Thứ Hai, 17 tháng 1, 2022

VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC


          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc. Trong hệ thống tư tưởng của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Tư tưởng của Người về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” . Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.

          Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kiên trì và nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra chế độ xã hội mới, là chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

          Ngay sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng, đưa lên nhiệm vụ hàng đầu. Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thống nhất các đoàn thể nhân dân và các tổ chức Mặt trận dân tộc trong cả nước (Các tổ chức Mặt trận là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam). Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận cả nước được tổ chức trọng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 31/1 đến ngày 4/2/1977, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi cả nước, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, góp phần tích cực vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của dân tộc.

          Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Quan điểm này đã được Đại hội V của Đảng khẳng định: Thành công rực rỡ của Đảng và nhân dân ta đã nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước, triển khai thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là Nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tăng cường Nhà nước là vấn đề cấp bách để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

          Tại Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, có nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc như: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…; Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đến Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội một lần nữa khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”. Đại hội IX nhấn mạnh: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đại hội X chỉ rõ, nhiệm vụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội; coi đó là “nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

          Tiếp tục khẳng định quan điểm của các nhiệm kỳ đại hội trước, Đại hội XI chỉ rõ: Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân...”3. Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay là phải “tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”

          Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

          Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung một số nội dung, phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”. Khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm” của Nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; sự lãnh đạo của Đảng là ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Những biến tướng làm méo mó Chủ nghĩa Mác

Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời.

Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin. Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc.

Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan.

Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội.

Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại...

Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo.

Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Nhân loại đang trở về với Mác

 Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai.

Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu.

Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật.

Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử.

Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán.

Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép.

Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng!          

Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử. 

NHẬN DIỆN HIỆN TƯỢNG “NGỤY GIÁ TRỊ”


          Ngụy giá trị là những giá trị ảo, phi thực tế, có nội dung xấu độc, sai trái nhưng được bọc lớp vỏ hình thức giống như những giá trị thật, thậm chí có sức hấp dẫn hơn giá trị thực nhằm đánh tráo khái niệm, đánh lừa niềm tin, làm thay đổi nhận thức, hành động của người tiếp nhận. Đây là phương thức tinh vi, được thực hiện một cách bài bản, chuyên nghiệp với sự hỗ trợ đắc lực của phương tiện truyền thông, mạng xã hội khiến cho những hiện tượng “ngụy giá trị” xuất hiện với tần suất ngày càng lớn trong thời gian gần đây, gây hệ lụy xấu trong đời sống tinh thần của nhân dân, làm bất an dư luận, gây mất ổn định tình hình chính trị - xã hội.

          Hiện tượng “ngụy giá trị” xảy ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chỉ khác ở phạm vi, tính chất, mức độ.

          Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, là tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng nhưng lại được những kẻ xấu vì tiền, vì lợi nhuận mà bất chấp đạo đức, pháp luật đã phù phép cho những loại mặt hàng đó giống hàng thật về cả bao bì, hình thức sản phẩm. Những sản phẩm kém chất lượng lại được tuyên truyền, giới thiệu qua lời của người nổi tiếng, được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, đã đánh lừa tâm lí, lòng tin của người dân, để lại những hậu quả về sức khỏe, tiền bạc, làm mất đi niềm tin của người tiêu dùng.

          Trong lĩnh vực y tế, là tình trạng buôn bán thuốc giả, đặc biệt là những loại thuốc điều trị bệnh hiểm nghèo đã được một số gian thương, doanh nghiệp móc nối với cán bộ quản lý, các nhà phân phối, các hiệu thuốc, bệnh viện để quảng cáo, tiếp thị, đánh lừa người bệnh, “móc túi” bệnh nhân, khiến người bệnh không chỉ tổn thương về sức khỏe, hao tiền tốn của mà là sự tuyệt vọng khi họ luôn đặt trọn niềm tin vào những người thầy thuốc mà họ vốn kính trọng như những người mẹ hiền - “lương y như từ mẫu”. Trong đại dịch COVID-19, lợi dụng tình thế cấp bách, một số cơ sở nghiên cứu y học, đơn vị kinh doanh về sản phẩm, dụng cụ, thiết bị y tế đã quảng cáo, tiếp thị những sản phẩm không đúng với giá trị thực tế, nâng khống giá thành sản phẩm, vội vàng công bố những kết quả nghiên cứu khi chưa được các cơ quan, tổ chức chuyên môn quốc tế công nhận. Đây cũng có thể coi là tình trạng “ngụy khoa học” để đánh lừa các cơ quan chức năng và người dân để đạt được lợi ích cá nhân, lợi ích vật chất của một nhóm người hám tiền, hám danh vị, quyền lực, lơi dụng tình thế khó khăn, cấp bách của đất nước, của người dân để trục lợi, tham nhũng.

          Trong đời sống giáo dục, là tình trạng một số người mang danh thầy cô giáo nhưng lại có những hành vi phản giáo dục, có lối sống lệch chuẩn, chà đạp lên giá trị, chuẩn mực đạo đức cộng đồng khi xâm hại, quấy rối tình dục học sinh; gạ tình, đổi tình lấy điểm; là căn bệnh chạy theo thành tích, theo điểm số, chỉ tiêu nhưng thực chất đằng sau những bản cáo cáo đẹp, là sự nâng khống, hợp thức hóa chứ không phản ánh đúng năng lực, phẩm chất thật của học trò. Đó là những tiêu cực, gian lận trong thi cử, chạy trường, chạy lớp; là nạn học giả bằng thật, mua bán bằng cấp công khai, biến nhà trường, cơ sở giáo dục thành thương trường khi người dạy và người học đóng vai là kẻ bán người mua.

Giáo dục là lĩnh vực cao quý, tôn nghiêm, nơi gieo trồng, ươm mầm tri thức, tài năng, nơi có sứ mệnh giáo dục, đào tạo những con người mới. Tuy nhiên, những vụ việc liên quan đến tiêu cực trong thi cử, mua bán bằng cấp, sự suy thoái đạo đức, nhân cách của một số thầy cô, tình trạng mất dân chủ trong nhà trường… khiến những người có trách nhiệm không khỏi băn khoăn, lo lắng khi giá trị thực bị xem nhẹ, còn những giá trị ảo, phi văn hóa lại có dịp lên ngôi, trỗi dậy, chi phối đời sống giáo dục trong thời gian dài nhưng chậm được phát hiện, xử lý để lại những hình ảnh xấu xí trong tâm thức thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước.

