Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới về kinh tế thị trường định hướng XHCN

     Thực tiễn quá trình cách mạng của nước ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau rất khó rạch ròi.

    Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của CNTB để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

    Thực tế cho thấy, trước những bước ngoặt của sự nghiệp cách mạng, những khó khăn của đất nước hoặc ở thời điểm quan trọng, nhạy cảm, các thế lực thù địch thường đẩy mạnh chống phá về tư tưởng, còn trong nội bộ có thể xuất hiện những quan điểm lệch lạc.

    Vì thế, việc nghiên cứu xác định rõ những luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng cần được chú trọng hơn; chống cả những quan điểm thù địch diễn ra thường xuyên và nhất là trong các thời điểm trước và sau những sự kiện quan trọng. Chúng ta cần tập trung một số vấn đề sau:

    Nhận thức không thể phủ nhận thành tựu xây dựng CNXH và công cuộc đổi mới.

    Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước.

    Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới.

    Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Nhận thức chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh

    Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn sẽ kéo theo khủng hoảng toàn cầu; một khi giá dầu mỏ lên xuống thất thường và đột biến đủ làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng…

    Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

    Trong khi nhận thức rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng những mâu thuẫn vốn có.

    Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. “Diễn biến hòa bình” là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Đây là cuộc chiến tranh không khói súng nhưng thực sự là kế sách nham hiểm phá vỡ thành lũy của chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

    Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp.

    Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác, giao lưu với các nước tư bản, các nước XHCN phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng XHCN, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu, lý tưởng của mình.

    Từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lenin.

     Nhận thức phê phán quan điểm cho rằng Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội

    Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngày càng rõ hơn nội dung bỏ qua chế độ TBCN. Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”. Đây là bước tiến về nhận thức của Đảng khi xác định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn.

    Nhận thức được những vấn đề lý luận căn bản đó sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc đường lối của Đảng về hoàn thiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, củng cố niềm tin đối với quá trình đổi mới và con đường phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

     Chuyển hóa từ nhận thức vào hành động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý theo vị trí việc làm đó là tổ chức thực thi các chính sách của Nhà nước và tham mưu cho các cấp lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương, mỗi ngành, trên cả nước.














Cảnh giác với quan điểm “liên minh” trong giải quyết tranh chấp chủ quyền

     Trên mạng xã hội tràn ngập những lời kêu gọi Đảng, Nhà nước ta thiết lập liên minh với Hoa Kỳ, để họ giúp ta bảo vệ chủ quyền, đồng thời lên án chính sách “4 không” về quốc phòng ở nước ta. Các đối tượng cho rằng chính sách “4 không” như trên là “tự trói tay chân mình”, các đối tượng tìm cách hô hào, cổ suý tư tưởng phải dựa dẫm, lệ thuộc vào các nước khác, đặc biệt là các quốc gia phương Tây.

    Đầu tiên có thể khẳng định chính sách đối ngoại của Đảng ta là sự kế thừa và tiếp nối chính sách đối ngoại từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, với chủ trương nhất quán là “đa dạng hóa và đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại”, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

    Xét về chính sách quốc phòng, từ lâu, Đảng, Nhà nước ta thực hiện chủ trương “bốn không”, bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng nói trên là phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử dựng và giữ nước và tình hình thực tiễn của Việt Nam. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, được thực hiện xuyên suốt và có ý nghĩa sống còn đến sự tồn vong của dân tộc. Xuất phát từ các nguyên nhân sau:

    Thứ nhất, bàn về chính sách quốc phòng của Việt Nam, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện, đầy đủ. Về mặt lịch sử, trải qua quá trình đấu tranh dựng và giữ nước, sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường luôn là nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Nội dung đó đã thấm nhuần vào trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của tinh thần “tự lực tự cường” trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong buổi đầu tìm tòi con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mặc dù rất khâm phục các sĩ phu yêu nước, nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra những hạn chế trong con đường cứu nước của các bậc tiền bối. Cụ Phan Chu Trinh yêu cầu thực dân Pháp cải lương, “Việc này chẳng khác nào xin giặc rũ lòng thương”, Cụ Phan Bội Châu hi vọng Nhật nước ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ khi một bộ phận cán bộ, quần chúng Nhân dân có biểu hiện trong chờ vào sự giúp đỡ của nước bạn, trước tình hình đó Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Do vậy, ý thức tự lực tự cường phải đước đặt lên hàng đầu, xuyên suốt,  đặc biệt là trong thời điểm thế giới có những diễn biến phức tạp, lợi ích đan xen như hiện nay.

    Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn của các khối liên minh và các mối quan hệ liên minh trên thế giới hiện nay. Sự kiện ba nước Mỹ, Úc và Anh công bố quan hệ đối tác 3 bên (AUKUS) đã gây ra những chia rẻ sâu sắc đến với các quốc gia được xem là “đồng minh”. Theo đó, Mỹ và Anh sẽ giúp Úc sở hữu hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Hiệp định AUKUS có nhiều mục đích khác nhau, nhưng trong đó ai cũng hiểu là để kiềm chế Trung Quốc là mục tiêu chính. Thế nhưng, không phải Trung Quốc mà Pháp lại đang là nước phản ứng rất mạnh mẽ, bởi một hợp đồng kinh tế hàng chục tỷ đô la của Pháp đã bị “cướp” trắng bởi những đồng minh thân thiết nhất. Ngoại trưởng Drian tuyên bố một cách giận dữ “Việc từ bỏ dự án tàu ngầm... là hành vi không thể chấp nhận được giữa các đồng minh và đối tác". Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là một hợp đồng béo bở bị mất vào phút chót. Đó là việc nước Pháp bị “đâm sau lưng” bởi các quốc gia đồng minh có cùng lợi ích. Từ sự việc trên, có thể thấy mối quan hệ giữa các “đồng minh” cũng sẽ bị lung lay bởi sức hấp dẫn của “đồng tiền”. Do vậy, việc hi vọng và đặt hết niềm tin vào “Đồng minh” đó là một canh bạc mạo hiểm, mà hậu quả nhiều khi phải đánh đổi bằng lợi ích, chủ quyền quốc gia dân tộc.

     Hay sự kiện Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough cũng để lại nhiều bài học sâu sắc cho việc giải quyết mối quan hệ với các nước lớn và các tranh chấp. Philippines có Hiệp ước các lực lượng thăm viếng với Mỹ, hiệp định này cho phép hàng ngàn quân Mỹ tới Philippines tập trận, bên cạnh đó là những lời hứa bảo đảm an ninh, chủ quyền cho Philippines, nhưng khi Trung Quốc có hành động xâm chiếm bãi cạn Scarborough vào năm 2012, Mỹ không giữ lời hứa gây áp lực buộc Trung Quốc rời khỏi bãi cạn mà làm ngơ để trung Quốc chiếm trọn và Tổng thống Philippines, Duterte đe dọa hủy Hiệp ước với Mỹ và yêu cầu Mỹ giải thích lý do để Philippines “mất lãnh thổ vào tay Trung Quốc”.

    Bàn về mối quan hệ giữa các nước, Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill từng có câu nói để đời: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Đó là một kiến giải gợi lên cho chúng ta những suy nghĩ nghiêm túc về đường lối ngoại giao giữa các nước trên thế giới.

    Ba là, những luận điệu cho rằng có thể dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông có lẽ họ đã quên đi quá khứ cay đắng khi Mỹ đã cố ý phớt lờ để mặc Trung Quốc tấn công quân đội Việt Nam Cộng hòa và xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, Ngoại trưởng Mỹ Kissinger khi đó đã lật lọng tuyên bố “Mỹ không có lập trường trong việc tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này”. Bản chất “con buôn” của Mỹ sẽ không bao giờ thay đổi dù được che lấp bởi nhiều mỹ từ, hay biểu hiện ở hình thức này hay hình thức khác.

    Hiện nay, Việt Nam và Mỹ đã bình thường hóa quan hệ, hai nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, gần đây là trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, không vì vậy mà khi quan hệ với Mỹ, chúng ta mơ hồ, ảo tưởng, hy vọng về “lòng tốt” của Mỹ. Trên các diễn đàn quốc tế “có vẻ” như Mỹ có thái độ ủng hộ Việt Nam, tuy nhiên thực tế chưa bao giờ và không bao giờ Mỹ “tử tế” đối với Việt Nam. Nếu có, chỉ là nhằm thực hiện chiến thuật trong quan hệ ngoại giao mà thôi. Biểu hiện rõ nét nhất là việc Mỹ đã nuôi dưỡng và cưu mang những đối tượng phản động gốc Việt, cụ thể là tổ chức khủng bố Việt Tân, tiến hành các hoạt động chống phá nước ta; thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, chúng ta cần xây dựng bản lĩnh, tinh thần cảnh giác cách mạng, không dao động trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, tin tưởng tuyệt đối vào chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta.               









