Thứ Hai, 24 tháng 1, 2022

CHỦ TỊCH NƯỚC: TRONG BÃO TÁP SÓNG CẢ, CON TÀU VIỆT NAM VẪN TỰ TIN TIẾN LÊN!

         Tối 22/1, tại Hà Nội, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng phu nhân đã tới tham dự chương trình Xuân Quê hương 2022 và có bài phát biểu chào mừng trang trọng, ý nghĩa nhân dịp Tết Nguyên đán đang đến gần.


“Nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà"

Hiện nay, có khoảng 5,3 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc ở 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có hơn 4,3 triệu người định cư lâu dài, và 0,6 triệu chuyên gia trí thức.

Theo Chủ tịch nước, nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc ngàn đời, lắng sâu trong mỗi người con mang dòng máu Việt, dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều luôn nhớ về quê hương như “chim có tổ, người có tông” và như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “nhân tâm thiên lý, đó là tình nghĩa một nhà”.

“Chủ tịch nước được báo cáo các đảo của ta tại Trường Sa cũng như các điểm nơi tuyến đầu biên cương của Tổ quốc đã nhận được quà Tết của các địa phương, các bộ ngành trung ương, để động viên các chiến sỹ luôn sẵn sàng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc. Đó là những cống hiến cao quý, lặng thầm rất đáng trân trọng của các chiến sỹ nơi đảo xa và nơi biên cương Tổ quốc cho bình yên trên quê hương Việt Nam thân yêu” – Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Đề cập tới bối cảnh dịch bệnh hiện nay, Chủ tịch nước cho biết, với sự nỗ lực, tận tụy cống hiến của các lực lượng, đi đầu là cán bộ nhân viên ngành y tế, cùng với hơn 200 triệu liều vaccine đã có, chúng ta đã triển khai tiêm chủng miễn phí cho toàn dân trên quy mô lớn chưa từng có, với tốc độ nhanh, độ bao phủ rộng tới các nhóm đối tượng, kể cả trẻ em. Việt Nam đã trở thành một trong 6 nước có độ bao phủ vaccine cao nhất thế giới.

Dẫu còn nhiều khó khăn, hạn chế, tốc độ tăng GDP 2021 vẫn ước đạt 2,58%, kinh tế vĩ mô ổn định, kim ngạch đạt gần 670 tỷ USD, tăng 22%, đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Vững niềm tin vào Việt Nam, nhiều doanh nghiệp quốc tế đã đăng ký đầu tư mới và mở rộng đầu tư với tổng vốn 31,5 tỷ USD trong 2021, tăng gần 10%, đưa tổng vốn đầu tư FDI tại Việt Nam, từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ, lên gần 410 tỷ USD. Việt Nam từng bước mở cửa đón khách quốc tế sau một thời gian dài vắng lặng, các đường bay thẳng giữa Việt Nam và một số nơi đã được nối lại. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực.

“Trong bão táp, sóng cả của năm qua, dù chuyển động chậm hơn, nhưng con tàu Việt Nam vẫn tự tin tiến lên với những thành tựu toàn diện về kinh tế, chính trị, đối ngoại, văn hóa xã hội… thể hiện nội lực, tiềm năng, vị thế mới của đất nước. Đó là minh chứng cho bản lĩnh, khát vọng, ý chí quật cường và tinh thần đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, cả người dân trong nước cũng như đồng bào ta ở nước ngoài” - Chủ tịch nước khẳng định.

Phục hồi nhanh với sức mạnh của “mãnh hổ”

Người đứng đầu Nhà nước nhấn mạnh công tác về người Việt Nam ở nước ngoài luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước với thực thi nhiều quyết sách quan trọng; đánh giá cao kết quả triển khai công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong năm 2021 như kịp thời phân bổ các khoản kinh phí hỗ trợ cộng đồng ở nhiều địa bàn bị ảnh hưởng Covid-19 nặng; hỗ trợ trang thiết bị y tế và nhu yếu phẩm cho cộng đồng người Việt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ trong thời điểm khan hiếm.

Vượt qua bão xoáy của dịch Covid-19, gần 600 chuyến bay đã đưa hơn 120.000 đồng bào ta ở nước ngoài trở về, dù cho trong nước còn rất nhiều khó khăn do dịch bệnh đang hoành hành. Mọi công việc dẫu còn chưa hoàn hảo, còn thiếu sót, nhưng đó là những nỗ lực “chăm lo”, là “nghĩa đồng bào” của quê hương đất Việt.

“Tôi rất ấn tượng với nhiều trí thức giỏi, nhất là thế hệ trẻ người Việt ở nước ngoài ngày càng thành đạt, có nhiều thành công nổi bật. Hoan nghênh một số trí thức, doanh nhân đã về nước khởi nghiệp, hợp tác hiệu quả… Số lượng chuyên gia, trí thức Việt Nam làm việc tại các cơ quan nhà nước sở tại, tổ chức quốc tế lớn, các trường đại học, viện nghiên cứu uy tín trên thế giới ngày càng nhiều” – Chủ tịch nước bày tỏ và cho biết lượng kiều hối 2021 tiếp tục tăng với con số gần 14 tỷ USD, đó cũng là tình cảm, sự sẻ chia luôn đong đầy của bà con kiều bào với Tổ quốc và với bà con nơi quê nhà.

