Thứ Hai, 24 tháng 1, 2022

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước là từ nhân dân, do nhân dân, phụng sự lợi ích của nhân dân. Người quan niệm, pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền đó thấm đượm bản chất nhân văn, chăm lo ấm no, hạnh phúc của nhân dân, lòng nhân ái, nghĩa đồng bào, truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc. Đó thật sự là giá trị dân chủ sâu sắc và triệt để của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, đó là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Kể từ đó, tiếp thu, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, quá trình nhận thức tư duy lý luận của Đảng qua các nhiệm kỳ đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới, không ngừng được phát triển và hoàn thiện. Những quan điểm, đường lối đó được Nhà nước cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (bổ sung năm 2011) hay Hiến pháp (2013), Đảng, Nhà nước ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Cương lĩnh chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khác nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ, pháp quyền dưới chế độ tư bản về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Trong khi bản chất nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đó là Nhà nước “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng và đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của các mạng Việt Nam”.

Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ, đòi hỏi phải có sự nhận thức lý luận khoa học, cách mạng, giữ vững định hướng XHCN trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đáp ứng yêu cầu đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới. Do đó việc lãnh đạo, tổ chức nghiên cứu, xây dựng, thực hiện đề án chiến lược này là khách quan, khoa học, vừa kế thừa, phát huy những thành tựu đạt được, vừa phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới.

Như vậy, không thể lập luận rằng “xây dựng Nhà nước pháp quyền là đi theo con đường TBCN”, không thể xuyên tạc ở Việt Nam “chỉ có đảng trị, không pháp quyền”, rêu rao “pháp trị thì xã hội không thể có tự do, dân chủ, nhân quyền”... Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” không phải là khuôn mẫu, tiến bộ về tự do, dân chủ nhân quyền. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm. Đưa ra luận điệu này, các đối tượng nhằm cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy mô hình nhà nước tam quyền phân lập, những cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây; dẫn dắt, gieo rắc nhận thức lệch lạc, xuyên tạc bản chất, vị trí, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN; chia rẽ khối đại đoàn kết, mối quan hệ, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Mặt khác, việc tung ra luận điệu trên làm méo mó bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội, làm giảm uy tín, vị thế Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trên trường quốc tế.

Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”, đồng thời xác định tầm nhìn, định hướng chiến lược, trong đó “nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến 2045”.

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu nhằm phê phán, bác bỏ, phủ nhận vai trò, tính chất pháp quyền của Nhà nước XHCN Việt Nam. Họ cho rằng, nhà nước pháp quyền là giá trị tiến bộ đã được các nước tư bản vận dụng, xây dựng, thực hiện từ lâu, bây giờ Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN).

Họ ra sức xuyên tạc Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam chỉ có “đảng trị” chứ không có tính pháp quyền “pháp trị”, xã hội không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Cho rằng chỉ có nhà nước pháp quyền tư bản, không có khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đồng thời rêu rao rằng, thoát li vai trò lãnh đạo của Đảng, nhà nước phải xây dựng theo mô hình nhà nước “tam quyền phân lập”, như vậy thì những giá trị tiến bộ về quyền cơ bản của con người mới được thừa nhận, tôn trọng và thực hiện…                       

Tung ra các luận điệu sai trái, công kích vào bản chất, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những mũi nhọn mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá trong suốt quá trình cách mạng, xây dựng, hoàn thiện nhà nước XHCN Việt Nam. Vậy bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN có đồng nhất nhà nước pháp quyền TBCN? Mục đích, âm mưu mà các đối tượng hướng tới là gì?

Trước hết có thể thấy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được các nhà chính trị, pháp lý như J.Locke (1632-1704), C.Montesquieu (1698-1755), J. Rousseau (1712 – 1778) đặt nền móng đầu tiên, sáng lập, phát triển như một thế giới quan pháp lý mới, phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền, làm cơ sở lý luận xây dựng nhà nước tư sản cho đến ngày nay. So với nhà nước phong kiến “ngàn năm trung cổ”, đây là những tư tưởng tiến bộ của nhân loại trong hoàn cảnh lịch sử khi đó. Tuy nhiên, tư tưởng này bị hạn chế bởi thế giới quan, bản chất giai cấp nên nhà nước tư sản vẫn là công cụ thuộc về thiểu số là giai cấp tư sản, dân chủ tư sản chưa phải là nền dân chủ của đa số, quảng đại quần chúng nhân dân lao động.

Bản chất nhà nước luôn là vấn đề trung tâm của mỗi chế độ chính trị, quyết định bản chất xã hội, biểu hiện ý chí, nguyện vọng của thiểu số hoặc đa số và tính chất, nội dung của một xã hội tiến bộ, dân chủ. Mặt khác, đây cũng là đề tài luôn được học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia không ngừng nghiên cứu, tranh luận trên cơ sở lập trường tư tưởng, khuynh hướng chính trị khác nhau. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lấy lý do này để tăng cường các hoạt động công kích, xuyên tạc, chống phá.