Cảnh giác với “Thuyết âm mưu chính trị” của các thế lực thù địch

     Hiện nay, các thế lực thù địch không ngừng chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng – an ninh, đối ngoại... với nhiều thủ đoạn, phương phương thức khác nhau, bản chất là Thuyết âm mưu chính trị, sử dụng thông tin sai lệch để chống phá Việt Nam.

    Theo thống kê của Cục An ninh Điều tra - Bộ Công an, từ năm 2004 đến nay, cơ quan an ninh điều tra các cấp đã tiến hành điều tra, xử lý gần 150 vụ án làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, với hàng trăm đối tượng có hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đáng chú ý là trong thời gian tổ chức các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc vào các giai đoạn 2005 - 2006 (Đại hội X), 2010 - 2011 (Đại hội XI), 2015 - 2016 (Đại hội XII), 2020 (Đại hội XIII), số lượng vụ án làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, trung bình 15 vụ án mỗi giai đoạn.

    Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, Internet nói riêng, đã và đang tồn tại hàng trăm kênh đài, trang mạng khác nhau như: kênh RFA, VOA, BBC, RFI, YouTube; trang “Dân làm báo”, “Thông luận”, “Boxit”, “Đàm chim Việt”, “Quê mẹ”, “Việt Nam thời báo”, “Mẹ Nấm”… thường xuyên đăng tải, phát tán các thông tin xấu, độc chống phá Việt Nam.

    Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, chỉ tính từ đầu năm 2020 đến trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo, 4.500 tin xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube. Số lượng gỡ bỏ thông tin xấu độc của Facebook năm 2020 tăng 30 lần so với năm 2017. Số video xấu độc được gỡ bỏ trên Youtube năm 2020 tăng 8 lần so với năm 2017. Tỷ lệ tin xấu độc về các đồng chí lãnh đạo chủ chốt năm 2017 lên tới trên 70% thì nay chỉ còn dưới 3%.

    Những thông tin sai lệch của các đối tượng thù địch, phản động được đăng tải, phát tán tập trung tuyên truyền vào một số nội dung trọng điểm như: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Chúng thường xuyên phê phán, đả kích hệ tư tưởng của Đảng và xã hội ta lạc hậu lỗi thời; bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức “tự phong”, là người “tiếm quyền” của nhân dân, Đảng “chỉ biết đến lợi ích của Đảng”, là “Đảng đầu hàng”, “bán nước, làm tay sai”, “lệ thuộc” vào Trung Quốc; Cương lĩnh của Đảng ta, nhất là Cương lĩnh thông qua tai Đại hội XI (2011) là “giáo điều, bảo thủ”, là “ảo tưởng”... Tiếp đến, tung tin bôi nhọ, xuyên bạc, bịa đặt nhằm gây mất lòng tin của nhân dân vào phẩm chất, uy tín và năng lực lãnh đạo của những người lãnh đạo cấp cao trong Đảng, Nhà nước ta. Các trang mạng thường xuyên đăng tải những bài viết xuyên tạc, bịa đặt với mục đích chia rẽ tinh thần đoàn kết nội bội trong Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng xuyên tạc công cuộc chống tham nhũng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng ta. Thông qua các trang mạng xã hội, những phần tử xấu tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam.

    Hoạt động của các thế lực thù địch khi đăng tải, phát tán những thông tin sai lệch trên không gian mạng nói riêng, trong không gian địa lý của Việt Nam nói chung đã và đang tác động xấu đến công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Nó làm suy giảm niềm tin của một bộ phận quần chúng nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng; đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta; gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất an ninh chính trị, trật tự xã hội, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nói cách khác, các thế lực chống phá nước ta đang thực hiện thuyết âm mưu chính trị ở Việt Nam với những “câu chuyện bịa đặt, hư cấu”; những thông tin sai lệch, xấu độc được lan truyền trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhằm thực hiện mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta.

    Vì vậy, để khắc chế âm mưu, thủ đoạn của các thế lực chống phá trong việc sử dụng thông tin sai lệch, đồng thời đánh bại thuyết âm mưu chính trị đó, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp như quán triệu sâu sắc, thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối nước ta. Trong đó, đặt trọng tâm vào việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Luật An ninh mạng. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 35, đồng thời phối hợp với các ban, bộ ngành (đặc biệt là Bộ Công an và Bộ Thông tin & Truyền thông), đơn vị, địa phương  tham gia công tác đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch.

    Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận và nghiệp vụ về phòng chống quan điểm sai trái, thù địch nói chung, xử lý thông tin sai lệch nói riêng. Huy động các chuyên gia, nhà khoa học, phóng viên, đảng viên ưu tú,... nghiên cứu làm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, phương thức thực hiện của thuyết âm mưu và thuyết âm mưu chính trị. Từ đó đăng tải những tin bài phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, bọn phản động, cơ hội chính trị. Đồng thời, vạch trần bản chất xấu, độc trong thuyết âm mưu chính trị của chúng. Kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ những thông tin sai lệch, xấu độc của các thế lực chống đối nước ta. Chúng ta phải luôn luôn xác định thông tin sai lệch là “linh hồn” của thuyết âm mưu chính trị, là công cụ hữu hiệu nhất mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá Việt Nam. Vì vậy, cắt đứt chuỗi phát tán, lan truyền thông tin xấu độc, sai lệch là cách thức hiệu quả nhất trong phòng chống quan điểm sai trái, thù địch,...

    Có thể thấy, những quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối, phản động, cơ hội chính trị nhằm vào nước ta trong thời gian qua về bản chất giống như một Thuyết âm mưu chính trị, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của nước ta. Chúng lựa chọn “thông tin sai lệch” làm “át chủ bài” trong quá trình hiện thực hóa Thuyết âm mưu chính trị đó. Với việc in ấn, phát tán và đăng tải thông tin sai lệch, xấu độc, các thế lực chống đối đã và đang gây ra không ít khó khăn cho chúng ta trong công cuộc bảo vệ Đảng, Nhà nước và Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, với sự đoàn kết, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, chúng ta từng bước bóc tách, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của chúng, đồng thời “khai tử” Thuyết âm mưu chính trị của chúng đối với Việt Nam.






Luận điệu suy diễn, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga – Ukraine

     Mặc dù Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga - Ukraine, đó là Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế, ấy thế nhưng, trên Internet, mạng xã hội, một số người lại đang cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

    Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine. Sau khi nghị quyết trên được thông qua và thông tin các nước thành viên LHQ thể hiện quan điểm, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”, Việt Nam đã không đi theo số đông, cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine.

    Từ việc nêu những câu hỏi mang tính suy diễn chủ quan, nhiều bài viết đưa ra luận điệu quy chụp, cho rằng các quốc gia chọn giữ thái độ trung lập là những quốc gia “phần lớn đổ lỗi cho phương Tây đã kích động các điều kiện dẫn đến cuộc xung đột này”.

    Trên một số trang báo nước ngoài xuất hiện các luận điệu mang tính chỉ trích, phê phán việc thông tin cuộc xung đột trên báo chí trong nước, từ đó tìm cách hướng lái nhằm cuốn người đọc theo chủ đích, ý đồ của họ. Thậm chí, một số bài viết còn đưa ra những luận điệu theo kiểu lập lờ đánh lận con đen, đưa ra những câu hỏi, nghi vấn mang tính quy chụp, bôi nhọ quan điểm, uy tín Việt Nam trong quan hệ đối ngoại. Nhiều bài viết bằng lối phân tích tỏ ra có trình độ, hiểu biết kiểu “chuyên gia” song thực chất nhận thức rất lệch lạc, lộ rõ ý đồ, động cơ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

    Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm.Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”.

    Trên cơ sở đó, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.

    Ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

    Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

    Hiến pháp năm 2013 và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Việt Nam đã nêu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

    Về chính sách quốc phòng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ, Việt Nam giữ vững nguyên tắc 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

    Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế.

    Như vậy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam.




Đừng vô tình tiếp tay cho kẻ xấu

     Vừa thấy tiếng xe máy của tôi về đến cổng, ông chú hàng xóm đã chạy ra chặn lại nhờ vả: “Cháu chơi thân với con trai chú, nhờ cháu khuyên em gỡ ngay mấy cái bài viết xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên Facebook xuống cho chú với”.

    Nghe vậy, tôi lo lắng hỏi lại: “Cháu tưởng em ấy đang đi công tác ở trong Nam? Với lại, con trai chú là người điềm đạm, có nhận thức tốt, sao tự nhiên lại viết bài xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước được?”.

    Thấy tôi hỏi vậy, chú liền lôi điện thoại ra, vừa lập cập bấm vào trang Facebook, vừa nói: “Nó viết bài yêu cầu Nhà nước ta phải lên tiếng về chiến sự ở Ukraine. Nó còn chê đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước, rồi lên tiếng phê phán này nọ.Như vậy không phải xuyên tạc, ngấm ngầm chống phá thì là gì hả cháu?

