Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

“Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả”

 Câu trích trên là một phần nội dung trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Malcolm Salmon, phóng viên Đông Nam Á của Báo Australia Tribune và Báo Guardian.

Khi được hỏi: “Những hoạt động của các chính khách ở nhiều nước thường không cổ vũ gì lớp thanh niên muốn có một cuộc đời hoạt động chính trị. Xin Chủ tịch cho những độc giả thanh niên của chúng tôi biết ý nghĩa và giá trị của một cuộc đời hoạt động chính trị, cách mạng”, Người trả lời: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”.

Qua nội dung trả lời của Bác, chúng ta thấy Người nhìn nhận, đánh giá rất cao vai trò, tiềm năng của thanh niên nói chung, thanh niên Việt Nam nói riêng, nhất là trong bối cảnh đất nước đang có chiến tranh, bị chia cắt hai miền Nam - Bắc. Trong hoàn cảnh ấy, tương lai của đất nước Việt Nam là phải thống nhất hòa bình và lý tưởng cao cả của thanh niên là phải thấu hiểu nỗi đau non sông chia cắt, phải có hành động cách mạng thiết thực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam.   

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lớp lớp thanh niên hai miền Nam - Bắc đã dũng cảm bước vào cuộc đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, thực hiện mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”, thể hiện quyết tâm cao độ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Một bộ phận đông đảo thanh niên trở thành anh Giải phóng quân, Bộ đội Cụ Hồ, trực tiếp chiến đấu với quân thù, lập nhiều chiến công oanh liệt, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân hoàn thành sự nghiệp cách mạng vẻ vang.

Hiện nay, tuổi trẻ - thanh niên Quân đội cần tiếp tục phát huy truyền thống cha anh, gương mẫu học tập, “rèn đức, luyện tài”, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc; luôn cảnh giác cách mạng cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật, vũ khí trang bị, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước đến thắng lợi.

"Cách mạng xanh" và những kỳ vọng về thể chế

 

"Cách mạng xanh" rời xa những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác- Lênin khi các tác giả của nó đưa ra nguyên tắc, phương châm “Cách mạng xanh không thể diễn ra cho tới khi Đảng có đường lối, chủ trương, chiến lược, Nhà nước quyết định chọn Cách mạng xanh và ủng hộ một cách vững chắc những tổ chức và doanh nghiệp tham gia”.

 Thực tiễn đã chững minh, Đảng ta, Nhà nước ta có đầy đủ các tiền đề, điều kiện để phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo đẩm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Một trong những tiền đề, điều kiện đó là chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Nh. MLN


Biến thể "deltacron" lai giữa delta và omicron có đáng lo ngại?

Biến thể lai mới, kết hợp từ cả hai biến thể omicron và delta của SARS-CoV-2, tạm gọi là "deltacron", đã được xác nhận thông qua giải trình tự bộ gen.

Mới đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã dẫn thông tin từ các nhà khoa học tại IHU Méditerranée Infection ở Marseille, Pháp trong việc phát hiện thấy một tổ hợp Covid-19 mới, là kết hợp giữa hai biến thể SARS-CoV-2 phổ biến nhất hiện nay là delta và omicron.

Được biết, biến thể lai xuất hiện thông qua một quá trình gọi là tái tổ hợp - khi 2 biến thể của virus lây nhiễm đồng thời cho bệnh nhân, dẫn tới trao đổi vật chất di truyền để tạo ra một thế hệ con lai mới.

Các nhà khoa học nói rằng "xương sống" của biến thể "deltacron" đến từ biến thể delta, trong khi protein đột biến cho phép virus xâm nhập vào tế bào chủ có nguồn gốc từ omicron.

"Chúng tôi tìm thấy quá trình tái tổ hợp có thể xảy ra ở người hoặc động vật, với nhiều biến thể lưu hành của SARS-CoV-2", Tiến sĩ Soumya Swaminathan, nhà khoa học tại Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh "cần phải đợi thêm các thí nghiệm để xác định rõ hơn về đặc tính của chủng virus này."

Maria Von Kerkhove, trưởng nhóm kỹ thuật tại WHO, cho biết thêm rằng cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm thấy bất kỳ sự thay đổi nào về mức độ nghiêm trọng của biến thể mới so với các biến thể trước đây. Tuy nhiên so với các biến thể trước đó, chẳng hạn như delta và omicron, biến thể mới này dường như không dễ lan truyền.

