Thứ Hai, 5 tháng 7, 2021

Nội dung hoàn thiện cơ chế pháp lý phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

 Cơ chế pháp lý phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước là một chỉnh thể pháp lý thống nhất của các yếu tố pháp lý cơ bản, đó là: (1) thể chế pháp lý (hệ thống pháp luật) về sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước và (2) thiết chế (hệ thống các cơ quan chức năng) tổ chức việc thực hiện việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước. Vì thế, hoàn thiện cơ chế pháp lý phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay cần tập trung vào các nội dung sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế pháp lý về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Pháp luật không chỉ là cơ sở pháp lý để phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp hữu hiệu, mà còn là công cụ pháp lý để các chủ thể thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của mình.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức thực hiện nhiệm vụ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên trách khác (Thanh tra, Kiểm toán nhà nước). Bên cạnh đó, Nhà nước tiếp tục quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, nội dung và biện pháp xử lý hậu kiểm soát của các chủ thể thực hiện kiểm soát quyền lực từ bên ngoài, như Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tấn, báo chí và nhân dân. Đặc biệt trong đó, cần quy định rõ nghĩa vụ của các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ quyền lợi cho nhân dân tham gia vào kiểm soát quyền lực nhà nước và đấu tranh phòng, chống tha hóa quyền lực nhà nước, phòng chống tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, v.v..

Ngoài ra, pháp luật về bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng: thông tin về ứng cử viên được công khai rõ ràng hơn, các cuộc tiếp xúc cử tri được thực hiện rộng rãi hơn và cam kết về trách nhiệm của ứng cử viên với cử tri phải được coi trọng, qua đó cử tri biết rõ hơn về năng lực của từng ứng viên trước khi quyết định bỏ phiếu. Đồng thời, trách nhiệm thực hiện những cam kết đã hứa với cử tri của ứng viên được lựa chọn phải được quy định rõ ràng và được ràng buộc chặt chẽ bởi quy định pháp luật.

Để thực hiện tốt hoạt động phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, yêu cầu công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với cơ quan nhà nước phải được quy định rõ ràng, chặt chẽ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù hiện nay các cơ quan nhà nước đã thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện những yêu cầu này vẫn còn hình thức. Về phương diện lý luận và thực tiễn, hiện nay các chuyên gia đều cho rằng việc quản lý nhà nước tốt đều phải dựa vào bốn trụ cột, đó là: “trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính dự đoán được và sự tham gia”(4). Trong đó, (1) trách nhiệm giải trình được hiểu là việc các cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước phải báo cáo, lý giải về thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình đến cơ quan chức năng có thẩm quyền, đến người dân và phải chịu trách nhiệm về hành động của mình; (2) tính công khai, minh bạch là việc các cơ quan chức năng phải có nghĩa vụ công bố các thông tin liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân, thủ tục hành chính, hiệu quả hoạt động của công quyền và cho phép mọi chủ thể trong xã hội có thể truy cập các thông tin liên quan (không thuộc thông tin mật) với chi phí thấp nhất. Các yếu tố này phải gắn bó hữu cơ chặt chẽ với nhau trong việc bảo đảm cho một nền quản trị công hiện đại. Trong các yếu tố này, trách nhiệm giải trình là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. “Trách nhiệm giải trình thực sự bao gồm hai yếu tố: khả năng giải đáp và chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra”(5). Điều này thể hiện ở chỗ: một là, khả năng giải đáp, đó là việc yêu cầu các cán bộ, công chức phải có khả năng giải đáp theo định kỳ những việc họ đã sử dụng thẩm quyền của họ như thế nào, những nguồn lực sử dụng vào đâu, và kết quả đạt được như thế nào; hai là, phải dự đoán được những hậu quả xảy ra; ba là, bên cạnh trách nhiệm giải trình nội bộ, cần tăng cường trách nhiệm giải trình với bên ngoài nhằm bảo đảm sự kiểm soát từ bên ngoài đối với chất lượng cung ứng các dịch vụ công. Vì thế, hệ thống pháp luật Việt Nam cần tiếp tục quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, trong đó: (i) chính quyền các cấp phải tự mình cung cấp thông tin về những dữ kiện liên quan đến những chính sách, chẳng hạn như những số liệu được dùng làm cơ sở cho việc hình thành chính sách, những ảnh hưởng thực tế, những hậu quả, những phương thức áp dụng trên thực tế. Ngoài các nguồn thông tin, thuộc tính của thông tin (tính dễ hiểu, nhất quán, toàn diện, tính trung thực, chất lượng và độ tin cậy) cũng góp phần quan trọng trong hoạt động kiểm soát; (ii) các cơ quan công quyền phải có trách nhiệm trong việc tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin - một cách trực tiếp hoặc gián tiếp với những hồ sơ, tài liệu của chính quyền (trừ những thông tin mật theo pháp luật bí mật nhà nước); (iii) thực hiện công khai của các phiên họp của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp; (iv) trước khi chính quyền muốn soạn thảo và thực thi những chính sách, phải tham khảo ý kiến của những nhóm liên quan một cách có hệ thống, bao gồm cả việc phổ biến thông tin và xử lý những góp ý nhận được qua sự tham khảo này. Do đó, cần thiết phải quy định cụ thể nội dung, thời điểm, cách thức thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước đối với nhân dân và đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, v.v..

Thứ hai, hoàn thiện thiết chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Các thiết chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam bao gồm các cơ quan lập pháp, các cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp, các cơ quan nhà nước chuyên trách và các thiết chế phi nhà nước. Hiện nay, ở nước ta, để thực hiện tốt sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước, cần thiết phải tập trung vào hoàn thiện các thiết chế sau:

Một là, hoàn thiện hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Trong các hình thức giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp (xem xét báo cáo của các đối tượng thuộc quyền giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, kiểm tra khảo sát thực tế và thông qua chất vấn của đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân), Quốc hội và Hội đồng nhân dân cần thể hiện đầy đủ vai trò của cơ quan đại biểu của nhân dân và cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thảo luận và đánh giá nội dung báo cáo công tác của Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cần được chú trọng và nâng cao chất lượng chất vấn. Các câu hỏi chất vấn phải thể hiện được tính phản biện cao, phải chỉ ra được khuyết điểm và trách nhiệm của cơ quan, người được chất vấn. Hoạt động chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội và Hội đồng nhân dân phải thể hiện tinh thần dân chủ, trách nhiệm cao của cả người chất vấn và cơ quan, người được chất vấn.

Để thực hiện điều này, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần phải tổ chức thường xuyên các đoàn giám sát, tập trung vào giám sát chuyên đề thực hiện pháp luật, công tác quản lý, đặc biệt là các lĩnh vực nhạy cảm, có nhiều vấn đề bức xúc từ nhân dân; tăng cường công tác tiếp xúc cử tri, chất vấn tại kỳ họp; tăng cường công tác phối hợp với các đoàn thể nhân dân trong công tác giám sát, phối hợp với các chủ thể khác; tăng cường các đại biểu chuyên trách thực hiện công tác giám sát và nâng cao kỹ năng giám sát của các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong thực hiện công tác giám sát. Các cơ quan của Quốc hội (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội) nâng cao chất lượng giám sát của mình theo hướng chuyên nghiệp, có trọng tâm, trọng điểm, chuyên sâu. Để xây dựng Quốc hội hoạt động thường xuyên, liên tục, chuyên nghiệp, cần phải tăng tỷ lệ chuyên trách lên 40% - 45% (theo khoản 2 Điều 23 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020): “Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là bốn mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội)); đồng thời, phải giảm mạnh số lượng các đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản lý ở chính quyền địa phương, bởi vì nếu không có sự phân công lao động quyền lực một cách rõ ràng sẽ dẫn đến sự “phân thân” trong vai trò của đại biểu Quốc hội: vừa là đại biểu Quốc hội, vừa là người làm việc trong cơ quan hành pháp ở địa phương. Điều này làm cho chức năng giám sát quyền lực của các cơ quan Quốc hội đối với chính quyền địa phương khó có thể thực hiện được một cách hiệu quả.

Hai là, hoàn thiện tổ chức, hoạt động cơ quan nhà nước chuyên trách.

Nâng cao công tác thanh tra nhà nước, kết hợp giữa thanh tra chuyên ngành với thanh tra hành chính, kết hợp giữa thanh tra thường xuyên theo định kỳ với thanh tra đột xuất; tập trung vào các nội dung phức tạp, dễ xảy ra tham nhũng, các vấn đề nhân dân bức xúc. Muốn vậy cần nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, tác phong, đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị theo hướng chuyên nghiệp cho cán bộ thực hiện công tác thanh tra. Xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra địa phương với các đoàn thể nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu này, Chính phủ cần tiếp tục kiện toàn, sắp xếp lại tổ chức thanh tra ngành, thanh tra nhà nước các cấp địa phương, trên cơ sở đó cần hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động thanh tra, kiểm tra, trong đó xác định rõ trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của những người tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra. Điều này sẽ khắc phục tình trạng thanh tra, kiểm tra tràn lan, tùy tiện, không có căn cứ, cơ sở pháp lý, không có kết luận về kết quả thanh tra, kiểm tra, gây phiền hà, tốn kém cho đối tượng bị kiểm tra, thanh tra như thực tế xảy ra ở một số địa phương. Ngoài ra, cần có sự phối hợp hoạt động thanh tra, kiểm tra giữa các cơ quan chính quyền các cấp với các cơ quan thanh tra chuyên ngành, khắc phục tình trạng cùng một đối tượng bị quá nhiều cơ quan khác nhau thanh tra, kiểm tra trong cùng một thời gian với nội dung trùng lắp.

Thêm vào đó, Kiểm toán nhà nước tiếp tục được nâng cao chất lượng nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu chi ngân sách nhà nước, trong đó, tăng cường thực hiện chức năng cho ý kiến về các mục tiêu của các chính sách của Kiểm toán nhà nước. Ngoài ra, tiếp tục nghiên cứu để xây dựng thiết chế thanh tra quốc hội (Ombusman) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước, khắc phục tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” như mô hình thanh tra nhà nước hiện nay. Đây là cơ quan giám sát chuyên trách trực thuộc Quốc hội, với nhiệm vụ chính là giúp Quốc hội tiến hành các cuộc điều tra làm rõ trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý đối với những quan chức cấp cao ở Trung ương và trong bộ máy hành chính khi họ có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc các chuẩn mực đạo đức công vụ và những vụ việc gây bức xúc trong dư luận. Để bảo đảm cơ quan này hoạt động hiệu quả cần trang bị cho nó những thẩm quyền đặc biệt như: có quyền tuyệt đối trong việc tiếp cận mọi thông tin của nhà nước, buộc các cơ quan có liên quan phải hợp tác để giải quyết vấn đề, tiến hành các biện pháp để ngăn chặn hành vi vi phạm hoặc phục vụ cho công tác thanh tra, điều tra; được áp dụng các biện pháp đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ; có quyền điều tra, khởi tố các vụ án hành chính và tham nhũng. Trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo, cơ quan này phải có trách nhiệm hướng dẫn và giúp đỡ những người khiếu nại, tố cáo và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

Ba là, hoàn thiện tổ chức, hoạt động các cơ quan tư pháp.