    Tuổi trẻ chúng nó đã làm sao hiểu được để có nền hòa bình, độc lập, sự ổn định cho phát triển đất nước suốt mấy chục năm qua một phần là nhờ đường lối đối ngoại khoa học, sáng tạo "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Đảng, Nhà nước ta. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

    Chúng ta kiên quyết không liên minh với nước này để chống nước kia. Vậy mà một số người trẻ không nhận thức đầy đủ, chỉ vì chút cảm tính bồng bột yêu ghét nhất thời mà lại thể hiện phản ứng một cách thiếu kiềm chế, thiếu hiểu biết, thế có nguy hiểm không!”.

    Trước sự nóng giận, lo lắng của một cựu chiến binh, tôi động viên chú cứ bình tĩnh, đưa bài viết của cậu em cho tôi xem để hiểu rõ sự việc. Quả thực, trên Facebook của con trai chú ấy chia sẻ một số bài viết từ nhiều nguồn khác nhau bình luận về chiến sự ở Ukraine, nhưng không phải do cậu ta trực tiếp viết ra.

    Rồi tôi giải thích: “Em ấy mới chỉ chia sẻ lại bài viết từ một số phần tử xấu bị kích động, chống phá thôi. Có thể do em mới đọc lướt qua, thấy thích nên vội vàng chia sẻ ngay chứ chưa chắc đã có cùng suy nghĩ, tư tưởng như người viết những bài này. Chú cứ bình tĩnh tìm hiểu để có cách xử lý phù hợp.Giờ cháu sẽ gọi điện trao đổi trực tiếp để xem em ấy nói gì, chú nhé”.

    Dứt lời, tôi rút điện thoại gọi cho cậu em hàng xóm, bấm loa ngoài để chú cùng nghe. Ban đầu, cậu khẳng định việc mình chia sẻ các bài viết kia là việc... bình thường. Sau khi được tôi phân tích hậu quả của hành động chia sẻ ấy, cậu đã hiểu ra sự nguy hại và đồng ý gỡ bỏ. Trước khi tắt máy, cậu em cười nói qua điện thoại: “Chúng em còn trẻ, nhiều chuyện tầm vĩ mô chưa thể nhận thức hết được nên đôi khi nóng vội, thiếu thận trọng khi tham gia mạng xã hội. Từ nay em sẽ cẩn thận hơn kẻo vô tình tiếp tay cho kẻ xấu mà không biết”.

Con tin vào điều mình đã chọn!

     Là học sinh giỏi tốp đầu của lớp, chỉ còn hơn một tháng nữa, Minh sẽ đặt bút vào hồ sơ đăng ký tuyển sinh đại học.

    Từ nhỏ đã yêu màu áo bộ đội và luôn mến phục các chú bộ đội, Minh quyết tâm dự tuyển vào một trường quân sự để được phục vụ quân đội lâu dài.

    Thế nhưng trong bữa cơm chiều, Minh chia sẻ dự định với gia đình thì bị mẹ phản đối. Đưa ra những hình ảnh, clip đã được cắt ghép, dàn dựng trên mạng xã hội, mẹ bảo Minh rằng, vào môi trường quân đội sẽ không khác gì đi làm thuê cả đời; không có thời gian, tiền bạc cho gia đình, vợ con.

    Thậm chí, trên một diễn đàn Facebook có nhiều ý kiến khuyên không nên theo học các trường quân đội vì các trường này chỉ đào tạo về chiến tranh, đánh nhau, khiến người học trở nên khô cứng; ai cho con học theo nghề bộ đội thì coi như mất con... Từ những dẫn chứng đó, mẹ của Minh yêu cầu con trai phải học các trường dân sự để còn đi du học, nâng cao trình độ, có cơ hội tiến thân và không phải thường xuyên xa nhà như bộ đội.

    Nghe những lời con dâu nói, ông nội Minh, là một cựu chiến binh đã từng cùng đồng đội vào sinh ra tử trong chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc, khá bất ngờ và bất bình. Khi biết cháu nội có ý định sẽ đăng ký vào trường quân đội, ông rất vui. Thế nhưng nhận thức của mẹ cháu Minh về quân ngũ và các trường quân đội đang có phần lệch lạc khiến ông thất vọng. Hơn nữa, ông nhận thấy, con dâu đang cả tin vào những thông tin phản động, sai trái ở trên mạng xã hội mà kẻ xấu bịa đặt, xuyên tạc, cố tình dựng lên với dụng ý chống phá quân đội và đất nước. 

    Ông cố giữ bình tĩnh, ôn tồn nói: "Con à, bố cũng từng là một người lính, cả cuộc đời cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Vậy mà bố vẫn cùng mẹ con nuôi chồng con và các em trưởng thành. Hơn nữa, những điều mà con nói là nhận thức chưa đúng về quân đội và các nhà trường quân đội. Khi con của con vào học ở đây là được học ở một trong những môi trường đào tạo hàng đầu của đất nước, không chỉ dạy kiến thức, dạy nghề mà còn đặc biệt quan tâm dạy dỗ, rèn luyện học viên làm người vừa hồng, vừa chuyên.

    Ở các trường học quân đội, nếu học tập tốt, cháu Minh vẫn có cơ hội được cử đi nước ngoài du học. Mặt khác, dù biết rằng bộ đội vẫn có nhiều thiệt thòi, vất vả nhưng Nhà nước cũng đã và đang có những đãi ngộ cho bộ đội và thân nhân... Thứ cần nhất là sức khỏe, đạo đức, tư cách thì các nhà trường quân đội đều chú trọng trong quá trình giáo dục, đào tạo.Bố tự hào với lựa chọn của cháu Minh.Bố nghĩ, anh chị cũng nên ủng hộ nó".

    Thấy tình hình như vậy, Minh nói: “Thưa ông, thưa bố mẹ! Trước khi quyết định sẽ dự tuyển vào nhà trường quân đội, con đã tìm hiểu kỹ. Môi trường này thực sự phù hợp và rất tốt để con học tập, rèn luyện, trưởng thành. Hơn nữa, đây là mong muốn của con. Con vững tin vào lựa chọn của mình. Mong ông và bố mẹ ủng hộ”.

Trước sự cương trực, quyết tâm của con và những lời gan ruột của bố chồng, mẹ của Minh nhận ra mình đã suy nghĩ chưa thấu đáo, thậm chí còn sai lầm khi chỉ tin vào những thông tin cố tình nói xấu quân đội nhằm thực hiện mưu đồ đen tối. Mẹ của Minh đã nói lời xin lỗi bố chồng và đồng ý với quyết định của con trai.



BẤT ỔN CÁCH DẠY VÀ HỌC

     Có một thực tế những người giảng dạy và nhà nghiên cứu lý luận chính trị (LLCT) cũng như đông đảo giới xã hội, nhất là sinh viên, đều nhận ra những điều bất ổn trong việc trang bị kiến thức LLCT hiện nay trong các trường đại học. Nguyên nhân của thực trạng trên xoay quanh người dạy và cả người học.

Giảng viên vừa thiếu, vừa yếu

    Các môn LLCT không phải là một bộ môn nghề.Nó không dạy người học kiến thức của một nghề nghiệp cụ thể nào, nhưng nó lại dạy sinh viên một kỹ năng mà bất kỳ ngành nghề nào cũng đòi hỏi.Đó là kỹ năng tư duy, lý luận khoa học, quan điểm, tư tưởng cách mạng và nhân văn. Thực tế cho thấy, một số lượng lớn đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy các môn LLCT chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, còn lúng túng trong quá trình cập nhật những kiến thức mới. Một bộ phận cán bộ giảng dạy không tích cực trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra, đánh giá sinh viên. Giảng dạy thuyết trình theo kiểu tiếp nhận một chiều còn khá phổ biến; chưa phát huy hết tính sáng tạo và tư duy phản biện của người học dẫn tới tâm lý chán nản, không hứng thú ở người học, học chỉ là để thi qua môn, học đối phó chứ không phải “học để hành” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


    Những khiếm khuyết trên đây do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến sự thiếu hụt về kiến thức học vấn, trình độ lý luận, phương pháp luận, sự hiểu biết hạn chế về văn hóa nói chung của một bộ phận cán bộ giảng dạy LLCT. Mặt khác, cũng do thiếu kinh nghiệm và vốn sống, đặc biệt ở lớp cán bộ giảng dạy trẻ, tuổi đời còn ít. Thêm vào đó, còn có tâm lý thụ động, né tránh các vấn đề lý luận và thực tiễn gai góc, hoặc cảm nhận thấy vấn đề nhưng không đủ năng lực, bản lĩnh theo đuổi vấn đề đến cùng và giải quyết triệt để... Thực trạng đó đặt ra yêu cầu bức thiết cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn LLCT ở các trường đại học trong thời kỳ mới.

