Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

Rào chắn ý thức


          Từ những chốt kiểm soát các trục đường ra vào thành phố cũng như ở các khu cách ly và phong tỏa, Hà Nội tới nay đã dỡ bỏ các chốt, rào chắn kiểm soát để phòng chống dịch bệnh.

          Sau 2 tháng kể từ ngày thực hiện giãn cách xã hội "ai ở đâu ở yên đấy" theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, người dân Hà Nội nếu có công việc đã có thể ra đường, làm việc mà không còn phải "vướng" các chốt hay rào chắn kiểm soát. Đây là kết quả của những nỗ lực phòng chống dịch của cả hệ thống chính trị cũng như mỗi người dân thủ đô.

          Sau 4 đợt giãn cách xã hội kể từ ngày 24-7, số ca mắc Covid-19 mới mỗi ngày ở Hà Nội nhìn chung nằm trong xu hướng giảm dần. Nếu như trong đợt giãn cách 14 ngày đầu tiên, số ca mắc mới trung bình mỗi ngày là 71,2 ca/ngày, đợt 2 giảm xuống 56,8 ca/ngày nhưng đợt 3 lại tăng lên 71,1 ca/ngày thì trong 14 ngày của đợt 4 đã giảm mạnh còn trung bình 27,7 ca mỗi ngày. Đáng chú ý là số ca mắc ghi nhận tại cộng đồng trong đợt 4 chỉ trung bình 2,2 trường hợp mỗi ngày.

          Trong khi đó, tính tới thời điểm hết đợt giãn cách thứ 4 (ngày 20-9), TP Hà Nội đã tiêm được hơn 5,5 triệu liều vắc-xin ngừa Covid-19, tương đương với hơn 83% số người trong độ tuổi tiêm chủng được tiêm ít nhất 1 mũi vắc-xin. Nếu tính cả số người tiêm tại các bệnh viện trung ương đóng trên địa bàn TP Hà Nội thì tỉ lệ này còn cao hơn.

          Nhịp sống bình thường mới đang dần trở lại ở Hà Nội khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát. Thời gian 10 ngày sau nới lỏng giãn cách xã hội minh chứng rõ điều này khi các ca nhiễm mới mỗi ngày khá thấp, dưới 10 trường hợp mỗi ngày và chủ yếu nằm trong khu cách ly, phong tỏa. Thế nhưng, chính điều này lại đang gia tăng tâm lý cùng hiện tượng lơ là, chủ quan. Trong đó điển hình là việc người dân đổ ra đường đông nghẹt trên các tuyến phố trung tâm vào đêm trung thu (ngày 21-9), phớt lờ nguyên tắc 5K.

          Hà Nội đang kiểm soát tốt tình hình dịch Covid-19, song điều đó hoàn toàn đồng nghĩa với việc đã loại bỏ nguy cơ dịch tái bùng phát. Là thủ đô, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của cả nước, giao lưu giữa Hà Nội với các địa phương khác trong cả nước rất lớn. Trong khi đó, với biển chủng Delta rất nguy hiểm do dễ lây lan, lây lan nhanh và rộng, đặc biệt là với những trường hợp không có triệu chứng. Nói cách khác, nguy cơ tái bùng phát một đợt dịch mới ở Hà Nội là rất lớn, bất kỳ một sự chủ quan, vi phạm quy định phòng chống dịch nào đều có thể phải trả giá đắt.

          Những chốt, rào chắn cứng có thể được dỡ bỏ khi dịch Covid-19 được kiểm soát theo tinh thần "sống chung với dịch bệnh", song các nguyên tắc cũng như ý thức và trách nhiệm phòng chống dịch vẫn phải duy trì cao độ thì mới có thể ngăn ngừa dịch tái bùng phát. "Rào chắn ý thức" phòng chống dịch bệnh, vì thế, phải luôn duy trì chặt chẽ cho đến khi không chỉ nước ta mà cả thế giới vượt qua được đại dịch Covid-19.

Lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp để chống phá của các thế lực thù địch