Ở nước ta, nguyên tắc tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đã được Hiến pháp ghi nhận. Nhưng trên thực tế, hoạt động của các cơ quan tư pháp lại bị chi phối bởi nhiều thiết chế quyền lực khác, đặc biệt là sự can thiệp thông qua những ý kiến chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương. Đây chính là một trong những nan giải lớn nhất trong bảo đảm tính độc lập của hoạt động xét xử, chính vì vậy, để hoạt động xét xử của tòa án trở thành phương thức hữu hiệu trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước, cần đẩy mạnh cải cách tư pháp theo hướng tăng tính độc lập và thẩm quyền cho hệ thống tòa án, chuyên nghiệp hóa hoạt động tư pháp. Đây là một trong những nội dung quan trọng để tòa án thực sự là cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ pháp luật, chống lại sự tha hóa quyền lực nhà nước, đặc biệt là nhánh quyền hành pháp. Để đạt được mục đích đó, việc cải cách tư pháp cần tiến hành theo hướng sau: (1) Đẩy mạnh cải cách thể chế tư pháp theo hướng hoàn thiện việc sắp xếp bộ máy tư pháp, phân rõ chức năng, quyền hạn và chế độ quản lý của cơ quan tư pháp; bảo đảm cho cơ quan tòa án xét xử và cơ quan kiểm sát căn cứ vào pháp luật thực hiện quyền hạn của mình một cách độc lập, công khai và minh bạch; tăng cường công tác giám sát tư pháp, trừng trị nghiêm minh những hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư pháp; (2) Tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa án theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Tòa án năm 2014, trong đó tổ chức cơ sở đảng trong tòa án được thiết kế theo ngành dọc, thống nhất từ Tòa án nhân dân tối cao đến tòa án nhân dân cấp huyện; (3) Thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp (có thể theo mô hình Hội đồng Bảo hiến như ở Pháp) để kiểm soát quyền lập pháp, quyền hành pháp.

Hoàn thiện cơ chế pháp lý phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một trong những nội dung quan trọng ở Việt Nam hiện nay nhằm phát huy dân chủ XHCN và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, qua đó đẩy lùi tham nhũng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm Nhà nước Việt Nam thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Tính tất yếu của việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước

 Quyền lực nhà nước là quyền lực công cộng, do giai cấp có thế lực nhất đại diện cho xã hội, sử dụng sức mạnh của nhà nước buộc chủ thể khác trong xã hội phải phục tùng ý chí của mình(1), đây là vấn đề trung tâm, cơ bản nhất của đời sống chính trị - xã hội có giai cấp. Từ khi xã hội có nhà nước tới nay, các triết gia, các nhà chính trị đặc biệt quan tâm tìm kiếm cơ chế tổ chức và vận hành đời sống xã hội một cách hiệu quả nhất, trong quá trình này, họ đã tìm ra các nguyên tắc, cơ cấu, phương thức tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước hữu hiệu nhất để thiết lập tốt mối quan hệ giữa cá nhân, nhà nước và xã hội.

Từ thực tiễn tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước trong lịch sử và đương đại và lý thuyết quản trị nhà nước hiện đại đã minh chứng rằng, để bảo đảm quyền lực nhà nước được vận hành một cách hiệu lực, hiệu quả, an toàn đối với nhân dân và xã hội thì quyền lực nhà nước cần được tổ chức và thực hiện theo nguyên tắc “phân công, phối hợp và kiểm soát” giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Ở các mô hình nhà nước hiện đại, quyền lực nhà nước được cấu thành bởi ba bộ phận cơ bản, đó là: quyền lập pháp; quyền hành pháp; quyền tư pháp. Trong đó, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước là cơ chế tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước hữu hiệu trong thực tế nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời hạn chế tối đa sự chuyên quyền, độc đoán và “tha hóa” quyền lực nhà nước, từ đó dẫn đến lấn át, phủ định quyền lực của nhân dân - với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước. Theo Ch.L. Montesquieu (1689 - 1755), “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện nguyên lão, thì không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả mất hết”(2), do đó: (1) phân công giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và tính chịu trách nhiệm giữa các cơ quan trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ lập pháp, hành pháp và tư pháp của các cơ quan nhà nước, từ đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước một cách chuyên nghiệp hơn. Đây thực chất là sự chuyên môn hóa trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, vì thế, phân công không phải tạo ra sự phân lập, chia tách biệt lập các cơ quan này với nhau, mà nhằm bảo đảm các cơ quan này thực hiên đúng và đủ chức năng, nhiệm vụ của mình và phát huy tốt nhất trách nhiệm của mỗi cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền hạn luật định; (2) phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm sự liên kết, hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước lập pháp, hành pháp và tư pháp. Phối hợp nhằm bổ sung, phục vụ cho sự phân công và ngược lại phân công nhằm hướng đến tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; (3) kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm các cơ quan nhà nước hay cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện đúng, đủ và có trách nhiệm quyền hạn của mình trong thực tế, từ đó bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích, đó là vì lợi ích công, bảo vệ quyền lợi công và thúc đẩy sự phát triển xã hội. Theo đó, kiểm soát quyền lực nhà nước thúc đẩy việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; ngược lại, phân công, phối hợp nhằm bảo đảm kiểm soát chặt chẽ các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lực nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, phái sinh từ quyền lực nhân dân(3) (nghĩa là nhân dân ủy quyền cho nhà nước thay mình quản lý phát triển xã hội), vì thế quyền lực nhà nước tự thân không thể phân chia mà luôn đồng nhất trong một khối được gọi là “quyền lực nhà nước”.

Xét trên phương diện thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của mình, quyền lực nhà nước được phân định theo từng bộ phận khác nhau, đó là lập pháp, hành pháp và tư pháp, qua đó nhằm bảo đảm chức năng của nhà nước được thực thi chuyên nghiệp, rõ ràng trên thực tế, vì thế quyền lực nhà nước không đồng nhất với quyền lập pháp, quyền hành pháp hay quyền tư pháp mà là chỉnh thể thống nhất của cả ba quyền năng này. Cho nên, quyền lực nhà nước là một thể thống nhất, nhưng quá trình thực thi chức năng khác nhau, thì quyền lực nhà nước được chia thành các quyền năng khác nhau (được hiểu là thẩm quyền). Việc phân công quyền lực nhà nước chính là chuyên môn hóa việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, từ đó xác định rõ ràng, minh bạch về chủ thể, đối tượng, chức năng, phạm vi triển khai thực hiện và mối quan hệ giữa quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp trong thực tế. Từ đây, mỗi một bộ phận của quyền lực nhà nước triển khai, giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi quyền lực của mình, chuyên sâu, hợp lý, tương thích với sự vận động của xã hội. Hơn nữa, sự phân công quyền lực nhà nước nhằm mục đích để mỗi nhánh quyền lực nhà nước có thể kiểm soát, chế ước lẫn nhau, bảo đảm không một nhánh quyền lực nào có thể lạm quyền, lộng quyền, lấn quyền, từ đó tuyệt đối hóa quyền lực nhà nước gây ra sự “tha hóa của quyền lực nhà nước”. Do đó, sự phân công quyền lực nhà nước không theo nghĩa là phân chia, biệt lập giữa các nhánh quyền lực nhà nước với nhau mà hướng đến tăng cường phối hợp, bổ sung, trợ giúp nhau để vận hành chỉnh thể quyền lực nhà nước được thuận lợi và tốt nhất.

Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước được tổ chức và thực thi theo nguyên tắc: “quyền lực nhà nước là thống nhất” và vận hành theo cơ chế “phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Điều 2, Hiến pháp 2013). Điều này thể chế hóa tinh thần kiểm soát quyền lực mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam đã tạo ra cơ chế pháp lý tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, an toàn trong tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước, ngăn chặn sự tùy tiện của nhà nước, đẩy lùi hiện tượng “tha hóa” quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền lực của nhân dân

Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới.

 Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

1. Tiếp tục nghiên cứu, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác xây dựng gia đình; nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của gia đình và công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới. Xác định gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững đất nước. Gia đình là đối tượng tác động, thực hiện và thụ hưởng chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh là một trong những nội dung quan trọng, yêu cầu xuyên suốt của sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước.

Các cấp ủy, tổ chức đảng phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng gia đình; phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu các cấp về công tác xây dựng gia đình. Cán bộ, đảng viên phải nêu gương và vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng gia đình hạnh phúc. Tiếp tục xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, định hướng giá trị, giáo dục thế hệ trẻ. Kiên quyết đấu tranh chống lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình. Khắc phục bệnh thành tích, hình thức trong công tác xây dựng gia đình.

2. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về gia đình theo hướng lấy hoạt động của gia đình làm trọng tâm, bảo đảm sự gắn kết xã hội và vai trò của gia đình. Các chính sách về gia đình phải hướng đến mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh, chú trọng đến đối tượng trẻ em và người bệnh tật, cao tuổi. Xây dựng danh mục dịch vụ công thuộc lĩnh vực gia đình. Phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản đối với gia đình, hỗ trợ gia đình phát triển bền vững, hạnh phúc và thực hiện bình đẳng giới. Huy động các cá nhân, tổ chức xã hội, cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ gia đình và chăm lo giúp đỡ, hỗ trợ các gia đình nghèo, khó khăn; bảo đảm gia đình được tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản công bằng, bình đẳng, thuận lợi. Gắn việc thực hiện công tác xây dựng gia đình với Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

3. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về công tác xây dựng gia đình. Xây dựng, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Xây dựng Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045; chương trình giáo dục quốc gia về gia đình; chương trình giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình và các chương trình, dự án hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xây dựng dữ liệu số quốc gia về gia đình làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng hoạt động hỗ trợ gia đình tiếp cận các nguồn lực xã hội. Ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu khoa học về gia đình; hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách về gia đình; sáng tác các tác phẩm văn học - nghệ thuật về chủ đề gia đình.

Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về gia đình bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, thống nhất, gắn kết với các lĩnh vực dân số, bình đẳng giới và trẻ em. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nhân lực làm công tác gia đình theo hướng tích hợp đa ngành, phân định rõ đào tạo chuyên môn và cán bộ quản lý công tác gia đình.

4. Đẩy mạnh, đổi mới công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình; các chuẩn mực, giá trị văn hóa gia đình; kiến thức, kỹ năng xây dựng gia đình; các rủi ro đối với gia đình, giúp người dân chủ động phòng ngừa các ảnh hưởng tiêu cực đến gia đình. Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, con người Việt Nam giàu lòng nhân ái, khoan dung, chân thành, tín nghĩa, trọng đạo lý, cần cù, chăm chỉ, tiết kiệm, sáng tạo, khát vọng, hiện đại. Nâng cao hiệu quả, tính thiết thực trong xây dựng gia đình văn hóa, gắn với phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh".