          Trong đời sống văn hóa tinh thần, hiện tượng “ngụy giá trị” diễn ra một cách tinh vi hơn khi nhiều kẻ xấu lợi dụng vấn đề tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, làm những điều phi pháp. Những hành vi, việc làm đó đều được lên kế hoạch chi tiết, bài bản để đối phó, qua mặt các cơ quan chức năng, lừa bịp công chúng. Bằng nhiều thủ đoạn, một số cá nhân có tâm địa xấu đã tìm mọi cách để kêu gọi các nhà hảo tâm, các mạnh thường quân và cả thế lực thù địch trong và ngoài nước hậu thuẫn về tài chính, xây dựng trụ sở hoạt động. Họ tận dụng triệt để ưu thế của internet, mạng xã hội, các phương tiện truyền thông, đánh vào sự nhẹ dạ cả tin của con người để dụ dỗ, lôi kéo người dân. Đồng thời, họ thiết lập mạng lưới kết nối với các tổ chức nhân quyền, những hội đoàn chính trị ở nước ngoài, gây sức ép lên chính quyền địa phương không được can dự vào những việc làm, hành động sai trái của họ.

          Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do lập hội, một số cá nhân, tổ chức núp bóng dưới hình thức cơ sở thờ tự tôn giáo, tu viện, thiền viện, tự phong mình là Ngọc hoàng đại đế, là vua, thánh thần, là người sáng lập đạo… Điều đáng quan ngại là thời gian gần đây, một số kẻ lấy danh nghĩa nuôi dưỡng trẻ mồ côi trong các tư viện, cơ sở phật giáo, cho trẻ tham gia các chương trình nghệ thuật giải trí để quảng bá, thu hút sự quan tâm của dư luận, cộng đồng người Việt ở trong và ngoài nước tích cực tài trợ, quyên góp về tiền bạc nhằm thu lợi bất chính. Những luận điệu, những thông tin, hình ảnh họ phát tán, chia sẻ, livestream trên mạng xã hội với những phân cảnh được dàn dựng sinh động, có sức hấp dẫn lớn đã đánh vào trái tim nhạy cảm của khán thính giả nhằm lấy nước mắt và sự chia sẻ, cảm thông, ủng hộ, tin tưởng của công chúng.

          Trong đời sống văn hóa tinh thần, hiện tượng “ngụy giá trị” diễn ra một cách tinh vi hơn khi nhiều kẻ xấu lợi dụng vấn đề tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, làm những điều phi pháp trên không gian mạng xã hội.

          Chỉ sau khi bản chất giả tạo và những hiện tượng “ngụy giá trị” được người dân và các cơ quan chức năng phát hiện thì bộ mặt thực của những trò ngụy tạo, trá hình mới lộ rõ bản chất thực của những hành động mang màu sắc tà đạo, mê tín dị đoan, lợi dụng tự do dân chủ, nhân quyền để chà đạp lên niềm tin của dân chúng, gây bất an tình hình chính trị - xã hội, làm ô nhiễm môi trường văn hóa.

          Có thể nói, hiện tượng “ngụy giá trị” ngày càng phổ biến trong đời sống xã hội, xuất hiện trong nhiều lĩnh vực, tạo nên những hệ lụy xấu. Nếu không sớm nhận diện, đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi, những giá trị ảo, phi thực tế sẽ lên ngôi, chi phối đời sống tư tưởng, tình cảm suy nghĩ của con người. Khi giá trị ảo và hiện tượng ngụy giá trị “thống lĩnh” và chi phối đời sống tinh thần, nó kéo lùi sự phát triển, tiến bộ của xã hội; gieo rắc sự bi quan, hoài nghi, ảo tưởng, mất phương hướng của con người.

          Hậu quả lớn nhất của hiện tượng “ngụy giá trị” là xói mòn niềm tin của công chúng. Khi lòng tốt đặt không đúng chỗ, tình thương gửi nhầm người, nhầm đối tượng sẽ dẫn tới sự khủng hoảng, mất niềm tin. Khi con người mất/thiếu niềm tin vào cuộc sống thì khát vọng, lý tưởng, động lực cống hiến cũng sẽ bị suy giảm, triệt tiêu.

          Khi những giá trị ảo, những tư tưởng thiếu lành mạnh xuất hiện hàng ngày hàng giờ trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, được nhiều người tung hô, ủng hộ, tin theo, nó sẽ lấn át những giá trị thực, tạo mảnh đất tốt để cho ác, cái xấu nảy sinh.

          Hiện nay, cùng với nạn tham nhũng, lãng phí thì căn bệnh giả dối, nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo đang trở nên phổ biến, là chuyện thường ngày. Điều này làm dấy lên những lo ngại về tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; là quá trình “tự diễn biến, tự chuyển hóa” không chỉ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên mà cả trong một bộ phận quần chúng nhân dân khi họ đề cao, tin vào giá trị ảo, từ đó có những ngộ nhận, đánh giá thiếu khách quan, công bằng với những người kiên định niềm tin vào những giá trị đích thực của cuộc sống. Khi hiện tượng ngụy giá trị thắng thế nó sẽ đẩy người tài vào sự cô đơn, lấn át những thông tin tốt đẹp, hủy hoại môi trường sống, khiến nhiều người lạc lối, hoang mang, hoài nghi về cuộc sống, con người.

          Vì thế nhận diện, đấu tranh với hiện tượng “ngụy giá trị” là công việc cấp bách, mang tính lâu dài để những giá trị “chân” (sự thật, khách quan, khoa học, tiến bộ), “thiện” (lòng tốt, sự nhân văn, cao cả), “mĩ” (hướng về cái đẹp, tôn thờ cái đẹp) luôn được đề cao, tôn trọng, trở thành những giá trị chuẩn mực trong việc định hướng con người đến những điều tốt đẹp, nhân văn, tiến bộ.

Hiện thực hóa Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị

Để thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống; đồng thời, nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, phòng và chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, ngày 16-9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực"; trong đó, nêu rõ việc gắn công tác phòng, chống tham nhũng đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Tiếp đó, ngày 25-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" thay thế cho Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về "Những điều đảng viên không được làm".

Gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên chính là hiểu đúng, hiểu một cách sâu sắc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”; “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân” và “vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”. Hiểu đúng để hành động đúng trên tinh thần "phải làm liên tục, bền bỉ, không ngừng, không nghỉ, không ngại ngần khó khăn; càng khó, càng phải quyết tâm cao, phải phối hợp tốt hơn nữa", chính là góp phần ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm và xử lý ngay từ đầu để ngăn chặn những vi phạm nhỏ, không để chúng tích tụ thành những sai phạm lớn, vụ án lớn; không để những cành cây làm hỏng một thân cây, không để một thân cây bệnh lây lan cả rừng cây như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh.