Hại thân vì những lời tung hô, kích động

 Phiên toà xét xử bị cáo Lê Trọng Hùng diễn ra ngày cuối cùng của năm 2021 cũng vậy, khi mà cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự tố tụng thì số cơ hội bên ngoài chờ sẵn để “ném đá” tạo sóng dư luận, lấy cớ đẩy vụ án sang hướng khác để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trang Việt Tân dẫn lời nói sau cùng của Lê Trọng Hùng trước toà, nội dung lời nói cho thấy bị cáo không ăn năn, hối cải, mà vẫn ngoan cố chối tội, thậm chí còn mang tính kích động để những kẻ chống phá lấy cớ vu cáo.

Bị cáo Lê Trọng Hùng ngô nghê nói rằng, lẽ ra đã “trở thành đại biểu Quốc hội”, việc bị phạt tù là “ngăn cản sứ mệnh của tôi trong 5 đến 10 năm” và “tôi ở trại giam tôi vẫn gào ra, tôi buộc các anh quản giáo cắt tóc thật đẹp để hôm sau tôi đi bầu cử, thể hiện tôi đang bảo vệ tính chính danh của Nhà nước”…Những lời nói này cho thấy kiểu giả bộ tâm lý có vấn đề để nhạo báng trước công đường. Tuy nhiên, bị cáo hẳn đã quá ảo vọng, đến lời nói sau cùng là cơ hội để trấn tĩnh, cần biết hối lỗi nhìn ra sự thật thì vẫn tìm cách nói ngông để bấu víu sự can thiệp mơ hồ từ bên ngoài.

Theo cáo trạng của VKSND Hà Nội, ngày 27/1/2021, Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Công an TP Hà Nội) đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra hồ sơ vụ việc để điều tra làm rõ Lê Trọng Hùng, thông qua fanpage Facebook “CHTV Vietnam”, đăng tải các video clip có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin, bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trọng Hùng thừa nhận bản thân đã thực hiện các hành vi nêu trên nhưng cho rằng đó là những hành vi không phạm tội. Sau khi xem xét vụ án, Hội đồng xét xử kết luận hành vi của Hùng là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm an ninh quốc gia, phỉ báng chính quyền nhân dân và chế độ XHCN, gây mất ổn định trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa và sự thống nhất về nền tảng chính trị tư tưởng của quốc gia, ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân vào thể chế chính trị của Nhà nước… Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm bị cáo để cảnh cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Như vậy, bản chất, hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Tuy nhiên, lấy cớ bị cáo không nhận tội, các thế lực chống phá Việt Nam tô vẽ, tung hô đối tượng, giống như từng tung hô cho “ứng viên giải thưởng nhân quyền”. Bằng việc tung hô các đối tượng với danh hão như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước”..., thực chất là thủ đoạn để các thế lực thù địch hợp thức hóa việc cung cấp tiền bạc cho những kẻ được họ tiếp tay hoạt động chống Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam. Đồng thời, thông qua đó nhằm tiếp tục cổ súy, lôi kéo các đối tượng khác hoạt động phục vụ âm mưu chống phá Việt Nam.

Với những cá nhân như Lê Trọng Hùng, được các đối tượng rêu rao, cổ suý thì thực chất chỉ như những con rối, quân cờ, ra toà lĩnh án nhưng bị kẻ địch bên ngoài mượn tên để điều khiển, vì động cơ chống phá đất nước. Bởi vậy, những bị cáo như vậy chớ nên nghe xúi bẩy từ đâu mà nghĩ khác, làm khác để tự cho mình là “tù nhân lương tâm”, kiếm tìm ảo vọng ở trời Tây. Chẳng có “thiên đường” nào từ các thế lực chống phá bên ngoài giúp phạm nhân “đến với tự do, dân chủ”. Muốn trở về với tự do, dân chủ như công dân bình thường, điều trước mắt và quan trọng nhất là trót bước lạc đường thì nay chấp hành án trong trại giam, hãy ăn năn hối cải, biết nhận ra lỗi lầm để cải tạo tiến bộ, sớm tìm lại con đường về với gia đình, sống có ý nghĩa trên đất nước, quê hương mình. (trích báo CAND)

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2022

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay


Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta đã khẳng định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng[1].

Trong điều kiện hiện nay, các nội dung thực hiện sứ mệnh lịch sử trên được cụ thể hóa như sau:

Về nội dung kinh tế, Đại hội XII của Đảng khẳng định: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển. Xây dựng cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động hợp lý, phát huy lợi thế so sánh, có năng suất lao động và năng lực cạnh tranh cao, tham gia sâu rộng vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; có văn minh công nghiệp chiếm ưu thế trong sản xuất và đời sống xã hội; phát triển nhanh và bền vững phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn”[2] .