5. Tổ chức thực hiện

- Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tổ chức phổ biến, quán triệt và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Chỉ thị này.

- Tăng cường sự phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, đoàn thể; phát huy vai trò, trách nhiệm giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong công tác xây dựng gia đình.

- Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến gia đình. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách gia đình.

- Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo xây dựng, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới và chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nêu trên.

- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan có liên quan hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đánh giá thực hiện Chỉ thị này và định kỳ báo cáo Ban Bí thư.

Tội phạm trên không gian ảo

Bịa đặt trắng trợn đến mức không còn liêm sỉ, đó là bản chất mà những thế lực thù địch, các tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam tự bộc lộ trong những năm qua. Và bản chất này phơi bày rõ nét hơn khi các thủ đoạn dựng chuyện để lừa dối dư luận, xuyên tạc và vu khống chính quyền ngày càng tăng. Theo bài Pháp tuyên chiến với khủng bố trên trang tiếng Việt của RFI ngày 14-1, phát biểu trước Quốc hội Pháp ngày 13-1 "Thủ tướng M.Van (Manuel Valls) cho biết đã yêu cầu Bộ trưởng Nội vụ có biện pháp để tăng cường kiểm soát trên internet và các mạng xã hội, mà nay được sử dụng ngày càng nhiều để chiêu dụ, liên lạc, huấn luyện những kẻ khủng bố", "ngành tư pháp của Pháp thẳng tay trừng trị những kẻ bị xem là "ca ngợi khủng bố" dưới bất kỳ hình thức nào, và đã tiến hành thủ tục tư pháp với hơn 50 người, trong đó có Dieudonné - diễn viên hài nổi tiếng". Cũng trên RFI ngày 12-1, bài Nước Pháp quật khởi chống khủng bố cho biết: trong cuộc tranh luận công khai tại ban biên tập tờ New York Times, "Ð.Ba-ki (Dean Baquet), trưởng ban biên tập... phải mất rất nhiều thì giờ tham vấn các đồng nghiệp và hai lần thay đổi ý kiến trước khi quyết định không công bố các bức họa để tránh xúc phạm các độc giả của tờ báo"; còn ở tờ The Guardian, sau cuộc tranh luận nội bộ "đã quyết định tặng 100.000 bảng cho Charlie Hebdo nhưng không cảm thấy bị bắt buộc phải đăng lại các bức biếm họa". Và ngày 15-1, trang english.yonhapnews.co.kr đăng tin cảnh sát Hàn Quốc triệu tập bà Lim Xu Ky-ung (Lim Su-kyung) - nghị sĩ đảng đối lập NPAD, để chất vấn do bị cáo buộc đã vi phạm Luật An ninh quốc gia. Với cáo buộc tương tự, một tòa án ở Xơ-un (Seoul) ra lệnh bắt giữ bà Hoang Xun (Hwang Sun); đáng chú ý là bà Sin Ôn-mi (Shin Eun-mi) - người Mỹ gốc Hàn đã cùng bà Hwang Sun tổ chức buổi nói chuyện tại đền Jogyesa, bị trục xuất và bị cấm nhập cảnh Hàn Quốc trong 5 năm. Gần một tháng trước, ngày 19-12, Tòa án Hiến pháp Hàn Quốc cũng ra phán quyết cấm đảng đối lập UPP hoạt động, không chấp nhận bất cứ kháng án nào; phán quyết dựa trên đơn kiện của Bộ Tư pháp Hàn Quốc sau khi một số thành viên của UPP bị bắt vì bị cáo buộc có âm mưu chống chính phủ. Cũng vào tháng 12-2014, cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ đã bắt giữ 24 nhân viên nhật báo Zaman, kênh truyền hình Samanyolu, trong đó có một số nhà báo nổi tiếng, được coi là đã ủng hộ phong trào "Khizmat" của ông P.Gu-len (F.Gullen) hiện đang sống lưu vong tại Mỹ, đồng thời chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ cũng công bố tài liệu về một âm mưu đảo chính; Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ R.T.Éc-đô-gan (R.T Erdogan) coi đây là việc đương nhiên ở bất cứ quốc gia nào, hoàn toàn không vi phạm dân chủ. Trước sự chỉ trích của Liên hiệp châu Âu (EU), ông khẳng định: "Chúng tôi không quan tâm những gì EU nói, cho dù EU có chấp nhận chúng tôi là thành viên hay không. Hãy giữ lại sự khôn ngoan cho chính mình"... Như vậy, chưa bàn về đúng - sai (vì phụ thuộc vào quan điểm, góc độ tiếp cận), riêng việc trong hơn một tháng thế giới liên tiếp được chứng kiến chính quyền ở một số quốc gia thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh, trật tự xã hội cũng cho thấy nhiều điều. Như tự do báo chí chẳng hạn, sau sự kiện Charlie Hebdo, câu hỏi có tự do báo chí không giới hạn hay không (?) đang trực tiếp đặt ra và không phải ngẫu nhiên, hai tờ New York Times và The Guardian, dù ủng hộ nhưng không đăng lại các biếm họa của Charlie Hebdo. Tuy nhiên, điều thú vị là có thể tìm câu trả lời trong bài Yếu tố pháp lý trong kiện phỉ báng đăng trên nguoi-viet.com ngày 8-1, bàn về việc Tòa thượng thẩm bang Ca-li-pho-ni-a (California) (Mỹ) đã phán quyết tuần báo Saigon Nhỏ và bà Hoàng Dược Thảo phải bồi thường cho công ty Người Việt Daily News Inc., ông Phan Huy Ðạt, bà Vĩnh Hoàng 3 triệu USD để đền bù tổn hại danh dự, uy tín, tinh thần, phạt 1,5 triệu USD làm gương vì có hành xử ác ý, tác giả Hà Giang viết: "Quyền tự do ngôn luận thật ra không phải là quyền tuyệt đối trong mọi tình huống. Một tuyên bố sai sự thật, được loan truyền vô tội vạ, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đến uy tín của một người, làm cho đời sống của người đó trở nên khốn đốn. Vì thế, luật phỉ báng tại Mỹ nói chung, California nói riêng, có các điều khoản tỉ mỉ, nhằm cân bằng hai nguyên tắc pháp lý căn bản", đó là nguyên tắc về đạo đức và nguyên tắc về quyền được hiến pháp bảo vệ. Nhưng với các thế lực thù địch, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam thì khác. Một mặt họ ra rả ca ngợi và yêu cầu Việt Nam phải noi theo tự do báo chí ở phương Tây (!), mặt khác, họ lại bất chấp đạo đức, coi thường pháp luật. Nhân danh "tự do ngôn luận", trên internet xuất hiện đủ loại trò hề "tuyên bố, thư ngỏ, thư mở, kháng nghị, thỉnh nguyện thư"; tin tức về cái gọi là "điều trần" do họ tự tổ chức nhằm xuyên tạc, vu khống, vu cáo Ðảng, Nhà nước Việt Nam. Rồi hoạt động của mấy cái gọi là "tổ chức xã hội dân sự" tổ chức theo cách thức một người ghi tên vào mấy nơi khác nhau tạo ấn tượng số đông, kết hợp một số bức ảnh quanh đi quẩn lại một nhóm người nay giơ khẩu hiệu này, mai giơ khẩu hiệu khác (hình thức được dư luận trên internet coi là nhằm báo cáo với quan thầy họ có hoạt động, để quyết toán các dự án chống phá?). Gần đây, các hoạt động như vậy có xu hướng ráo riết, trắng trợn, nham hiểm hơn để tạo ra một "ma trận thông tin" trên internet với đủ loại tin tức giật gân, thực giả lẫn lộn, trắng đen nhập nhèm được bình luận qua đủ loại giả thuyết. Chỉ nhìn vào một blog lập năm 2011 mỗi năm lèo tèo có vài ba bài, đến năm 2014 tăng vọt lên 84 bài, nửa đầu tháng 1-2015 có 16 bài, là có thể thấy sự ráo riết đã đến mức nào. Trên blog này, kẻ xấu tập trung bịa đặt, dàn dựng chuyện ly kỳ, tạo ấn tượng "người này đánh người khác" để ly gián, gây nghi ngờ, hoang mang... Nhận ra chân tướng của sự bịa đặt hay đề phòng để dễ bề phủi tay về sau (?), gần đây một trang mạng vốn thù địch với Ðảng, Nhà nước Việt Nam đăng bài của Nguyễn Ngôn. Sau khi đưa ra dẫn chứng cụ thể chứng minh sự bịa đặt về quan hệ giữa một lãnh đạo Việt Nam với một doanh nhân, tác giả viết: "có người xuyên tạc để nêu ý đồ này ý đồ kia là đã vu khống đặt điều người khác, một điều mà lương tâm không cho phép Chúa Trời cũng không ưa Phật Thánh cũng không cho". Và trong một bài viết công bố gần đây, sau khi tổng kết "trước mỗi kỳ Ðại hội hay hội nghị T.Ư Ðảng, các thế lực thù địch thường đưa ra những thông tin giật gân, dường như đó là những thông tin mật, được rò rỉ ra ngoài bởi những nhân vật trong hàng ngũ "chóp bu"...", tác giả Nguyễn An Ninh kết luận rằng: mỗi khi "thông tin động trời" trên blog này đã nhàm chán, lập tức trang khác ra đời thay thế, khi trang khác hết "hót" lại xuất hiện blog khác thế chân,... rồi nhận xét "Ðiểm chung của tất cả những blog này đều là trộn lẫn một số thông tin có thật với những điều xuyên tạc, bịa đặt để hướng tới mục tiêu cuối cùng là tung tin nhảm về việc dường như có cuộc đấu đá trong nội bộ bộ máy lãnh đạo cấp cao của Ðảng và Nhà nước"! Trong bối cảnh đó, theo bản tin Anh, Mỹ quyết tâm mở rộng hợp tác an ninh mạng trên VOA ngày 17-1, Tổng thống Ô-ba-ma (Obama) cho biết quyết tâm mở rộng hợp tác vì "xét tới mối nguy cấp bách và lớn dần của những mối đe dọa trên mạng" để "bảo vệ cơ sở hạ tầng hệ trọng của chúng ta, các doanh nghiệp của chúng ta và sự riêng tư của người dân chúng ta"; thậm chí trước khi hội kiến, Thủ tướng Anh Cameron còn nói ông sẽ "yêu cầu Tổng thống Obama gây sức ép với các công ty công nghệ của Mỹ như Google và Facebook cho phép chính phủ theo dõi những trao đổi liên lạc được mã hóa". Rõ ràng internet không phải là tuyệt đối đáng tin. Nhưng với mấy kẻ có suy nghĩ, hành động xấu với Việt Nam thì tin tức từ internet lại "rất đáng tin". Mỗi khi blog kể trên đưa ra thông tin dối trá, họ thi nhau đăng lại và VOA, BBC, RFA, RFI,... cũng chộp lấy để biến thành tin chính thức. Ở đây cũng cần nhắc tới Kami - kẻ từng bị vạch trần về dối trá và bịa đặt, không thấy xấu hổ mà vẫn chường mặt ra bàn về "bước ngoặt của truyền thông"! Hoặc, từ khi không bói ra âm mưu nào từ hiện tượng giảm giá xăng dầu, blog kể trên cũng trở thành chiếc cọc mục để "cây bút bình luận chính trị sâu sắc, con phượng hoàng đảm lược" bám vào bình loạn theo lối lý luận nông cạn, thiển cận, huênh hoang vốn có! Bởi vậy, một câu hỏi lại cần đặt ra là: Quan tâm đến an ninh mạng, liệu Tổng thống Obama và Thủ tướng Cameron có quan tâm việc chính VOA, RFA của Mỹ, BBC của Anh,... đã và đang sử dụng internet làm phương tiện tuyên truyền chống phá, gây mất an ninh của Việt Nam? Ðòi hỏi những kẻ dối trá trên internet phải biết thế nào là liêm sỉ có lẽ là bất khả, khi lựa chọn sự tồn tại như vậy, họ đã gạt sang một bên mọi tiêu chí đạo đức. Mà ở đâu đạo đức không được sử dụng nhằm tác động tích cực đến suy nghĩ, hành động của con người thì ở đó pháp luật cần lên tiếng. Hành động kiên quyết duy trì kỷ cương xã hội của chính phủ một số nước như các thí dụ ở trên cho thấy mọi nhà nước đều có quyền thực thi pháp luật và bảo vệ xã hội. Do đó, trước sự hoành hành của kẻ xấu, chúng ta cần kết hợp "đưa thông tin chính xác, kịp thời để định hướng", như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định, với việc khuyến khích toàn dân nâng cao ý thức tự giác, tăng cường khả năng chọn lọc thông tin, chống các vi-rút thông tin xấu độc trên internet,... Và nếu coi hoạt động của kẻ xấu trên internet là "tội phạm không gian ảo, vi phạm pháp luật Việt Nam. Loại tội phạm này có thể bị xếp vào những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất cho đất nước" như ý kiến của một vị lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông vừa qua, thì đã đến lúc cơ quan chức năng cần vào cuộc, vừa để xử lý một loại tội phạm nguy hiểm, vừa bảo đảm sự lành mạnh của đời sống xã hội và con người.