Vì thế, mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong cả hệ thống chính trị đều phải:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phải học tập, quán triệt và thực hiện tốt hơn nữa các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng nói chung, về học tập lý luận chính trị nói riêng trên tinh thần gắn lý luận với thực tiễn. Thông qua quá trình đó, mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện mình theo 3 chuẩn mực và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, năm 1927. Trong triển khai thực hiện, chú trọng nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, "trong trước, ngoài sau"; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên gắn liền với tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát.

Hai là, trong công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" này, cần phải tăng cường vai trò nêu gương trong rèn luyện bản lĩnh chính trị gắn với việc phát huy tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu nói riêng về mọi mặt. Trong đó, chú trọng yêu cầu sự gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý; trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác... trên tinh thần thấm nhuần cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước... Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”.

Ba là, cùng với việc các cơ quan chức năng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng hiệu quả; cùng với việc bổ sung, thay thế Quy định số 47-QĐ/TW bằng Quy định số 37-QĐ/TW về "Những điều đảng viên không được làm" và sự phối hợp công tác giữa các cơ quan, ban, ngành chức năng để kịp thời nhận diện rõ hơn, cụ thể hơn các hành vi tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp có liên quan đến tham nhũng của cán bộ, đảng viên (biến quyết tâm chính trị thành hành động thực tiễn trong phòng, chống tham nhũng và mở rộng thêm nội hàm đấu tranh gắn với chống tiêu cực bằng văn bản cụ thể), thì mỗi cấp ủy cũng cần phải chú trọng làm tốt công tác tư tưởng, phát huy dân chủ, xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong từng tổ chức cơ sở đảng để làm hạt nhân cho khối đoàn kết của từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tiến hành đồng bộ, kết hợp chặt chẽ trong phòng, chống tham nhũng và tiêu cực

Theo Từ điển tiếng Việt, tham nhũng là "lợi dụng quyền hành để hạch sách nhũng nhiễu dân", cho nên, tham nhũng là sản phẩm của sự tha hóa, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để mưu lợi cho cá nhân và người thân. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn khi họ lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được trao, được đảm nhiệm nhằm mục đích vụ lợi cho cá nhân, người thân, nhóm lợi ích... Đó là các hành vi: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi... và đó cũng chính là các biểu hiện của sự suy thoái.

Vì tham nhũng là một loại hành vi tiêu cực do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện; là một loại biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cho nên phòng và đấu tranh chống tham nhũng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm; được đẩy mạnh trong những nhiệm kỳ gần đây.

Đặc biệt, những biểu hiện tiêu cực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra lúc sinh thời về cơ bản cũng nằm trong số 27 biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu; trong đó, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chính là biểu hiện rõ nét nhất của sự tiêu cực đang diễn ra trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thuộc các cơ quan công quyền.

Thực tiễn chỉ ra rằng, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực đều là "kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta... Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính". Do đó, không phải ngẫu nhiên lần đầu tiên vấn đề phòng, chống tham nhũng lại được ghi rõ tại khoản 2, Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải... kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền".

Do đó, phòng và đấu tranh chống tham nhũng, chống các biểu hiện tiêu cực không chỉ cần phải được tiến hành đồng thời, đồng bộ mà còn phải có sự kết hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau, để phát huy hiệu quả của từng bộ phận và bảo đảm tính toàn diện của nhiệm vụ quan trọng này. 


Phòng và chống các biểu hiện tiêu cực theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiêu cực là để chỉ những hiện tượng không lành mạnh, có tác dụng phủ định, cản trở, không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội; tiêu cực là trái với tích cực.

Tiêu cực thường được sử dụng dưới dạng: Hiện tượng tiêu cực, không lành mạnh; nảy sinh tiêu cực; đấu tranh chống tiêu cực... Tiêu cực có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa cá nhân, là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân. Để thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng "là đạo đức, là văn minh", xứng đáng với vai trò tiền phong, thì phòng và chống các biểu hiện tiêu cực là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền.

Những lời cảnh báo của Bác Hồ

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập không lâu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện tiêu cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên tại các cơ quan công quyền, như: “Óc bè phái. Ai hẩu với mình thì dù nói không đúng cũng nghe, tài không có cũng dùng. Ai không hẩu với mình thì dù có tài cũng dìm họ xuống, họ phải mấy cũng không nghe. Đó là một khuyết điểm rất có hại. Nó làm cho đoàn thể mất cán bộ, kém nhất trí, thường hỏng việc. Đó là một chứng bệnh rất nguy hiểm”; “Óc hẹp hòi-Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. Ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng”; "Óc quân phiệt quan liêu. Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền lấn áp"; "Ích kỷ, hủ hóa...".

Phòng và chống các biểu hiện tiêu cực theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đó còn là những biểu hiện thể hiện rõ tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, như: "Bệnh tị nạnh-Cái gì cũng muốn “bình đẳng”... Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng; “Bệnh kiêu ngạo-Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác”; “Bệnh hiếu danh-Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay... Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”; "Bệnh cận thị-Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ... chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn"; "Bệnh "cá nhân"... Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng... Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình..." Bên cạnh đó, "Bệnh xu nịnh, a dua-Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái"; “Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng”... Những cán bộ, đảng viên mang trong mình các biểu hiện tiêu cực, các tật bệnh xấu này chính là những người suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, “hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thậm chí dùng pháp công để báo thù tư, làm cho dân oán đến Chính phủ và Đoàn thể”.

Có thể nói, những biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ở trên đều là "con đẻ" của chủ nghĩa cá nhân; không chỉ phản ánh sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt của người cán bộ, đảng viên mà còn là "kẻ địch nội xâm", kẻ thù của người cách mạng. Những cán bộ, đảng viên có suy nghĩ và hành động tiêu cực này là những người không chỉ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, độc đoán, chuyên quyền, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật mà còn coi thường công tác dân vận (không lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, ngày càng rời xa quần chúng, làm trái ngược nguyên tắc phải gắn bó mật thiết với nhân dân...).


Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2022

Dấu ấn từ những quyết sách chưa có tiền lệ

QH khóa XV mới có nửa năm hoạt động nhưng đã để lại dấu ấn với những quyết sách chưa từng có tiền lệ để đáp ứng tốt nhất yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn mới. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ nhiều lần khẳng định, QH sẽ không để xảy ra tình trạng "bắc nước sôi chờ gạo người", không chờ các dự án luật được các cơ quan soạn thảo trình sang xong mới cho ý kiến, mà QH sẽ giữ vai trò chủ động dẫn dắt công tác lập pháp, vào cuộc từ sớm, từ xa, thậm chí "đặt hàng" cho các cơ quan Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật.