Các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội đang lợi dụng tình hình dịch Covid-19 c ó những diễn biến phức tạp để tung tin đồn thất thiệt, gây hoang mang dư luận và ảnh hưởng đến công cuộc phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước ta. Theo thống kê của Bộ Công an, từ đầu tháng 7/2021 đến nay trên các trang đài báo nước ngoài (như BBC, RFA, Việt Nam thời báo...) đã có hơn 100 bài viết có nội dung liên quan đến dịch Covid-19. Chủ yếu các bài viết này xuyên tạc về công cuộc phòng chống dịch của Việt Nam, kích động để gây chia rẽ giữa người dân và chính quyền. Một số tài khoản mạng xã hội của các tổ chức phản động bên ngoài (như Việt Tân, nhật ký yêu nước...) và các tài khoản có âm mưu xấu đã đăng tải những thông tin sai sự thật gây hoang mang dư luận trong nước. Điển hình, tin giả: “Từ 0h ngày 15/7, TP.HCM sẽ giới nghiêm người dân, ngưng tất cả các ngành nghề, cấm người dân di chuyển ra ngoài”, “lãnh đạo TP.HCM đã nhiễm Covid-19”, hay bức ảnh nhiều thi thể nạn nhân trong bệnh viện, được chụp ở Indonesia lại bị các đối tượng gán là “chụp ở bệnh viện Chợ Rẫy, TP.HCM”... Những thông tin này không chỉ gây hoang mang dư luận, mà còn khiến cho công cuộc phòng chống đại dịch của Việt Nam bị ảnh hưởng xấu. Ở góc độ pháp lý, một số đối tượng xấu cố tình gây rối, đưa thông tin sai sự thật để trục lợi hoặc với mục đích xấu, chống phá chính quyền. Đây là những hành vi vi phạm pháp luật; thực tế mạng xã hội là công cụ hiệu quả để tuyên truyền thông tin, hướng dẫn người dân các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên đây cũng lại là công cụ để những đối tượng xấu lợi dụng nhằm tuyên truyền, đưa tin sai sự thật. Việc xuất hiện, lan truyền các tin giả có thể tác động đến tâm lý, đời sống của cộng đồng, dễ dẫn đến người dân lo sợ thái quá, hoảng hốt, phản ứng dây chuyền, nguy cơ gây mất kiểm soát, ảnh hưởng đến hoạt động của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp. Hoặc đôi khi những thông tin sai sự thật lại khiến người dân lơ là, thiếu cảnh giác, chủ quan với tình hinh dịch bệnh dẫn đến hậu quả nặng nề. Hành vi đăng thông tin sai sự thật trên mạng xã hội có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điểm a, d Khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Cụ thể như sau: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện hành vi: Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội... “Trường hợp nặng hơn, người có hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông thông tin giả mạo, thông tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh Covid-19, gây dư luận xấu thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính viễn thông theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Hình sự 2015 với khung hình phạt cao nhất là phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1 tỉ đồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Ngoài ra, nếu người tung tin thất thiệt nhằm gây thiệt hại tài sản cho tổ chức, doanh nghiệp hay cá nhân thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vu khống, quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự với mức phạt tù cao nhất 7 năm.” Tin đồn thất thiệt trên mạng xã hội ngày nay là một dạng “tâm lý chiến” nguy hiểm. Các thế lực thù địch và những đối tượng xấu đang lợi dụng và coi đây là thứ vũ khí lợi hại để tấn công, hòng gây nhiễu loạn an ninh xã hội. Để ngăn chặn các tin đồn thất thiệt về dịch bệnh, ổn định tâm lý người dân, thì đầu tiên, cần sự kiểm soát của cơ quan chức năng đối với việc công khai thông tin, kiểm soát chặt chẽ với các thông tin, phát ngôn chính thống; Chủ động công khai, minh bạch thông tin những chủ trương, chính sách trong giải quyết các vấn đề. Mỗi cán bộ chiến sỹ phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, không chia sẻ, bình luận những thông tin xấu độc, chưa được kiểm chứng; kiên quyết đấu tranh phản bác các tin đồn, tin sai sự thật nhằm gây mất ổn định, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lya điều hành của nhà nước trong công cuộc phòng chống dịch bệnh đầy cam go, phức tạp hiện nay./. N.V.S

Loại bỏ thói ganh ghét, đố kỵ

 Sự ganh ghét, đố kỵ là một đặc tính tiêu cực trong tính cách của con người, nó hình thành khi một người cảm thấy mình thua kém người khác và tức giận vì điều đó. Ngay từ xa xưa, sự ganh ghét, đố kỵ đã xuất hiện trong cuộc sống của con người, có rất nhiều câu chuyện trong văn hóa phương Đông và phương Tây phản ánh về vấn đề này; như truyện “Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn” của văn hóa phương Tây, vì ganh ghét trước sắc đẹp của nàng Bạch Tuyết mà bà mẹ kế của nàng tìm đủ mọi thủ đoạn để hại nàng, nhưng rốt cục bà lại chết do chính những thủ đoạn của mình gây ra; hay trong truyện “Tam quốc diễn nghĩa” của nền văn hóa phương Đông, nhân vật Chu Du vì ghen tức Gia Cát Lượng tài trí hơn mình đã bao lần tìm cách hãm hại mà không được, cuối cùng vì uất hận hộc máu mồm mà chết. Đối với văn hóa Việt Nam, sự ganh ghét, đố kỵ thường xuất hiện trong các câu ca dao, tục ngữ như: “Trâu buộc thì ghét trâu ăn/ Quan võ thì ghét quan văn dài quần”, “con gà tức nhau tiếng gáy”, “ghen ăn, tức ở”...

Công tác kỷ luật của Đảng là thường xuyên, nghiêm minh

 

Trước sự công khai, minh bạch của Đảng về tình hình kỷ luật cán bộ trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch được đà lớn tiếng đặt điều, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang bị biến chất trầm trọng. Cùng với đó, chúng chủ ý bám víu vào các sự vụ, sự việc kỷ luật một số cán bộ, sĩ quan quân đội để lật lọng, quy chụp rằng “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước đã không còn “sắc bén”; từ đó chúng độc địa bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

QUAN ĐIỂM DUY VẬT LỊCH SỬ KHÔNG CÓ "CHỦ NGHĨA CHIẾT TRUNG"!


  Nói nôm na về "chủ nghĩa chiết trung" là: tuy cũng đưa ra những mối liên hệ của những sự vật, hiện tượng rồi đưa ra kết luận, nhưng lại không chỉ ra được và khẳng định được bản chất của nó. Chủ nghĩa "chiết trung" và thuật "ngụy biện" trong lịch sử, là hình chiếu, hoặc anh em "đồng hao" của nhau. Nó ngược lại với quan điểm duy vật biện chứng trong lịch sử. Do vậy, những người trực tiếp chỉ đạo và biên soạn các bộ lịch sử hiện nay, lấy quan điểm "chiết trung" để đánh giá bản chất của các sự kiện lịch sử, là đã lệch chuẩn và sai từ gốc vấn đề.