Ba lĩnh vực mà quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tập trung là: Xây dựng nền công nghiệp và thương hiệu công nghiệp quốc gia; phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn... Đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ theo hướng hiện đại, đạt tốc độ tăng trường cao hơn các khu vực sản xuất và cao hơn tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế[3].

Về nội dung chính trị - xã hội, để tiếp tục hoàn thành sứ mệnh là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt nam, là giai cấp tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp, đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Cùng với nhiệm vụ giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thì nhiệm vụ “giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên”[4] và “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

“Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ cho công nhân; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,... để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân”[5].

Về nội dung văn hóa, tư tưởng, giai cấp công nhân là lực lượng quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chuyển dần từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình phát triển giai cấp công nhân Việt Nam là quá trình xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại, cách mạng và sáng tạo ngày càng giữ vai trò chủ đạo vững chắc.



[1],12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thức sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2008, tr.43-44, 90

[2], 14, 15 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2016, tr.91-94, 160.

 

 

  

Kiên quyết đấu tranh và sử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa

 


Lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng là âm mưu cố hữu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để nhằm mục tiêu cơ bản là xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân, xóa bỏ CNXH. Hiện nay âm mưu của các thế lực lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào tôn giáo chống lại đường lối quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập quần chúng tôn giáo với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm chệch hướng XHCN của sự phát triển đất nước. Thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt, đó là: ra sức tuyên truyền cho cái khẩu hiệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” nhân danh các công ước quốc tế để pháp lý hóa nhằm can thiệp vào nội bộ các tôn giáo, như: dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế” ký hiệu HR2431. Chúng kích động tín đồ các tôn giáo, tìm mọi cách cho ra đời các “Giáo hội độc lập, ly khai” theo kiểu “Tin lành Đề ga” với sự tiếp tay hậu thuẫn từ bên ngoài. Đồng thời chúng tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để lôi kéo quần chúng lạc hậu gây rối loạn trật tự xã hội để tạo cớ can thiệp vào nước ta. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động dùng vật chất để lừa mị, xúi dục các tín đồ đòi “tự do tôn giáo”, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân hoặc xúi dục tín đồ đòi đất, khiếu kiện,,,, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc như một thủ đoạn chiến lược lâu dài để chống phá cách mạng. Các thế lực thù địch đã rất kiên trì tuyên truyền, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp “dân tộc thiểu số” “đàn áp tôn giáo” để mê hoặc dư luận thế giới, mê hoặc tín đồ, kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để can thiệp vào nội bộ nước ta.

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.

 


Đảng ra chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện, các tổ chức đoàn thể tham mưu tổ chức thực hiện.

Thực hiện quan điểm trên, quân đội tham gia thực hiện chính sách dân tộc. Quân đội quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân…Tích cực tham gia xây dựng, phát triển vùng dân tộc, miền núi vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh vùng dân tộc thiểu số. Giáo dục cán bộ, chiến sỹ hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa các dân tộc.

 

Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc trong thời đại ngày nay

 


Vào thập niên 50, 60 của thế kỷ trước, hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc giành được độc lập dân tộc, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ. Tuy nhiên nhiều nước độc lập chỉ trên danh nghĩa, còn thực chất vẫn bị lệ thuộc, bị chủ nghĩa đế quốc chi phối cả về kinh tế và chính trị.

Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc hiện nay có những biểu hiện mới. Đó là:

 Sự cách biệt ngày càng lớn giữa các nước tư bản giầu có với các nước nước nghèo. Chủ nghĩa tư bản còn ra sức bòn rút chất xám ở các nước lạc hậu, đẩy các nước đó tới chỗ kiệt quệ, biến các nước đang phát triển thành bãi thải không chỉ công nghệ lạc hậu mà còn cả các đồ phế thải công nghiệp làm ô nhiễm môi sinh, cả những rác rưởi, cặn bã suy đồi về tinh thần, đạo đức để phá hủy tận gốc đời sống và con người ở các nước kém phát triển.

 Chủ nghĩa đế quốc ra sức áp đặt về kinh tế, chính trị, giá trị tư sản như đa nguyên, đa đảng, dân chủ, nhân quyền, đạo đức, lối sống... theo quan điểm tư sản lên các nước đang phát triển và kém phát triển. Trong khi đó, các quốc gia độc lập có chủ quyền hoặc chưa  hoàn toàn độc lập phải tiến hành cuộc đấu tranh chống lại sự can thiệp, áp đặt của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập chủ quyền và con đường phát triển của mình. Tình hình đang diễn ra ở Trung Đông, Bắc Phi và nhiều nơi khác trên thế giới đã nói lên tính phức tạp trong cuộc đấu tranh chống sự can thiệp và xâm lược, đồng thời ở khu vực này còn phải chống lại cả sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, khắc phục những xung đột dân tộc và sắc tộc đẫm máu.