Trên cơ sở đề xuất của Đảng đoàn QH, lần đầu tiên Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 19-KL/TW về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ QH khóa XV, đây là cơ sở hết sức quan trọng để QH và các cơ quan chủ động hơn, vào cuộc từ sớm, từ xa, phối hợp chặt chẽ bảo đảm tiến độ, chất lượng công tác xây dựng pháp luật.

Trong kỳ họp đầu tiên, QH khóa XV đã ban hành 29 nghị quyết. Tại kỳ họp thứ 2, QH đã thông qua 2 luật, 12 nghị quyết, cho ý kiến 5 dự án luật và quyết định rất nhiều vấn đề quan trọng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.

Tại kỳ họp thứ nhất, QH đã ban hành Nghị quyết số 30/2021/QH15 trao quyền chủ động mạnh mẽ cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được quyết định và tổ chức thực hiện một số giải pháp cấp bách đặc biệt, đặc thù, đặc cách để ứng phó kịp thời với dịch Covid-19. Trường hợp cần thiết phải ban hành quy định về phòng, chống dịch Covid-19 khác với quy định của luật thì trong thời gian QH không họp, Chính phủ báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn trước khi thực hiện. Nghị quyết đã thể hiện sự vào cuộc quyết liệt, quyết tâm của QH nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, được cử tri và dư luận cả nước đồng tình, đánh giá cao.

Để góp phần khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội, kỳ họp bất thường lần đầu tiên của QH đã được tổ chức, đưa ra quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư phát triển. Việc tổ chức kỳ họp đã cho thấy sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, sự phát triển của đất nước.

Là đại biểu QH nhiều khóa, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, nguyên Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, QH khóa XV có rất nhiều đổi mới trong hoạt động. QH không chỉ song hành với Chính phủ mà trong một số hoạt động, QH còn đóng vai trò dẫn dắt, những đề án, dự án luật không chỉ từ cơ quan Chính phủ đề xuất mà các cơ quan của QH, UBTVQH còn đưa ra những đòi hỏi, định hướng, gợi ý, đề nghị đối với Chính phủ. “Hoạt động của QH đã bám sát được những động thái quan trọng nhất, những yêu cầu quan trọng nhất của người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Với việc luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn, QH có thể có những kỳ họp bất thường vào bất cứ thời gian nào để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát sinh, đáp ứng mong mỏi của cử tri cả nước. Đây cũng chính là phong cách làm việc mới của QH...”, Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc chia sẻ.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng QH nhận xét: “Tôi thấy QH khóa này có vẻ dẫn dắt nhiều hơn. Ví dụ, diễn đàn kinh tế thường niên của QH đã bàn thẳng vào các vấn đề thuộc về chính sách phục hồi kinh tế, trong đó có chính sách tài khóa, tiền tệ. Thảo luận các vấn đề kỹ trị quan trọng như bơm tiền vào như thế nào và làm sao để rút ra mà không gây các tác động tiêu cực về vĩ mô. Rồi phục hồi du lịch ra sao trong hoàn cảnh dịch bệnh còn có thể kéo dài. Khuôn khổ tư duy, tầm nhìn, các ưu tiên được hình thành từ đây và vang lên ở kỳ họp QH...".

Ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, đông đảo cử tri và thực tế diễn ra là minh chứng, là lời phản bác đanh thép cho những chiêu trò xuyên tạc về Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.

TIN TƯỞNG VÀO SỰ LÃNH ĐẠO SÁNG SUỐT CỦA ĐẢNG

     Như chúng ta đều đã biết, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, xây dựng chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta. Không phải ngẫu nhiên mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này.

    Chỉ tính riêng 10 năm gần đây, Trung ương đã bàn và ban hành nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một cách ráo riết, quyết liệt, có hiệu quả về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", quy định cụ thể những điều đảng viên không được làm. Đây là những quyết định quan trọng để tạo ra kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. 

    Tuy nhiên lực lượng phản động, cơ hội, chống đối chính trị ở trong và ngoài nước lại nhóm họp, bàn biện pháp tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Nghị quyết, quy định của Đảng, trong đó thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các bài viết xuyên tạc việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định 37, Quy định 41 là do tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, tham ô, tham nhũng xảy ra "quá nhiều" trong thời gian dài, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã "không làm gì", "không thể xử lý được", tình trạng tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật... Đây thực sự là dụng ý xấu lấy những vấn đề tồn tại, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng để thổi phồng sự thật, đưa những sự kiện phóng đại làm lu mờ vai trò lãnh đạo của Đảng, của Ban Chấp hành trung ương Đảng nhằm làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng ta. Dù chúng có nói gì nhưng chúng ta đều biết Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc. Từ khi có Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường đấu tranh oanh liệt và thắng lợi vẻ vang, mang lại độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc cho nhân dân, những thành quả đó là minh chứng đập tan những âm mưu, dụng ý của các thế lực thù địch, lực lượng phản động, cơ hội, chống đối chính trị. Niềm tin của nhân dân vào Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn mãi mãi bền chặt và càng tin tưởng hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Quốc hội họp bất thường không vi hiến

Trên mạng xã hội, có người còn diễn giải rằng: “QH họp bất thường là vi hiến”, “QH họp bất thường là trái luật”... Họ không biết (hoặc cố tình không biết) trong Hiến pháp năm 2013, tại khoản 2 của Điều 83 đã hiến định: “QH họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu QH yêu cầu thì QH họp bất thường”. Luật Tổ chức QH tại Điều 90 cũng quy định rõ: “QH họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu QH yêu cầu thì QH họp bất thường”.

Như vậy, việc QH họp bất thường đã được quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức QH. Không phải “QH họp bất thường là vi hiến”, “QH họp bất thường là trái luật” như lý lẽ của một số người.

Cũng có người cho rằng “QH họp bất thường nên không có thời gian chuẩn bị”, “Các đại biểu QH phụ thuộc hoàn toàn vào giải trình của ban soạn thảo khi quyết định bấm nút”... Thực tế không phải như vậy. Vào đúng ngày kết thúc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV (13-11-2021), trước những vấn đề cấp bách đặt ra từ thực tiễn, UBTVQH đã đề nghị Chính phủ trình hồ sơ 5 nội dung để có cơ sở xem xét, đề xuất việc tổ chức kỳ họp bất thường của Quốc hội (ban đầu dự kiến vào cuối tháng 12-2021).