  Trong cuộc họp báo, nhằm giới thiệu bộ lịch sử 15 tập tái bản năm 2017, ông Trần Đức Cường chủ biên, có nói rằng: "để mọi nguời dễ chấp nhận, chúng tôi dùng những từ TRUNG TÍNH là Vnch, chính quyền Sài gòn. Bỏ không dùng từ Ngụy, có tính miệt thị" (!!). Phát biểu của người chủ biên bộ lịch sử này, đồng thời cũng là người tiếp tục biên soạn bộ lịch sử 30 tập, đã thể hiện rất rõ ràng, họ đang lồng thứ chủ nghĩa "chiết trung" vào các bộ lịch sử đó. Nghĩa là họ cũng trình bày những diễn tiến của lịch sử đã diễn ra, cũng nêu các mối liên hệ của những sự việc đó, nhưng không chỉ ra được, không khẳng định được bản chất của nó. 

  Cụ thể: họ cũng trình bày sự ra đời cái gọi là "quốc gia Việt nam" của Bảo Đại, VNCH của Ngô Đình Diệm như thế nào. Nhưng lại không chỉ ra được và không khẳng định được bản chất của những thực thể đó là: phản quốc, bất hợp pháp. Họ đã mập mờ đánh giá về thân phận tay sai của chúng, khi bỏ đi từ ngụy_ một từ đắt giá nhất, cô đọng nhất để chỉ đúng bản chất của cái gọi là "chính quyền Vnch" ! Từ quan điểm "chiết trung" đó, họ và những nguời cổ súy cho nó, tiếp tục dùng "thuật ngụy biện" khi cho rằng: không gọi nó là ngụy, nhưng nội dung đã phản ánh được bản chất của nó rồi (!!). Đây là cách ngụy biện, để dẫn dụ công chúng, mà có lẽ họ tự ảo tưởng là "để mọi nguời dễ chấp nhận". Họ đã nhầm to và đánh giá sai về nhận thức của quần chúng nhân dân và nền dân trí của nước nhà, trong thời đại 4.0 này. Họ cho rằng nội dung đã phản ánh được bản chất tay sai, phản động của Vnch, thì tại sao còn bỏ đi từ ngụy, vốn đã có trong sách lịch sử? Lại còn có người ngây ngô cho rằng: sách lịch sử nếu dùng từ ngụy thì hậu thế không biết nó là ai, bản chất của nó là gì? (về cách dùng từ và cụm từ này NR và nhiều bạn đã góp ý làm rõ cách dùng, ở các bài trước). Tóm lại: ngôn ngữ dùng, phải có TÍNH TỪ đặt trước tên nó tự nhận (chính quyền ngụy Vnch, gọi tắt là Ngụy quyền), để chỉ ra và khẳng định bản chất của nó. Còn cách của các nhà "chiết trung" là bỏ đi từ ngụy, để lập lờ, rồi ngụy biện cho tính "chính danh, hợp pháp" của cái gọi là "quốc gia Vnch".

 Cuộc kháng chiến chống lại sự đô hộ và xâm lược của td Pháp và đq Mỹ, của nhân dân Việt nam, do ĐCS VN lãnh đạo, là cuộc kháng chiến Chính nghĩa. Người Pháp, người Mỹ và bè lũ tay sai cho ngoại bang, đã gây ra cuộc chiến tranh đó, là bên Phi nghĩa. Sách lịch sử của dân tộc, phải khẳng định được điều đó, từ nội dung đến tên gọi của nó vốn có trong lịch sử. Việc bỏ từ Ngụy cho "mọi nguời dễ chấp nhận", là thứ quan điểm của chủ nghĩa "chiết trung", ngược với quan điểm duy vật lịch sử chính thống hiện nay. Những lý lẽ của họ đưa ra không thể thuyết phục được đại đa số quần chúng nhân dân, từ những người có nhận thức sâu về lịch sử, xã hội, chính trị, đến những người bình dân nhìn nhận lịch sử bằng thực tế. Bởi những lý do của những người xét lại lịch sử, chỉ là ngụy lý, ngụy biện mà thôi./.

Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGUYÊN GIÁ TRỊ

🇻🇳🇻🇳 ÔI! BÁC VĨ ĐẠI QUÁ🇻🇳🇻🇳🇻🇳

Lời dạy của Bác đã nhắc nhở rất nhiều người.    

       Bác Hồ viết: “phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm… Chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người".

=> Như vậy, tức là nhìn vào việc làm để đánh giá, nhận xét phải trung thực, thẳng thắn, không thêm, không bớt. Khi đánh giá, phải đánh giá cả ưu điểm, khuyết điểm, để người được đánh giá thấy yếu mà khắc phục, thấy mạnh mà cố gắng. Nếu chỉ phê bình mà không nhìn nhận những gì cán bộ, công chức làm được, thì bản thân họ dễ sinh buồn phiền, chán nản, ít nhiều làm họ nhụt ý chí phấn đấu.                                             TK- ST.

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

Thấy gì sau việc fan Thuỷ Tiên đe dọa, tấn công, kêu gọi tẩy chay VTV?



Đài truyền hình VTV là nhà đài truyền hình Quốc gia, đại diện cho tiếng nói truyền thông của Đảng và Nhà nước, nhân dân Việt Nam.


