST

Nêu cao vai trò của lực lượng vũ trang cùng toàn dân giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

 


Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lực lượng vũ trang là làm nòng cốt cho toàn dân giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung và nhất là các điểm “nóng”, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây chính là thực hiện quyền thiêng liêng của con người, của nhân dân các dân tộc Việt Nam là được sống trong độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh của mình.

Cùng với việc phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong xây dựng các tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân làm kế sách lâu dài để giữ nước. Lực lượng vũ trang cần làm tốt vai trò tiên phong cùng toàn dân giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đồng thời giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn trọng điểm như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ; nhất là đấu tranh phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng, gây rối an ninh trật tự, tạo cớ can thiệp, xâm lược Việt Nam.

Phát huy vai trò tiên phong của lực lượng vũ trang trong tuyên truyền, giáo dục đồng bào các dân tộc về quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xóa các hủ tục lạc hậu, tốn kém; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao dân trí. Giúp đỡ nhân dân xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ con em các dân tộc; phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng dân cư… Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Đổi mới chính sách và phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.

 


Phải có chính sách cụ thể gắn với từng dân tộc, tôn giáo, từng vùng miền, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nét văn hóa; không nên rập khuôn máy móc. Việc di dời dân phục vụ cho các công trình của Nhà nước phải được tính toán kỹ lưỡng, không chỉ là việc chăm lo việc ăn, ở sinh hoạt mà quan trọng hơn là sản xuất, việc làm, điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

Phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa cũng cần phải có phương án tổng thể, cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã hội tạo nên sức mạnh tổng hợp và đỡ thất thoát, lãng phí.

Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cao so với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng gia tăng; trình độ phát triển giữa các vùng có cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng, tỷ lệ tái nghèo cao. Cần phải thay đổi phương thức xóa đói, giảm nghèo ở miền núi, kết hợp sự nỗ lực của mỗi hộ dựa trên thế mạnh của đồi rừng là tự cung, tự cấp, tự trang trải với đầu tư của Nhà nước vào những việc như xóa nhà tạm, cấp nước sinh hoạt và các dịch vụ khác, quan trọng hơn là đường hướng sản xuất để ổn định lâu dài.

Củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là ở vùng miền núi, đồng bào dân tộc, tôn giáo.

 


Hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ các cấp là đại biểu của dân về ý chí, nguyện vọng và lợi ích. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của những yếu tố cấu thành hệ thống chính trị các cấp vừa là nhằm thực hiện dân chủ, quyền con người, quyền của dân tộc, tôn giáo vừa là công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Đổi mới hệ thống chính trị các cấp thực chất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, không phải đổi mới bản chất chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị phải nắm chắc mục đích và nguyên tắc của quá trình đổi mới; một tư tưởng bao trùm là thực hiện quyền lực của nhân dân và mang lại lợi ích cho nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước là người đại diện cho nhân dân, thực thi quyền lực của nhân dân, mang lại lợi ích cho nhân dân. Đội ngũ này phải có phẩm chất và năng lực tốt, thực sự tận tụy phục vụ nhân dân. Trước hết đội ngũ này phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện khắc phục triệt để chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu quần chúng; đề cao phê bình và tự phê bình, chân thành tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, thực sự cầu tiến bộ.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các địa phương vùng núi, vùng đồmg bào dân tộc thiểu số vừa yếu, vừa thiếu. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, có tín ngưỡng tôn giáo là nhiệm vụ cấp bách hiện nay; vừa phải có kế hoạch bổ túc, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa phải đào tạo cơ bản để đáp ứng yêu cầu cơ bản, lâu dài. Chăm lo xây dựng cơ quan, đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo tinh thông về nghiệp vụ, có trách nhiệm cao, gắn bó với đồng bào để làm hạt nhân tham mưu đắc lực cho lãnh đạo, chính quyền giải quyết những vấn đề dân tộc, tôn giáo cụ thể.

Phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh ở miền núi, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo ở Việt Nam hiện nay.

 


Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh ở vùng núi, biên giới, hải đảo là một đòi hỏi khách quan vì đó là những địa bàn sung yếu, phên dậu của Tổ quốc. Phát triển kinh tế - xã hội là giải pháp cơ bản, quyết định nhất, nhưng cũng là một việc làm khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải có sự tích cực vươn lên của chính đồng bào các dân tộc thiểu số và ưu tiên đặc biệt về vật chất, con người, khoa học công nghệ… của Nhà nước.