“Thầy đọc, trò chép” vẫn phổ biến

    Muốn giảng dạy hiệu quả rõ ràng cần đổi mới phương pháp dạy học gắn liền với đổi mới phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức lớp học. Yếu tố cần thiết để tiến hành dạy và học theo phương pháp tích cực là phải có đầy đủ thiết bị như máy chiếu, loa, đường truyền mạng tốt, số lượng sinh viên hợp lý trong một phòng học... Trong khi hiện nay, lớp học lý thuyết của các môn LLCT rất hiếm khi có dưới 40 sinh viên, mà thường hơn 100 sinh viên. Mặt khác, với tâm lý đây là môn kiến thức cơ bản nên ít được quan tâm, đầu tư như môn chuyên ngành.Tất cả những điều đó khó cho giảng viên áp dụng phương pháp tích cực vào giảng dạy. Tình trạng “thầy đọc, trò chép” vẫn phổ biến hoặc nếu có sử dụng giáo án điện tử thì theo kiểu chiếu chữ trên màn hình. Giờ học thiếu tính đối thoại làm cho các tiết giảng trở nên nhàm chán, sinh viên không hứng thú học tập.Với thời lượng học trên lớp ít, trong khi khối lượng kiến thức lại lớn, làm cho giảng viên không thể truyền thụ được sâu sắc kiến thức môn học, còn sinh viên lĩnh hội kiến thức theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”.

    Về phía sinh viên, họ thiếu hụt nền tảng kiến thức lịch sử, chính trị, xã hội và ít trải nghiệm thực tiễn để học tốt các môn LLCT. Chia sẻ về vấn đề này, PGS, TS Mai Đức Ngọc, Chủ tịch Hội đồng trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho biết: Trong những năm gần đây, trừ học sinh chọn thi khối khoa học xã hội nhân văn, học sinh phổ thông ít quan tâm đến các môn khoa học xã hội. Lỗ hổng về kiến thức xã hội ở phổ thông là một trở lực để sinh viên có thể tiếp thu kiến thức các môn LLCT. Ngoài ra, mặt bằng sinh viên giữa các trường không giống nhau.Ngoài những trường có chất lượng đầu vào khá, giỏi thì còn nhiều trường đang ở trong tình trạng “vơ bèo vạt tép” với điểm đầu vào thấp. Tuy nhiên dù là nhóm điểm cao hay thấp thì sinh viên khối các trường không chuyên các môn LLCT đều có điểm giống nhau là nền tảng kiến thức lịch sử, chính trị, xã hội rỗng từ bậc học dưới; cộng thêm tư duy “đầu tư” vào các học phần có số tín chỉ nhiều hoặc liên quan trực tiếp đến chuyên ngành đào tạo. Những điều đó có thể dẫn tới hệ lụy là sinh viên sẽ càng ít quan tâm hơn nữa môn học vốn không thích thú.

    LLCT lại cho kết quả khá tích cực. Phần đông sinh viên có nhận thức đúng đắn về vị trí, tầm quan trọng của các môn LLCT đối với việc hình thành nhân cách của sinh viên, nhất là đối với việc hình thành năng lực tư duy lý luận, tư duy chính trị, thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận sinh viên không thấy hết vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của các môn học này, không nhận thức đúng vai trò của kiến thức LLCT đối với việc hình thành các phẩm chất và năng lực hoạt động thực tiễn của mình.

    Hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta đứng trước nhiều cơ hội, song cũng đan xen những thách thức, điều này khiến việc học LLCT sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hơn.Từ thực trạng giảng dạy và học tập của sinh viên các trường đại học hiện nay, việc giảng dạy LLCT cần có sự đổi mới mạnh mẽ.Để nâng cao chất lượng giảng dạy LLCT của giảng viên, trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, những yêu cầu đang đặt ra hiện nay sẽ là một thách thức không nhỏ.



LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 “Chúng ta cần phải giữ gìn giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai của Tổ quốc. Sự kiến thiết, sự tranh đấu chưa kết thúc, tinh thần hăng hái của đồng bào sẽ không bao giờ phải e là không có cơ hội hành động nữa”.

Ngày 10 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, các chiến sĩ ở tiền tuyến và Ủy ban Hành chính Nam Bộ để thông báo về việc chính phủ đã ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3, được đăng tải trên báo Cứu quốc số 182, ra ngày 10 tháng 3 năm 1946. Trong thư, Người kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của những người đã đấu tranh cho nước nhà và gửi lời chào thân ái đến đồng bào miền Nam; nhấn mạnh Hiệp định có được là nhờ sự đấu tranh anh dũng của tất cả đồng bào ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và chiến sĩ các mặt trận từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến (9/1945 – 3/1946). Người căn dặn: “Chúng ta cần phải giữ gìn giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai của Tổ quốc. Sự kiến thiết, sự tranh đấu chưa kết thúc, tinh thần hăng hái của đồng bào sẽ không bao giờ phải e là không có cơ hội hành động nữa”.
Những lời dạy của Người có tác dụng khích lệ tinh thần to lớn với không chỉ với đồng bào miền Nam mà còn cả đồng bào, chiến sĩ cả nước. Và đây cũng là lời căn dặn cán bộ phải bảo vệ nhân dân, bồi dưỡng sức dân để tiến hành cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ”.
Ngày nay, đất nước đã hòa bình, đang trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, lời dạy của Người vẫn nguyên giá trị, Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân nêu cao bồi dưỡng sức dân, phát huy nội lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quân đội nhân dân Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội quân “Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” luôn nêu cao Lời thề thứ chín, xây dựng mối quan hệ khăng khít với nhân dân, tạo nên sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ trong mọi giai đoạn cách mạng; là động lực tinh thần để xây dựng thành công Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Thành phố Hà Nội đặt tên đường mang tên Thượng Tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo.


Hôm nay, ngày 10 tháng 3 năm 2022. thành phố Hà Nội công bố đặt tên đường, phố, đơn vị hành chính mới, trong đó, có con đường mang tên Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo. Đây là sự ghi nhận, tri ân những đóng góp vô cùng to lớn của ông đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, đấu tranh kháng chiến chống Mỹ.
                        
Trong buổi lễ đặt tên tuy đơn giản, ngắn gọn nhưng không kém phần long trọng, đại diện Ủy ban nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã phát biểu nêu bật lên công lao, sự nghiệp hiển hách của Thượng tướng,Giáo sư Hoàng Minh Thảo. Là một vị tướng trận mạc, đồng thời, ông cũng là nhà lý luận quân sự hàng đầu Việt Nam. Ông từng nắm giữ nhiều vị trí quan trọng như Phó Tư Lệnh mặt trận Tây Nguyên, Tư Lệnh mặt trận Tây Nguyên, và là Tư lệnh chiến dịch Giải phóng Tây Nguyên năm 1975. Sau khi đất nước thống nhất, ông về làm hiệu trưởng Học viện Lục Quân Đà Lạt, và đặc biệt là Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng), Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự cho đến khi nghỉ hưu.     

Con đường Hoàng Minh Thảo mang tên ông có chiều dài 2100 m, rộng 60,5m với 10 làn xe, có cây xanh, đèn chiếu sáng, nhiều công trình lớn được xây dựng 2 bên đường. Đường bắt đầu từ ngã 3 nối với đường Võ Chí Công, đến ngã 3 giao cắt với đường Phạm Văn Đồng. Việc đặt tên con đường rất đẹp và hiện đại, nối giữa 2 tuyến đường cũng mang tên 2 vị lão thành cách mạng của Việt Nam cho thấy sự trọng thị, tri ân đối với công lao của Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo. Đây cũng là dịp cho thế hệ trẻ học tập, ghi nhớ công lao, thân thế, sự nghiệp của ông, là tấm gương để thế hệ sau không ngừng cố gắng noi theo.