Bước sang năm mới Nhâm Dần 2022 với những thời cơ và thách thức đan xen, Chủ tịch nước tin tưởng về quyết tâm vượt qua mọi thách thức, khó khăn, phát huy tiềm năng đang bị kìm nén, để bật lên trong phục hồi nhanh, phát triển mạnh mẽ với sức mạnh của “mãnh hổ” Nhâm Dần.

Theo Chủ tịch nước, những chuyến bay của Việt Nam vươn ra thế giới trong những ngày gần đây để đón bà con về thăm quê hương và khách quốc tế, là hình ảnh của sự khởi đầu tràn đầy tự tin và khát vọng của đất nước trong năm mới Nhâm Dần. Việt Nam và các nước đang tích cực đàm phán để công nhận hộ chiếu vaccine của nhau, nới lỏng quy định cách ly, đảm bảo các điều kiện cần thiết để dần mở rộng hành lang đi lại an toàn với tất cả các nước.

“Tôi mong rằng, đồng bào ta ở nước ngoài, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, sẽ luôn giữ vững tinh thần Việt Nam luôn lạc quan, không nao núng trước khó khăn, thách thức; linh hoạt, sáng tạo trước thời cơ và luôn đoàn kết như lời Bác Hồ dạy “lấy đoàn kết để xoay vần vận mệnh” – Chủ tịch nước nói và tin rằng vận mệnh mới tốt đẹp hơn nhất định sẽ đến với chúng ta trong năm Nhâm Dần 2022, đó cũng là nốt thăng vút cao của bản nhạc mùa xuân tràn đầy hào khí mạnh mẽ của khát vọng hùng cường và cùng hướng tới mục tiêu một nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045./.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại chương trình Xuân Quê hương 2022.

Môi Trường ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG!

          Lịch sử dân tộc Việt Nam trải dài suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước; trong đó có hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã làm nên những kỳ tích không thể phủ nhận. Thực tế là, từ ngày có Đảng lãnh đạo, nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi trong thế kỷ XX, cũng như những thành tựu về mọi mặt trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được khẳng định và ghi nhận. Thời gian có thể làm thay đổi nhiều thứ và thế giới cũng sẽ nhiều đổi thay, song những gì mà Đảng đã nỗ lực phấn đấu vì một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do và nhân dân ngày càng được ấm no, hạnh phúc thì không thể nào bôi đen hay phủ nhận được.

Thực tế cho thấy là, cứ ít ngày thì các nhà "rân chủ cuội" vốn theo đuôi thế lực thù địch lại mượn cớ/vin vào một số hạn chế trong thực trạng của đất nước để rồi tung lên mạng xã hội những tin, bài bịa đặt đầy xảo trá. Cụ thể là, khi thì họ cho rằng, vì Đảng độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nên đất nước không thể dân chủ và phát triển như một số quốc gia ở phương Tây và Mỹ; khi thì họ đổ lỗi cho những khó khăn, thách thức trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam tiếp tục phải đối diện, khắc phục là do việc Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường sai lầm, lạc hậu; nhất là khi chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ từ cuối thế kỷ trước rồi mà Việt Nam vẫn cố bấu víu, tiếp tục đi theo…

Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật và cần phải khẳng định rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước đã lãnh đạo nhân dân kiên trì đấu tranh cách mạng đầy gian khổ và hy sinh suốt 15 năm (1930-1945) để giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đã kiên trì tiến hành thắng lợi 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt 30 năm (1945-1975) để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng hơn 35 năm qua (từ 1986 đến nay) chưa bao giờ/không bao giờ là sai đường và lạc hậu. Nếu không có Đảng dẫn đường, lãnh đạo thì tất yếu sẽ không thể có một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và ngày càng phát triển bền vững như ngày nay.


ĐẢNG ĐỘC QUYỀN LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG, KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Một là, việc Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền/độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam được hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phải chỉ là ý muốn chủ quan của Đảng mà đó là sự lựa chọn của lịch sử, được kiểm nghiệm bởi lịch sử. Thực tế, lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam từng có Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ... tham gia chính trường, song vì không thể đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử, nên cuối cùng đã tự rút lui. Hơn nữa, suốt 9 thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, đồng lòng ủng hộ, đi theo và chịu sự lãnh đạo của Đảng, góp sức và làm nên những thành tựu của sự nghiệp cách mạng.