Như vậy, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn hiện nay đã chuyển thành mâu thuẫn giữa các nước chậm phát triển với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao.

Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

 


Hiện nay, “giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”[1]. Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới với các tiêu chí: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; công nghiệp hóa trong cơ chế thị trường, phát triển kinh tế tri thức, gắn hội nhập và bảo vệ tài nguyên môi trường. Với những yêu cầu kinh tế - xã hội ấy, công nhân Việt Nam hiện nay là một lực lượng lao động tiên tiến nhất và phát triển khá nhanh. Nhận thức chiến lược của Đảng ta là sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công nhân Việt Nam hiện nay đang lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những quan tâm về việc làm, thu nhập, mức sống thì giai cấp công nhân Việt Nam còn là giai cấp đi đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là vinh dự và cũng là trọng trách to lớn của công nhân Việt Nam. Theo đó, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam cần phải chú ý về chính sách trên hai phương diện: lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, vị thế người lao động và vị thế người làm chủ đất nước... Đa dạng về tnh độ công nghệ, về thành phần kinh tế và lợi ích. Nếu như trước thời kỳ đổi mới, đa số công nhân lao động trong thành phần kinh tế nhà nước với hai loại hình là sở hữu toàn dân (các nhà máy, nông trường quốc doanh) và sở hữu tập thể (các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp); thì hiện nay họ có mặt trong mọi thành phàn kinh tế. Công nhân cũng khác nhau về trinh độ tiếp cận công nghệ, lợi ích hay phần được hưởng từ quá trình sản xuất kinh doanh và qua tái phân phối thành quả của đổi mới... Những sự khác biệt này khiến cho cơ cấu công nhân khá đa dạng và cần những chính sách ngày càng cụ thể, phù hợp hơn với từng đối tượng. Với vai trò là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới kinh tế tri thức, cách mạng công nghiệp 4.0 và gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, giai cấp công nhân Việt Nam phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng và nghị lực lớn mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử trong thời kỳ mới, đóng góp xứng đáng vào thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trường kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; bảo đảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được thể hiện trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội”[2].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thức sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2008, tr43.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2016, tr.104.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi

 


Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Phát huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào.

Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động trong thời đại ngày nay


 Đây là mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa, phản ánh bản chất bóc lột lao động làm thuê của giai cấp tư sản. Do sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản, nhất là sự điều chỉnh về quan hệ sản xuất: Trong mấy thập kỷ qua,  CNTB có những thay đổi lớn là do đã nhanh chóng nắm bắt và tận dụng được những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng KH và CN, cải biến các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết là lĩnh vực kinh tế, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, tạo ra một cơ cấu đa dạng, thúc đẩy sự “bùng nổ” và cạnh tranh của nhiều ngành sản xuất, góp phần tăng nhanh sản xuất xã hội. Mặt khác, do áp lực đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong các nước TBCN và chủ nghĩa xã hội nên CNTB đã thực hiện những điều chỉnh theo hướng thích nghi hơn, năng động hơn.

Ví dụ: công nhân có cổ phần, được chia lợi nhuận trong các công ty, đời sống người lao động có phần được cải thiện...,  mâu thuẫn này hiện nay, về mặt hình thức biểu hiện (bề ngoài) có vẻ lắng dịu, nhưng thực chất, ở các nước tư bản, sự thống trị bóc lột của tư bản đối với lao động đang diễn ra tinh vi hơn, quy mô ngày càng lớn hơn. Sự bóc lột của tư bản đối với lao động đã dẫn tới sự phân cực xã hội giữa giai cấp tư sản ngày càng giầu có hơn và các tầng lớp lao động ngày càng nghèo khổ, bần cùng hơn trong xã hội tư bản.

Thí dụ ở Mỹ, hiện 1% số người giầu nhất đã nắm giữ 53% tổng lượng cổ phiếu, 64% chứng khoán, tài sản của số người này chiếm hơn 1/3 tài sản quốc gia của Mĩ; trong khi đó số người nghèo đói năm 2003 ở Mĩ là 35,9 triệu người, trung bình cứ 8 người thì có 1 người sống dưới mức nghèo khổ, 3,5 triệu người không có nhà cửa[1].

+ Trên quy mô toàn cầu thì sự thống trị, bóc lột của tư bản thông qua các công ty xuyên quốc gia đối với lao động, đặc biệt là đối với lao động ở các nước đang phát triển và kém phát triển có mặt còn nặng nề hơn.