Làm việc ở nhà do Covid-19 có được hưởng 100% lương?

Tôi là công nhân tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, được công ty cho ngừng việc ở nhà khi dịch bùng phát vào tháng 3/2021. (Hạnh Ngân) Khi ở nhà, tôi vẫn làm một số công việc còn tồn đọng song công ty thông báo sẽ chỉ chi trả cho tôi 1/2 tháng lương, có đúng luật không? Luật sư tư vấn Theo khoản 3 điều 99 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương ngừng việc trong trường hợp do dịch bệnh nguy hiểm được quy định như sau: Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau: a) Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu; b) Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu. Theo thông tin bạn cung cấp, do diễn biến phức tạp của Covid-19 trên địa bàn tỉnh, công ty cho bạn ngừng việc ở nhà theo chỉ thị giãn cách xã hội, vì vậy bạn và công ty có thể thỏa thuận về mức lương. Do không rõ bạn đã ngưng làm việc bao lâu nên tùy từng trường hợp, việc thỏa thuận mức lương là khác nhau. Nếu bạn ngừng việc từ 14 ngày trở xuống, tiền lương thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Nếu ngừng việc trên 14 ngày, tiền lương do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo rằng tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiền không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Mức lương tối thiểu vùng ở huyện Việt Yên theo quy định hiện nay là 3.430.000 đồng/tháng, theo Nghị định 90/2019/NĐ-CP ngày 15/11/2019 quy định mức lương tối thiểu vùng với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Bạn không nói rõ mức lương hiện tại và mức lương do ảnh hưởng Covid-19 là bao nhiêu nên bạn có thể đối chiếu các quy định dẫn chiếu bên trên để xét xem chủ sử dụng lao động có vi phạm quy định của pháp luật hay không. Tuy nhiên, trong thời gian ngừng việc, bạn vẫn phải làm một số công việc còn tồn đọng và nếu vẫn hoàn thành tốt công việc được giao, bạn phải được nhận đủ tiền lương theo đúng thỏa thuận. Vì theo nguyên tắc trả lương được quy định tại khoản 1 điều 94 Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Việc công ty không trả lương đầy đủ khi bạn vẫn làm việc đầy đủ là vi phạm quy định pháp luật. Trong trường hợp chủ sử dụng vi phạm, bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến Phòng lao động thương binh và xã hội để yêu cầu thực hiện hòa giải. Trường hợp hòa giải không thành, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi công ty có trụ sở để được giải quyết. Bên cạnh đó, với hành vi trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, chủ sử dụng lao động có thể bị xử phạt từ đến 75 triệu đồng, theo quy định tại Nghị định 28/2020/NĐ-CP ngày 1/3/2020. Trường hợp tổ chức (công ty) vi phạm thì bị xử phạt tiền gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Xử phạt sai, trưởng công an quận thua kiện

TP HCMTrưởng Công an quận Bình Tân ra quyết định xử phạt doanh nghiệp về hành vi buôn lậu nhưng bị tòa hủy vì cho là không đúng pháp luật. Quyết định được TAND TP HCM đưa ra trong phiên xử phúc thẩm vừa diễn ra. Theo bản án, ngày 15/10/2019, Công ty Thiên Đồng ký hợp đồng với công ty của Trung Quốc mua hàng lõi lọc, đồng hồ áp vỏ và các phụ kiện kèm theo là lưới lọc trị giá 27.000 USD. Hơn một tháng sau, lô hàng được thông quan. Đêm 22/11/2019, Công ty Thiên Đồng đưa hàng về kho thì Công an quận Bình Tân kiểm tra và tịch thu 1.200 lưới lọc vì cho đây là hàng lậu. Doanh nghiệp sau đó đã gửi hồ sơ chứng từ thông quan và tờ khai bổ sung thể hiện lô hàng là phụ kiện không thể tách rời vỏ lọc. Tuy nhiên, ngày 28/11/2019, Trưởng Công an quận Bình Tân ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 30 triệu đồng và tịch thu tang vật vi phạm về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu. Không đồng ý với quyết định này, Công ty Thiên Đồng đã khiếu nại vì đã cung cấp đầy đủ hồ sơ chứng từ bổ sung. Ngoài ra, việc công an định giá sản phẩm làm căn cứ xử phạt cũng không đúng quy định của pháp luật. Quá trình xử lý vi phạm hành chính, công ty không nhận được biên bản vi phạm hành chính cho đến khi công an gọi lên nhận quyết định xử phạt. Giải quyết khiếu nại, Công an quận Tân Bình giữ nguyên quan điểm. Đem sự việc kiện ra toà, Công ty Thiên Đồng cho rằng, quyết định của Công an Bình Tân làm thiệt hại đến tài sản và uy tín của mình, yêu cầu tòa tuyên hủy các quyết định trên. Hồi tháng 9/2020, TAND quận Bình Tân xử sơ thẩm. Đại diện Công an quận Bình Tân cho rằng, trước đó nhận được nhiều đơn khiếu nại của các hộ dân trên đường Lê Văn Quới, phường Bình Hưng Hòa A, về việc Công ty Thiên Đồng thường nhập hàng đêm gây ồn ào và nghi vấn nhập hàng lậu. Thời điểm kiểm tra, công ty bốc dỡ 5 mặt hàng. Sau khi đối chiếu giấy tờ đoàn kiểm tra phát hiện một mặt hàng gồm 1.200 lưới lọc nước chưa được thông quan nên tịch thu và ra quyết định xử phạt. Đối với các khiếu nại của công ty, phía Công an Bình Tân cho biết đã có công văn gửi Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn khu vực 1 và Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP HCM (PC03) về sản phẩm lưới lọc nước. Căn cứ vào công văn phúc đáp của các cơ quan này thì Công an Bình Tân xác định Công ty Thiên Đồng không khai báo 1.200 lưới lọc và đây là hàng nhập lậu. Về việc định giá sản phẩm, Đội cảnh sát kinh tế quận đã tham khảo giá trên thị trường của một số công ty kinh doanh sản phẩm cùng loại từ đó làm căn cứ xác định giá trị lô hàng và quyết định xử phạt. Đại diện Công an Bình Tân cũng cho rằng đã bàn giao biên bản vi phạm cho công ty theo đúng quy định. Thời điểm lập biên bản, tổ công tác đã nói rõ hành vi vi phạm cho đại diện công ty và giao cho Giám đốc công ty một bản. Do đó, Công an Bình Tân không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía doanh nghiệp. HĐXX sau đó chấp thuận quan điểm của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Thiên Đồng. Theo toà, công ty khai báo bổ sung đối với 1.200 lưới lọc sau thời điểm Công an quận phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính là không phù hợp với quy định của pháp luật. Hơn nữa Trung tâm kỹ thuật đo lường chất lượng 3 chỉ xác định bộ lọc nước là bộ phần kính kèm theo thiết kế của các loại vỏ lọc "chứ không xác định là phụ kiện không thể tách rời". Công ty Thiên Đồng kháng cáo toàn bộ bản án. Tại phiên phúc thẩm, Trưởng Công an quận và người đại diện xin vắng mặt. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, TAND TP HCM quyết định sửa án sơ thẩm, hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định giải quyết khiếu nại của Công an quận Bình Tân. Theo HĐXX, bộ lưới đi kèm với vỏ lọc là "một bộ phận không thể tách rời và đã có trong hợp đồng mua bán", Công ty Thiên Đồng đã khai thông quan bổ sung là đúng quy định. Việc công an quận lập biên bản về hành vi kinh doanh hàng hoá nhập lậu và căn cứ theo công văn của PC03 Công an TP HCM để xác định 1.200 lưới lọc của Công ty Thiên Đồng là hàng nhập là không đúng quy định của pháp luật.

Nắm vững nguyên tắc, quan điểm, phát huy phẩm chất người đứng đầu, xử lý hài hòa các mối quan hệ

 Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức, nhiều nguồn lực, nhiều phương thức… Theo đó, cùng với việc đòi hỏi tập thể cấp ủy: “suy nghĩ phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải cao, nỗ lực phải lớn, hành động phải quyết liệt, hiệu quả”; đồng thời đòi hỏi phải phát huy được trách nhiệm, phẩm chất người đứng đầu, nắm vững nguyên tắc, quan điểm, kịp thời xử trí hài hòa các mối quan hệ, tạo động lực phát triển vững mạnh và toàn diện địa phương, đơn vị. Cụ thể là:

Trước hết, để xử trí tốt mối quan hệ với công việc, cấp ủy cơ sở cần: (1) Nguyên tắc nhưng phải mềm dẻo, linh hoạt; nhiệt tình cách mạng nhưng phải trí tuệ, khoa học; (2) Bao quát, toàn diện nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm; (3) Chú trọng giải quyết những vấn đề bức xúc trước mắt nhưng phải quan tâm đến lợi ích, hiệu quả lâu dài; (4) Coi trọng quy trình, tiến độ nhưng phải bảo đảm về chất lượng, hiệu quả; (5) Giữ gìn, phát huy được giá trị truyền thống đồng thời thích ứng, tạo dựng những giá trị mới chưa có trong tiền lệ.