Niềm tin luôn tồn tại trong mỗi con người và nhân dân Việt Nam có đủ cơ sở khoa học, thực tiễn lịch sử để sắt son một niềm tin vào Đảng, vào những thành quả của sự nghiệp cách mạng mà cả dân tộc Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bao thập niên qua, kể từ khi Đảng ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn một lòng tin yêu Đảng, vì Đảng luôn phấn đấu vì nước, vì dân, cho ấm no, hạnh phúc của toàn dân. Trên hành trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng khẳng định, củng cố được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo của mình. Đồng thời, trong hành trình đó, nhân dân Việt Nam cũng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò không thể phủ nhận/không thể thay thế được của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế là, có Đảng dẫn dường là có một cuộc đổi đời lịch sử, có một đất nước Việt Nam được hồi sinh và phát triển sau hơn 80 năm bị áp bức, bóc lột dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật; là có một dân tộc Việt Nam kiên cường đấu tranh và giành thắng lợi sau 30 năm đấu tranh gian khổ chống sự xâm lược của thực dân Pháp (lần thứ 2) và đế quốc Mỹ, để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có Đảng lãnh đạo, nên mỗi người dân là "con Rồng cháu Tiên" của dải đất, biên cương, hải đảo, bầu trời mang tên Việt Nam này hẳn ai cũng từng được nghe và không thể nào quên những lời ca đi cùng năm tháng trong bài hát "Lá cờ Đảng" của nhạc sĩ Văn An: "Trong đêm đen, lá cờ của Đảng rạng soi đường đấu tranh/Dưới bóng cờ lòng tràn niềm tin chân lý sáng trong tim/Với dân giữ vẹn tròn chữ hiếu/Với Đảng vẹn tròn lòng tin yêu/Cờ Đảng giục ta đi tới/Đắp xây non sông đẹp tươi"… Và vì có Đảng, nên đã là người dân Việt Nam yêu nước chân chính, hẳn ai cũng sẽ bất bình và căm giận trước sự vu khống, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch. Điều này là sự thật, và sự thật này bác bỏ sự quy chụp không khách quan, đầy chủ kiến ác ý của những kẻ cơ hội, phản động khi cho rằng Đảng đã sai lầm, lạc hậu, song vì "tham vọng thống trị uy quyền, muốn độc bá, độc tôn, muốn tiếp tục giữ vững ngôi vị thống trị toàn dân", nên đã không chấp nhận đa nguyên, đa đảng; không thực thi xã hội dân chủ…

Hai là, dù cũng còn một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục, song những gì mà đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận. Sau khi nước nhà giành được độc lập, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên hơn 77 năm qua nói chung và trong 30 năm kiên cường kháng chiến chống sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nói riêng, đã có biết bao người con ưu tú của dân tộc hiến dâng thân mình, một phần máu xương của mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự hy sinh anh dũng đó đã góp phần làm cho trái ngọt "độc lập, tự do, hạnh phúc" được nở hoa trên mảnh đất Việt Nam, chứ không phải là trong suốt 30 năm ấy, người dân phải "chấp nhận khổ nghèo, hy sinh vì nội chiến" là do Đảng "khởi xướng, hô hào" như những kẻ "rân chủ" nhân danh yêu nước quy chụp.

Thực tế, sự hy sinh và đóng góp sức mình của mỗi người dân Việt Nam yêu nước cho một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội chính là sự kiên định con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn từ năm 1930, được ghi rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1); trong Cương lĩnh lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chứ không phải là Việt Nam cứ cố bấu víu vào "thiên đường chủ nghĩa xã hội mù mịt", trong khi "hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới đã tan rã, chỉ còn lại vài nước rời rã cố bám".

Thực tế cũng cho thấy là, sự sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực, chứ không phải là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, cũng không hề làm mất đi nội dung thời đại của chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân tan rã của Liên Xô cũng đã được chỉ ra và thất bại của chủ nghĩa xã hội lần này chỉ là tạm thời. Theo quy luật khách quan, thì chủ nghĩa xã hội sẽ phủ định, thay thế chủ nghĩa tư bản; và trên thực tế, Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đúng đắn, bởi: "Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2) và "đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"(3).

Thực tế, những thành tựu đã đạt được của Việt Nam trong hơn 90 năm qua, đặc biệt là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, thực hiện an sinh xã hội, nhất là việc thực hiện quyền con người theo những giá trị phổ quát của Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã được khẳng định trong Văn kiện 13 kỳ Đại hội Đảng, trong báo cáo tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội… hằng năm. Sự thật đó đã được nhân dân ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, cho nên, việc cho rằng những người cộng sản Việt Nam nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói riêng (thể hiện trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”) là những người đã "cố theo một chủ thuyết, một chủ nghĩa, một đường lối sai lầm" mà vẫn không hiểu rằng mình đã sai, nên đã "đưa một đất nước tụt hậu tận cùng bên bờ vực thẳm" của Nguyễn Dân và những người cùng hội cùng thuyền "rân chủ" chính là bôi nhọ và xuyên tạc sự thật lịch sử cách mạng Việt Nam, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với đó, luận điệu cho rằng, trong khi các quốc gia từ bỏ chủ nghĩa xã hội "đã thay đổi", đã "chuyển qua thể chế dân chủ" nên đều phát triển tiến bộ, ấm no, hạnh phúc, còn Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì vẫn đang "ngụp lặn trong đói nghèo và khốn khổ" là do Đảng Cộng sản Việt Nam "suy luận viển vông" và đó là nguyên nhân của mọi thất bại chính là những chiêu trò vừa khoét sâu vừa kích động để gây rối lòng dân của các thế lực thù địch. Đây chính là sựu quy chụp không có căn cứ, nhận định đầy chủ quan, thiên kiến về Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.


XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VỪA LÀ NHIỆM VỤ CẤP BÁCH, VỪA LÀ NHIỆM VỤ THƯỜNG XUYÊN VÀ LÂU DÀI

Một là, cần phải khẳng định rằng, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài của một Đảng cách mạng chân chính, được xây dựng và hoạt động theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là vì "Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên"(4) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, chứ không phải là mỗi khi Đảng đánh giá khách quan tình hình, nêu ra hạn chế, đề ra giải pháp (trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng hay Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương) để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó tốt hơn thì có nghĩa là Đảng đã "thất bại" trong công tác “xây dựng, chỉnh đốn đảng” như các luận điệu phản động tung lên mạng xã hội.

Thực tế là, những kẻ cơ hội đã cố tình chỉ nhìn vào hạn chế, khoét sâu vào một số nhận định mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt triển khai Kết luận và quy định của Trung ương về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng (Hà Nội, ngày 9/12/2021), mà cố tình bỏ quên, không ghi nhận những kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng suốt 92 năm qua, đặc biệt là trong những nhiệm kỳ gần đây. Có thể thấy rằng, những kẻ cơ hội, phản động này đã cố tình không hiểu rằng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt; có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhờ nghiêm túc, thường xuyên thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng đó mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ khẳng định được vai trò mà còn giữ vững được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước suốt mấy thập niên qua.

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp cách mạng, nhờ thấm nhuần sâu sắc rằng: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng"(5), Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ xác lập, củng cố, nâng cao vai trò lãnh đạo, uy tín, nguồn sức mạnh, sức chiến đấu của mình bằng đường lối chính trị đúng đắn; bằng bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà còn chú trọng thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng để Đảng luôn là một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc, luôn liên hệ mật thiết với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ.

Trong mọi lĩnh vực, mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tu dưỡng về mọi mặt, rèn luyện bản lĩnh chính trị để hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tâm niệm phụng sự với tinh thần liêm chính; luôn "đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng

bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”(6) và bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận được rằng, Đảng dù là một tổ chức của những con người ưu tú, tiền phong, song nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt thì rất dễ sa vào bẫy của chủ nghĩa cá nhân, sa vào thực dụng, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm và các biểu hiện tiêu cực, suy thoái khác. Vì thế, trong tổ chức của những người con ưu tú đó vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; vẫn còn có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, thậm chí là cán bộ lãnh đạo cấp cao phai nhạt lý tưởng, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, nên đã vướng vòng lao lý, đã bị khai trừ khỏi Đảng…

Hơn nữa, nguyên nhân của các thành tựu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, những hạn chế và cả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận cán bộ, đảng viên nói riêng cũng được chỉ ra rất cụ thể trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng; nhất là trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, XII, XIII bàn về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; trong thông báo và kết luận các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương…, song thành tựu vẫn là cơ bản. Vì thế, việc chỉ nhìn vào một số hạn chế mà bỏ qua thành tựu, để vội vàng kết luận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Việt Nam "là cây đã chết từ gốc" và "Đảng đã mục từ cơ sở chứ không bền vững như Tuyên giáo tuyên truyền" thì thật là thiển cận; là không khách quan, là xuyên tạc bản chất vấn đề nhằm bôi đen Đảng nói chung, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói riêng.

Hai là, với một Đảng Mácxít Lêninnít như Đảng Cộng sản Việt Nam, thì bảo vệ nền tảng tư tưởng là một nội dung quan trọng; trong đó, "bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” luôn là nhiệm vụ xuyên suốt, nhất quán của tất cả các tổ chức cơ sở Đảng, của tất cả mọi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Cùng với việc học tập, nghiên cứu, quán triệt để hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng trong thực tiễn công tác, đời sống, thì việc kịp thời nhận diện, chủ động đấu tranh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội cũng là một "trận tuyến" đầy cam go, thử thách, đòi hỏi sự kiên định, chủ động và bản lĩnh của mỗi người. Cho nên, ở đâu đó và nếu có ai đó "công khai chỉ trích Đảng là ù lì", "là tiếp tục cuồng tín bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh", làm cho "dân tộc mỗi ngày một lạc hậu hơn, đất nước tụt hậu hơn so với các dân tộc láng giềng" thì đó cũng chỉ là "phát ngôn" của những kẻ đã suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đã "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và rời xa lý tưởng cách mạng.