Thông thường, các đột biến sẽ xảy ra đều đặn cho đến khi một đột biến đủ mạnh để trở thành một biến thể mới. Trong trường hợp này, có nhiều đột biến khác nhau xảy ra, có lẽ là một phương thức để tiếp tục sinh tồn của delta giữa làn sóng omicron.

TS. William Lee, Giám đốc khoa học tại Helix lên tiếng cảnh báo các trường hợp đồng nhiễm (nhiễm nhiều biến thể Covid-19 cùng lúc) có thể xảy ra thường xuyên hơn chúng ta tưởng, bởi đa số đều rất khó phát hiện.

Trong khi cho rằng mọi người có thể không cần lo lắng quá mức về "deltacron", TS. Lee lại cho rằng các nhà nghiên cứu có thể học hỏi được nhiều điều từ sự tiến hóa của biến thể mới nhất này.

"Đó là một hiện tượng thú vị, và nó giúp chúng ta hiểu thêm về cách thức tiến hóa của virus và cách mà đại dịch tiếp tục kéo dài", ông cho hay.

"Cách mạng xanh" - một cái nhìn chưa thực sự thực tế

 

"Cách mạng xanh" từ sự thiếu toàn diện trong thế giới quan, phương pháp luận đã dẫn đến xa rời thực tiễn và những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Rời xa nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin khi một số quan điểm này cho rằng “mọi thành phần hiện hữu của trái đất đều là của chung”. Thực tiễn chứng minh không có sở hữu chung chung. Mọi hiện hữu đều gắn với quốc gia, dân tộc, giai cấp.

Mơ hồ, xa rời thực tế, xa rời nguyên tắc của chủ nghĩa Mác- Lênin khi Tài liệu này cho rằng phương pháp cách mạng là “giác ngộ nhân dân”, “không sử dụng bạo lực vũ trang mà vận động, thuyết phục”, “hòa bình, giáo dục, thuyết phục”.... Thực tiễn đã chứng minh cách mạng không thể tiến lên nếu chỉ giáo dục, thuyết phục và đấu tranh nghị trường, không sử dụng sức mạnh của bạo lực cách mạng.

Nh. MLN

“Cách mạng xanh” và sự kỳ vọng về một cách nhìn tổng thể

 

 “Cách mạng xanh” mong muốn thể hiện cả thế giới quan, phương pháp luận và những vấn đề cụ thể về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Các bài viết này đã tuyệt đối hóa vấn đề sinh thái, coi nhẹ vấn đề chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng;

Đánh giá thực trạng đất nước quá nhấn mạnh những hạn chế, tồn tại, không thấy hết những kết quả, thành tựu to lớn của cách mạng nước ta;

 Nhấn mạnh các chiến lược về năng lượng, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường. Các chiến lược về chính trị, QPAN, đối ngoại đã không được đề cập trong chiến lược phát triển;

 Nhấn mạnh vai trò của trí thức, doanh nghiệp, doanh nhân. Không đề cập tới vai trò của công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác trong lực lượng cách mạng;

So sánh phiến diện về những nội hàm cơ bản trong Cách mạng xanh với Cách mạng XHCN và Xã hội XHCN...

Nh. MLN

“Cách mạng xanh” không phải là vấn đề mới

 


 “Cách mạng xanh” đã được ra đời, tồn tại trong những năm 50 và 60 thế kỷ XX trong lĩnh vực nông nghiệp ở nhiều nước trên thế giới với tư cách là một lý thuyết phát triển kinh tế nông nghiệp. Thế giới đã có nhiều tranh luận về cuộc cách mạng này.

 Điều khác trong Tài liệu “Cách mạng xanh” nhiều vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi của kinh tế nông nghiệp để mong muốn trở thành một lý thuyết phát triển xã hội hiện đại. Song với cách tiếp cận thiên lệch về sinh thái và kỹ trị nên “Cách mạng xanh” đã có nhiều kiến giải phiến diện, xa rời những nguyên tắc lý luận của chủ nghĩa khoa học và thực tiễn công cuộc xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Nh.MLN

"Cách mạng xanh"- Thực chất cách tiếp cận

 


Vừa qua, đã xuất hiện các bài viết về "Cách mạng xanh" đăng trên trên diễn đàn và trên một số phương tiện thông tin đại chúng. Các bài viết Tài liệu tiếp cận vấn đề "Cách mạng xanh" chủ yếu từ góc độ sinh thái, khoa học công nghệ của sự phát triển. Mặc dù các bài viết đã cố gắng nhắc đến những vấn đề chính trị, xã hội, nhưng, những vấn đề chính trị, xã hội đã bị chìm đi, mờ đi trong các quan điểm sinh thái, kỹ trị. Đây là một hình thức của thuyết sinh thái và "kỹ trị” trong cuộc các mang 4.0.