 


Đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng đối với Quân đội

Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam, là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội xuyên suốt từ khi thành lập đến nay là thực tiễn sinh động, không thể phủ nhận. Song, các thế lực thù địch coi đây là mục tiêu cơ bản trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta. Vì thế, cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc này. Về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, các thế lực thù địch dùng nhiều chiêu thức, với những giọng điệu, cách diễn đạt khác nhau. Khi thì chúng đứng hẳn về phía đối lập, trực diện chống phá, khi thì như “người trong cuộc”, “vì nước, vì dân”, thể hiện thái độ “thiện chí” xây dựng Quân đội, ra sức “khuyên nhủ” chúng ta phải thế này, thế nọ. Họ ra sức rêu rao rằng: Quân đội “là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”; Quân đội đặt dưới sự lãnh đạo độc tôn của Đảng là “mù quáng”, mà chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia - dân tộc, với nhân dân, phải đề cao khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” trong mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Từ đó, họ đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, phủ nhận nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Bằng những thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt, các thế lực thù địch mộng tưởng rằng, sẽ làm cho Quân đội ta mất phương hướng, mục tiêu chiến đấu, “không biết bảo vệ ai”, “chống lại ai”. Đảng không thể nắm, không thể “điều khiển” được Quân đội, đặc biệt trong những tình huống phức tạp, thậm chí có thể trở thành “đối tượng” trực tiếp của chính công cụ bạo lực này. Luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội là trò lừa bịp, vô căn cứ, phản động về chính trị, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và độc tôn lãnh đạo Quân đội; Quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành ngay từ khi thành lập Quân đội ta đến nay. Lịch sử gần tám thập kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng tỏ vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, không thế lực nào có thể tranh giành, phủ nhận. Quan điểm, nguyên tắc “Đảng Cộng sản lãnh đạo Quân đội” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng, hành động của Hồ Chí Minh và Đảng ta về xây dựng Quân đội cách mạng. Quân đội nhân dân Việt Nam - tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - do Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, ngay khi mới ra đời, đã là đội quân mang bản chất giai cấp công nhân, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Thực tiễn minh chứng: do Đảng độc tôn lãnh đạo, Quân đội ta mới thực sự là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn vững vàng về lập trường chính trị, tư tưởng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quân đội đã cùng với nhân dân làm nên những chiến thắng huy hoàng: tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã anh dũng chiến đấu, hy sinh viết nên truyền thống tốt đẹp “Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng”. Hình ảnh một đội quân vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ, dũng cảm, kiên cường, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng thể hiện đậm nét và sinh động trong thực tiễn chiến đấu, công tác và xây dựng của Quân đội ta suốt gần tám thập kỷ qua. Sự thật lịch sử đó chứng thực: Đảng là người tổ chức và xác lập ngay từ đầu sự lãnh đạo của mình đối với Quân đội; là lực lượng độc tôn lãnh đạo, quyết định bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội; bảo đảm mọi hoạt động của Quân đội ta luôn giữ đúng “con đường chính trị” của Đảng, nhiệm vụ quân sự luôn “phục tùng nhiệm vụ chính trị” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng giáo huấn. Đồng thời, phản ánh sâu sắc sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn về vai trò duy nhất lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, không thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Mọi yêu sách đòi xóa bỏ vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; mọi luận điệu và “kiến nghị” Quân đội không phải trung với Đảng, mà chỉ cần trung với nước, với dân, với lợi ích của quốc gia - dân tộc, đều chỉ là trò “giả nhân, giả nghĩa”, bị chính thực tiễn cách mạng Việt Nam và lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam bác bỏ. Đảng độc tôn lãnh đạo Quân đội và Quân đội trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân là quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội ta “Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng”3. Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường xuyên nhắc nhở: “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội”4. Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo mới bảo đảm cho Quân đội ta là lực lượng vũ trang thống nhất, công cụ bạo lực sắc bén, không chỉ trung với Đảng, mà còn trung với nước, hiếu với dân, với lợi ích quốc gia - dân tộc trong mối quan hệ thống nhất, không tách rời. Trung với Đảng đã bao hàm cả nội dung trung với nước, hiếu với dân, với lợi ích quốc gia - dân tộc và được phản ánh trong trung với nước, hiếu với dân; trung với nước, hiếu với dân cũng bao hàm cả nội dung trung với Đảng và được thể hiện sâu sắc trong trung với Đảng. Mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa trung với Đảng và trung với nước, với dân nằm trong bản chất và là sức mạnh, thuộc tính của Quân đội ta, mà chỉ có sự độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có được. Do đó, không thể nói Quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, không cần phải trung với Đảng”. Nhiệm vụ của Quân đội là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân và lợi ích quốc gia - dân tộc, nhưng chỉ có Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản như Quân đội ta, thì Quân đội mới thực sự trung thành và làm tròn phận sự trung thành đó. Đồng thời, làm cho sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ, với Tổ quốc và nhân dân gắn bó chặt chẽ với nhau trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời. Trong tình hình mới, để giữ vững và tăng cường vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cần phải: - Kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Xây dựng Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm sự độc tôn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Mối quan hệ thống nhất biện chứng này cần nhận thức đúng, giải quyết tốt trong thực tiễn xây dựng Quân đội và giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. - Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Nâng cao chất lượng, hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ. Thực hiện việc điều chỉnh tổ chức, biên chế Quân đội đến 2025 cơ bản hoàn thành theo hướng tinh, gọn, mạnh; đến 2030 một số quân chủng, lực lượng đạt trình độ hiện đại, từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội, hậu phương Quân đội; bảo vệ chính trị nội bộ; phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. - Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, “gương mẫu, tiêu biểu”, đáp ứng sự tin tưởng, kỳ vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. “Chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được lan tỏa trong toàn quân và toàn xã hội”6. - Chủ động, tích cực và nâng cao hiệu quả đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, “phi chính trị hóa” Quân đội, đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, làm cho các tầng lớp nhân dân gắn bó và quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Có như thế, mới củng cố, tăng cường được cơ sở chính trị - tư tưởng - xã hội vững chắc cho sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, là minh chứng thiết thực phản bác những quan điểm, sai trái, thù địch xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Kiên quyết đấu tranh, phê phán luận điểm: Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân.