=> Theo báo cáo của Liên hợp quốc về phát triển con người, chỉ trong vòng 5 năm (1995 - 2000): 200 người giầu nhất thế giới đã tăng gấp đôi số tài sản của họ lên hơn 1000 tỉ USD; trong khi đó 1,3 tỉ người sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập bình quân 1USD/1 người/1 ngày vẫn không thay đổi. Tỉ lệ khoảng cách GDP theo đầu người giữa các nước giầu nhất và nghèo nhất cũng gia tăng nhanh chóng: năm 1820 là 3/1, năm 1913: 11/1, thập niên 1960: 31/1, thập niên 1980: 61/1, thập niên 1990: 72/1, đến năm 2000 là 86/1[2].

+ Sự phân cực giầu - nghèo ngày càng lớn - biểu hiện quy mô bóc lột của tư bản đối với lao động ngày càng tăng, sẽ đẩy nhanh sự chín muồi của mâu thuẫn giữa tư bản và lao động. Hệ quả tất yếu của nó là sự bùng nổ xã hội. Các cuộc đấu tranh của công nhân và các tầng lớp lao động khác chống sự thống trị, bóc lột của chủ nghĩa tư bản sẽ diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn. Chính cuộc đấu tranh đó sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.

 Tuy có sự điều chỉnh và thích nghi, nhưng CNTB vẫn không thay đổi về bản chất, vẫn là chế độ áp bức bóc lột và bất công. Đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của LLSX với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX; mâu thuẫn giữa tư bản và lao động; giữa CNĐQ với các nước chậm phát triển; giữa các trung tâm, các tập đoàn tư bản với nhau v.v…

Mặt khác, CNTB đã đẩy sự phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc, đó là phân hoá giàu, nghèo, nạn thất nghiệp, các tệ nạn xã hội, sự tha hoá về đạo đức lối sống. Tất cả những vấn đề trên kết hợp với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước tư bản sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.



[1] Theo Nhât. báo phố Wall ngày 15 tháng 6 năm 2004.

[2] Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Nxb CTQG, H. 2008, tr.15. 

Những vẫn đề đặt ra đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay

 


Một là, nhận thức rõ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh chính trị phức tạp hiện nay.

Thực tế đang đặt ra một thách thức lớn cho tư duy về sứ mệnh lịch sử và vận mệnh của chủ nghĩa xã hội. Sản xuất vật chất vẫn là yếu tố quyết định nhất với tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại. Thực tiễn sản xuất công nghiệp hiện đại đang diễn ra theo xu thế xã hội hóa cả về bề rộng và chiều sâu. Thông qua vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình sản xuất với công nghệ hiện đại, năng suất, chất lượng cao và đảm bảo cho phát triển bền vững, sứ mệnh lịch sử của họ với xã hội hiện đại ngày càng rõ ràng hơn so với thế kỷ XIX. Thực tế cho thấy, nhờ nắm giữ những ưu thế trong kinh tế thị trường như vốn, công nghệ, thị trường độc quyền và kinh nghiệm quản lý, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản còn nhiều tiềm năng phát triển và cỏ khả năng duy trì sự thống trị của mình.

Hơn lúc nào hết, cần có một tư duy khoa học, để thấy được đúng triển vọng của chủ nghĩa xã hội, của sứ mệnh lịch sử. Tránh tư duy “tả khuynh”, ấu trĩ nhưng cũng cần tránh tư duy “hữu khuynh”, bi quan về hiện thực. Cái nhìn biện chứng về lịch sử là rất phù hợp khi nhận định vấn đề này. (quá trình phát triển của lịch sử xã hội).

Cần nhận thức rõ rằng, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển và chưa bao giờ từ bỏ việc chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào công nhân. Chủ nghĩa xã hội hiện thực tuy đã đạt nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong cải cách, đổi mới nhưng vẫn còn nhiều khó khăn phía trước. “Dư chấn của cơn địa chấn chính trị” dẫn đến sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô vẫn tồn tại

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vẫn đang được hiện thực hóa qua những biểu hiện cơ bản sau: Định hướng xã hội chủ nghĩa của nhiều nước trên thế giới hiện nay; lực lượng sản xuất xã hội hóa đang úng dụng nhiều thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại; mâu thuẫn về lợi ích cơ bản giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản ngày càng sâu sắc ở từng quốc gia tư bản chủ nghĩa và trên toàn cầu, những tiến bộ xã hội đạt được từ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân chống bất công, bất bình đẳng trong chế độ tư bản chủ nghĩa; cuộc đấu tranh vì một toàn cầu hóa khác, vì sự phát triển nhanh, nhân bản và bền vững, giờ đây trở thành một nội dung hữu cơ khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Hai là, cần khẳng định nội dung hàng đầu của đấu tranh giai cấp ở các nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa và giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa.