Nh.MLN

Quyết liệt hơn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

 

Quyết liệt hơn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà coi trọng cả phòng, chống tiêu cực với trọng tâm là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Sáng 11/3, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì họp Bộ Chính trị, cho ý kiến về các nội dung: Đề án Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 20/1/2003 của Bộ Chính trị khóa IX; Kết luận số 28-KL/TW ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị khóa XI về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2020; Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Quy định xử lý kỷ luật tổ chức Đảng, đảng viên vi phạm.

Về Đề án Tổng kết thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2020, Bộ Chính trị thống nhất đánh giá hầu hết các nhiệm vụ, giải pháp, chỉ tiêu đề ra của Nghị quyết số 21-NQ/TW đã được các bộ, ngành và Đảng bộ, chính quyền, nhân dân 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long triển khai, thực hiện hiệu quả.

Mục tiêu của Nghị quyết đã cơ bản được hoàn thành; khẳng định Nghị quyết số 21-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đã phát huy được tiềm năng, lợi thế của vùng, đóng góp quan trọng và thành tựu chung của cả nước thời gian qua.

Bộ Chính trị thống nhất ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 21-NQ/TW về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” với tư duy, quan điểm, tầm nhìn phù hợp bối cảnh mới, nhằm đưa ra các mục tiêu, chủ trương, giải pháp cụ thể khắc phục những hạn chế, yếu kém, tháo gỡ các khó khăn trong thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW thời gian qua, tiếp tục tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới theo định hướng: Đồng bằng sông Cửu Long là vùng phát triển toàn diện theo hướng sinh thái, văn minh và bền vững, phù hợp với quy luật tự nhiên.

Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, năng động, hiệu quả trên cơ sở chuyển dịch nhanh mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, sử dụng hiệu quả nguồn nước, tài nguyên đất và phát triển các chuỗi cung ứng; là trung tâm năng lượng tái tạo, năng lượng sạch của cả nước; phát huy hiệu quả liên kết vùng, trong đó đột phá là hạ tầng giao thông, tăng cường năng lực hệ thống hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển chuỗi đô thị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân dân trong vùng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, Nghị quyết của Bộ Chính trị phải thể hiện những định hướng tư tưởng chỉ đạo về tầm quan điểm, chủ trương, chính sách lớn, không đi vào chi tiết, cụ thể; cần thiết phải ra nghị quyết, khẳng định vai trò, vị trí, ý nghĩa tầm quan trọng của khu vực kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long. Việc ra nghị quyết mới sẽ tạo được một bước chuyển biến mới, khí thế mới, bộ mặt mới với nhiều đóng góp mới cho đất nước trong giai đoạn tới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ nếu được Bộ Chính trị thông qua, nên ban hành sớm nghị quyết, tổ chức hội nghị triển khai thực hiện nghị quyết, tạo sự thống nhất về nhận thức, khơi dậy, phát huy ý chí quyết tâm, khí thế mới của cán bộ, đảng viên, nhân dân địa phương, nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thay đổi cách làm, không đi theo đường mòn, vết cũ; đào tạo cán bộ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu công việc.

Đề án sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí do Ban Nội chính Trung ương trình.

Bộ Chính trị đã thống nhất đánh giá về một số kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân sau 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW, trong đó đánh giá công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí được quan tâm, có bước đột phá trong phòng, chống tham nhũng, công tác phòng, chống lãng phí dần đi vào nề nếp, hiệu quả hơn.

Bộ Chính trị nhất trí về các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới.

Bộ Chính trị giao Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu, trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh; xây dựng Đề án tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X, trên cơ sở đó, xây dựng, trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề phức tạp, gần đây đã được đẩy mạnh với quyết tâm cao hơn, quyết liệt hơn; không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà coi trọng cả phòng, chống tiêu cực với trọng tâm là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong đấu tranh phòng, chống tiêu cực là bao gồm cả đấu tranh phòng, chống lãng phí...