Cùng với đó, thông qua quá trình học tập, quán triệt và tu dưỡng theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" gắn với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các Quy định về nêu gương (Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp"; Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; Quy định số 08-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của CBĐV, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương"…), các Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW và Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII… từng tổ chức Đảng đã, đang và sẽ tiếp tục chỉ ra những người đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chỉ ra những biểu hiện tiêu cực/tham ô, tham nhũng, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng, để chỉnh đốn tổ chức, góp phần xây dựng Đảng.

Thông qua quá trình tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát; quá trình tự soi, tự sửa hằng ngày của mỗi người, của mỗi tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng đã có sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức đến hành động. Việc phát huy vai trò nêu gương, mẫu mực thực hiện "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"; nỗ lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân trên tinh thần thấm nhuần lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(7) của mỗi người đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.

Thực tế, việc nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế chính là nhằm từng bước sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những người phai nhạt lý tưởng cộng sản, suy thoái, biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật… làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cho nên, càng tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; chủ động đấu tranh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng/bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì càng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để Đảng xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân, chứ không phải là vì công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã "thất bại".

Vì thế, mọi sự xuyên tạc, phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng để đòi đa nguyên, đa đảng đối lập ở Việt Nam; đòi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đều là những luận điệu phản động. Cùng

với đó, những nhận định bôi đen sự thật khi cho rằng, sau hơn hơn 90 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, thì Đảng chính là "nguồn gốc"/là nguyên nhân của những thất bại; đồng thời, hai công tác luôn được Đảng "kêu gào" phải đẩy mạnh, phải tăng cường là "xây dựng và chỉnh đốn Đảng" và "bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh/nền tảng tư tưởng của Đảng" đều "thất bại" cũng không phải là sự thật, mà đó chính là những luận điệu thâm độc nhằm chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc!

Mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần phải nhận diện đúng về những luận điệu phản động nêu trên, để không chỉ nâng cao cảnh giác, nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng mà còn phải tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, chủ động đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn, chiêu trò "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội!

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.1.

(2) (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.69, 70.

(4) (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.290, 289.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.177.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.672./.
Ảnh: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG


Lịch sử dân tộc Việt Nam trải dài suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước; trong đó có hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã làm nên những kỳ tích không thể phủ nhận. Thực tế là, từ ngày có Đảng lãnh đạo, nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi trong thế kỷ XX, cũng như những thành tựu về mọi mặt trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được khẳng định và ghi nhận. Thời gian có thể làm thay đổi nhiều thứ và thế giới cũng sẽ nhiều đổi thay, song những gì mà Đảng đã nỗ lực phấn đấu vì một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do và nhân dân ngày càng được ấm no, hạnh phúc thì không thể nào bôi đen hay phủ nhận được.

Thực tế cho thấy là, cứ ít ngày thì các nhà "rân chủ cuội" vốn theo đuôi thế lực thù địch lại mượn cớ/vin vào một số hạn chế trong thực trạng của đất nước để rồi tung lên mạng xã hội những tin, bài bịa đặt đầy xảo trá. Cụ thể là, khi thì họ cho rằng, vì Đảng độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nên đất nước không thể dân chủ và phát triển như một số quốc gia ở phương Tây và Mỹ; khi thì họ đổ lỗi cho những khó khăn, thách thức trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam tiếp tục phải đối diện, khắc phục là do việc Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn con đường sai lầm, lạc hậu; nhất là khi chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ từ cuối thế kỷ trước rồi mà Việt Nam vẫn cố bấu víu, tiếp tục đi theo…

Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật và cần phải khẳng định rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của đất nước đã lãnh đạo nhân dân kiên trì đấu tranh cách mạng đầy gian khổ và hy sinh suốt 15 năm (1930-1945) để giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đã kiên trì tiến hành thắng lợi 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt 30 năm (1945-1975) để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, tiếp tục tiến hành sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng hơn 35 năm qua (từ 1986 đến nay) chưa bao giờ/không bao giờ là sai đường và lạc hậu. Nếu không có Đảng dẫn đường, lãnh đạo thì tất yếu sẽ không thể có một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và ngày càng phát triển bền vững như ngày nay.

Một là, việc Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền/độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam được hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phải chỉ là ý muốn chủ quan của Đảng mà đó là sự lựa chọn của lịch sử, được kiểm nghiệm bởi lịch sử. Thực tế, lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam từng có Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ... tham gia chính trường, song vì không thể đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử, nên cuối cùng đã tự rút lui. Hơn nữa, suốt 9 thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, đồng lòng ủng hộ, đi theo và chịu sự lãnh đạo của Đảng, góp sức và làm nên những thành tựu của sự nghiệp cách mạng.