Hoàn thiện và củng cố cơ sở hạ tầng; tạo sự thông thương dễ dàng miền ngược và miền suôi, giữa các vùng núi với nhau, giữa Việt Nam với các nước láng giềng, tạo dựng hành lang cho sự phát triển. Phát huy thế mạnh của kinh tế vùng, đồi, rừng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất hướng ra thi trường, xuất khẩu; xóa bỏ các hủ tục lạc hậu như du canh, du cư, ổn định đời sống cho nhân dân; có chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân.

Đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề có ý nghĩa hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực con em các dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ; mở mang hệ thống các trường tiểu học, gắn với thôn bản, tăng số lượng các trường dân tộc nội trú, thêm các trường khu vực và cả Trung ương giành tiền cho con em các dân tộc; xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên là con em các dân tộc, có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với đội ngũ này và học sinh, sinh viên.

Xây dựng các đồn biên phòng, các đoàn kinh tế quốc phòng vững mạnh, làm hạt nhân cho việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng ở vùng núi, biên giới, hải đảo; thu hút con em các dân tộc thiểu số vào các đơn vị này; tham gia có hiệu quả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương; cùng với địa phương xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận lòng dân vững chắc.

Đấu tranh có hiệu quả với những hiện tượng xâm phạm biên giới, buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em, buôn lậu; các hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan. Ma tang, cưới xin tốn kém tốn không ít tiền bạc của đồng bào; phát triển mạnh các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe của nhân dân; mở mang các điểm văn hóa xã, thôn, bản, các lễ hội văn hóa…thu hút đồng bào nâng cao nhận thức, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay.

 


Đây là giải pháp cơ bản vừa mang tính cấp bách, vừa phải kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Cần phải tích cực tiến hành bằng nhiều nội dung, hình thức. phương pháp phong phú làm cho nhân dân hiểu những nội dung cốt lõi về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng của các thế lực thù địch về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Tuyên truyền, giáo dục chung đồng thời, trú trọng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng bào vùng núi, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn giáo; những nhóm đối tượng đặc thù; những nội dung phức tạp, nhạy cảm; những thời điểm thu hút sự quan tâm của nhiều người.

Kết hợp nhiều kênh thông tin cả Trung ương, địa phương và cơ sở; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, hạt nhân nòng cốt, người có uy tín trước cộng đồng, nhất là ở cơ sở, bám sát diễn biến nhận thức, tâm lý, tình cảm của nhân dân, tuyên truyền những nội dung thiết thực, hiệu quả định hướng tư tưởng và hành động của nhân dân.

Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền giáo dục với đấu tranh chống những nhận thức tư tưởng lệch lạc; chống mọi biểu hiện vi phạm quyền con người, quyền, lợi ích của nhân dân, quyền bình đẳng, tự quyết dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; chống mọi biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan bất chấp kỷ cương, pháp luật; đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những vấn đề trên để chống phá cách mạng, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Quan điểm của Việt Nam về nhân quyền

 


 Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Mỗi quốc gia khi tham gia các công ước quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất định về nghĩa vụ và trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người mang tính toàn cầu.

 Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất. Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được trong độc lập dân tộc. Vì vậy, không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ quyền", chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.

Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các vấn đề cụ thể. Quyền con người là một giá trị phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng nhưng mang tính đặc thù với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo và những đặc điểm riêng khác. Đảng và Nhà nước Việt Nam thừa nhận và tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng trong việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Con người sinh ra vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp luật. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu giai cấp.

 Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật bảo hộ. Đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện.Quyền con người, quyền công dân khi được hiến pháp, pháp luật ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước cao nhất.

Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đón tiếp, đối thoại và hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm tìm hiểu tình hình thực tế và trao đổi ý kiến về các lĩnh vực liên quan đến các quyền con người trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


 Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; góp phần quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hoạt động tự quản cộng đồng; xây dựng quản lý thụ hưởng văn hóa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại dến quyền làm chủ của nhân dân.

 

Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam

 


Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.

Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của hiến pháp và pháp luật.