Thứ hai, để xử lý tốt mối quan hệ với nhân dân, tập thể cấp ủy nhất là người đứng đầu cần: (1) Lắng nghe nhưng không theo đuôi quần chúng; (2) Dân chủ nhưng phải quyết đoán và chịu trách nhiệm cá nhân; (3) Bao quát mọi người, mọi việc nhưng phải sâu sát, cụ thể đến từng người, từng việc; (4) Công bằng nhưng không được cào bằng; (v) Phát huy phải gắn liền với chăm lo nhân dân.

Thứ ba, đối với tập thể cấp ủy và người đứng đầu phải thực sự cầu thị: nỗ lực học tập, làm giàu trí tuệ; biết nắm bắt quy luật; làm chủ vị thế, vai trò, nêu gương sáng về khát vọng cống hiến, về tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, dám xả thân vì sự phát triển. Đặc biệt lấy hiệu quả phục vụ, thành công và hạnh phúc của nhân dân, sự phát triển thịnh vượng của địa phương, đơn vị làm mục tiêu phấn đấu. Thực hiện tốt vai trò: định hướng, đồng hành, kích hoạt, thổi hồn, truyền cảm hứng cho sự nghiệp đổi mới quê hương, đất nước.

Như vậy, để tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, đòi hỏi cấp ủy cơ sở cần phát huy nhiều yếu tố, trong đó cần xác định: thực hiện đồng bộ và nâng cao chất lượng 4 khâu tổ chức thực hiện nghị quyết là trung tâm; huy động và phát huy nguồn lực tạo động lực là điều kiện tiên quyết; nắm vững nguyên tắc, xử lý hài hòa các mối quan hệ là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên. Tin tưởng rằng, việc thực hiện quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, thường xuyên, các giải pháp của cấp ủy cơ sở sẽ tạo ra sự thay đổi và hiệu quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội… góp phần hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Không ai có thể xuyên tạc Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội của Việt Nam

(Thanhuytphcm.vn) - Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có Quyết định số 874/QĐBTTTT về việc ban hành “Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội”. Bộ Quy tắc này gồm 3 chương, 9 điều, có hiệu lực từ ngày 17/6/2021. Đây được xem là “Thể chế mềm”, điều chỉnh mọi hành vi, ứng xử trên mạng xã hội của người dùng mạng xã hội tại Việt Nam, hướng đến mục đích cuối cùng là xây dựng mạng xã hội Việt Nam lành mạnh, tích cực; đồng thời là “áo giáp” đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền tự do kinh doanh, không phân biệt đối xử nhà cung cấp dịch vụ trong và ngoài nước, phù hợp với chuẩn mực, thông lệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia; xây dựng chuẩn mực đạo đức về hành vi ứng xử trên mạng xã hội, giáo dục ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử của người dùng trên mạng xã hội… Ngay sau khi ban hành đã được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân cả nước, nhất là người dùng mạng xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, đi ngược lại sự ủng hộ của phần đông đó, ở các diễn đàn, “truyền thông đen”, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động lại ra sức xuyên tạc với nhiều bài viết cho rằng: ĐCSVN, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “ban hành đạo luật vi phạm nhân quyền”, “ép buộc người dân phải tuân thủ những quy tắc vi phạm quyền tự do ngôn luận chính đáng của Nhân dân trên mạng xã hội theo chủ ý của Bộ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước” là điều không thể chấp nhận được. Từ đó, chúng kích động người dân phản đối, yêu cầu lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Thông tin và Truyền thông hủy bỏ quy định trên, trao trả quyền tự do ngôn luận, báo chí cho nhân dân. Quyết định số 874/QĐ-BTTTT, ngày 17/6/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Quyết định số 874/QĐ-BTTTT, ngày 17/6/2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, xuyên tạc bởi một tâm lý chung của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động là: Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội được ban hành, có cơ chế xử phạt nghiêm khắc với các hành vi sai trái, vi phạm pháp luật, đồng nghĩa những hành vi, phát ngôn xuyên tạc, bịa đặt của chúng sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Có thể nói, mạng xã hội ở Việt Nam trở thành một kênh thông tin được người dân rất quan tâm, ưu chuộng, dành nhiều thời gian để sử dụng. Nhờ mạng xã hội mà mọi người dân nắm bắt thông tin nhanh chóng, mọi người dễ kết nối, giao lưu với nhau, là kênh để học hỏi tri thức, khai thác thông tin, bày tỏa tình cảm và thư giãn. Tuy nhiên, môi trường số cũng có những hạn chế, những tác hại không nhỏ, đặc biệt là với trẻ em, thanh thiếu niên, những người kém hiểu biết, dễ bị địch dẫn dụ tin vào những thông tin thiếu kiểm chứng, xấu độc, lôi kéo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, chuẩn mực đạo đức xã hội. Tiến sỹ, Luật sư Lê Ngọc Khánh phân tích sự cần thiết của Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. (Ảnh NVCC.) Tiến sỹ, Luật sư Lê Ngọc Khánh phân tích sự cần thiết của Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. (Ảnh NVCC) Theo thống kê của Digital (số liệu tính tới thời điểm tháng 01/2021) thì: Số lượng người dùng Internet ở Việt Nam là 68.720.000 người, tăng 551.000 người (tăng 0,8%) trong giai đoạn 2020-2021, chiếm 70,3% dân số; số lượng người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam là 72 triệu (tăng hơn 7 triệu người trong vòng 1 năm), tương đương 73,7% tổng dân số, tăng 7.000.000 người (tăng 11%) trong giai đoạn 2020-2021… Với số lượng người dùng mạng xã hội lớn như ở Việt Nam thì việc ban hành Bộ Quy tắc ứng xử để điều chỉnh mọi hành vi trên mạng xã hội là việc làm rất cần thiết. Trên thực tế, bất cứ một quốc gia nào cũng thiết lập hế thống pháp luật điều chỉnh mọi hành động trên Internet, mạng xã hội của các thành viên tham gia trên nền tảng mạng xã hội của quốc gia đó. Nó được xem như chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia trên không gian mạng. Đã có nhiều tổ chức, quốc gia trên thế giới ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng, như năm 2002 Trung Quốc đưa ra “Cam kết cộng đồng về nguyên tắc cơ bản trong ngành Công nghiệp internet”; ngày 31/5/2016 Liên minh Châu Âu đã ban hành “Bộ Quy tắc ứng xử chống lại những thông tin gây thù hận, nói xấu bất hợp pháp trên mạng”,… Hình ảnh Youtuber Thơ Nguyễn trong video “xin vía” từ búp bê khiến dư luận bức xúc. Hình ảnh Youtuber Thơ Nguyễn trong video “xin vía” từ búp bê khiến dư luận bức xúc. Tuy nhiên, ngoài những tác dụng to lớn, hữu ích của mạng xã hội mang lại, thời gian qua không ít kẻ xấu, các phần tử cơ hội, thực dụng, phản động, có cả người dùng mạng xã hội thiếu hiểu biết vô tình vi phạm các hành vi như tung tin giả, giật tít, câu like, đăng tải những thông tin, hình ảnh, video nhảm nhí, thiếu chuẩn mực đạo đức, ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục của người Việt;… đồng thời các thế lực thù địch cũng lợi dụng mạng xã hội để đăng tải những thông tin sai sự thật, lừa bịp, xuyên tạc chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước; kích động người dân có hành vi sai trái, vi phạm pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Đảng, Nhà nước ta luôn đề cao vai trò, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Với Luật An ninh mạng năm 2018, đã giúp tăng cường các biện pháp giám sát hệ thống thông tin và truyền thông, quản lý các thông tin đăng tải trên mạng. Đồng thời, Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội đã được ban hành, đáp ứng nhu cầu cấp thiết nhằm giữ vững môi trường sạch, lành mạnh trên mạng xã hội. Điều dễ dàng nhận thấy việc chấp hành nghiêm Bộ quy tắc ứng xử này sẽ điều chỉnh những hành vi trên mạng xã hội tuân thủ pháp luật, giữ gìn sự trong sáng, lành mạnh của thông tin, người dùng mạng xã hội biết cách tôn trọng, giữ gìn bí mật thông tin của Quốc gia dân tộc, biết cách tuân thủ, chấp hành quy tắc đạo đức, giữ gìn chuẩn mực đạo đức xã hội, chịu trách nhiệm về mọi hành vi của bản thân,… theo khuôn khổ pháp luật. Điều đó hoàn toàn có thể thấy, Bộ Quy tắc này là phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định pháp luật, không hề có việc đàn áp nhân quyền, tự do, ngôn luận, tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi hành vi “thượng tôn pháp luật”, xây dựng mạng xã hội Việt Nam lành mạnh, tích cực đều được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, ai vi phạm thì chiếu theo văn bản pháp luật mà điều chỉnh hành vi ứng xử và xử lý vi phạm pháp luật theo quy định. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu chỉ đạo tại hội nghị trực tuyến giao ban quản lý nhà nước quý II/2021. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu chỉ đạo tại hội nghị trực tuyến giao ban quản lý nhà nước quý II/2021. Tóm lại, Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội được ban hành là rất cần thiết, đáp ứng được sự điều chỉnh nhằm mang lại tính lành mạnh, trong sáng, tích cực của mạng xã hội ở Việt Nam. Bộ Quy tắc này là “hạ tầng”, cụ thể hóa “thượng tầng” Luật An ninh mạng năm 2018, là phương thức để mỗi người dân nhận thấy quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trên mạng xã hội. Đồng thời, với việc yêu cầu định danh người dùng mạng xã hội, đây được cho là giải pháp căn cơ để xử lý vấn nạn tin giả, “truyền thông đen”,… qua đó sẽ tác động đến nhận thức và hành động của người dân, cùng chung tay xây dựng môi trường mạng xã hội Việt Nam ngày càng lành mạnh, thân thiện, văn minh, hiện đại; không còn tin giả, tin không chính thống, hướng đến giữ gìn những giá trị văn hóa đặc sắc con người Việt Nam, giúp mạng xã hội trở thành công cụ hữu ích cho người dân giao lưu xã hội, văn hóa, học tập, trao đổi kinh nghiệm, nơi thể hiện tình cảm cá nhân,… Quán triệt và thực hiện nghiêm Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội, mỗi người dân, người dùng Internet, người dùng mạng xã hội, nhất là cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu, kỹ, nắm chắc các quy định, quy tắc ứng xử trên mạng xã hội đã được đề cập trong Bộ Quy tắc trên gắn với thực hiện tốt Luật An ninh mạng năm 2018. Điều chỉnh mọi phát ngôn, hành động của bản thân theo đúng pháp luật đã quy định, thể hiện nét đẹp văn hóa trong sáng, lành mạnh, thượng tôn pháp luật, biết tôn vinh, ngợi ca, biểu dương cái đẹp, điều tốt, đồng thời biết phê phán, đấu tranh với mọi quan điểm, hành động sai trái, luận điệu xuyên tạc, phản động; like, chia sẻ, tương tác với các thông tin trên mạng xã hội có trách nhiệm và hữu ích; góp phần cùng các cơ quan chức năng giữ vững chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng. Nguon: Trang tin điện tử Đảng bộ tp HCM

Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cơ sở, nhất là người đứng đầu và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị.