Chiều 22-11-2021, UBTVQH cho ý kiến bước đầu về tổ chức kỳ họp này. Ngày 10-12-2021, tại phiên họp của UBTVQH, ông Bùi Văn Cường, Tổng thư ký QH đã báo cáo về 3 phương án tổ chức Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH và đã được nhiều đại biểu cho ý kiến. Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã nhấn mạnh: “Thống nhất chủ trương có một kỳ họp bất thường, song các nội dung cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng, tránh trường hợp vừa phê duyệt, sửa đổi song phát sinh bất cập”. Chủ tịch QH yêu cầu tất cả các cơ quan liên quan phải sát sao, công khai, vô tư, khách quan, minh bạch, không được để sơ suất gì trong công tác chuẩn bị cho kỳ họp này.

Chính vì phải chuẩn bị kỹ lưỡng nên kỳ họp mới lùi sang đầu năm 2022.

Tại kỳ họp bất thường, với tinh thần trách nhiệm cao trước đất nước, đồng bào và cử tri, trên cơ sở các tờ trình, báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của các cơ quan của QH, với gần 1.100 lượt đại biểu phát biểu qua 3 phiên thảo luận tổ và 3 phiên họp toàn thể trực tuyến, các đại biểu QH đã tập trung nghiên cứu, thảo luận sôi nổi, đóng góp rất nhiều ý kiến sâu sắc, tâm huyết, chất lượng, có tính xây dựng. “Các cơ quan của QH, Chính phủ và cơ quan có liên quan đã nỗ lực tối đa, không quản ngày đêm trong việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ, nghiêm túc các ý kiến của đại biểu để QH xem xét, biểu quyết thông qua 1 luật và 4 nghị quyết với sự thống nhất rất cao, góp phần vào thành công thực chất của kỳ họp”, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ đã khẳng định như vậy trong bài phát biểu bế mạc kỳ họp.

Chiêu trò xuyên tạc về kỳ họp bất thường của Quốc hội

Chăm chú theo dõi kỳ họp bất thường của QH, TS Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế, đại biểu QH khóa IX, XII và XIII nhận xét: “Đây là kỳ họp với nhiều nội dung hết sức quan trọng, không chỉ phục vụ cho năm 2022 mà cho cả giai đoạn 2021-2025, được cử tri, nhân dân và dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt. Kỳ họp diễn ra trong bối cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới, gay gắt hơn do dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trên cả nước. Để góp phần khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục hệ quả của đại dịch Covid-19, tại kỳ họp, QH đã có những quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư, phát triển. Tôi đánh giá cao việc QH thông qua "một luật sửa 9 luật" để giải quyết những vấn đề căn cơ, bất cập của luật pháp liên quan đến hoạt động kinh tế-xã hội. Đây là sự tháo gỡ căn bản về thể chế.

Trên cơ sở đó, các văn bản pháp quy khác của Chính phủ sẽ điều chỉnh, tạo thuận lợi tốt hơn cho môi trường sản xuất, kinh doanh. Các nội dung cụ thể được sửa đổi, bổ sung lần này liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, công tác bảo vệ an ninh mạng, thi hành án dân sự, thực hiện chính sách xã hội hóa vào hệ thống truyền tải điện quốc gia, khuyến khích đầu tư sản xuất và sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường... Đáng lưu ý, luật đã tháo gỡ các thủ tục, điểm nghẽn trong hấp thụ nguồn vốn cũng như trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động kinh tế hiện nay”.

Thực tế của kỳ họp bất thường là vậy, cử tri và đồng bào cả nước đều có thể theo dõi các phiên họp qua những phương tiện thông tin đại chúng với rất nhiều kênh truyền hình trực tiếp, trực tuyến. Vậy mà vẫn có một số người lại cố tình xuyên tạc nội dung, bản chất của kỳ họp. Họ rêu rao trên mạng xã hội, phát biểu trên một số phương tiện thông tin đại chúng của nước ngoài rằng: “QH họp bất thường để tạo cơ sở pháp lý cho việc tham nhũng chính sách”, “QH họp bất thường vì lợi ích nhóm”, “QH họp bất thường có bình thường không vào lúc này?”...

Họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách

Một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm đặc biệt của cử tri trong những ngày đầu năm mới 2022 là Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.

Phát biểu khai mạc kỳ họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ cho biết, trên cơ sở yêu cầu cấp thiết của đất nước và công tác chuẩn bị, căn cứ quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức QH và các nghị quyết Kỳ họp thứ 2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã quyết định triệu tập kỳ họp bất thường lần thứ nhất nhằm kịp thời xem xét, quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng, cấp bách về kinh tế-xã hội, tài chính, ngân sách để hỗ trợ kịp thời cho chương trình phòng, chống dịch Covid-19 và chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội.

Trước đó, tại cuộc họp báo về kỳ họp bất thường lần đầu tiên được tổ chức tại QH Việt Nam,  Tổng thư ký QH, Chủ nhiệm Văn phòng QH Bùi Văn Cường khẳng định: Theo quy định của pháp luật, QH có hai kỳ họp là họp thường kỳ và họp bất thường khi cần xem xét những vấn đề cần thiết, cấp bách. Cái tên bất thường ấy cũng gắn với yếu tố cấp bách. Trong đổi mới hoạt động QH, chúng ta phải xem cách thức vận hành và hoạt động của nghị viện các nước cũng thế. Khi cần phải họp để thông qua thì họ cũng đã có những hình thức như vậy.

Tổng thư ký QH cũng nêu quan điểm, QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách. Theo đó, khi có những việc cần thiết, cấp bách, cần giải quyết sớm thì QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường bên cạnh hai kỳ họp thường kỳ, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, phục vụ cho phát triển đất nước, bảo đảm thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, không bị ách tắc; thể hiện sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Thực tế, tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH, nhiều vấn đề cấp bách của đất nước đã được cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân giải quyết.  


Khẳng định vai trò cầu nối thông tin từ Quốc hội đến cử tri, nhân dân

Ngày 13-1, tại Hà Nội, Báo Đại biểu Nhân dân đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022. Dự hội nghị có Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ; Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

Phát biểu tại hội nghị, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã biểu dương, ghi nhận, đánh giá cao nỗ lực, cố gắng, những kết quả, thành tích đạt được của Báo Đại biểu Nhân dân trong năm 2021. Báo đã có nhiều đổi mới, cải tiến, nâng cao chất lượng, tiếp tục bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện tốt vai trò thông tin, tuyên truyền các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động của Quốc hội, lãnh đạo Quốc hội, HĐND các cấp. Báo đã thực hiện tốt vai trò là “cầu nối” truyền tải thông tin từ Quốc hội, HĐND các cấp tới cử tri và nhân dân. Cán bộ, phóng viên, biên tập viên, người lao động của báo đã luôn đoàn kết, chủ động, sáng tạo, nỗ lực, động viên, khích lệ tinh thần làm việc, tính chuyên nghiệp, chuyên sâu, hiệu quả được nâng cao.