Thế nhưng, Sau khi VTV lên tiếng về văn hóa ứng xử, việc làm từ thiện của nghệ sĩ, trong đó chỉ trích Thủy Tiên là không minh bạch, không rõ ràng sao kê, thiếu lễ độ và gây chia rẽ, trong nhóm Bảo Vệ Thủy Tiên, hàng trăm bình luận của fan Thủy Tiên nhắm vào chỉ trích, tấn công, đe dọa nhà đài VTV.

Vì sao nhà báo Huy San tuột xích?



Trong bài viết trên trang cá nhân của mình, Nhà báo tuột xích Huy Đức so sánh của Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch nước công du ở nước ngoài không phải cách ly với chuyện người dân không được rời khởi thành phố Hồ Chí Minh là bất bình đẳng. Nhà nước làm như thế là chống dân, coi dân chẳng ra gì...

Ứng phó với đại dịch trong tình hình mới, phải quyết liệt, linh hoạt, mạnh mẽ hơn

Trước tình hình dịch COVID-19 diễn biến ngày càng phức tạp với sự xuất hiện của biến chủng mới nguy hiểm, Thủ tướng đã chỉ đạo: Phải hết sức tránh quan liêu, “xa dân”, triển khai các giải pháp mới quyết liệt hơn, mạnh mẽ, hiệu quả hơn để dập dịch. Đây chính là quan điểm của Đảng, Nhà nước và bất kỳ người làm công quyền nào cũng đều phải hướng tới. Biện pháp thứ hai Thủ tướng muốn nhấn mạnh là không xa dân, quyết liệt, mạnh mẽ, hiệu quả. Chúng ta có thể nhìn từ thực tế, dịch bệnh không loại trừ bất kỳ ai, ai cũng có thể mắc bệnh nếu chúng ta không được bảo vệ. Như vậy, vấn đề ngăn chặn dịch là ở dân, là ở cộng đồng. Do đó, để bảo vệ người dân, chúng ta phải không được xa dân. Chẳng hạn như đối với vấn đề tiếp cận điều trị, nếu chúng ta không thực hiện tốt việc gần dân, liên hệ với dân, với những bệnh nhân, thì không thể điều trị kịp thời và sẽ dẫn đến tử vong. Nếu chúng ta không tổ chức phát hiện sớm, không khoanh vùng ngay thì sẽ dẫn tới dịch bùng phát, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Về kinh tế cũng vậy, nếu chúng ta không giải quyết tốt việc ngăn chặn lây lan trong khu công nghiệp, ảnh hưởng tới năng suất trong sản xuất thì sẽ làm ảnh hưởng đến nền kinh tế. Đặc biệt, trong tình hình mới của dịch bệnh, chúng ta cần rất quyết liệt, mạnh mẽ hơn vì đợt dịch này là chủng mới lây lan rất nhanh, lan mạnh ra các tỉnh, thành phố. Điển hình tại những địa bàn rất phức tạp như TPHCM và các tỉnh miền Nam số người nhiễm COVID-19 gia tăng rất nhanh, khiến cho chúng ta phải phong tỏa, thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ở 19 địa phương và cả Hà Nội, vì thế chúng ta phải thực hiện rất quyết liệt, mạnh mẽ hơn rất nhiều so với trước. Bên cạnh công tác chống dịch, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, Chính phủ còn phải giải quyết vấn đề an sinh xã hội, phát triển kinh tế… Do đó để làm được việc này, chúng ta cần phải thực hiện các giải pháp quyết liệt, mạnh mẽ, phải gần dân, lấy dân là gốc. Và các giải pháp được đưa ra phải được quán triệt theo phương châm “rõ, nghiêm, chắc, hiệu quả”. Như vậy nếu chúng ta không nghiêm, không phản ứng, hành động nhanh, không kịp thời, không thực hiện các giải pháp hiệu quả, thì chỉ một việc làm chậm, không hiệu quả sẽ gây ra tổn thất rất lớn về vấn đề sức khỏe. Từ khi dịch COVID-19 xảy ra ở nước ta, công tác chống dịch của nước ta luôn được Đảng, Nhà nước và Chính phủ quan tâm, chỉ đạo rất mạnh mẽ. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, sự chỉ đạo càng quyết liệt, linh hoạt, mạnh mẽ hơn nữa bởi tình hình diễn biến dịch ngày càng phức tạp. Do đó Chính phủ cũng đã đưa ra những chính sách phù hợp, mạnh mẽ theo hướng đổi mới, sáng tạo./. NTM

Lãnh đạo chỉ đạo công tác chống dịch COVID-19 phải tập trung, thống nhất, chuyên sâu ở tầm quốc gia