Như khẳng định của chủ nghĩa Mác-Lênin, cái cốt vật chất cho chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớn theo hướng ngày càng hiện đại. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bắt đầu từ nền đại công nghiệp. Hiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của các nước xã hội chủ nghĩa. Chỉ từ đó mới có một lực lượng sản xuất hiện đại, mới có cơ sở vật chất cho quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng lối sống mới và định hình hệ giá trị của giai cấp công nhân trong đời sống xã hội.

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất hiện đại, vai trò to lớn của cách mạng khoa học - công nghệ, hướng tới kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp 4.0, cụ thể hơn là xu thế đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa trong cơ chế thị trường đang là một thực tế ở rất nhiều quốc gia. Xu thế này là bước tiến lớn của văn minh nhân loại, song nếu không xác định được một mô hình và cách thức công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp thì lại bộc lộ nguy cơ tụt hậu cả về công nghệ và nguồn nhân lực của nhiều quốc gia đang phát triển. Tính thực dụng của kinh tế thị trường khiến cho người ta có thể vì lợi ích ngắn hạn mà bỏ qua những yêu cầu khách quan về xã hội và môi trường trong phát triển.

Lịch sử còn xác nhận rằng, chất lượng, quy mô và tốc độ công nghiệp hóa còn tùy thuộc vào chế độ chính trị, tư duy của giai cấp lãnh đạo. Những quốc gia hiện nay chưa công nghiệp hóa xong, không chi lạc hậu về kinh tế mà còn phải đối diện với khá nhiều vấn đề về chế độ và thể chế chính trị. Con đường phát triển kiểu tư bản chủ nghĩa, ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa quốc gia dân tộc cực đoan, bất công và bất bình đẳng xã hội từ mặt trái của kinh tế thị trường, những bất bình đẳng của toàn cầu hóa... đang là những cản trở đối với quá trình công nghiệp hóa và tiến bộ xã hội.

Với chế độ xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó có thể đưa ra được và thực hiện được một kiểu công nghiệp hỏa mới, toàn diện, nhân bản và bền vững. Theo đó, với các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, giữ vững chế độ xã hội chủ nghĩa còn là một điều kiện chính trị quan trọng để thực hiện đầy đủ các nội dung của sứ mệnh lịch sử.

 

Một số kinh nghiệm chống địch lợi dụng tôn giáo ở nước ta

 


Những âm mưu, thủ đoạn mới lợi dụng vấn đề tôn giáo của địch, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân cần nhận diện rõ ràng, để luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng ý chí kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng, để thực hiện tốt cần thực hiện tốt các kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, coi trọng tuyên truyền giáo dục làm cho đồng bào tôn giáo thấu suốt quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức, lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với lực lượng phản động bên trong lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào tôn giáo, đi ngược lại đạo pháp và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, phương pháp công tác tôn giáo cần tuân theo bốn quy cách: có lý, đúng luật, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ; thống nhất đồng bộ giữa ba bộ phận (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng là các tín đồ, chức sắc và tổ chức giáo hội)

Ba là, trong xử lý vấn đề lợi dụng tôn giáo hoạt động trái pháp luật, phải bình tĩnh, nắm chắc tình hình, không định kiến, nóng vội, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục; cần tránh hai khuynh hướng: hữu khuynh lừng chừng để kẻ địch có cơ hội lôi kéo, lừa gạt quần chúng hoặc tả khuynh tuyên chiến với tôn giáo, đánh nhầm vào quần chúng tín đồ tốt. Ở những nơi thường xảy ra diễn biến phức tạp cần thành lập các tổ công tác hoặc ban chỉ đạo, những nơi chưa xảy ra phức tạp, phải chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn, giải quyết ngay từ cơ sở không để lây lan, kéo dài.

Bốn là, chủ động sâu sát cơ sở địa bàn có tôn giáo để nắm chắc tình hình, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; thực hiện tốt ba cùng: cùng ở, cùng làm, cùng sinh hoạt với dân; phải thường xuyên nắm chắc âm mưu, hoạt động của kẻ xấu để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn. Khi xảy ra “điểm nóng” cần phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, chính quyền địa phương với Ban Chỉ đạo Trung ương ở ttừng khu vực để giải quyêt dứt điểm, không để lan sang các vùng khác và phải tuyệt đối tránh tiếp xúc với người nước ngoài.

Năm là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với vấn đề dân tộc. Đó là, phải chăm lo giải quyết vấn đề đời sống, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Công tác tôn giáo phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược quốc phòng an ninh, thực hiện chính sách định canh, định cư, chống di dịch cư tự do trong đồng bào các dân tộc ít người, theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Vì vừa qua, kẻ địch đã triệt để lợi dụng tập quán này để truyền đạo trái phép rất phức tạp.