Về Quy định xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, theo quy định hiện hành, việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm và xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm được thực hiện theo hai quy định khác nhau: Quy định số 07-QĐ/TW, ngày 28/8/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm; Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, bảo đảm nguyên tắc kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét, quy rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân và ngược lại khi xem xét kỷ luật đảng viên phải xem xét đến trách nhiệm của tổ chức đảng quản lý đảng viên vi phạm.

Bộ Chính trị thống nhất ban hành Quy định xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm trên cơ sở hợp nhất và kế thừa những nội dung còn phù hợp của Quy định số 07-QĐ/TW và Quy định số 102-QĐ/TW, đồng thời cập nhật đầy đủ chủ trương, quan điểm, nguyên tắc của Đảng trong Nghị quyết Đại hội XIII, các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và các kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mới được ban hành; bảo đảm đồng bộ, thống nhất các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Quy định về việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm gồm 4 chương, 58 điều. Chương I: Quy định chung; Chương II: Xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm; Chương III: Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm và Chương IV: Điều khoản thi hành.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, đây là những vấn đề, nội dung quan trọng, cụ thể và đề nghị Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiếp tục rà soát kỹ lưỡng tiếp thu ý kiến tại cuộc họp để hoàn thiện, trình Bộ Chính trị…

 

Yêu cầu Đài Loan huỷ bỏ diễn tập trái phép ở đảo Ba Bình

 

Yêu cầu Đài Loan huỷ bỏ diễn tập trái phép ở đảo Ba Bình

Việc Đài Loan tiếp tục tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở vùng biển xung quanh Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông.

Ngày 11/3, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Đài Loan tiến hành tập trận bắn đạn thật ở Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:

"Chúng tôi đã nhiều lần có phát biểu về việc này, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế.

Việc Đài Loan tiếp tục tổ chức diễn tập bắn đạn thật ở vùng biển xung quanh Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo này, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải; gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông".

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh, Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Đài Loan hủy bỏ hoạt động diễn tập trái phép nêu trên và không tái diễn trong tương lai.

 

VŨ KHÍ ÀO ẠT ĐỔ VỀ UKRAINE QUA "LỐI ĐI BÍ MẬT": VÌ SAO NGA KHÔNG TẤN CÔNG TUYẾN ĐƯỜNG NÀY?

         Dù biết rằng dòng chảy tiếp tế vũ khí của phương Tây đang giúp Ukraine kháng cự hiệu quả, Nga vẫn không có động thái gì để ngăn chặn điều này. Vì sao?
Mỹ và các đồng minh đang tìm cách giúp Ukraine ngăn chặn chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga trong khi tránh vượt qua lằn ranh đỏ có thể bị kéo vào cuộc xung đột trực tiếp với một cường quốc có vũ khí hạt nhân.
Đến hiện tại, Washington và các nước châu Âu đã hỗ trợ bằng việc cung cấp vũ khí, chia sẻ thông tin tình báo và viện trợ tài chính cho Kiev, cũng như áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Nga.
Những nỗ lực hỗ trợ Ukraine của phương Tây được đánh giá là vượt xa những gì Mỹ và các đồng minh cung cấp ở Afghanistan trước chiến dịch của Liên Xô năm 1979.
Sự can thiệp này được coi là bước vào vùng xám xung đột. Chống lại một quốc gia có vũ khí hạt nhân dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng mang đầy rủi ro đến từ những tính toán sai lầm.
Các thảo luận về việc cấp máy bay chiến đấu cho Ukraine từ kho máy bay thời Liên Xô của các nước NATO cũng là một dấu hiệu nhạy cảm.
Những khó khăn về vận chuyển, ai sẽ đưa máy bay và Nga sẽ phản ứng như thế nào là những câu hỏi lớn. Cùng với đó, nỗ lực mạo hiểm để làm vừa lòng Kiev nhưng không mang lại hiệu quả cũng là điều cần cân nhắc xứng đáng.
Lo ngại về đối đầu trực tiếp cũng là lý do tại sao phương Tây từ chối lời đề nghị của Tổng thống Volodymyr Zelensky về áp đặt vùng cấm bay trên lãnh thổ Ukraine, một bước đi có nguy cơ xảy ra đối đầu trực tiếp giữa các lực lượng phương Tây và Nga.
Tuy nhiên, cho đến lúc này, Nga cũng không cho thấy phản ứng quyết liệt trong việc ngăn dòng chảy vũ khí từ phương Tây viện trợ cho Ukraine dù biết rằng điều này sẽ ngăn cản bước tiến của chiến dịch quân sự.
Hiện tại, các đợt vận chuyển vũ khí của phương Tây chủ yếu đi qua tuyến đường bộ bí mật ở biên giới Ba Lan và Ukraine.
"Người Nga đã giấu nhẹm sự thật rằng giữa cuộc chiến, Ukraine được các nước khác cung cấp thiết bị quân sự, một bước đi mà lẽ ra luôn bị coi là thù địch trong môi trường chiến sự", Jonathan Eyal, chuyên gia tại Viện Dịch vụ Hoàng gia ở London nói với NY Times.
Moscow cũng đã làm ngơ trước tất cả thông tin về các tình nguyện viên nước ngoài tham gia vào chiến sự.
Câu hỏi là tại sao?