Lãnh đạo chỉ đạo công tác chống dịch COVID-19 phải tập trung, thống nhất, chuyên sâu ở tầm quốc gia Dịch bệnh COVID-19 xảy ra trên toàn thế giới, trên quy mô diện rộng, trong đó có Việt Nam. Có những vấn đề được đúc kết và được hướng dẫn rất khoa học và cơ bản, do đó sự chỉ đạo cần có tầm cỡ quốc gia, thống nhất theo một cái chung, tránh việc mỗi nơi làm một kiểu. Vừa qua trong thực hiện chỉ thị 16 tại một số địa phương, đã xảy ra tình trạng mỗi nơi làm một kiểu dẫn đến việc không thống nhất, ngăn sông cấm chợ; giải quyết không đúng theo vấn đề chuyên môn, dẫn đến xét nghiệm không hiệu quả, truy vết không thành công, hay phong tỏa không nghiêm… Do đó, cần phải có những hướng dẫn cụ thể, cần những chính sách tầm cỡ quốc gia. Để công tác chống dịch đạt hiệu quả cao, chúng ta cũng cần tập trung tháo gỡ các vấn đề khó khăn, hạn chế trong công tác này, nhất là việc tháo gỡ khó khăn về chính sách. Vừa qua, Chính phủ đã tập trung rất nhiều cho việc tháo gỡ chính sách: Chính sách về đi lại, mua sắm, các chính sách về an sinh xã hội và người dân. Việc này phải mang tầm quốc gia và chuyên sâu. Trên cơ sở đó, áp dụng linh hoạt tùy từng vùng, từng địa phương, ví dụ như vùng đang có dịch nguy cơ cao thì chiến dịch và giải pháp xét nghiệm cũng cần linh hoạt, thay đổi. Vấn đề truy vết cũng phải khác, vấn đề cung cấp thực phẩm thiết yếu cũng cần linh hoạt hơn. Nhưng đối với những vùng chúng ta gọi là “vùng xanh” thì chúng ta vẫn có thể truy vết và thực hiện xét nghiệm được. Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm, hiệu quả của địa phương, các bộ ngành tổng kết, đúc rút thành những hướng dẫn, những quy định cụ thể để cho các địa phương khác học tập. Việc này vừa bảo đảm hiệu quả công tác chống dịch, vừa không để việc chống dịch xa rời thực tế ./. NTM

Những định hướng trong điều trị và phân bổ, tổ chức tiêm vaccine

Trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, chiến lược quan trọng nhất vẫn là ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng, dập dịch và điều trị hiệu quả. Trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau, chúng ta sẽ cần có những giải pháp, chiến lược phù hợp. Tuy nhiên, chúng ta cần tập trung vào một mục tiêu quan trọng là làm thế nào để giảm được tỷ lệ mắc thấp nhất, hạn chế thấp nhất số người tử vong. Vừa qua, diễn biến dịch có những chiều hướng phức tạp, không chỉ tại Việt Nam mà trên toàn thế giới, do biến chủng mới lây lan nhanh khiến cho số trường hợp nhiễm mới gia tăng nhanh chóng. Do đó, nếu như chúng ta không thực hiện việc cách ly ở nhà thì sẽ dẫn đến quá tải đối với hệ thống cách ly, bởi việc cách ly không chỉ phụ thuộc vào yếu tố cơ sở vật chất, nguồn lực, năng lực hướng dẫn. Ngoài ra, nếu việc cách ly thực hiện không đúng hướng dẫn, không nghiêm ngặt thì sẽ để xảy ra tình trạng lây chéo. Trong thời điểm hiện tại, khi số lượng người mắc gia tăng thì chúng ta nên thực hiện cách ly tại nhà đối với F1, ngay cả đối với F0 khi chúng ta xét nghiệm và xác định bệnh nhân ở mức không lây nhiễm. Đặc biệt chú ý tại thời điểm này, những nơi dịch bệnh vẫn ở mức độ rải rác nhưng nếu đủ điều kiện thì có thể xét nghiệm diện rộng, xét nghiệm theo chỉ định, truy vết, khoanh vùng, dập dịch. Nhưng nếu dịch ở mức độ lớn thì chúng ta phải ưu tiên giảm tử vong đối với những ca lây nhiễm. Đây là việc vô cùng quan trọng, bởi nguồn lực chúng ta không thể rải đều được nữa. Giải pháp nữa chúng ta cần chú trọng thực hiện là phân loại bệnh nhân, như hiện nay Bộ Y tế phân loại là 3 tầng, TPHCM là 5 tầng… Những trường hợp nhẹ thì đưa đến 1 khu vực điều trị cho những bệnh nhân nhẹ để tránh cho các ca này bị tăng nặng. Đối với những trường hợp diễn biến nặng thì chúng ta tập trung đưa đến bệnh viện điều trị cho những bệnh nhân nặng, huy động những bác sĩ giỏi, trình độ chuyên sâu với máy móc hiện đại để những bệnh nhân này được tiếp cận điều trị hiện đại… Nếu chúng ta không kịp thời thì chúng ta sẽ không đủ nguồn lực để ứng phó, và chúng ta sẽ không thể giải quyết được những hệ quả, trước những nguy cơ dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp và tăng nhanh về số lượng như hiện nay./. NTM

Kỳ vọng về những chỉ đạo và giải pháp phòng chống dịch ở Việt Nam đưa ra là rất kịp thời, hiệu quả

Trong thời điểm hiện nay, bên cạnh việc thực hiện nghiêm khuyến cao 5K, chúng ta cần đẩy mạnh chiến lược tiêm chủng vaccine đại trà cho toàn dân. Các địa phương cần nghiêm túc thực hiện theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; địa phương nào chưa thành lập thì phải thành lập ngay Tổ COVID cộng đồng; tăng cường cao độ hoạt động của Tổ COVID cộng đồng để “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng”, nhắc nhở, đôn đốc nhân dân thực hiện yêu cầu giãn cách. Việc này rất quan trọng, góp phần thực hiện tốt chiến lược phòng chống dịch. Từ trước đến nay, công tác chống dịch luôn được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống COVID-19 quan tâm, thời kỳ nào cũng rất quyết liệt. Mỗi thời kỳ lại có sự thay đổi để có những chính sách phù hợp, “dĩ bất biến ứng vạn biến” nghĩa là phải có sự linh hoạt. Trong thời gian qua, Chính phủ đã có sự chỉ đạo rất quyết liệt, phù hợp theo tình hình thực tế để kịp thời ứng phó với diễn biến của dịch trong tình hình mới. Với sự chỉ đạo quyết liệt và những chính sách phù hợp, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng sự chung tay của cả cộng đồng để công tác phòng chống dịch đạt hiệu quả cao nhất, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng dịch bệnh, tiếp tục phát triển kinh tế xã hội, đem lại bình yên, hạnh phúc, ấm no cho người dân./. NTM