 Cấp ủy cơ sở là hạt nhân lãnh đạo chính trị có vai trò quan trọng, quyết định tổ chức thực hiện thành công mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo đó, để phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cơ sở đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đòi hỏi phải thực hiện quyết liệt, đồng bộ, toàn diện, thường xuyên, hiệu quả 4 khâu trong tổ chức thực hiện nghị quyết như sau:

1. Trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức học tập, quán triệt và thảo luận xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng. Ở khâu này, đòi hỏi cấp ủy cơ sở, nhất là người đứng đầu phải nghiên cứu nắm vững các quan điểm mới, các nhiệm vụ trọng tâm, các khâu đột phá… của nghị quyết; đồng thời trên cơ sở học tập, bám sát định hướng đề cương nghiên cứu, kế thừa những cách thức quán triệt của cấp ủy cấp trên, lựa chọn các hình thức phù hợp, sáng tạo (học tập, tọa đàm, hỏi đáp, thi tìm hiểu…), phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, của phương tiện thông tin, truyền thông, phát thanh viên, báo cáo viên cơ sở. Phương châm quán triệt: Rõ hơn về điểm mới, sát với đối tượng, phù hợp với thực tiễn. Đồng thời phát huy dân chủ, tổ chức thảo luận, rà soát, bổ sung các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp… thống nhất ban hành chương hành động thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp của Đảng bộ. Yêu cầu chung về chương trình hành động phải bảo đảm: đúng định hướng nhưng phù hợp với thực tiễn; bảo đảm tính toàn diện song phải có trọng tâm, trọng điểm; vừa tập trung giải quyết vấn đề trước mắt, song phải chú trọng lợi ích, hiệu quả lâu dài. Theo đó, chương trình hành động có tính khả thi phải rõ: Rõ về mục tiêu, chỉ tiêu; rõ về nội dung, cách thức; rõ về điều kiện, nguồn lực; rõ về trách nhiệm tổ chức thực hiện. Qua đó, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, khơi dậy khát vọng và ý chí vươn lên của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo tiền đề quan trọng để toàn đảng bộ quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt thực hiện thắng lợi nghị quyết.

2. Trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân hành động, hiện thực hóa và cụ thể hóa chương trình hành động thành phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, đơn vị. Theo đó, cấp ủy lãnh đạo chính quyền khẩn trương, kịp thời cụ thể hóa chương trình hành động thành các cơ chế, chính sách, các chương trình, đề án, dự án, kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện; lãnh đạo mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tuyên truyền, vận động, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng các mô hình, điển hình trong phát triển kinh tế - xã hội, trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Mấu chốt cơ bản ở khâu này là sự “kết nối” giữa các lực lượng. Bởi vậy, để tổ chức triển khai có hiệu quả, phát huy được sức mạnh, sự chủ động và sáng tạo của cả hệ thống chính trị đòi hỏi công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy phải rõ về cơ chế phối hợp theo phương châm: Rõ việc; rõ chủ thể (chủ trì, phối hợp); rõ về điều kiện, thời gian; rõ về phương pháp, cách thức, quy trình; rõ về mô hình, sản phẩm.

3. Trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện kịp thời, điều chỉnh chỉ tiêu, nhiệm vụ cho phù hợp với thực tiễn. Tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng là quá trình lâu dài liên quan đến nhiều yếu tố, nhiều lĩnh vực, để thực hiện thành công đòi hỏi cấp ủy, nhất là người đứng đầu phải thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát. Qua kiểm tra, giám sát để phát hiện những yếu tố không phù hợp, thậm chí là sai lệch, từ đó kịp thời điều chỉnh đúng định hướng, phù hợp thực tiễn, đem lại kết quả cao. Để làm tốt khâu này đòi hỏi cấp ủy phải có năng lực vừa bao quát, vừa sâu sát, cụ thể đến từng người, từng việc với phương châm: phải đến tận chỗ, rõ tận việc, thường xuyên kiểm tra, kịp thời điều chỉnh.

4. Trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác sơ kết, tổng kết thực hiện nghị quyết. Nội dung sơ kết, tổng kết là đánh giá những kết quả đạt được trong lãnh đạo, chỉ đạo; những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân và kinh nghiệm. Yêu cầu trong đánh giá sơ kết, tổng kết phải khách quan, toàn diện; lịch sử, cụ thể và thực tiễn, tránh biểu hiện chung chung, hình thức, nặng về thành tích, coi nhẹ những hạn chế, tồn tại. Mục tiêu chính của khâu này là thông qua đánh giá để khẳng định được thành tích, kết quả, những mô hình hay, cách làm hiệu quả; rút ra được những kinh nghiệm quý của thành công và thất bại để có giải pháp vừa khắc phục những hạn chế vừa phát huy được những thành tích, coi trọng tổng kết thực tiễn để hoàn thiện, phát triển lý luận thúc đẩy sự phát triển toàn diện ở địa phương, đơn vị.

Áp thấp nhiệt đới hình thành trên Biển Đông

Sáng 6/7, áp thấp nhiệt đới mạnh lên từ vùng áp thấp trên Biển Đông, trong hôm nay có khả năng phát triển thành bão. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia cho biết, sức gió mạnh nhất tâm áp thấp nhiệt đới là 49 km/h, cấp 6, giật tăng hai cấp. Dự báo, hôm nay áp thấp nhiệt đới theo hướng tây bắc, tốc độ khoảng 10 km/h và có khả năng mạnh lên thành bão. Đến 4h ngày mai, tâm bão ở cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 120 km về phía đông nam, sức gió mạnh nhất 74 km/h, cấp 8. Các đài quốc tế hiện chưa phát tin về áp thấp nhiệt đới trên biển Đông. Ông Nguyễn Văn Hưởng, Trưởng phòng Dự báo Khí hậu (Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia) cho biết, cùng lúc này phía nam đảo Đài Loan (Trung Quốc) cũng xuất hiện một áp thấp nhiệt đới, nhưng sẽ không ảnh hưởng đến đất liền Việt Nam. "Tuy nhiên, sự xuất hiện của áp thấp nhiệt đới phía ngoài sẽ ngăn cản không cho khối không khí biển trên cao lấn vào, do đó làm cho áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông hôm nay sẽ đi theo hướng tây bắc", ông Hưởng nói. Khi áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông mạnh lên thành bão cũng là lúc vùng áp thấp nhiệt đới phía trên đổ bộ vào khu vực Phúc Kiến (Trung Quốc). Lúc này khối không khí biển sẽ lấn vào, làm bão chuyển hướng tây tây bắc. Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão, từ ngày mai (7/7) đến hết ngày 8/7 Bắc Bộ và bắc miền Trung sẽ xuất hiện một đợt mưa to với lượng mưa phổ biến hơn 100 mm, có nơi hơn 200 mm. Vùng nguy hiểm do áp thấp nhiệt đới có khả năng mạnh lên thành bão trên Biển Đông trong 24 giờ tới (gió mạnh từ cấp 6 trở lên, giật từ cấp 8 trở lên) từ 14.5 đến 19 độ Bắc; từ 110 đến 114 độ Đông. Vùng biển phía tây khu vực bắc Biển Đông (bao gồm cả vùng biển quần đảo Hoàng Sa) có gió mạnh cấp 6, sau tăng lên cấp 7, vùng gần tâm bão mạnh cấp 8, giật cấp 10, sóng biển cao từ 2,5 đến 4,5 m.

4 nữ bệnh nhân Covid-19 tử vong

Bộ Y tế sáng 6/7 công bố 4 bệnh nhân Covid-19 tử vong đều là nữ, có tiền sử bệnh lý nền nặng, ở Nghệ An, TP HCM, Hà Tĩnh và Hà Nội. Theo Tiểu ban điều trị, 4 ca tử vong được ghi nhận số 91-94. Ca tử vong thứ 91 là "bệnh nhân 13881", 71 tuổi, địa chỉ Vinh Tân, Vinh, Nghệ An, tiền sử đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, thoái hóa khớp, hội chứng cushing. Bệnh nhân được xác định dương tính, điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An ngày 23/6, chẩn đoán viêm phổi do nCoV trên bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, hội chứng cushing. Bà tử vong ngày 5/7 với chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, viêm phổi nặng do Covid-19 biến chứng suy hô hấp tiến triển, trên nhiều bệnh nền. Ca tử vong thứ 92 là "bệnh nhân 19182", 62 tuổi, ở TP Thủ Đức, TP HCM, tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, bệnh thận mạn tính, suy tim rung nhĩ mạn tính. Bệnh nhân dương tính, điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP HCM ngày 30/6, chẩn đoán viêm phổi do nCoV biến chứng suy hô hấp tiến triển trên nhiều bệnh nền. Bệnh nhân tử vong ngày 3/7, chẩn đoán nguyên nhân thuyên tắc phổi, sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi do nCoV biến chứng suy hô hấp tiến triển trên bệnh nền. Ca tử vong thứ 93 là "bệnh nhân 8581", 97 tuổi, địa chỉ Nguyễn Du, TP Hà Tĩnh, tiền sử tăng huyết áp nhiều năm, không điều trị thường xuyên. Ngày 5/6, bệnh nhân xét nghiệm dương tính, điều trị ở Bệnh viện Đa khoa Khu vực Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo, ho, khó thở tăng dần. Ngày 9/6, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, chẩn đoán viêm phổi do nCoV trên bệnh nhân tăng huyết áp. Bệnh nhân tử vong ngày 4/7 với chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi do nCoV, áp xe đùi phải, tăng huyết áp. Ca thứ 94 là "bệnh nhân 3180", 62 tuổi, địa chỉ Hà Đông, Hà Nội, tiền sử ung thư tụy từ tháng 2/2021, chỉ định phẫu thuật nhưng bệnh nhân từ chối và xin về nhà dùng thuốc nam. Bệnh nhân còn bị tăng huyết áp, đái tháo đường nhiều năm. Bệnh nhân điều trị tại khoa Gan Mật Tụy, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều, được chẩn đoán Carcinoma đầu tụy xâm lấn, xét nghiệm nCoV dương tính. Ngày 8/5, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương điều trị, chẩn đoán viêm phổi do nCoV trên bệnh nhân K tụy di căn gan, phổi, tăng huyết áp. Bệnh nhân tử vong ngày 5/7, chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi do nCoV, ung thư tụy di căn gan, phổi, tăng huyết áp, đái tháo đường. Như vậy, số ca tử vong của đợt dịch này lên 59, nâng tổng số ca Covid-19 tử vong kể từ đầu năm 2020 đến nay lên 94.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