Dễ mà khó, khó mà dễ
Giới phân tích nhận định rằng, lý do là bởi Nga suy nghĩ rằng có những động thái của phương Tây mà nước này có thể có thể chấp nhận và không thể chấp nhận.
Hiện tại, các động thái hỗ trợ của Mỹ và đồng minh chưa phải là điều gây lo ngại, trong khi phương Tây cũng tỏ ra thấu hiểu điều đó để không làm những gì quá mức có thể gây ra nguy cơ xung đột.
Tổng thống Vladimir Putin khẳng định rõ, Nga sẽ coi bất kỳ quốc gia nào áp dụng vùng cấm bay sẽ được coi như một phần của cuộc xung - và phương Tây dường như đang lắng nghe.
Phillips O'Brien, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Đại học St. Andrews ở Scotland, cho biết các đồng minh phương Tây muốn tránh rủi ro bước vào cuộc đối đầu trực tiếp với Nga khi nỗ lực áp đặt vùng cấm bay.
"NATO và Mỹ dường như đã chấp nhận rằng có một lằn ranh lửa đỏ trực diện" giữa họ và Nga mà bản thân sẽ không vượt qua. Lằn ranh đỏ này được giữ vững, còn những lằn ranh khác có thể xóa mờ".
Tuy nhiên, vấn đề là lằn ranh đỏ có thể thay đổi theo thời gian.
Ngược lại, một lý do khiến Nga không đe dọa hoạt động cung cấp vũ khí cho Ukraine có thể là vì nước này biết rằng không thể đạt được kết quả như mong đợi. Nếu lực lượng Nga đi về phía tây và tìm cách cắt đứt các tuyến tiếp tế, nguy cơ xung đột trực tiếp giữa Nga và NATO cũng tăng lên.
Mặt khác, nếu NATO có một cuộc đối đầu trực tiếp với Nga, rất khó để biết mọi thứ sẽ đi đến đâu.
"Nga không muốn đối đầu trực tiếp với NATO vì nếu làm điều đó hoặc họ sẽ thua, hoặc họ phải lựa chọn hạt nhân", Phillips O'Brien, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Đại học St. Andrews ở Scotland nhận định.
Các nhà phân tích cho rằng khả năng Moscow sử dụng vũ khí hạt nhân là rất thấp, bất chấp việc Tổng thống Putin nhắc đi nhắc lại sự răn đe này.
Đó sẽ là một thảm họa đối với tất cả các bên và tất nhiên không giúp ích gì cho chiến dịch ở Ukraine. Ở phái bên kia, hậu quả vũ khí hạt nhân sẽ khủng khiếp đến mức Mỹ và các đồng minh không muốn chấp nhận rủi ro dù là rất nhỏ.

Đó là lý do mà cả hai bên sẽ vẫn nhìn nhau và cân nhắc lợi, hại của mỗi hành động. Mỗi bên sẽ vẫn chấp nhận các hành động của đối thủ, nếu điều đó không vượt quá lằn ranh đỏ. Mỹ sẽ không đưa quân can thiệp và Nga cũng sẽ không tấn công cắt đứt đường viện trợ vũ khí cho Ukraine./.


Yêu nước ST.