Nghị quyết Đại hội XIII: Nhận thức mới về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh

Về nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Thứ trưởng Phan Văn Giang cho biết, nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước, được xây dựng trên nền tảng chính trị, tinh thần, nhân lực, vật lực, tài chính, mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường. Nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân bao gồm: xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng, thế trận quốc phòng toàn dân. Tăng cường tiềm lực quốc phòng là một trong những đột phá về tư duy và tổ chức thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng, nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp đảm bảo tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cương lĩnh năm 1991 chỉ rõ: “Sự ổn định và phát triển mọi mặt đời sống xã hội là nền tảng của quốc phòng. Phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với tăng cường tiềm lực quốc phòng”. Nghị quyết số 28-NQ/TW (Hội nghị Trung ương 8 khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, thế trận lòng dân. Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tăng cường hơn nữa nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, vũ khí cho quốc phòng, an ninh. Quan tâm phát triển khoa học - công nghệ, nghệ thuật quân sự và ứng dụng các thành tựu khoa học vào huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chuẩn bị chu đáo các phương án động viên nhân tài, vật lực cho nhiệm vụ quốc phòng. Xây dựng và triển khai có hiệu quả kế hoạch động viên quốc phòng, bảo đảm nhu cầu dự trữ quốc gia cho quốc phòng và kế hoạch bảo đảm cho các hướng chiến lược. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”. Điều chỉnh, bổ sung, nâng cao hiệu quả các khu kinh tế - quốc phòng, tạo sức mạnh tổng hợp giữ vững ổn định chính trị - xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng tại các khu vực phòng thủ./. NTM

Nghị quyết Đại hội XIII nhận thức mới về bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ

Về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” của Ðảng xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục xác định: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, .... để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa... Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; sức mạnh tổng hợp của đất nước cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện sâu sắc sự phát triển tư duy mới của Ðảng đối với nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, là định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc”, hoàn toàn thống nhất mục tiêu phát triển “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đảng ta xác định, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và của nhân dân, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước. Kiên định nguyên tắc chiến lược, đồng thời linh hoạt về sách lược trong xử trí các tình huống liên quan đến quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, không để bị động, bất ngờ, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược trong mọi tình huống. Về nhiệm vụ quốc phòng: Đại hội XIII của Đảng xác định: “Củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân là nòng cốt”. Khẳng định củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, nhưng không coi nhẹ nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Củng cố quốc phòng là cơ sở tiền đề tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế; kinh tế phát triển, đất nước mạnh lên sẽ là “phương thức hữu hiệu” để bảo vệ Tổ quốc. Đây là quan điểm lý luận cơ bản, chi phối, quy định toàn bộ các nội dung về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./. NTM

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Tính không thể chuyển nhượng, phân chia của quyền con người

 


Các quyền con người, quyền công dân đều là những quyền không thể chuyển nhượng vì nó thuộc sở hữu vốn có của con người. các quyền này không phải là sự ban phát hay tùy tiện tước đoạt. Các quyền và tư do cơ bản như đã được ghi nhận trong bộ luật quốc tế về quyền con người đều là các quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng. Những vi phạm về quyền con người, quyền công dân cần được các quốc gia xử lý bằng những cơ chế, biện pháp kịp thời, hữu hiệu.

Quyền con người, quyền công dân dù ở lĩnh vực dân sự, chính trị hay kinh tế, xã hội, văn hóa thì chúng đều có tầm quan trọng như nhau và tạo nên một chính thể thống nhất đòi hỏi phải thực thi đồng thời. Không nhóm quyền nào được coi là đặc quyền, giữ vị trí cao hơn so với nhóm quyền khác. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, một số quốc gia XHCN đã thể hiện sự ưu tiên đối với nhóm quyền kinh tế, xã hội và văn hóa hơn nhóm quyền dân sự, chính trị. Trong khi Mỹ và nhiều quốc gia  Châu Âu lại thể hiện sự ưu tiên đối với quyền dân sự, chính trị. Mâu thuẫn này đã được giải quyết bằng việc công nhận các quyền con người là quan trọng như nhau tại Hội nghị quốc tế vè quyền con người tại Viên Áo 1993.

Tính phổ biến và tính phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo của quyền con người

 


Tính phổ biến của quyền con người nghĩa là quyền con người thuộc về tất cả mọi người, không có sự phân biệt đói xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, khu vực địa lý v.v… “trên thực tế tính phổ biến là bản chất của quyền con người”. Tính phổ biến của quyền con người đòi hỏi các nhà nước phải hoàn thành nghĩa vụ tôn trọng ở khắp mọi nơi, tuân thủ và bảo vệ tất cả các quyền cho mọi người, mọi công dân, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, Bộ luật quốc tế về quyền con người và các văn kiện quốc tế khác về quyền con người.