Niềm tin luôn tồn tại trong mỗi con người và nhân dân Việt Nam có đủ cơ sở khoa học, thực tiễn lịch sử để sắt son một niềm tin vào Đảng, vào những thành quả của sự nghiệp cách mạng mà cả dân tộc Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bao thập niên qua, kể từ khi Đảng ra đời vào mùa Xuân năm 1930, đồng bào và chiến sĩ cả nước luôn một lòng tin yêu Đảng, vì Đảng luôn phấn đấu vì nước, vì dân, cho ấm no, hạnh phúc của toàn dân. Trên hành trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng khẳng định, củng cố được vị trí cầm quyền, độc quyền lãnh đạo của mình. Đồng thời, trong hành trình đó, nhân dân Việt Nam cũng ngày càng nhận thức sâu sắc hơn vai trò không thể phủ nhận/không thể thay thế được của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế là, có Đảng dẫn dường là có một cuộc đổi đời lịch sử, có một đất nước Việt Nam được hồi sinh và phát triển sau hơn 80 năm bị áp bức, bóc lột dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật; là có một dân tộc Việt Nam kiên cường đấu tranh và giành thắng lợi sau 30 năm đấu tranh gian khổ chống sự xâm lược của thực dân Pháp (lần thứ 2) và đế quốc Mỹ, để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có Đảng lãnh đạo, nên mỗi người dân là "con Rồng cháu Tiên" của dải đất, biên cương, hải đảo, bầu trời mang tên Việt Nam này hẳn ai cũng từng được nghe và không thể nào quên những lời ca đi cùng năm tháng trong bài hát "Lá cờ Đảng" của nhạc sĩ Văn An: "Trong đêm đen, lá cờ của Đảng rạng soi đường đấu tranh/Dưới bóng cờ lòng tràn niềm tin chân lý sáng trong tim/Với dân giữ vẹn tròn chữ hiếu/Với Đảng vẹn tròn lòng tin yêu/Cờ Đảng giục ta đi tới/Đắp xây non sông đẹp tươi"… Và vì có Đảng, nên đã là người dân Việt Nam yêu nước chân chính, hẳn ai cũng sẽ bất bình và căm giận trước sự vu khống, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam của các thế lực thù địch. Điều này là sự thật, và sự thật này bác bỏ sự quy chụp không khách quan, đầy chủ kiến ác ý của những kẻ cơ hội, phản động khi cho rằng Đảng đã sai lầm, lạc hậu, song vì "tham vọng thống trị uy quyền, muốn độc bá, độc tôn, muốn tiếp tục giữ vững ngôi vị thống trị toàn dân", nên đã không chấp nhận đa nguyên, đa đảng; không thực thi xã hội dân chủ…

Hai là, dù cũng còn một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục, song những gì mà đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận. Sau khi nước nhà giành được độc lập, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên hơn 77 năm qua nói chung và trong 30 năm kiên cường kháng chiến chống sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nói riêng, đã có biết bao người con ưu tú của dân tộc hiến dâng thân mình, một phần máu xương của mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự hy sinh anh dũng đó đã góp phần làm cho trái ngọt "độc lập, tự do, hạnh phúc" được nở hoa trên mảnh đất Việt Nam, chứ không phải là trong suốt 30 năm ấy, người dân phải "chấp nhận khổ nghèo, hy sinh vì nội chiến" là do Đảng "khởi xướng, hô hào" như những kẻ "rân chủ" nhân danh yêu nước quy chụp.

Thực tế, sự hy sinh và đóng góp sức mình của mỗi người dân Việt Nam yêu nước cho một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội chính là sự kiên định con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn từ năm 1930, được ghi rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1); trong Cương lĩnh lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chứ không phải là Việt Nam cứ cố bấu víu vào "thiên đường chủ nghĩa xã hội mù mịt", trong khi "hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới đã tan rã, chỉ còn lại vài nước rời rã cố bám".

Thực tế cũng cho thấy là, sự sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực, chứ không phải là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, cũng không hề làm mất đi nội dung thời đại của chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân tan rã của Liên Xô cũng đã được chỉ ra và thất bại của chủ nghĩa xã hội lần này chỉ là tạm thời. Theo quy luật khách quan, thì chủ nghĩa xã hội sẽ phủ định, thay thế chủ nghĩa tư bản; và trên thực tế, Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đúng đắn, bởi: "Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”(2) và "đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"