 

Thực hiện công tác dân tộc phải toàn diện trên các lĩnh vực

 


Đảng ta xác định, phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh

Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn Miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ và  phía tây các tỉnh miền trung.

Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.

Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Bộ máy thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam

 


Từ góc độ lập pháp

Ủy ban các vấn đề xã hội của quốc hội, có nhiệm vụ và quyền hạn:Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực BĐG do Quốc hội và Ủy ban TV Quốc hội giao. Thẩm tra việc lồng gép ván đề BĐG trong các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình quốc hội, Ủy ban TV Quốc hội. Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban TV quốc hội thuộc lĩnh vực BĐG. Kiến nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của ccs cơ quan hữu quan và các chính sách, biện pháp để giải quyết các vấn đề BĐG

Chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới

- Bộ Lao động TB và Xã hội. Vụ BĐG (thành lập 2008), có nhiệm vụ: Xây dựng các chiến lược, chương trình, kế hoạch dài hạn và hang năm; xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luậtvề BĐG; xây dựng các chính sách nhằm xóa bỏ, phân biệt đối xử về giới trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội như lao động, giáo dục, văn hóa, y tế, gia đình; theo dõi và đánh giá các chiến lược liên quan đến giới; tổ chức các hoạt động khảo sát, truyền thong và nâng cao nhận thức; xây dựng các báo cáo về BĐG.

- Bộ văn hóa thể thao và du lịch. Vụ gia đình, có nhiệm vụ: Hướng dẫn, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam; hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về công tác gia đình và phòng chống bạo lực gia đình; xây dựng tiêu chí gia dình văn hóa.

-Một số bộ và cơ quan ngang bộ khác, trên cơ sở phối hợp với Bộ LĐTB và XH, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BĐG trong phạm vi bộ, ngành mình.

-Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện phân công quản lý nhà nước về BĐG. Để thực hiện chức năng này, mỗi bộ ngành phân công đơn vị chủ trì công tác BĐG, trong khi các dịa phương giao nhiệm vụ này cho Sở LĐTB và XH hoặc cơ quan tương ứng ở cấp thấy hơn, xuống đến cấp huyện, cấp xã.

Các cơ quan tham mưu về vấn đề bình đẳng giới

-Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (thành lập năm 1993), có nhiệm vụ: Nghiên cứu, đề xuất với TTCP phương hướng, giải pháp để giải quyết những vấn đề liên ngành, liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ; Giúp TTCP phối hợp giuwac các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp và các đoàn thể trong việc tuyên truyền, phổ biến và vạn động nhan dân thực hiện chủ trương, chính sách của Dangt và pháp luật của nhà nước liên quan đến sự tiên bộ của phụ nữ; Giúp TTCP đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc phối hợp thực hiện các mục tiêu quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ; báo cáo TTCP theo định kỳ 6 tháng hoặc theo yêu cầu về tình hình hoạt động của ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ.

- Dưới ủy ban quốc gia có hàng loạt các ban vì sự tiến bộ của phujnuwx đã dược thành lập ở 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ, 8 cơ quan trực thuộc chính phủ, 63 tỉnh, thành phố.

     - Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (thành lập năm 1993), có nhiệm vụ: Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà ước về BĐG; tuyên truyền vận động nhân dân, hội viên, đoàn vien thực hiện BĐG; tổ chức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu BĐG; phối hợp với các cơ quan, tỏ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu quốc hội, đại biểu HĐND, phụ nữ dủ tiêu chuẩn tham gia quản lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị; thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về BĐG; đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của pháp luật.

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong thời đại ngày nay

 


Đây là mâu thuẫn cơ bản, nổi bật xuyên suốt thời đại quá độ mang tính toàn cầu. Biểu hiện mới của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay thể hiện chủ yếu trên 2 mặt: Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ cùng các thế lực phản động quốc tế tăng cường cấu kết chống phá hòng xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại bằng nhiều thủ đoạn, đặc biệt là thủ đoạn “diễn biến hòa bình” với cuộc đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới nhằm giữ vững và phát triển thành quả của chủ nghĩa xã hội. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và chủ nghĩa tư bản ra sức tận dụng quá trình toàn cầu hóa để thực hiện các mục tiêu chiến lược đối lập nhau. Đó là: chủ nghĩa tư bản sử dụng lợi thế về vốn, công nghệ, thông qua các hình thức đầu tư, hợp tác, viện trợ, chuyển giao công nghệ...thực hiện mưu đồ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Trong khi đó, các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam... cũng ra sức tận dụng toàn cầu hóa để thực hiện “rút ngắn” quá trình phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Từ đó dẫn tới hình thức mới của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là vừa hợp tác vừa đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa để giữ vững con đường phát triển.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Về thực hiện nội dung kinh tế của sứ mệnh lịch sử

Các nước này đều đang trong tiến trình cải cách, đổi mới, công nghiệp hóa theo mô hình mới và đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế - xã hội theo hướng kinh tế thị trường có vai trò quản lý của Nhà nước. Bước đầu đã khẳng định được vai trò cùng mối quan hệ giữa phát triển giai cấp công nhân, đẩy mạnh công nghiệp hóa và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Một trong những vấn đề lớn ở nhiều nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay là sự nghiệp công nghiệp hóa vẫn chưa hoàn thành, công nhân còn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động, trình độ xã hội hóa lao động chưa cao, vì vậy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chưa đủ điều kiện vật chất để hoàn thành.