Quyền công dân là các quyền con người phổ biến được áp dụng cho công dân của mỗi nước; song do được hình thành theo cơ chế hiến pháp và phản ánh những truyền thống đa dạng về lịch sử, chính trị, văn hóa, pháp lý nên quyền công dân thể hiện rõ tính phụ thuộc của quyền con người. Giữa các quốc gia mức độ hưởng thụ quyền công dân là khác nhau, đặc biệt là các quyền tham gia công việc nhà nước và xã hội, quyền được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, các quyền của phụ nữ, bình đẳng giới v.v…

Mối quan hẹ giữa tính phổ biến và tính phụ thuộc đã được Tuyên bố Viên và chương trình hành động (1993) nhấn mạnh: “ Trong khi pari luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dan tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, các quốc gia không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản”

 

Nhân quyền được hiểu như thế nào

 


Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế

+ Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con người

 Nhân quyền là tổng hợp các quyền tự do của con người. Phản ánh nguyện vọng toàn nhân loại muốn có tất cả điều kiện, tiền đề cho cuộc sống đầy đủ của con người; đó còn là nhân phẩm, giá trị làm người.

Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền (Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày10/12/48) công nhận 26 quyền cơ bản của con người gồm 3 nhóm:

* Các quyền dân sự: là những quyền tự do cơ bản của cá nhân như quyền sống, quyền tự do thân thể và quyền không bị xâm phạm cá nhân, quyền bảo vệ danh dự, bí mật cá nhân và gia đình, bí mật về thư tín, trao đổi thông tin, tự do di chuyển chỗ ở, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền có quốc tịch và thay đổi quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, quyền sở hữu, quyền được xét xử công khai, độc lập và công bằng khi bị ra tòa.

* Các quyền về chính trị: đó là quyền tự do khẳng định nhân cách của mình trong đời sống chính trị; quyền tham gia vào công việc quản lý Nhà nước và đời sống xã hội nói chung. Quyền được bầu cử, ứng cử; quyền được lập hội và gia nhập hội; quyền tự do ngôn luận và phát biểu chính kiến của mình; quyền được thông tin và xuất bản, quyền tự do tín ngưỡng.

* Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: đó là các quyền về sở hữu tài sản, quyền trao đổi, quyền lao động và tự do thể hiện năng lực của mình trong lao động, quyền được bảo vệ về mặt xã hội, được sống đầy đủ, được chăm sóc sức khỏe, được học tập và sử dụng các giá trị văn hóa.

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

+ Quyền con người bao gồm quyền tự nhiên và quyền xã hội

+ Là quan hệ giữa cá nhân với nhà nước, con người với quyền lực xã hội

+ Mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính giai cấp

+ Là công cụ để tự bảo vệ quyền của mình trước bạo lực, cường quyền

 

Những quan niệm cơ bản về quyền con người

 


Quyền con người (Human rights) là những giá trị thiêng liêng cao quý kết tinh từ nhiều nền văn hoá, văn minh của các dân tộc trên thế giới

+ Dưới góc độ tôn giáo, đạo đức khái niệm về quyền con người được hiểu không chỉ bắt đầu từ  bản tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR, 1948), mà ý thức tư tưởng về quyền con người đã xuát hiện sớm trong lịch sử, nó thuộc nhiều truyền thống văn hoá, tôn giáo khác nhau.

+ Dưới góc độ pháp lý, xét về mặt lịch sử, quyền con người đã được công nhận trong nhiều văn bản pháp lý quan trọng như: Bộ luật Hammủabi (khoảng năm 1700 Tr.CN), Hiến chương MagnaCarta (1215), Bộ luật về các quyền của Anh (1689), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1789) và Hiến pháp của Mỹ năm 1791…, Hiến chương Liên Hiệp quốc 1945 và 3 năm sau đó là UDHR.

+ Trong Tuyên bố Viên và chương trình hành động (1993) định nghĩa “quyền con người và tự do cơ bản là quyền bẩm sinh của mọi người được hưởng; việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền đó là trách nhiệm trước tiên của chính phủ”.

+ Tài liệu hỏi đáp về quyền con người của LHQ quan niệm: “Quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người”

+ Theo văn phòng cao uỷ LHQ về quyền con người (OHCHR) “quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phảm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.

+ Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, viết “ quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế”

Các định nghĩa trên mặc dù có điểm khác nhau về nội dung và phương pháp tiếp cận, song đã phản ánh một số đặc điểm chung của khái niệm quyền con người như sau:

Một là, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ.

Hai là, trung tâm của khái niệm quyền con người là khái niệm về phẩm giá vốn có của mọi thành viên trong gia đình nhân loại.

Ba là, quyền con người là các quyền được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc địa vị xã hội…

Bốn là, quyền con người là các quỳen được bảo đảm minh bạch về pháp lý nhằm giúp các nhân, các nhóm xã hội đạt được nhu cầu, lợi ích một cách độc lập trên các lĩnh vực.

Năm là, quyền con người xác lập nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm của nhà nước và xã hội.

CÁN BỘ CHIẾN DỊCH, CHIẾN LƯỢC CẦN NẮM VỨNG VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN

 


Nhân quyền là những vấn đề rất quan trọng trong tiến trình phát triển loài người nói chung và mỗi quốc gia nói riêng. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề nhân quyền đ­­ược giải quyết tốt thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến mâu thuẫn, xung đột, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt việc bảo đảm nhân quyền, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2016- 2020 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2021 - 2025 của Đại hội XIII, trong mục 4 bài học kinh nghiệm có xác định: “ Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh than yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân” (trang 81)

Chủ đề Đại hội XIII: Chủ đề chiến lược là: Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy mạnh mẽ gia trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đén năm 2045 trở thành nước phát triển thu nhạp cao.

Nắm vững và thực hiện tốt vấn đề nhân quyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cán bộ nói chung, đối với cán bộ CD-CL hiện nay.

Những luận điệu sai trái về công cuộc phòng, chống dịch của Việt Nam là vô nghĩa!