Thực tế, những thành tựu đã đạt được của Việt Nam trong hơn 90 năm qua, đặc biệt là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, thực hiện an sinh xã hội, nhất là việc thực hiện quyền con người theo những giá trị phổ quát của Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã được khẳng định trong Văn kiện 13 kỳ Đại hội Đảng, trong báo cáo tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội… hằng năm. Sự thật đó đã được nhân dân ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, cho nên, việc cho rằng những người cộng sản Việt Nam nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói riêng (thể hiện trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”) là những người đã "cố theo một chủ thuyết, một chủ nghĩa, một đường lối sai lầm" mà vẫn không hiểu rằng mình đã sai, nên đã "đưa một đất nước tụt hậu tận cùng bên bờ vực thẳm" của Nguyễn Dân và những người cùng hội cùng thuyền "rân chủ" chính là bôi nhọ và xuyên tạc sự thật lịch sử cách mạng Việt Nam, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với đó, luận điệu cho rằng, trong khi các quốc gia từ bỏ chủ nghĩa xã hội "đã thay đổi", đã "chuyển qua thể chế dân chủ" nên đều phát triển tiến bộ, ấm no, hạnh phúc, còn Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì vẫn đang "ngụp lặn trong đói nghèo và khốn khổ" là do Đảng Cộng sản Việt Nam "suy luận viển vông" và đó là nguyên nhân của mọi thất bại chính là những chiêu trò vừa khoét sâu vừa kích động để gây rối lòng dân của các thế lực thù địch. Đây chính là sựu quy chụp không có căn cứ, nhận định đầy chủ quan, thiên kiến về Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong mọi lĩnh vực, mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tu dưỡng về mọi mặt, rèn luyện bản lĩnh chính trị để hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tâm niệm phụng sự với tinh thần liêm chính; luôn "đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo. Cán bộ Đảng và chính quyền ta đều sẵn lòng cầu tiến bộ, sẵn chí phụng sự nhân dân”(6) và bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận được rằng, Đảng dù là một tổ chức của những con người ưu tú, tiền phong, song nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt thì rất dễ sa vào bẫy của chủ nghĩa cá nhân, sa vào thực dụng, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm và các biểu hiện tiêu cực, suy thoái khác. Vì thế, trong tổ chức của những người con ưu tú đó vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; vẫn còn có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, thậm chí là cán bộ lãnh đạo cấp cao phai nhạt lý tưởng, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước, nên đã vướng vòng lao lý, đã bị khai trừ khỏi Đảng…

Hơn nữa, nguyên nhân của các thành tựu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, những hạn chế và cả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận cán bộ, đảng viên nói riêng cũng được chỉ ra rất cụ thể trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng; nhất là trong các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, XII, XIII bàn về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; trong thông báo và kết luận các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương…, song thành tựu vẫn là cơ bản. Vì thế, việc chỉ nhìn vào một số hạn chế mà bỏ qua thành tựu, để vội vàng kết luận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Việt Nam "là cây đã chết từ gốc" và "Đảng đã mục từ cơ sở chứ không bền vững như Tuyên giáo tuyên truyền" thì thật là thiển cận; là không khách quan, là xuyên tạc bản chất vấn đề nhằm bôi đen Đảng nói chung, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói riêng.

Thực tế, việc nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế chính là nhằm từng bước sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những người phai nhạt lý tưởng cộng sản, suy thoái, biến chất, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật… làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cho nên, càng tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; chủ động đấu tranh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng/bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì càng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, để Đảng xứng đáng với niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân, chứ không phải là vì công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã "thất bại".

Vì thế, mọi sự xuyên tạc, phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng để đòi đa nguyên, đa đảng đối lập ở Việt Nam; đòi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đều là những luận điệu phản động. Cùng với đó, những nhận định bôi đen sự thật khi cho rằng, sau hơn hơn 90 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, thì Đảng chính là "nguồn gốc"/là nguyên nhân của những thất bại; đồng thời, hai công tác luôn được Đảng "kêu gào" phải đẩy mạnh, phải tăng cường là "xây dựng và chỉnh đốn Đảng" và "bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh/nền tảng tư tưởng của Đảng" đều "thất bại" cũng không phải là sự thật, mà đó chính là những luận điệu thâm độc nhằm chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc!

Mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần phải nhận diện đúng về những luận điệu phản động nêu trên, để không chỉ nâng cao cảnh giác, nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng mà còn phải tiếp tục kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, chủ động đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn, chiêu trò "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội./.

Chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được.

Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin-người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga khai sáng

 Theo nghĩa chung nhất, thời đại lịch sử được hiểu là toàn bộ thời kỳ phát triển của một hình thái kinh tế-xã hội hoặc những giai đoạn chủ yếu trong hình thái ấy.

Tuyên bố tại Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN tháng 11-1957 tại Moscow (Liên Xô) đã khẳng định: “Nội dung cơ bản của thời đại chúng ta là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga”.

Thực tế cho thấy, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi và nhà nước XHCN đầu tiên ra đời năm 1917 đã đánh dấu chấm hết thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản, mở ra thời đại mới, thời đại của sự quá độ lớn lao nhất trong lịch sử loài người, tiến tới một xã hội hiện thực không còn người bóc lột người, không còn nô dịch giữa người và người. Chế độ XHCN non trẻ đã vượt qua hàng loạt thử thách khắc nghiệt nhất của lịch sử, hiện diện cả ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, phát triển mạnh mẽ với nhiều ưu việt về chính trị, kinh tế, xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định nhận thức rõ bản chất, nội dung của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khi khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta nhận rõ tình hình phức tạp, quanh co và rất lâu dài của quá trình chuyển biến xã hội nên đã hướng vào đánh giá trực tiếp những động thái, đặc trưng, xu hướng và tính chất trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng năm 1991 đã nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Luận điệu sai trái về thời đại ngày nay

 Nhận thức rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng như cục diện và tình hình thế giới là một việc rất cần thiết. Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách thức phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽ không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của thời cuộc và đời sống chính trị quốc tế.