Khẳng định vai trò cầu nối thông tin từ Quốc hội đến cử tri, nhân dân

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ; Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn chụp ảnh lưu niệm cùng cán bộ, phóng viên, biên tập viên Báo Đại biểu Nhân dân.

Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội yêu cầu, mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên của báo trong quá trình tu dưỡng, phấn đấu, luôn giữ “tâm sáng, lòng trong, bút sắc”. Báo là cầu nối giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, là diễn đàn để nhân dân đóng góp vào quá trình xây dựng pháp luật, hoàn thiện cơ chế, chính sách; góp phần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, ý chí tự lực, tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên của báo cần tiếp tục rèn luyện, bồi dưỡng về trình độ, năng lực chuyên môn, nhất là chuyên sâu về hoạt động của Quốc hội, HĐND các cấp. Nâng cao tính xây dựng và phản biện, kiên quyết đấu tranh, phản bác thông tin xấu độc, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kiểm toán phải là công cụ hữu ích, quan trọng trong quản lý tài chính, ngân sách

Ngày 16-1, tại Đà Nẵng, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải dẫn đầu đoàn công tác của Quốc hội đến thăm, làm việc với Kiểm toán Nhà nước khu vực 3.

Phát biểu tại buổi làm việc, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải biểu dương những thành tích, nỗ lực mà Kiểm toán Nhà nước khu vực 3 đạt được trong thời gian qua và nhấn mạnh, Kiểm toán Nhà nước khu vực 3 cần nỗ lực, cố gắng hoàn thành tốt công tác, tạo điều kiện phát huy các đặc thù của miền Trung năng động, nâng cao chất lượng bộ máy và trách nhiệm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên địa bàn.

Kiểm toán phải là công cụ hữu ích, quan trọng trong quản lý tài chính, ngân sách

Đồng chí Nguyễn Đức Hải thăm và làm việc với Vụ Công tác miền Trung – Tây Nguyên, Văn phòng Quốc hội tại Đà Nẵng trong sáng 16-1. 

Trong thời gian tới, ngành kiểm toán cần tập trung cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, trong đó có chiến lược kiểm toán; định hình phát triển Kiểm toán Nhà nước với các phương hướng, mục tiêu cụ thể, rõ ràng. Kiểm toán phải là công cụ hữu ích, quan trọng của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính, ngân sách, tài sản công...

Cùng ngày, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải đã thăm, làm việc với Vụ Công tác miền Trung và Tây Nguyên (Văn phòng Quốc hội) tại Đà Nẵng.

NHỮNG BÀN CHÂN LẶNG LẼ

Những ngày qua, trước những xót xa, tổn thất về người và của do cơn lũ lịch sử gây ra tại các tỉnh miền Trung, trong khi chỉ vừa mới đây thôi đã phải trải qua những ngày tháng căng mình với dịch bệnh, tôi chợt nhớ đến câu nói “Nếu không có nghệ sĩ ai giúp dân?” của một nghệ sĩ trong giới Showbiz.

“Nếu không có nghệ sĩ ai giúp dân?” Xin phép trả lời luôn: là những người chiến sĩ, bất kể có hay không có nghệ sĩ hoặc bất cứ mạnh thường quân nào thì những năm tháng qua họ vẫn lặng lẽ cùng dân vượt qua mọi thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ sự bình yên của nhân dân. Thiết nghĩ nếu đã là hành động xuất phát từ lòng yêu thương chân thành, không chút tính toán, vụ lợi thì người nghệ sĩ kia cớ sao phải nói những câu hờn trách đến vậy. Gạt đi những lùm xùm của giới nghệ sĩ trong “thương vụ” ba mươi tỷ hay những màn “cung đấu” ầm ĩ loi kéo cả nghìn người hiếu kỳ, chúng ta hãy nhìn vào những người cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm chẳng quản khó khăn, gian khổ bảo vệ nhân dân. Lũ về, các anh lại lên đường. Động lực nào đã tiếp sức mạnh cho các anh chống chọi với sự tàn khốc của bão lũ năm nay? Hay “Cứu dân là mệnh lệnh trái tim”. Không đao to búa lớn, cũng chẳng cần hô hào ồn ã, không phô trương, không livestream, không chụp ảnh khoe lên mạng xã hội mà chỉ có vài tấm ảnh chụp vội của những phóng viên xông pha đưa tin vùng lũ. Ngần ấy thôi các anh đã ghi vào lòng quần chúng một cách sâu sắc nhất, mãi mãi là những người hùng trong thời bình, là những cánh chim chẳng ngại mệt mỏi dệt lên bầu trời bình yên với lý tưởng trong sáng và tình yêu thương đồng bào chân thành.

Cảm ơn các anh, những người anh hùng máu đỏ da vàng, những bước chân lặng lẽ vẫn luôn đồng hành cùng nhân dân chiến đấu với thiên tai, dịch họa. Xin gửi những lời chúc tốt đẹp và muôn vàn tình thương đến các anh, mong các anh giữ gìn sức khỏe đề trở về với gia đình, mong các anh “chân cứng đá mềm” để mãi luôn là tấm lá chắn vững chắc bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân.

Vâng, khi mạng xã hội vẫn đang quay cuồng với drama, đừng quên ngay lúc này hàng nghìn các cán bộ chiến sĩ Công an, quân đội, dân quân đã và đang ngày đêm sát cánh cùng các cấp ủy, chính quyền địa phương gồng mình cứu trợ bà con chống chọi với cơn lũ, thoát khỏi nguy hiểm./.

TỔ QUỐC PHẢI LÀ TRÊN HẾT VÀ TRƯỚC HẾT

Không ai có quyền ngăn chặn, cản trở việc phổ biến Quốc ca (Tiến quân ca)...!

Từ khi Website Chính phủ, trang web chính thức của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam trên mạng internet toàn cầu, ra mắt vào ngày 10/1/2006, Website Chính phủ đã được Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch chính thức chuyển giao, công bố chính thống Quốc ca Việt Nam trên mạng internet toàn cầu.

Đây là một trong các dữ liệu chính thức về Nước, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trên mạng internet, gồm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Tuyên ngôn cũng như các văn bản pháp luật…

Các đơn vị, tổ chức, cá nhân đều có thể sử dụng bản ghi chính thức này trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và hoàn toàn miễn phí...

QUAN ĐIỂM CHO RẰNG CHẾ ĐỘ “ĐỘC ĐẢNG” LÀ TRỞ NGẠI LỚN NHẤT CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC CÓ PHẢI LÀ SỰ THẬT?