Cần xử lý nghiêm những cá nhân tung tin thất thiệt về dịch Covid-19

    Trước tình hình dịch bệnh phức tạp hiện nay, cả nước đang chung tay phòng chống và tiến tới đẩy lùi dịch bệnh. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật về dịch Covid-19 khiến người dân, cộng đồng hoang mang, lo lắng. Điển hình là một chủ tài khoản Facebook có hàng hàng trăm ngàn người theo dõi ở Huế. Trước đó, trên trang tương tác Hue-S, người dân phản ánh tài khoản Facebook THỪA THIÊN HUẾ đã đăng thông tin các cá lây nhiễm Covid-19 không có địa điểm, địa chỉ cụ thể, rõ ràng gây hoang mang cho cộng đồng.
    Cụ thể, ngày 19/4, trang này đăng nội dung: “Chiều nay: 45 ca mắc mới, trong đó có 5 ca lây nhiễm từ 1 ca đã hoàn thành cách ly sau nhập cảnh và 39 ca được cách ly ngay khi nhập cảnh”.  
    Thanh tra Sở TT&TT tỉnh TT-Huế phối hợp với Phòng PA05 (Công an tỉnh TT-Huế) vào cuộc kiểm tra, xác định chủ trang Facebook nói trên là của ông Lê Quang H. (trú tại đường Nguyễn Huệ, TP Huế).
    Làm việc với cơ quan chức năng, ông H. thừa nhận trang facebook THỪA THIÊN HUẾ do mình lập và quản trị; đã đăng tải và chia sẻ nội dung thông tin không rõ ràng, cụ thể địa điểm xảy ra dịch bệnh Covid-19.
    Căn cứ Nghị định 15 của Chính phủ quy định xử phạt về vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, Thanh tra sở TT&TT tỉnh TT-Huế đã ra quyết định xử phạt ông H. số tiền 5 triệu đồng.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

 


 Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn.

Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện  chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc và tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện Chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ yếu thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; đồng thời là lực lượng chủ yếu nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để  tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và trực tiếp chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề phức tạp của dân tộc và tôn giáo, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo ở Việt Nam là công tác vận động quần chúng

 


Sở dĩ Việt Nam khẳng định nội dung cốt lõi của chính sách dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng, bởi lẽ: Các dân tộc, tôn giáo là lực lượng to lớn của cách mạng, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng trong cộng đồng các dân tộc và trong các tín đồ tôn giáo sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế thời gian qua ở Việt Nam đã thực hiện tốt công tác này. Từ hệ thống chính trị, mọi cán bộ, đảng viên, các cấp các ngành và toàn dân đã thực hiện rất tốt công tác vận động quần chúng, đặc biệt là công tác ở vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo.

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH "CON ĐƯỜNG CHÍNH TRỊ"

 Trước những sự kiện chính trị lớn của đất nước, đặc biệt là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và bầu cử Quốc hội khóa XV, bầu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kì 2021 - 2026, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược Diễn biến hòa bình, âm m­ưu phi chính trị hóa quân đội. Đây là âm m­ưu cơ bản, chủ yếu trong chiến l­ược chống phá của các thế lực thù địch. Những luận điệu nh­ư Quân đội phải đứng trung lập, không cần đặt d­ưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào hoặc Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân nên không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hay Quân đội vì Đảng hay vì dân.... Thực chất đây là những luận điệu trong âm m­ưu phi chính trị hóa quân đội nhằm làm cho Quân đội ta tách khỏi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó dẫn đến suy yếu, mà tr­ước hết là suy yếu về chính trị tinh thần, gây nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ, làm cho quân đội không hoàn thành đ­ược nhiệm vụ chính trị của mình. Điều đó thật mơ hồ, ảo t­ưởng và hết sức vô lý.

Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo

 


Đồng bào theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

  Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Cơ sở của đoàn kết là lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề thuộc dân tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.

Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Hiện nay có quan điểm cho rằng: “Việt Nam lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sai lầm lịch sử; nhà nước nào, chế độ nào cũng được miễn là dân giàu, nước mạnh”. Đây là 1 trong những luận điểm cơ bản, chủ chốt đã được các thế lực thù địch tuyên truyền rộng rãi, nhằm chống đối lại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của ĐCSVN, gây cản trở cho sự phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong tình hình phức tạp, đầy biến động khó lường hiện nay.

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phải tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định:

Thứ nhất, công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Công dân được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

Thứ hai, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Thứ ba, Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.

LẠI THUA!

 Vụ mẹ con Cấn Thêu, Trịnh Tư, anh luật sư bào chữa Đặng Đình Mạnh lại đuối lý!

Anh lại ghi thêm vào bảng vàng thành tích của hợp tác xã luật sư toàn thua một quả thua cay đắng nữa.

Chán thật, trước phiên toà thì các anh hùng hổ, sau phiên toà thì như mèo cụp đuôi. Đã bảo không có lý lẽ, căn cứ thì thôi đừng bào chữa nữa, lần nào cũng thua thế này nhục lắm.

Những video  chống phá kia của hai mẹ con sờ sờ ra đấy, cãi làm sao được.

Chẳng biết sau phiên này, các anh có sáng mắt ra được tý nào không?

Hải Đăng ST

Quan điểm, chính sách về tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua

 


Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người” .