V.I.Lenin từng chỉ rõ: Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. Nói cách khác, vấn đề thời đại là căn cứ khách quan và tiền đề cần thiết để các chính đảng đi theo Chủ nghĩa Mác phân tích tình hình, xác định nhiệm vụ, phân chia trận tuyến, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, triển khai thực hiện một cách khoa học.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như hiện nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại và nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo.

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy, nhưng hiện nay, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì vậy, từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến chủ nghĩa xã hội nữa. Cụ thể hơn, họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và hệ thống XHCN nữa thì Việt Nam làm sao có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được.

Kiên định với những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin

 Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”(1), thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2).

Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS. Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta.

Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. (trích báo QĐND)

Bảo vệ những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Lênin

Giống như C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong thế kỷ 19, V.I.Lênin xuất hiện trong thế kỷ 20 với tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học; là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.

Chủ nghĩa Lênin trở thành cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trên thế giới.

Lênin là người kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo các học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Bolshevik (b) và nhân dân Nga làm cuộc cách mạng long trời lở đất, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cách mạng vô sản (CMVS) trên phạm vi toàn thế giới.

Với việc bảo vệ và phát triển sáng tạo cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác trước sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, Lênin đã bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; nâng tầm cao thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc CMVS trong giai đoạn CNTB độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc-đêm trước của CMVS. Sự cống hiến vĩ đại của Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, chắc chắn nhất, trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới.

Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Lênin được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng XHCN. Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới.

Lênin coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở, bởi ông cho rằng lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một bộ môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải.

Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn chặt tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội XHCN.

Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới-thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và CMVS trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa Mác đã được tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Vì vậy, chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin - nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản.

Trong chiều sâu của sợi dây chuyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, Lênin đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa trung thành và sáng tạo, bảo vệ và phát triển, lý luận và thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản. Quan điểm của Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của CMVS ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù.

Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn. Chìa khóa để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN là sự giác ngộ và làm chủ vận mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và sử dụng hiệu quả tầng lớp trí thức XHCN.

Một đảng lãnh đạo, cầm quyền liệu có dân chủ?

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện. Lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng, trình độ dân chủ và sự phát triển của đất nước không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng đảng phái chính trị. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất.

Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trợ sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là luận điệu sai trái. Cho đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này. Bởi đất nước có dân chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà quốc gia đó có. Vì thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Trong khi, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được bảo đảm, nhân dân cảm thấy hạnh phúc, ấm no và có vị thế trên thế giới. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo. Điều đó là bằng chứng hùng hồn, là minh chứng khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển.

Điển hình như hiện nay, Armenia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng rõ ràng chúng ta không thể kết luận Armenia dân chủ hơn Hà Lan hay Na Uy. Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy rằng, chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ, đất nước không phát triển.

Ngay trong chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Điển hình như vào cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc... vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền nhưng đất nước vẫn phát triển mạnh mẽ và ngược lại, ở một số quốc gia đa đảng vẫn không thực hiện tốt dân chủ. Đồng thời, trong hệ thống chính trị đa đảng, tại một giai đoạn chính trị nhất định cũng chỉ có một đảng thực chất cầm quyền và thậm chí ngay cả trường hợp khi liên minh đảng cầm quyền để thành lập chính phủ, đảng nào chiếm số ghế nhiều hơn trong nghị viện sẽ có quyền quyết định trong các chính sách phát triển của đất nước. Ở một số quốc gia khác (điển hình là Mỹ), mặc dù có nhiều đảng nhưng chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền là Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ. Những đảng này đại diện cho giai cấp tư sản thì tất yếu phải hướng đến phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản chứ không thể là một “chính quyền của tất cả mọi người”.

Trải qua hơn 90 năm ra đời và lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn khẳng định được vị trí, vai trò không thể thay thế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân Việt Nam đã khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng và đối với Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ trong xã hội không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế.

Dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng

 Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Lâu nay, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối cho rằng, Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất đảng nên “vừa đá bóng, vừa thổi còi” và vì thế dẫn đến dân chủ hình thức hoặc mất dân chủ. Trong khi đó, các tổ chức nhân danh dân chủ phương Tây đã và đang tìm cách cổ suý “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu phương Tây vào Việt Nam, đồng thời tung tin bịa đặt với các luận điệu cho rằng: “Việt Nam thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị”; “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; “chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “vừa đá bóng, vừa thổi còi” dẫn đến ở Việt Nam không có dân chủ hoặc dân chủ hình thức”.

Đây là những luận điệu phản khoa học, hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ, phát triển của đất nước, dân tộc. Thực chất luận điệu trên là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ thực chất là các thế lực thù địch nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và định hướng XHCN ở nước ta.

Trên thế giới hiện nay có ba chế độ dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng đều có những yếu tố chung: (1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả thành viên xã hội); (2) bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo đất nước; (3) quyền lực của nhà nước được chia làm ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có chức năng riêng: Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.

Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ Nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc Hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013).

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. (trích báo CAND)