1. Sự phát triển và tác động đa chiều của mạng xã hội ở Việt Nam

Mạng xã hội bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 2000 và phát triển với tốc độ nhanh chóng, dần trở thành nhu cầu thiết yếu của xã hội. Sự phổ biến nhanh chóng của mạng xã hội đưa đến cả tác động tích cực và tiêu cực, bên cạnh những lợi ích không nhỏ là những hệ lụy khôn lường nếu không biết cách sử dụng, quản lý. Điều này đặt ra vấn đề cấp thiết trong công tác quản trị, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi các thế lực thù địch ra sức lợi dụng mạng xã hội để thực hiện nhiều chiêu trò và phương thức tinh vi, nguy hiểm nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Trên thực tế, một số người thiếu ý thức và trách nhiệm với cộng đồng đã sử dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật, lôi kéo những người dân nhẹ dạ cả tin, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng xấu đến ổn định xã hội. Một số trang mạng sử dụng các chiêu trò xuyên tạc, thổi phồng sự việc, bóp méo bản chất vấn đề, kích thích trí tò mò của công chúng, gây chia rẽ nội bộ, hoài nghi trong dư luận. Một số tổ chức, cá nhân đưa thông tin sai lệch, lợi dụng các tiện ích của mạng xã hội để thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng, từ đó định hướng dư luận, thậm chí truyền bá lối sống ích kỷ, bạo lực, lừa đảo trên mạng, khiến một bộ phận thanh niên lệch chuẩn trong lối sống. Nếu trước kia, người dân tôn vinh những anh hùng dân tộc, anh hùng trong lao động sản xuất, chiến đấu hoặc là các danh nhân văn hóa… thì hiện nay một số người trẻ tuổi lại mất phương hướng, thần tượng những người vi phạm pháp luật, với những hành vi sai trái, lệch chuẩn trên mạng xã hội. Không ít người bị dẫn dắt bởi các thông tin độc hại trên mạng xã hội, tin theo những luận điệu của chúng và bị mua chuộc, trở thành công cụ phục vụ cho mưu đồ của các thế lực phản động. Chúng thiết lập và sử dụng các trang mạng xã hội nhằm tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, bôi nhọ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,… khiến một bộ phận người dân hoang mang, dao động, mất niềm tin vào chế độ. Nhiều trang mạng xã hội đã lợi dụng những sai sót của một số cán bộ, đảng viên trong quản lý kinh tế để kích động dư luận, hình thành tư tưởng chống đối, kêu gọi biểu tình chống chế độ, làm xuất hiện các điểm nóng chính trị - xã hội. Một số trang mạng đã đăng tải thông tin không đúng sự thật, kích động người dân bạo loạn, cung cấp các tài liệu sai lệch, tạo diễn đàn xuyên tạc, nói xấu chính quyền.

2. Đấu tranh với các quan điểm sai trái trên mạng xã hội ở Việt Nam.

Do đó, để tăng cường đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay, các cấp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cần:

Tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng; xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng.

Đẩy mạnh định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những vấn đề quan trọng trong nước và quốc tế là góp phần tạo ra sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; củng cố niềm tin, cổ vũ phong trào cách mạng.

Cần có chế tài xử phạt nghiêm minh với những hành vi cố tình đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật lên mạng xã hội, hành vi xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại quan hệ quốc tế của đất nước.

Tăng cường quản lý chặt chẽ các hoạt động trên không gian mạng, phát huy ưu thế của mạng xã hội trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ VÀ DÂN CHỦ

Thực tế có hai cách hiểu khác nhau về “đa nguyên chính trị” và “dân chủ”. Cách thứ nhất, coi đa nguyên chính trị là một điều kiện tiên quyết, là sự khai mở cho một nền dân chủ của xã hội. Cách thứ hai, xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ. Sở dĩ xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ là vì:

Một là, đa nguyên chính trị, và thậm chí trong đó có cả đa đảng (đối lập), không phải là một giá trị phổ quát của nhân loại, đồng thời không phải là thực tế hiện hữu trong tất cả các thời kỳ của một quốc gia - dân tộc. Số người có ý kiến này còn cho rằng, đa nguyên chính trị là một giá trị văn hóa tốt đẹp phổ quát của nhân loại, khi nhân loại tiến bước mạnh mẽ trên con đường dân chủ, mà đã là dân chủ thì xã hội mới có sự phát triển được, chứ nhất nguyên chính trị chỉ dẫn đến sự kìm hãm và bóp nghẹt sự phát triển của xã hội, thậm chí dẫn xã hội đến chỗ nghẹt thở của chế độ độc tài mà thôi.

Hai là, một đảng duy nhất trong xã hội và đảng đó đóng vai trò cầm quyền vẫn bảo đảm và phát huy được dân chủ trong xã hội. Đã có một số công trình nghiên cứu của Việt Nam công bố trên một số tạp chí và báo trong nước, chủ yếu là ở trong các lực lượng vũ trang, nêu lên lập luận liên quan vấn đề này. Nhiều bài viết rất công phu, phân tích chặt chẽ. Nhưng cũng có không ít bài lại dùng lý lẽ Mác - Lênin để đối thoại với cả những người “phá bĩnh”, trích dẫn cả C.Mác viết như thế này, Ph.Ăngghen viết như thế kia, rồi V.I.Lênin đã lập luận như vậy, Hồ Chí Minh nói như thế, như thế… Phương pháp này không hiệu quả.

Sở dĩ xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ là vì: Việt Nam hiện nay không chấp nhận đa nguyên chính trị và đa đảng. Để giữ vững bản chất của Đảng đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là đảng cầm quyền, cần chú ý đến những vấn đề sau: (i) Cần khẳng định vị thế, hay tính chính đáng, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; (ii) Dân chủ còn đi liền với phản biện xã hội.

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO Ở VIỆT NAM

 “Nhà nước kiến tạo phát triển”, “Chính phủ kiến tạo” là những thuật ngữ được giới nghiên cứu bàn luận sôi nổi trong những năm gần đây ở Việt Nam. Ở khía cạnh kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm dân chủ trong quá trình xây dựng Chính phủ kiến tạo, xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên thế giới cũng như những đặc điểm cụ thể của Việt Nam.

Nhà nước kiến tạo phát triển phải là một “nhà nước mạnh”, đây là đặc trưng nổi bật. Tuy nhiên, với việc thể hiện đặc trưng này, góc độ nào đó sẽ mâu thuẫn với dân chủ xã hội. Do đó, trong bối cảnh hiện nay, phương hướng chung cần xác định là tập trung xây dựng nhà nước mạnh, đủ sức áp đặt chính sách song phải phát huy dân chủ trong tất cả các khâu, quy trình hoạch định chính sách công để hạn chế tối đa việc ban hành và thực thi những chính sách tùy tiện. Từ phương hướng chung có thể xác định một số định hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội đối với quá trình xây dựng Chính phủ kiến tạo.

Thứ hai, xây dựng ngành tư pháp theo hướng độc lập chỉ tuân theo pháp luật, bảo vệ công lý, hạn chế những hoạt động tùy tiện, lạm quyền của Chính phủ.

Thứ ba, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quá trình xây dựng Chính phủ kiến tạo.

Thứ tư, mở rộng vai trò tham gia phản biện, thực thi, giám sát của nhân dân và xã hội đối với quá trình kiến tạo các chính sách phát triển của Chính phủ.

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHẢN BÁC SỰ XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Về mặt nội dung, chúng thường sử dụng một số thủ đoạn sau đây:

Kẻ chống phá ra sức phủ định sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng. Chúng cho rằng, xét về nội dung thì Hồ Chí Minh chỉ giỏi tổng hợp lại chủ kiến của người chứ không có tư tưởng của mình; xét về hình thức thì Hồ Chí Minh chỉ có bức thư ngắn, bài viết, bài nói ngắn chứ không có các tác phẩm lớn như các nhà tư tưởng khác. Việc kẻ chống phá “quay lưng” với những bằng chứng xác thực về giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh không xuất phát từ lý do khoa học mà từ động cơ chính trị đen tối; đây không phải là sự cố chấp, bảo thủ mà là sự cố tình phủ nhận, “đổi trắng thay đen”.

Đối ngược lại với sự phủ nhận, thủ đoạn thâm độc hơn của chúng là “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin và cho rằng, chủ nghĩa Mác Lênin đã lỗi thời, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Đây chính là thủ đoạn “nâng lên” để “hạ xuống” bởi chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm nên bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất thì đó cũng không còn là tư tưởng Hồ Chí Minh với những đặc tính tốt đẹp.

Chúng còn chủ tâm cắt xén những câu nói, câu viết của Hồ Chí Minh và tách câu nói đó ra khỏi văn cảnh để làm sai lệch tư tưởng của Người. Đây cũng là một thủ đoạn hết sức tinh vi bởi cũng như mọi học thuyết lý luận chân chính khác, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử và ra đời để giải quyết yêu cầu của lịch sử lúc đó; “đẩy” tư tưởng của Người ra ngoài giới hạn sinh tồn của nó. Việc “cắt xén” và “bóc tách” các câu nói của Hồ Chí Minh ra khỏi văn cảnh và hệ thống quan điểm nhất quán sẽ dẫn đến việc làm sai lệch tư tưởng của Người.

Mục đích sâu xa của việc xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh là để phủ nhận quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản nên một thủ đoạn nữa mà chúng hay dùng là đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối của Đảng, lấy tấm gương đạo đức, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh để thóa mạ Đảng.

Chúng còn ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây thực chất là sự phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của di sản Hồ Chí Minh. Lý do chúng đưa ra là: Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ có giá trị trong cách mạng giải phóng dân tộc, còn thế giới ngày nay là thế giới hội nhập; tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là không thể học tập vì Hồ Chí Minh là bậc “thánh nhân” trong khi chúng ta là người thường, Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.

Một số giải pháp phản bác sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong cuộc đấu tranh tư tưởng thì tuyên truyền và phản tuyên truyền là 2 mặt không thể tách rời. Do vậy, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh thì tất yếu phải phản bác các thông tin xuyên tạc; phải có sự phối hợp hành động của toàn hệ thống chính trị và phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp sau:

Một là, nâng cao ý thức cảnh giác và nhận thức của toàn Đảng, toàn dân về tầm quan trọng và trách nhiệm cá nhân trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, sự thống nhất quan điểm là điều trước tiên phải làm.

Hai là, đẩy mạnh việc tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân về giá trị, tầm vóc, sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ba là, tăng cường cuộc đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc của kẻ xấu, nhất là trên không gian mạng.

Bốn là, đẩy mạnh việc kiểm soát các trang mạng độc hại, chấn chỉnh sự phát ngôn thiếu trách nhiệm và tăng cường việc tác chiến trên không gian mạng.