Thời gian qua các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ra sức “tấu” những điệp khúc xuyên tạc quen thuộc, hòng chia rẽ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Bởi vậy, cảnh giác, nhận rõ và chủ động đấu tranh, bác bỏ các luận điệu, chiêu trò đó là vấn đề quan trọng, cấp thiết. Vẫn luận điệu cũ, tiếp tục rêu rao rằng: “Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân”. Thực chất luận điểm trên của các thế lực thù địch không có gì mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Nó vẫn nằm trong mục tiêu hòng “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, phủ nhận phẩm chất trung thành của Quân đội ta, đưa Quân đội vào trung lập hóa, mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất sức chiến đấu. Cần khẳng định rõ: đây là luận điểm lố bịch về khoa học - trò hề trong trò chơi chính trị của các thế lực thù địch. Do đó, cần vạch rõ tính chất phản khoa học, phản động của luận điểm trên. Về hình thức ngôn ngữ thì loại luận điểm trên, nếu nghe qua dễ làm cho người ta cảm thấy chưa có vấn đề gì, thậm chí không ít người còn gật gù chấp nhận. Vì, nó cũng bàn đến phẩm chất trung thành của Quân đội, nhất là sự trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân. Nhưng suy xét một cách kỹ lưỡng chúng ta thấy, ẩn chứa sau đó là âm mưu chống phá rất thâm độc của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Bởi, cách họ không bao giờ công khai lập trường, quan điểm phản động, mà dùng lối cắt xén từ ngữ, đánh tráo khái niệm trong thuật ngụy biện để che đậy bản chất chống phá một cách tinh vi. Thuật ngụy biện cũng để ý tới các mặt, những mối liên hệ khác nhau của sự vật, nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất và ngược lại. Trên thực tế, với thủ đoạn tinh vi, họ đã nhiều lần dùng thuật ngụy biện để xuyên tạc bản chất, phủ nhận giá trị khoa học chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, quan điểm của Đảng. Song, những việc làm đó của họ khó đánh lừa được dư luận và sẽ chịu thất bại. Từ luận điểm: Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân thuật ngụy biện đã tái hiện lại sự cắt xén từ ngữ, đánh tráo khái niệm để biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất. Về thực chất là họ phủ nhận phẩm chất trung thành của Quân đội ta đã được hình thành, tôi luyện, củng cố ngay từ khi thành lập đến nay. Họ cắt xén nội dung: phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cho nội hàm của khái niệm phẩm chất trung thành bị biến dạng hoàn toàn về bản chất. Tách và bỏ nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự xuyên tạc trắng trợn, nhằm chống phá Quân đội ta. Ở đây, diễn đạt đầy đủ và đúng đắn phải là: Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trung thành với mục tiêu bảo vệ cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Điều này được hiến định rõ tại Điều 65, Chương IV, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Do đó, việc họ tách và bỏ một nội dung có tính đặc trưng quan trọng nhất là trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi khái niệm phẩm chất “trung thành” của Quân đội là cắt xén nội dung, xuyên tạc bản chất một cách trắng trợn. Đó là biểu hiện của sự tùy tiện, chủ quan, phi lôgíc mà thuật ngụy biện thường dùng. Họ chỉ dùng nội dung phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân nhằm hướng nhận thức của mọi người vào cái chung chung “lửng lơ”, mà không đi đến gốc rễ của vấn đề. Mục đích của họ là để dẫn mọi người đến nhầm lẫn, hòa tan giữa Tổ quốc mang bản chất của giai cấp tư sản và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mang bản chất giai cấp công nhân là một. Và, từ đó sẽ dẫn tới Quân đội ta mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đây là sự xảo trá, hết sức thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm tách bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta. Vấn đề này đã được C.Mác - Ph. Ăngghen chỉ rõ: dưới chế độ bóc lột “công nhân không có tổ quốc”1. Vì thế, quần chúng nhân dân không việc gì phải hy sinh xương máu cho cái “Tổ quốc” của giai cấp tư sản. Như vậy, nếu cụ thể vào luận điểm, chỉ trung thành với Tổ quốc, với nhân dân “trần trụi” như thế thì rõ ràng đó là một hình thức đánh lừa quần chúng nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta hiện nay. Về nội dung, điều đặc biệt nguy hiểm là các thế lực thù địch đã tách, bỏ nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì nội dung này là cái quyết định nhất đến cái tổng thể của khái niệm trung thành. Trung thành với sự lãnh đạo của Đảng là quyết định nhất bản chất chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nếu không còn nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng thì sẽ dẫn Quân đội ta đi vào trung lập hóa, bị “phi chính trị hóa” và cuối cùng cái trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân cũng sẽ không còn. Về bản chất, giữ vững nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bao hàm sự trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và mục tiêu bảo vệ cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Việc tách và bỏ nội dung trên là làm cho khái niệm phẩm chất trung thành của Quân đội ta trở lên trống rỗng, đánh mất bản chất chính trị cách mạng, bản chất giai cấp công nhân; xa rời mục tiêu lý tưởng, mục tiêu chiến đấu,… trượt khỏi chế độ xã hội chủ nghĩa để đi vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ: không có và không thể có bất kỳ một quân đội nào lại không gắn với một đảng cầm quyền. Và quân đội luôn mang bản chất chính trị, bản chất của một giai cấp nhất định, đó là giai cấp, nhà nước tổ chức ra, sử dụng nó. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo Quân đội, được khẳng định rõ tại Điều 25, Chương VI, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; sự lãnh đạo của Đảng được tập trung thống nhất vào Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Đảng quyết định những vấn đề cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, tham gia xây dựng đất nước. Nhà nước thống nhất quản lý đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Trong đó, chính trị của Quân đội ta tập trung cao nhất ở phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng rồi mới đến các phẩm chất trung thành khác. Việc tách và bỏ phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có nghĩa đưa Quân đội rơi vào “phi chính trị hóa”, mất định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa, vu vơ về chính trị, như một thể xác không có linh hồn. Điều này đã được thực tiễn minh chứng rõ từ việc các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô trước đây là khi đất nước, Tổ quốc diễn ra chính biến chính trị thì quân đội tuyên bố trung lập, mất định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa dẫn đến sụp đổ cả một chế độ xã hội. Có nhiều nhân tố dẫn đến việc đánh mất nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, trực tiếp là việc để các quan điểm phản động xâm nhập vào đời sống tinh thần xã hội, mà không được khắc phục, ngăn ngừa, đẩy lùi kịp thời, có hiệu quả từ sớm. Quá trình chuyển từ thúc đẩy “diễn biến” đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng bắt đầu từ phương pháp dùng thuật ngụy biện, đánh tráo khái niệm, mà cụ thể là luận điểm: quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân. Từ chỗ xem nhẹ loại luận điểm này đến chấp nhận, nhượng bộ, thỏa hiệp, đánh mất phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng và cuối cùng là đứng ngoài chính trị, “phi chính trị hóa” Quân đội. Đây là một ngón đòn rất “lợi hại” của các thế lực thù địch. Với ý nghĩa đó chúng ta khẳng định rằng, không chấp nhận luận điểm: Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân. Bởi, nó là một chiêu trò đánh lừa dư luận, hòng phủ nhận sự độc tôn lãnh đạo của Đảng với Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm phá vỡ nền tảng chính trị của Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu chiến đấu, không tư tưởng nhất định, làm sáng tỏ sự đối chọi giai cấp, sự phân định ranh giới về mặt tư tưởng. Thống nhất về mặt tư tưởng bằng truyền bá những tư tưởng có khả năng đẩy lên phía trước, những tư tưởng của giai cấp tiên phong” vào củng cố thái độ dứt khoát: “phẩm chất trung thành của Quân đội là không thể xuyên tạc” hiện nay. Trên cơ sở đó, định hướng cho các khâu, các bước tuyên truyền, giáo dục, nâng cao chất lượng, đổi mới phương pháp vạch trần thuật ngụy biện trong đấu tranh, phản bác các quan điểm phản khoa học, phản động của các thế lực thù địch. Chỉ như vậy chúng ta mới có cơ sở khoa học đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái một cách thuyết phục, làm vô hiệu hóa chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội ta thật sự là một cơ thể cường tráng “miễn dịch” với các vi rút độc hại, sự chống phá của các thế lực thù địch.

Quân đội ta phải thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong mỗi cơ quan, đơn vị