Một thuộc tính cố hữu trong bản năng chống động của các phần tử thù địch đối với cách mạng Việt Nam nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, đó là nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp và phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu thường thấy của các phần tử này là: “Đảng Cộng sản bản chất là không dân chủ và do đó Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo và cầm quyền là vi phạm nền dân chủ” (!); “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội” tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị” (!); “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền” (!), v,v..

Một cách tất yếu, muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không khể không đi tới phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, bởi đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động phủ nhận nguyên tắc này đồng nghĩa với phá bỏ viên đá tảng trong học thuyết Mác - Lênin về Đảng Cộng sản. Các thế lực thù địch thường tung ra các luận điệu như: nguyên tắc tập trung dân chủ chủ yếu hướng tới “tập trung”, “dân chủ” chỉ là “thứ yếu”, là “hình thức”; nguyên tắc tập trung dân chủ đã “lỗi thời", “không có thật”, “dân chủ không thể đi đôi với tập trung”; là một “nguyên tắc sai lầm”, “làm mất dân chủ” và “tất yếu dẫn đến tập trung quan liêu, chuyên chế, tình trạng vô trách nhiệm”; tập trung dân chủ chỉ là một thứ chế độ tập quyền, độc đoán bảo thủ, kìm hãm tư duy sáng tạo; v.v..

Đây là một loại luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Thực chất những luận điệu này là gì, nếu không phải là muốn đa nguyên, đa đảng, chia quyền lãnh đạo dẫn tới đoạt quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mục đích của họ là phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới. Thực tiễn cho thấy vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan. Về khách quan, nó phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc vào tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà nó đại diện.

Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất. Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Cho đến nay, vẫn chưa có cơ sở khoa học nào chứng tỏ được vấn đề một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển. Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà nước đó có. Có nước một đảng vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển; có nước nhiều đảng vẫn kém phát triển, vẫn mất dân chủ. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia – dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo.

Có phải độc đảng thì cản trở, còn đa đảng thì tạo điều kiện cho sự phát triển đất nước? Có hai khả năng phải tính đến: Khả năng thứ nhất, một đảng cầm quyền có lợi ích riêng thì đa đảng trong hệ thống chính trị là cần thiết. Ở đây, nếu chỉ có một đảng là độc tài. Khả năng thứ hai, một đảng không có lợi ích riêng khi cầm quyền vì lợi ích chung thì đa đảng dễ gây bè phái, phân tán.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Nhà nước. Vậy Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ rơi vào trường hợp nào trong hai khả năng trên? Để làm rõ vấn đề, chúng ta cần phân tích trên các khía cạnh sau:

Một là, mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đất nước phát triển

  Trước hết, phải xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là của ai, đại diện cho lợi ích của ai? Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một hiện tượng hợp quy luật, phản ánh điều kiện khách và chủ quan đã chín muồi trong dòng vận động lịch sử của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự hợp nhất của ba tổ chức cách mạng tiền thân là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Trước khi hợp nhất, các tổ chức này hoạt động độc lập và có hiện tượng tranh chấp sự ảnh hưởng trong quần chúng, bài xích lẫn nhau và mỗi tổ chức đều muốn đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt tình trạng phân tán lực lượng, chia rẽ nội bộ, tạo sự thống nhất về tổ chức trong cả nước, nâng tầm ảnh hưởng và vị thế của Đảng. Đảng trở thành hiện thân đại diện tiêu biểu cho lợi ích của toàn thể giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” (1). Ngoài lợi ích trên, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn lợi ích nào khác.

Mục đích của Đảng là “xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”(2). Đó là mục đích, lý tưởng cao cả không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta.

Hai là, Đảng đã tìm ra định hướng phát triển và trực tiếp lãnh đạo các cuộc cách mạng để phát triển.

Trong những năm 1920 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc, tưởng như không có đường ra. Nhiều sĩ phu yêu nước, nhiều phong trào cách mạng đưa ra các lựa chọn để giải phóng dân tộc, phát triển đất nước, song tựu trung, tất cả đều thất bại. Giữa lúc đen tối ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930), rẽ đám mây mù, chỉ ra con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, đưa giống nòi bước qua lầm than, nô lệ. Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 10/1930) xác định phương hướng chiến lược của cách mạng là: lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng đánh đổ đế quốc và phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau. Động lực cách mạng là giai cấp vô sản và nông dân. Lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.

Tiếp đến, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 11/1939) xác định: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay khẩu hiệu lập chính quyền Xôviết công - nông - binh bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa. Phương pháp đấu tranh: chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, bất hợp pháp. Thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc chống đế quốc.

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941) xác định: Giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và nhấn mạnh là nhiệm vụ “bức thiết nhất”; tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”, chỉ thực hiện khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công. Quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng. Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) là mặt trận đoàn kết dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng. Đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân; chỉ rõ một cuộc tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ; đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa.

Với đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn đó, nên mới 15 tuổi, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lật đổ ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, thiết lập nên nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, tự do.

Nhưng sau khi vừa mới ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ đã phải đối phó với một tình thế hết sức hiểm nghèo, hàng loạt nguy cơ, thách thức tưởng chừng khó có thể vượt qua. Đó là nguy cơ của “giặc đói”, “giặc dốt”, và đặc biệt là “giặc ngoại xâm”. Trong tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quyết sách đúng đắn, sáng suốt trong việc phát huy các yếu tố thuận lợi, hạn chế và vượt qua khó khăn, kịp thời có đối sách thích hợp để ứng phó với những thách thức đe dọa sự tồn vong của chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng chế độ mới, đưa cách mạng đi lên.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với thắng lợi thuộc về nhân dân ta, Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng vào ngày 10/10/1954, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, tạo điều kiện cho miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, tháng 5/1956, Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam - Bắc. Mỹ vào thay chân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này được Đảng ta xác định là: Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Trong đó, miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với cách mạng cả nước, còn miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ giữa hậu phương với tiền tuyến.

Với Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chúng ta đã kết thúc thắng lợi 21 năm chiến đấu chống Mỹ, cứu nước và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc (1945-1975), chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất Tổ quốc; mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; đồng thời tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới  trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động.

Tuy nhiên, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp là không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm; việc hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi đã mắc sai lầm, khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tim tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt qua trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Ba là, thực tế đất nước đạt nhiều thành tựu và phát triển không ngừng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã giành được những thành tựu vĩ đại vô cùng. Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp; đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá. nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Văn hóa - xã hội có bước phát triển. công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những thành tựu quan trọng, sớm đạt được nhiều mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, được quốc tế đánh giá cao. Diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã và đang đạt được một số kết quả tích cực. Đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển của đất nước. Nhiều đảng viên đã để lại nhiều tấm gương tốt thể hiện tinh thần tiên phong và tính gương mẫu.