Năm là, tiến hành tổng kết kinh nghiệm về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Việc tổng kết kinh nghiệm sẽ mang lại cách làm hay, loại bỏ những cách làm chưa hiệu quả.

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN LIÊU, CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN, LỐI SỐNG CƠ HỘI, THỰC DỤNG, NÓI KHÔNG ĐI ĐÔI VỚI LÀM, BÈ PHÁI, “LỢI ÍCH NHÓM”

Bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm suy yếu hệ thống chính trị.

Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là:

Thứ nhất, đề cao và tăng cường tính tự chủ, tự quản về kinh tế, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đạt chất lượng hiệu quả, giảm thiểu sự can thiệp mang tính hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ hai, mở rộng và tăng cường dân chủ trong Đảng và trong xã hội, đặc biệt là dân chủ trực tiếp;, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân.

Thứ ba, đẩy mạnh việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; đẩy mạnh công khai hóa, minh bạch hóa hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước; xây dựng cơ chế phản biện xã hội đối với những vấn đề quan trọng của đất nước.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể nhân dân trong chống quan liêu.

4 nữ bệnh nhân Covid-19 tử vong

Bộ Y tế sáng 6/7 công bố 4 bệnh nhân Covid-19 tử vong đều là nữ, có tiền sử bệnh lý nền nặng, ở Nghệ An, TP HCM, Hà Tĩnh và Hà Nội. Theo Tiểu ban điều trị, 4 ca tử vong được ghi nhận số 91-94. Ca tử vong thứ 91 là "bệnh nhân 13881", 71 tuổi, địa chỉ Vinh Tân, Vinh, Nghệ An, tiền sử đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, thoái hóa khớp, hội chứng cushing. Bệnh nhân được xác định dương tính, điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An ngày 23/6, chẩn đoán viêm phổi do nCoV trên bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, hội chứng cushing. Bà tử vong ngày 5/7 với chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, viêm phổi nặng do Covid-19 biến chứng suy hô hấp tiến triển, trên nhiều bệnh nền. Ca tử vong thứ 92 là "bệnh nhân 19182", 62 tuổi, ở TP Thủ Đức, TP HCM, tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, bệnh thận mạn tính, suy tim rung nhĩ mạn tính. Bệnh nhân dương tính, điều trị tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP HCM ngày 30/6, chẩn đoán viêm phổi do nCoV biến chứng suy hô hấp tiến triển trên nhiều bệnh nền. Bệnh nhân tử vong ngày 3/7, chẩn đoán nguyên nhân thuyên tắc phổi, sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi do nCoV biến chứng suy hô hấp tiến triển trên bệnh nền. Ca tử vong thứ 93 là "bệnh nhân 8581", 97 tuổi, địa chỉ Nguyễn Du, TP Hà Tĩnh, tiền sử tăng huyết áp nhiều năm, không điều trị thường xuyên. Ngày 5/6, bệnh nhân xét nghiệm dương tính, điều trị ở Bệnh viện Đa khoa Khu vực Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo, ho, khó thở tăng dần. Ngày 9/6, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, chẩn đoán viêm phổi do nCoV trên bệnh nhân tăng huyết áp. Bệnh nhân tử vong ngày 4/7 với chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi do nCoV, áp xe đùi phải, tăng huyết áp. Ca thứ 94 là "bệnh nhân 3180", 62 tuổi, địa chỉ Hà Đông, Hà Nội, tiền sử ung thư tụy từ tháng 2/2021, chỉ định phẫu thuật nhưng bệnh nhân từ chối và xin về nhà dùng thuốc nam. Bệnh nhân còn bị tăng huyết áp, đái tháo đường nhiều năm. Bệnh nhân điều trị tại khoa Gan Mật Tụy, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều, được chẩn đoán Carcinoma đầu tụy xâm lấn, xét nghiệm nCoV dương tính. Ngày 8/5, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương điều trị, chẩn đoán viêm phổi do nCoV trên bệnh nhân K tụy di căn gan, phổi, tăng huyết áp. Bệnh nhân tử vong ngày 5/7, chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn, viêm phổi do nCoV, ung thư tụy di căn gan, phổi, tăng huyết áp, đái tháo đường. Như vậy, số ca tử vong của đợt dịch này lên 59, nâng tổng số ca Covid-19 tử vong kể từ đầu năm 2020 đến nay lên 94.

Hà Nội phát hiện 10 ca dương tính nCoV trong hai ngày

Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Hà Nội sáng 6/7 thông báo ghi nhận 9 người dương tính nCoV, gồm 5 người trong một gia đình, 3 F1 và một lái xe taxi, nâng số ca hai ngày qua lên 10. Các ca này Bộ Y tế chưa định mã số bệnh nhân, xem như nghi nhiễm. Chuỗi lây nhiễm mới này chấm dứt 9 ngày Hà Nội không ghi nhận ca Covid-19 cộng đồng. Trong đó, người đàn ông 39 tuổi, địa chỉ tại An Mỹ, Mỹ Đức, là lao động tự do. Ngày 13/6, anh cùng một người bạn sinh năm 33 tuổi, địa chỉ Thi Sơn, Kim Bảng, Hà Nam, đi từ Hà Nội vào huyện Hoàng Mai, Nghệ An, để bán xe cho khách, sau đó đón xe khách đi về Hà Nam trong ngày. Người bạn này buôn bán xe tải, máy xúc; có triệu chứng bệnh từ ngày 1/7, được Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nam xét nghiệm PCR dương tính ngày 5/7, sáng nay Bộ Y tế công bố là "bệnh nhân 21037". Buổi tối, anh người Hà Nội ngủ lại nhà người bạn ở Hà Nam. Ngày hôm sau, anh về nhà, không đi đâu, chỉ tiếp xúc với vợ và 3 con. Ngày 23/6, anh cùng vợ con đến nhà bố mẹ vợ tại thành phố Hòa Bình, đến 23h đêm thì về nhà. Ngày 28/6, anh sốt nhẹ, đến ngày 5/7 vẫn còn sốt, ho, khám tại Bệnh viện đa khoa huyện Mỹ Đức test nhanh dương tính. Mẫu bệnh phẩm được chuyển Bệnh viện đa khoa Hà Đông xét nghiệm kết quả dương tính sàng lọc lần một. Sáng 6/7, CDC Hà Nội cho biết anh xét nghiệm khẳng định dương tính nCoV. Vợ và 3 con anh này, lần lượt 38 tuổi, 18 tuổi, 14 tuổi và 8 tuổi, đều có triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh từ 1/7, xét nghiệm nhanh kết quả dương tính. Tới sáng 6/7, họ cũng nhận kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính nCoV. Hiện, cả gia đình điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang. Chiều 5/7, Hà Nội phát hiện một ca dương tính là bảo vệ công ty ở khu công nghiệp Thăng Long. Có ba người liên quan ca này, xét nghiệm dương tính nCoV, gồm nữ, 34 tuổi, ở cùng xóm trọ, nhân viên Công ty TNHH Molex Việt Nam; hai người đàn ông gồm 46 tuổi và 43 tuổi, cùng làm bảo vệ tại Công ty TNHH linh kiện điện tử SEI. Các công ty này đều có địa chỉ tại Khu công nghiệp Thăng Long thuộc huyện Đông Anh. Ca dương tính cuối cùng ghi nhận sáng nay là nam tài xế lái taxi, 42 tuổi, sống ở Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội. Người này đã lái xe chở 4 người quê Thanh Hóa từ TP HCM ra Hà Nội đi chuyến bay VN286 ngày 3/7. Liên quan gia đình 5 người nghi nhiễm ở An Mỹ, Mỹ Đức, CDC Hà Nội điều tra, truy vết, xác minh sơ bộ 401 người, gồm 60 F1, 194 F2 và 147 F3, lấy mẫu song chưa có kết quả xét nghiệm. Khu vực gia đình sinh sống và Phòng khám đa khoa An Mỹ đã bị phong tỏa, các trường hợp tiếp xúc và có liên quan tiếp tục được điều tra, truy vết. Cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra, truy vết những người liên quan đến gia đình này. Ngoài ra, huyện Mỹ Đức đã tiến hành lập chốt kiểm soát, khoanh vùng cách ly y tế khu vực có dịch đối với ổ dịch tại thôn Kênh Đào, xã An Mỹ, gồm 618 hộ gia đình với tổng số 2.190 nhân khẩu. Với chùm ca tại Đông Anh, CDC Hà Nội điều tra được 61 người tiếp xúc gần (F1). Trong số này, 49 người tiếp xúc gần nam bảo vệ tại Công ty SEI, trong đó 46 người âm tính; người phụ nữ làm việc tại Công ty Molex có 12 F1, chưa có kết quả xét nghiệm. Có 1.804 người khác liên quan tới 4 ca bệnh được lấy mẫu xét nghiệm, 1.789 trường hợp âm tính, còn lại chưa có kết quả.

XUYÊN TẠC, BÓP MÉO VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Một trong những nội dung thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, chống phá, bóp méo đối với nước ta đó là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ cho rằng, không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản.

Họ còn cao giọng rằng, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; Gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục.

Nhưng thực tế thì sao? Những thành quả phát triển kinh tế trong 35 năm qua của một đất nước đã phải trải qua ba thập kỷ bị chiến tranh tàn phá, gần 1 thế kỷ bị thực dân đô hộ rõ ràng là minh chứng thuyết phục nhất để bác lại những nhận định bóp méo sự thật trên.

Các chuyên gia cũng đã nhiều lần khẳng định: đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.

Thế nhưng trong một bài viết mới đây, trang VOA tiếng Việt, vẫn hàm hồ bình luận rằng, việc lựa chọn nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam là bóp nghẹt kinh tế tư nhân, và không có tự do cạnh tranh.

Thực tiễn 35 năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều Nghị quyết khẳng định vai trò và vị thế của kinh tế tư nhân.

Nghị quyết số 10, Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII đã xác định "kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế". Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: Phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế.

Trong những năm qua, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra khoảng 40% GDP, 30% ngân sách Nhà nước và thu hút khoảng 85% lực lượng lao động. Những thay đổi trong chủ trương, chính sách đã tạo ra những thành tựu to lớn trong sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta.

Nhiều phần tử xấu cũng xuyên tạc về mô hình mà Việt Nam lựa chọn để phát triển. Cho rằng đây là một khái niệm mơ hồ, không có trong thực tế. Nhất là vào thời điểm chuẩn bị diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch đã bình luận rằng: Kinh tế thị trường và xã hội chủ nghĩa khác nhau như nước với lửa; Không có nền kinh tế thị trường nào lại có thể kết hợp cùng xã hội chủ nghĩa.

Đây là một sự gán ghép khiên cưỡng, kìm hãm thể chế thị trường và kìm hãm cải cách. Tất cả nhằm mục đích làm giảm lòng tin của nhân dân vào con đường phát triển kinh tế mà Đảng đã lựa chọn.