Về thực hiện nội dung chính trị của sứ mệnh lịch sử

Chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, quyền lực chính trị đã thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng và thực thi thông qua nhà nước. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đạt được nhiều thành tựu trong quá trình phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố.

Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và phát triển khối đoàn kết toàn dân tộc, giữ gìn và phát huy chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay vẫn là những nhiệm vụ câp bách và đứng trước nhiều thử thách phức tạp.

Vthực hiện nội dung văn hóa - tư tưởng của sứ mệnh lịch sử

Hệ giá trị của giai cấp công nhân bước đầu được khẳng định là hệ giá trị cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp giải phóng dân tộc, xã hội và con người đã có được những thành tựu căn bản làm cơ sở cho trình độ phát triển mới.

Tuy vậy, cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị, sự khẳng định hệ giá trị của giai cấp công nhân còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp, bị cạnh tranh bởi các tàn dư của ý thức hệ tư sản, phong kiến, những biểu hiện của “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nhìn chung, quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay đạt được chủ yếu về nội dung chính trị-xã hội, tuy rất cơ bản nhưng cần phải tiếp tục được hoàn thiện và phát triển thêm về kinh tế, văn hóa - tư tưởng.

Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng, thực hiện tốt công tác tôn giáo

 


Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” .Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”

Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc

 


Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Cụ thể: Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số. Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư). Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu. Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ. Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới.Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước. Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Luật pháp và chính sách có lồng gép vấn đề BĐG

 


* Bộ luật lao động năm 2012 (2012)

- Điều 4: “Bảo đảm nguyên tắc BĐG; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao dộng nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao dộng chưa thành niên”

-Chương X: bàn về những quy định riêng đối với lao động nữ; nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ; bảo vệ thai sản đối với lao động nữ; quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản; bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản; trợ cấp khi nghỉ để chăm sóc con omms, khám thai, thực hiện các biện pháp tránh thai; công viecj không được sử dụng lao động nữ

- Liên quan đến tuổi nghỉ hưu, Bộ luật lao dọng năm 2012 quy định “người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiemr xã hội theo quy dịnh của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”. Bộ luật này cũng quy định “người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 năm so với quy định”

- Một điểm mới trong Bộ luật lao động sửa đổi năm 2012 là quy định lao động là người giúp việc gia đình. Những quy dịnh cụ thể về hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình; nghĩa vụ của người lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình; những hành vi nghiêm cấm đối với người sử dụng lao dộng giúp việc…được xem là một bước tiến trong việc bảo đảm quyền lợi của lao động nữ vì hầu hết lao động giúp việc gia đình là phụ nữ.

* Luật bầu cử đại biểu quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015

- Lần đầu tiên trong Luật bầu cử đại biểu quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 đã quy định về tỷ lệ nữ trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu quốc họi và đại biểu HĐND ít nhất là 35%. Quy định này là một bước cụ thể hóa quy định và là một bước tiến so với quy định được ban hành trong Luật bầu cử đại biểuHĐND năm 2003

* Luật đất đai năm 2013 (hiệu lực 1/7/2014)

- Điều 4 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật nay”. Tại khoản 2 Điều 5 về “Người sử dụng đất” gồm “hộ gia đình cá nhân trong nước”. Như vậy Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất, trong đó có hộ gia đình, các nhân, không phân biệt nam hay nữ.

- Quy định tại khoản 4 điều 98 “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn lienf với đất là tài sản chung của vợ, chồng mà giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ tê của vợ, hoặc chồng thì dduwpowcj cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.

- Quy định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở ghi cả tên vợ và chòng là cơ sở pháp lý cho sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc quyết định sử dụng, quản lý tài sản đất đai, đồng thời tạo quyền cho phụ nữ trong việc đồng sở hữu tài sản gồm đất đai và sở hữu nhà ở.

* Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Mở rộng phạm vi các văn bản cần lồng gép vấn đề BĐG đến nghị định, quyết định của TTCP, thông tư của bộ trưởng, cơ quan ngang bộ; các luật, pháp lệnh, nghị quyết của quốc hội…