Khi trả lời Thông tấn xã Việt Nam đầu Xuân Canh Tý 2020, cũng là dịp kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thế và lực của nước ta đã được tăng cường, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là một quốc gia kinh tế - văn hóa phát triển, chính trị - xã hội ổn định, có nhiều triển vọng tốt... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay”; những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định: luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên cản trở sự phát triển là hết sức hàm hồ và trơ trẽn.

Cái gọi là "sự sụp đổ của bức tường Berlin" dẫn đến đến thế giới phẳng

 

Cuốn "Thế giới phẳng" của Thomas L.Friedmam một học giả người Mỹ (Nxb Trẻ, Thành phố HCM, 2016) bàn về vấn đề phẳng của thế giới đã cho rằng có 10 nhân tố làm nên sự phẳng của thế giới.  

Nhân tố đầu tiên mà cuón sách này cho rằng: Sự sụp đổ của bức tường Berlin (ngày 9/11/1989). Sự sụp đổ của bức tường Berlin chính là sự sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Đức. Điều đó đồng nghĩa với việc họ cho rằng:  sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội là một trong những nhân tố làm nên sự phẳng của thế giới hiện nay và trong tương lai. 

Dù nhìn ở góc độ nào thì đây cũng là tư tưởng chủ quan, phiến diện khi nhìn nhận và đnáh giá về CNXH hiện thực và lý luận chủ nghĩa Mác- Lê nin. MLN/Nh

(còn nữa)


Để bộ đội đón Tết vui tươi, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ

Tết cổ truyền của dân tộc đang đến gần cũng là lúc Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3) tập trung thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, nhất là trực sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị mọi mặt để bộ đội vui xuân, đón Tết vui tươi, an toàn, lành mạnh.

 Động lực giúp bộ đội an tâm công tác, cống hiến

Những ngày này, mỗi cán bộ, chiến sĩ đơn vị đều tất bật thực hiện nhiệm vụ được giao, tích cực tham gia chỉnh trang, củng cố cảnh quan doanh trại. Các cơ quan, phân đội tập trung tu sửa, quét vôi ve toàn bộ hệ thống nhà ở, cắt tỉa cây xanh, bổ sung chậu hoa, cây cảnh, trang hoàng khuôn viên... mang đậm hương sắc mùa xuân. Ngày Tết, mọi người đều mong muốn đoàn tụ gia đình, nhưng vì nhiệm vụ nên hầu hết cán bộ, chiến sĩ đều trực ở đơn vị.

Để bù đắp sự thiếu vắng hơi ấm quê nhà, trung đoàn đã triển khai xây dựng kế hoạch tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí ấm tình đồng chí, đồng đội như: Làm báo tường, hội thi bình mâm ngũ quả và bình báo tường từ cấp chi đoàn đến đoàn cơ sở; hội thi nấu bánh chưng xanh, gói giò, nấu mâm cỗ, đồ xôi ở tất cả đầu mối bếp toàn đơn vị; diễn đàn thanh niên trong đêm Giao thừa với chủ đề “Tổ quốc, mùa xuân, người chiến sĩ” và hoạt động văn hóa văn nghệ, hái hoa dân chủ, giao lưu thể thao giữa các cơ quan, phân đội trong trung đoàn theo 4 đầu mối (khối 3 tiểu đoàn, khối đại đội trực thuộc).

Bên cạnh đó, đơn vị có kế hoạch tổ chức những trò chơi dân gian, trò chơi quân sự như: Kéo co, bịt mắt bắt dê, cầu kiều, đập bóng, đẩy gậy, bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, bóng bàn và Tết trồng cây. Việc thực hiện nhiều hoạt động giao lưu, vui chơi nhằm cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ thi đua phát huy nội lực, lập thành tích cao nhất thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong năm 2022.

Vào thời điểm ngày Tết gần kề, song song với việc chuẩn bị cơ sở vật chất, đơn vị đã quán triệt đến 100% cán bộ, chiến sĩ về chế độ, tiêu chuẩn được hưởng và cấp phát đầy đủ. Bên cạnh tiêu chuẩn quy định, từ nguồn tăng gia sản xuất, đơn vị bảo đảm 100% nhu cầu rau xanh, thịt gia cầm, thịt lợn sạch trong bữa ăn ngày Tết. Các mặt hàng khác đều được khai thác đúng nguồn gốc, giá cả hợp lý, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Trung đoàn cũng trích từ quỹ tăng gia sản xuất hỗ trợ đối tượng hưởng lương 300.000 đồng/người, chiến sĩ 50.000 đồng/người để đưa vào bữa ăn trong 5 ngày (từ 29 đến mồng 4 Tết); hỗ trợ cấp đại đội, tiểu đoàn, 4 cơ quan tiền làm ban thờ ngày Tết theo tinh thần trang trọng, chu đáo, tiết kiệm. Để thắt chặt tình quân dân và hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, đơn vị còn tham gia tu sửa, củng cố nghĩa trang; thăm, tặng quà, chúc Tết thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, gia đình chính sách trên địa bàn đóng quân và cấp ủy, chính quyền địa phương, gia đình có hoàn cảnh khó khăn với số tiền hơn 14 triệu đồng.

Cũng vào dịp cuối năm, căn cứ vào kế hoạch của sư đoàn và tình hình thực tiễn, trung đoàn tiến hành giải quyết nghỉ phép Tết cho cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp theo đúng quy định. Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, để bảo đảm an toàn, đơn vị không giải quyết cho quân nhân về nghỉ ở những địa bàn có dịch cấp độ 4. Khi bộ đội trả phép phải thực hiện cách ly y tế theo quy định.

Thực hiện có hiệu quả biện pháp nắm, quản lý, giải quyết tư tưởng cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán, trung đoàn đã tăng cường sinh hoạt quán triệt nhiệm vụ, động viên bộ đội khắc phục khó khăn, thi đua hoàn thành toàn diện nhiệm vụ được giao. 100% cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm chắc yêu cầu nhiệm vụ, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao; không để xảy ra trường hợp nào vắng mặt trái phép, đào, bỏ ngũ trong dịp Tết.

Với sự chủ động và làm tốt công tác chuẩn bị, bước sang mùa xuân mới, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 43 sẽ giành được nhiều kết quả cao hơn trên các mặt công tác, thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống trung đoàn (29-7-1967 / 29-7-2022), tô thắm thêm truyền thống “Đoàn kết-anh dũng-kiên cường-sáng tạo” mà nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã dày công vun đắp, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng cơ sở chính trị địa bàn an toàn, vững mạnh, bảo vệ vững chắc vùng Đông Bắc thân yêu của Tổ quốc.