 


Cuộc chiến chống dịch COVID-19 ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn nhiều khó khăn, thử thách. Các cấp chính quyền, các lực lượng trực tiếp tham gia phòng chống dịch và mọi tầng lớp nhân dân đang nỗ lực ngày đêm để kiểm soát dịch bệnh. Thế nhưng, giữa “cuộc chiến” cần sự chung sức, đồng lòng ấy lại xuất hiện những tổ chức, cá nhân luôn tìm cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm phá hoại những thành quả phòng chống dịch của đất nước.

Những ngày qua, hình ảnh các chiến sỹ bộ đội, công an… có mặt ại các tỉnh, thành phố để tham gia đảm bảo công tác phòng chống dịch COVID - 19; không quản khó khăn, vất vả đi mua thực phẩm, mang đến phát cho từng hộ dân; tận tình mang từng bình đựng tro cốt người xấu số vì dịch bệnh đến tận tay thân nhân của họ… điều đó đã một lần nữa tô đẹp thêm hình ảnh Bộ đội cụ Hồ trong thời bình. Những người lính thời bình luôn sẵn sàng đồng hành và có mặt để hỗ trợ nhân dân trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Cùng với lực lượng y bác sỹ, lực lượng quân đội, công an,… đang gồng mình nỗ lực để giúp các địa phương đẩy lùi dịch bệnh và để đảm bảo cho nhân dân “không ai bị đói, bị rét”, “không ai bị bỏ lại phía sau”.

Thế nhưng, trên không gian mạng, nhiều người vẫn cố tình bôi nhọ những hình ảnh đẹp ấy và nực cười hơn còn cho rằng việc quay phim, chụp ảnh những người lính cầm từng bao gạo đến nhà dân chỉ để làm “màu”. Thậm chí, chỉ ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có Chỉ thị tăng cường các lực lượng tham gia phòng chống dịch COVID-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam, ngay lập tức trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện những bài viết xuyên tạc cho rằng: Quân đội là phải canh gác bảo vệ biên giới; rằng đối diện với công an, quân đội là dân chứ có phải là giặc đâu mà cầm súng giương nòng lên; rằng cho quân đội vào là để trấn áp dân ra đường”(!?)… Đây thật sự là những luận điệu xuyên tạc của những người đang cố tình hiểu sai chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, vin vào đó để phá hoại công cuộc phòng, chống dịch của đất nước.

Tráo trở hơn, tổ chức khủng bố Việt Tân còn cắt gắp nhiều hình ảnh xe bọc thép tung lên mạng để xuyên tạc rằng: “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói làm loạn… Quân đội sẽ đàn áp nếu dân đói xuống đường biểu tình, đòi quan chức mở kho lương. Quân đội hiện diện khắp đường phố Sài Gòn là để răn đe dân chứ không phải chống dịch!”. Những thế lực này cố tình không hiểu rằng, khi dịch bệnhTrước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19 tại các tỉnh phía Nam, đặc biệt là tại TP Hồ Chí Minh, Chính phủ quyết định việc thực hiện giãn cách ở mức độ cao hơn ở các địa phương này. Nhân việc này, một số trang như: RFA, RFI, BBC, hệ thống truyền thông hải ngoại, phản động đã đăng các bài viết với nội dung lên án, phê phán cách thức, biện pháp phòng, chống dịch.

Các thế lực này xuyên tạc rằng, việc thực hiện siết chặt giãn cách ở TP Hồ Chí Minh là “biện pháp sai lầm, phi khoa học”, cho rằng quyết định này sẽ là thảm họa; không thể coi “chống dịch như chống giặc”, virus nó vô hình lan truyền trong không khí, việc chốt chặt, lập hàng rào thép gai, nhốt dân… làm sao ngăn chặn được virus mà “để tra tấn dân”, từ đó vu cáo cách làm này “chỉ làm dịch lan rộng, dân chưa chết vì dịch bệnh thì đã chết vì đói”.

Trái với luận điệu trên, thực chất, việc áp dụng giãn cách xã hội là một trong những giải pháp hữu hiệụ để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Thực tế 3 đợt dịch trước ở Việt Nam đã chứng minh, thực hiện thông điệp 5K, áp dụng giãn cách xã hội vẫn là giải pháp chủ đạo để ngăn chặn sự lây lan bệnh, cùng với nỗ lực tiêm phòng vaccine. Đây là cách thức khoa học, đúng đắn đã được các cấp chính quyền quyết liệt thực hiện, được nhân dân đồng tình ủng hộ, qua đó đã hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Nhiều nước trên thế giới cũng áp dụng quyết liệt phương pháp này và đã thành công ở từng mức độ cụ thể, cùng với việc tăng cường tiêm chủng vaccine.

 Trước diễn biến ngày càng phức tạp và khó lường, số ca lây nhiễm tiếp tục tăng lên mỗi ngày với con số hàng nghìn, nếu không quyết tâm siết chặt các biện pháp phòng, chống dịch thì hậu quả sẽ thật khó lường. Sự có mặt của quân đội, công an đã và sẽ góp phần nâng cao tính kỷ luật trong chống dịch, người dân sẽ tuân thủ và chấp hành tốt hơn. Bằng kinh nghiệm dày dặn của mình, chắc chắn lực lượng quân đội sẽ cùng các lực lượng khác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, điều tiết và cung cấp lương thực, thực phẩm để người dân an tâm chống dịch, để các địa phương sớm khống chế dịch bệnh, đưa cuộc sống trở lại bình thường.