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc phòng, chống tham ô, lãng phí. Theo Bác: “Tham ô là đục khoét của nhân dân”, “ăn bớt của bộ đội”, “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”; lãng phí là lãng phí tiền của, thời gian, sức lao động, v.v. Người chỉ rõ: tham ô, lãng phí chính là “kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”, “tham ô lãng phí là một thứ giặc ở trong lòng” và “do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa” và chống tham ô, lãng phí cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đồng thời, Bác cũng đưa ra nhiều biện pháp phòng, chống, như: “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, chống quan liêu, thực hiện dân chủ, v.v. Đối với Quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện về đạo đức, cũng như phòng, chống những biểu hiện tiêu cực, sai phạm, trong đó có bệnh tham ô, lãng phí. Bác dạy “Phải làm sao cho trong Quân đội không có tham ô lãng phí” là lời căn dặn không chỉ đơn thuần có ý nghĩa trong đấu tranh chống tham ô, lãng phí trong Quân đội, mà còn có giá trị sâu sắc củng cố niềm tin của nhân dân đối với Quân đội ta. Thực hiện tốt lời Bác dạy là thiết thực góp phần đấu tranh, ngăn chặn biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức. Ngày 15/6/1957, nói chuyện với các đơn vị Quân đội tại Quân khu IV, Bác nói: “Phải làm sao cho trong Quân đội không có tham ô, lãng phí”. Người giao nhiệm vụ: “Quân đội và công an ta hãy cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật, ra sức bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn trật tự, an ninh, ra sức tham gia phong trào sản xuất và tiết kiệm”. Tháng 6/1957, Bác yêu cầu Quân đội: “Phải nâng cao ý thức và kỷ luật lao động. Phải nâng cao ý thức tiết kiệm”. Trong thư gửi đồng bào Việt Bắc ngày 10/8/1956, Bác viết: “Cán bộ, quân, dân, chính, đảng phải đoàn kết chặt chẽ; phải luôn luôn gần gũi nhân dân, ra sức phục vụ nhân dân, phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính, kiên quyết chống quan liêu mệnh lệnh, tham ô lãng phí”. Trong Diễn văn khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II), ngày 25/01/1953, Bác nhấn mạnh: “phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội”, “phải đảm bảo sự chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ; phải triệt để giữ gìn kỷ luật tự giác…”, “phải thực hiện dân chủ trong bộ đội”. Tháng 3/1959, Bác yêu cầu: “Không nên đặt ra nhiều bàn giấy, nhiều máy chữ, tránh quan liêu, vô ích, không thiết thực, phải nhớ là cần kiệm”. Và trên thực tế, việc chỉ đạo xử lý vụ án Đại tá Trần Dụ Châu tham ô theo tinh thần “chặt cành để cứu cây” đã thể hiện quan điểm nhất quán và kiên quyết trong đấu tranh với tham nhũng của Người. Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Quân đội ta luôn chú trọng tiến hành các biện pháp tích cực, hiệu quả để chống quan liêu, ngăn ngừa tham ô, lãng phí. Ngay từ sớm, trong các quy định của 10 Lời thề danh dự, 12 Điều kỷ luật đã giáo dục mọi quân nhân “không lấy cái kim, sợi chỉ của dân”; thực hành tiết kiệm từng viên đạn, lít xăng với tinh thần coi súng, đạn như “vợ, con”, “yêu xe như con, quý xăng như máu”, v.v. Tinh thần đó được cán bộ, chiến sĩ toàn quân khắc ghi, ra sức thực hiện và được thể hiện rõ nét trong thực hiện Cuộc vận động “Ba xây, ba chống”: “nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” do Đảng ta phát động vào những năm 60 của thế kỷ XX. Những năm gần đây, Quân ủy Trung ương ban hành Kế hoạch số 64-KH/QUTW, ngày 01/02/2017, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), xác định 05 nhóm nhiệm vụ chủ yếu với 48 giải pháp cụ thể, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, lựa chọn giải pháp đột phá để triển khai thực hiện ngay và thường xuyên; Bộ Quốc phòng ban hành Chương trình hành động số 2518/CTr-BQP, ngày 13/3/2017, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gồm 07 nội dung chính, 42 giải pháp thực hiện. Toàn quân triển khai thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Nhiều cuộc vận động, phong trào thi đua của các cấp, các ngành được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, mang lại hiệu quả thiết thực, điển hình là: “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Quản lý tài chính tốt”, “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và An toàn giao thông”, v.v. Trong thực hiện, cấp ủy các cấp thường xuyên quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ đảm nhiệm các vị trí nhạy cảm, dễ nảy sinh tiêu cực có phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức thực hiện nghiêm các quy chế, quy định về công tác quản lý kinh tế, tài chính; lãnh đạo thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở. Nhiều đơn vị thực hiện hiệu quả việc kết hợp thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí với làm kinh tế, tăng gia sản xuất, gắn kinh tế với quốc phòng, bảo đảm theo đúng quy định về công tác quản lý, đạt hiệu quả cao. Các sai phạm xảy ra đều được giải quyết, xử lý kịp thời, nghiêm minh với quan điểm không có “vùng cấm”, “vùng an toàn”, “vùng bất khả xâm phạm”, v.v. Nhờ đó, cán bộ, chiến sĩ luôn có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng; chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, có ý thức thực hành tiết kiệm, góp phần giữ vững danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Kết quả đó đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng biểu dương tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI: “Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, xử lý nghiêm minh các sai phạm, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội”. Thế nhưng, các thế lực thù địch vẫn lợi dụng việc một số ít cán bộ, đảng viên trong Quân đội vì thiếu tu dưỡng, rèn luyện, có biểu hiện sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước để xuyên tạc, nhào nặn, thổi phồng sự việc, quy chụp vô căn cứ phát tán lên mạng xã hội, hòng biến hiện tượng thành bản chất, hạ thấp uy tín “Bộ đội Cụ Hồ”, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Quân đội ta. Vì vậy, để tiếp tục thực hiện tốt điều Bác căn dặn, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, cấp ủy các cấp cần tập trung quán triệt sâu sắc Nghị quyết đại hội XIII của Đảng “Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Thực hiện chặt chẽ, có hiệu quả về kê khai, kiểm soát, kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp”; gắn thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện tốt yêu cầu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ nhất Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025: “Quân đội phải đi đầu trong đấu tranh chống tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân để làm gương trong toàn xã hội”, “đấu tranh không khoan nhượng với quan điểm sai trái, thù địch, kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực làm trong sạch nội bộ, chống chủ nghĩa cá nhân, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, không được bao che, nể nang, không giấu, không sợ khuyết điểm, thẳng thắn đấu tranh phê bình và tự phê bình, kịp thời chỉ ra những khuyết điểm của đồng chí, đồng đội mình khi đang còn manh nha, có như thế mới giúp nhau cùng tiến bộ được”. Cùng với đó, quán triệt nắm chắc các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn của cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng trong Quân đội, làm cơ sở để triển khai thực hiện thống nhất, đồng bộ, đạt hiệu quả thiết thực. Phát huy tốt vai trò trong lãnh đạo công tác tài chính, kinh tế, những lĩnh vực nhạy cảm, dễ nảy sinh tiêu cực, từ đó khắc phục triệt để biểu hiện vi phạm ngay từ trong tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên. Triển khai nghiêm túc các đợt học tập, nghiên cứu, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ bản chất, nguyên nhân, nguồn gốc, tác hại của tham nhũng, lãng phí, nhằm nâng cao trách nhiệm trong đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn nguy hiểm này. Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về công khai, minh bạch trong các hoạt động của cơ quan, đơn vị theo Thông tư số 07/2014/TT-BQP, ngày 23/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định và hướng dẫn về minh bạch tài sản, thu nhập trong Quân đội; chú trọng công khai, minh bạch việc thực hiện các chế độ, chính sách, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sản xuất trang thiết bị, quản lý, sử dụng đất quốc phòng, nhằm kiểm soát chặt chẽ, không để xảy ra sai phạm. Quản lý tốt cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị, tài chính của đơn vị theo đúng quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, kiên quyết tránh tình trạng gây thất thoát tài chính, hư hỏng, mất mát trang thiết bị kỹ thuật. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở để phát huy trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong mỗi cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng, lãng phí với tinh thần không có “vùng cấm”. Kịp thời biểu dương, khen thưởng đối với những tập thể có thành tích trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; bảo vệ, khen thưởng xứng đáng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và xử lý nghiêm minh những hành vi ngăn cản, trù dập người tố cáo, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Trong Thư của Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, kêu gọi cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức, lao động quốc phòng toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ cả nước “Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và Nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,... giữ vững “kỷ luật, kỷ cương”, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng”. Đây cũng là quyết tâm chung của toàn quân đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện thắng lợi trên thực tế, để xứng đáng với lời dạy của Bác “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

 


Phát triển văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự bảo tồn văn hóa. Bản thân phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, đưa văn hóa ngày cảng hoàn thiện với những giá trị văn minh mới, làm nên những thang bậc cao hơn trong quá trình phát triển. Chính vì vậy, bảo tồn và phát triển văn hóa có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau. Bảo tồn là cơ sở để phát triển, văn hóa phát triển phải dựa trên kế thừa, phát huy các giá trị cổ truyền tạo nên sự tiếp nối liên tục của truyền thống văn hóa dân tộc.

Phát triển văn hóa là một quá trình có tính tất yếu khách quan trong sự vận động của các lĩnh vực văn hóa. Quá trình này dẫn tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị văn hóa. Có thể nói, phát triển văn hóa là hoạt động của chủ thể văn hóa tác động làm nảy sinh những giá trị mới của nền văn hóa về quy mô và chất lượng theo hướng chân, thiện, mỹ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần dân tộc, khoa học, nhân văn, dân chủ, tiến bộ, thúc đẩy toàn bộ các lĩnh vực hoạt động văn hóa, tạo ra các điều kiện và cơ hội cho con người tham gia vào quá trình sáng tạo, sản xuất, truyền bá, đánh giá và thưởng thức các giá trị văn hóa, tạo môi trường văn hóa lành mạnh làm động lực thúc đẩy quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những hoạt động văn hóa đó, con người được phát triển nhân cách, hình thành phẩm chất, năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Khi nói đến phát triển nền văn hóa Việt Nam có nghĩa là nói đến phát triển toàn diện và đồng bộ các yếu tố cấu thành nền văn hóa dân tộc bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ văn hóa vật chất đến văn hóa tinh thần, từ văn hóa cá nhân đến văn hóa gia đình và cộng đồng, từ văn hóa chính trị đến văn hóa giáo dục, từ văn hóa nghệ thuật, văn hóa khoa học tới văn hóa thẩm mỹ .v.v..

Trong đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Đảng ta đã xác định trọng tâm để lãnh đạo văn hóa bao gồm ba lĩnh vực: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Đây là ba lĩnh vực rất cơ bản của đời sống văn hóa cần tập trung xây dựng để đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định văn hóa là đời sống tinh thần, thuộc về kiến thượng tầng của xã hội. Văn hóa được đặt ngang hàng với chính trị kinh tế, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của xã hội: "Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng”.

Như vậy, khái niệm văn hóa được xác định là các lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần của xã hội. Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"[1]. Văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa phải là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

 



[1] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, L7, tr.246.

 

 

BẢN CHẤT CỦA VĂN HÓA

 


Văn hóa là sự phát huy các năng lực bản chất người của con người trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội và với chính bản thân con người. Cho nên, văn hóa đều có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay cách cư xử, giao tiếp, thậm chí đến cả những suy nghĩ thầm kín nhất trong nội tâm mỗi người.

Bản chất của văn hóa là hệ giá trị nhân văn, đạo đức xã hội và tri thức khoa học của con người, thể hiện đầy đủ nhất “trình độ người” ngày càng phát triển của con người với tất cả tinh hoa, chân, thiện, mỹ - những giá trị cao quý chỉ có ở con người.

Bản chất của văn hóa còn là năng lực sáng tạo vô cùng vô tận của nhân loại trong quá trình nhận thức, khám phá, cải tạo, chinh phục tự nhiên để sinh sống, tồn tại và phát triển. Từ khi xuất hiện đến nay, loài người đã không ngừng khám phá, phát minh sáng tạo về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, tiến hành nhiều cuộc có mạng mới về mọi mặt để chinh phục, cải tạo tự nhiên, xây dựng cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người và xã hội.

Như vậy, bản chất của văn hóa là nhân văn, là sáng tạo thể hiện vẻ đẹp phẩm chất người, sức mạnh người của con người ta quá trình phát triển của lịch sử.

Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều kết quả trên nhiều lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…. Song, dưới tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đem lại, đã ảnh hưởng đến “mai một” của văn hóa. Trong bài phát biểu sáng 24/11, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng về lĩnh vực văn hóa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng. Đã đánh giá: Hạn chế, yếu kém nổi bật được nhắc lại nhiều lần lâu nay là văn hoá chưa được các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy đủ tương xứng với kinh tế và chính trị; chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước”

Như vậy, nâng cao nhận thức về bản chất văn hóa cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân là nội dung cần thiết./.

 

 

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM TỪ CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ CỦA NGA Ở UKRAINE HIỆN NAY

 


Kể từ ngày 24/2 khi quân đội Nga tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine, nhiều chuyên gia quân sự, chính trị đã tiến hành theo dõi, bình luận, đánh giá. Chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm là::

Thứ nhất, kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; duy trì quan hệ cân bằng với các nước lớn; giữ vững nguyên tắc bốn không. Tôn trọng thể diện của nước lớn.

Thứ hai, coi trọng xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, bảo đảm vành đai an ninh trực tiếp của quốc gia.

Thứ ba, làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược. Không loại trừ bất kỳ khả năng diễn biến tình hình nào; chuẩn bị sẵn sàng các phương án ứng phó.

 

TẬP TRUNG NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI MỚI, CẦN ƯU TIÊN

 

TẬP TRUNG NHẬN DIỆN CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI MỚI, CẦN ƯU TIÊN

Đây là yêu cầu đặt ra tại phiên họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo Tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương số 15-NQ/TW (khóa XI) một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 (Nghị quyết Trung ương 5), sáng 9/3, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: Tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 cần làm bật lên những ưu tiên, quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh vực xã hội, chăm sóc con người so với nguồn lực hiện có, các nước có cùng trình độ phát triển, cũng như trong khu vực, trên thế giới - Ảnh: VGP/Đình Nam

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, đến nay hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Trung ương 5 đã đạt và vượt nhưng vẫn còn một số chỉ tiêu chậm so với mục tiêu đề ra như tỉ lệ người dân được sử dụng nước sạch, nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tỉ lệ trẻ em 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, bảo đảm giáo dục tối thiểu…Lãnh đạo các bộ, ban, ngành thành viên Ban Chỉ đạo đã thảo luận, cho ý kiến về các vấn đề, nội dung quan trọng trong quá trình thực hiện tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 (khoá XI) trên tinh thần phân công trách nhiệm rất cụ thể, nhất là những lĩnh vực trọng yếu, nhiều vấn đề được người dân, xã hội quan tâm.

Công tác tổng kết phải bám sát các nội dung Nghị quyết, nhất là kết quả thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp: Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; bảo đảm an sinh xã hội (việc làm, thu nhập và giảm nghèo; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội, bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin truyền thông, chính sách an sinh xã hội trong đại dịch COVID-19); hợp tác quốc tế và các lĩnh vực khác có liên quan; nguồn lực thực hiện; đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2020 và kết quả thực hiện đến năm 2022; đánh giá hạn chế, tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm…

Một số nhóm chỉ tiêu bắt buộc (y tế, giáo dục, văn hoá, an sinh xã hội, nhà ở…) trong Nghị quyết phải do Bộ trưởng bộ chuyên ngành chỉ đạo tổng kết. Bên cạnh việc tổng kết của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan nghiên cứu, chúng ta cần huy động tối đa, sử dụng hiệu quả sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước, đóng góp của nhân dân. Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ngọ Duy Hiểu đề nghị tăng cường thực hiện các khảo sát thực tế, nghiên cứu để phát hiện những khía cạnh, vấn đề xã hội mới nổi - Ảnh: VGP/Đình Nam

Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ngọ Duy Hiểu đề nghị tăng cường thực hiện các khảo sát thực tế, nghiên cứu để phát hiện những khía cạnh, vấn đề xã hội mới nổi trong các nhóm đối tượng như công nhân, phụ nữ, người cao tuổi…Các ý kiến thống nhất cho rằng việc tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 (khoá XI) phải đưa ra đánh giá nghiêm túc, đúng thực tế, khách quan, rút ra những mặt đạt được, bài học kinh nghiệm; những mặt chưa được và nguyên nhân. Tập trung nhận diện các vấn đề xã hội mới, những vấn đề cần ưu tiên trong chính sách xã hội của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đề xuất những quan điểm, chủ trương, cơ chế, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp khả thi cho từng giai đoạn phù hợp với xu thế, thực tiễn của địa phương và đất nước trong thời kỳ mới. Đây là cơ sở để xây dựng dự thảo nghị quyết mới có nội dung sâu sắc, khách quan, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, thiết thực, có tính khả thi, các mục tiêu cụ thể gắn với thời gian, lộ trình phù hợp và các chủ trương, nghị quyết có liên quan của Trung ương. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam lưu ý, việc tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 (khoá XI) cần làm rõ mối liên hệ ngày càng nhiều, ngày càng chặt chẽ giữa xã hội và các lĩnh vực khác (an ninh trật tự, quốc phòng, đối ngoại…). Bên cạnh đó, công tác tổng kết cần xem xét, tham khảo trong những xu thế quốc tế đã rõ như cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số, dịch bệnh, an ninh mạng…

Trong tổng kết, đánh giá cần làm rõ chủ trương, chính sách ưu tiên, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh vực xã hội, chăm sóc con người so với nguồn lực hiện có, các nước có cùng trình độ phát triển, cũng như trong khu vực, trên thế giới; hiệu quả sử dụng các nguồn lực; những kinh nghiệm được rút ra. "Tổng kết nghị quyết của Trung ương không chỉ đánh giá kết quả, tồn tại, hạn chế, bài học kinh nghiệm mà quan trọng là xác định những vấn đề mới về quan điểm, mục tiêu, từ đó đưa ra chủ trương, giải pháp phù hợp; góp phần vào xây dựng lý luận.

ĐƯA QUAN HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI - ĐẦU TƯ VIỆT NAM - HOA KỲ LÊN TẦM CAO MỚI

 

ĐƯA QUAN HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI - ĐẦU TƯ VIỆT NAM - HOA KỲ LÊN TẦM CAO MỚI

Sáng 09/3/2022, tại Hà Nội, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an có buổi tiếp Đoàn Doanh nghiệp cấp cao, Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) do ngài Ted Osius, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc làm Trưởng đoàn nhân dịp Đoàn có chuyến thăm, làm việc tại Việt Nam.

Tại buổi tiếp, Bộ trưởng Tô Lâm hoan nghênh USABC đã chủ động tổ chức chương trình Đoàn Doanh nghiệp thường niên và đề nghị làm việc với lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và một số bộ, ban, ngành, trong đó có Bộ Công an Việt Nam. Bộ trưởng Tô Lâm đánh giá quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đang trên đà phát triển tốt đẹp. Cùng với sự phát triển quan hệ chính trị, an ninh-quốc phòng, hợp tác kinh tế-thương mại-đầu tư đã và đang đạt được những kết quả đáng ghi nhận, trở thành trọng tâm, nền tảng, động lực cho quan hệ chung hai nước. Thành công này đạt được là nhờ Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp hai nước, trong đó có USABC. Cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ đã nỗ lực phối hợp, tập trung giải quyết kịp thời và hiệu quả vấn đề thương mại ưu tiên, mở cửa thị trường cho nông sản, hàng công nghiệp, hàng hóa và dịch vụ công nghệ thông tin, kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy ký kết nhiều dự án, hợp đồng thương mại lớn.

Thay mặt Đoàn Doanh nghiệp cấp cao Hoa Kỳ, ngài Ted Osius cảm ơn Bộ trưởng Tô Lâm đã dành thời gian tiếp. USABC tái khẳng định, thời gian qua, quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế - thương mại - đầu tư đã đạt được những thành tựu lớn, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Hoa Kỳ hiện đang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Thời gian tới, USABC sẽ tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối giữa Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp hai nước, đề xuất những sáng kiến thiết thực, hiệu quả để thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế-thương mại-đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ. Tại buổi tiếp, đại diện các doanh nghiệp thuộc USABC đã trao đổi, đề nghị Bộ Công an Việt Nam một số nội dung  về các lĩnh vực hợp tác kinh tế số, chuyển đổi số, phát triển năng lượng sạch, an ninh mạng, an ninh trên không…

Ghi nhận những đề xuất trên, Bộ trưởng Tô Lâm khẳng định chủ trương nhất quán của Chính phủ Việt Nam là đảm bảo sự ổn định cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp Hoa Kỳ vào làm ăn lâu dài tại Việt Nam. Thời gian tới, Bộ trưởng Tô Lâm đề nghị USABC tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối quan trọng giữa Chính phủ, Cộng đồng doanh nghiệp hai nước để tăng cường quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ nói chung và quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại – đầu tư Việt Nam – Hoa Kỳ nói riêng