 

SUY NGHĨ VỀ THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI HIỆN NAY

        Có phải mọi sai lầm, sự xuống cấp đạo đức xã hội đều do “mặt trái của kinh tế thị trường”? Hay còn có những nguyên nhân khác bắt nguồn sâu xa từ nền tảng văn hóa đang bị lung lay, từ nhận thức chưa đúng, chưa tới tầm?

Một câu nói khá phổ biến phản ánh rất thực tâm trạng của nhiều người chúng ta: “Mong kinh tế như hôm nay, còn đạo đức trở lại như ngày xưa”. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng đó là điều có thực, như nhiều vị cao niên thường tâm sự: “Thời chiến tranh, thời bao cấp mình thiếu thốn đủ thứ, nhưng rất giàu có về lý tưởng, nhân cách, tình nghĩa, sống thanh thản chứ đâu nhiều bức xúc như thời nay”.

Nói ngắn gọn là đạo đức xã hội nước ta đang xuống cấp - điều làm mọi người không bằng lòng và thường xuyên lo ngại. Sự xuống cấp của đạo đức xã hội có thể định lượng như gần đây một số trí giả phát biểu: “Đạo đức xuống cấp ở mức đáng báo động!”, “Thực trạng xuống cấp của văn hóa, đạo đức xã hội đã ở mức độ nguy hiểm”.

Trong vòng một vài năm nay, các phương tiện truyền thông đã nêu lên khá nhiều biểu hiện “chưa từng có” so với trước đây ở xã hội chúng ta - về của sự xuống cấp đạo đức, với chiều hướng ngày càng gia tăng, mức độ ngày càng nghiêm trọng.

Trước tiên là lĩnh vực kinh tế. Nhờ vận động theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ bao năm nay, nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và an sinh xã hội, đời sống của nhân dân được cải thiện đáng kể so với trước. Nhưng sự xuống cấp về đạo đức thể hiện rất rõ trong lĩnh vực này qua những đại án hình sự và nhiều vụ án kinh tế mà nhiều người chịu sự trừng phạt của pháp luật lại nằm trong “bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”.

Đạo đức xã hội xuống cấp còn thể hiện ở những hành vi bạo lực trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ bạo lực gia đình, bạo lực học đường... đến bạo lực nơi công cộng. Có những người sẵn sàng dùng vũ khí “nóng”, vũ khí “lạnh” để giải quyết các mâu thuẫn trong mọi quan hệ giữa cha mẹ và con, anh chị em, vợ chồng, hàng xóm láng giềng, bạn bè… Nhiều trường hợp dẫn đến kết cục thật thương tâm.

Thói tham lam, ích kỷ, thói vô cảm lan rộng gây nhiều tác hại cho cộng đồng, phản lại thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Trong nền kinh tế thị trường, mọi người đều tìm cách kiếm được nhiều tiền, điều này là chính đáng, tuy nhiên một số người đã tôn sùng đồng tiền một cách mù quáng, coi “tiền là trên hết” và tìm mọi thủ đoạn để có nhiều tiền, tạo mọi điều kiện để mặt trái của đồng tiền phát huy. Khi đồng tiền lên ngôi cũng chính là lúc đạo đức xuống cấp.

Tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên, chúng ta thường cho đó là do mặt trái của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, có phải mọi sai lầm, sự xuống cấp đạo đức xã hội đều do “mặt trái” của kinh tế thị trường? Hay còn có những nguyên nhân khác bắt nguồn sâu xa từ nền tảng văn hóa đã và đang bị lung lay, từ nhận thức chưa đúng, chưa tới tầm? Điều này cần tiếp tục có sự nghiên cứu thấu đáo để đưa ra lời giải thỏa đáng - bắt đầu từ tầm vĩ mô, từ những nhà hoạch định chính sách.

Kinh tế thị trường có nhiều mặt tích cực nên phát huy, nhưng những mặt tiêu cực của nó cũng cần được nhận diện một cách khách quan và khoa học hơn nữa, để phê phán và khắc phục hữu hiệu. Điều này quả là chúng ta làm chưa tốt, không tốt, thậm chí còn có hiện tượng buông lỏng, thả nổi rất nguy hiểm. Phải thẳng thắn chỉ ra rằng, đạo đức xã hội và kinh tế chưa song hành, đạo đức xã hội chưa bắt kịp sự phát triển của kinh tế có một phần nguyên nhân là do tinh thần “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển” của Đại hội XII của Đảng chưa thực sự đi sâu vào đời sống, mặc dù nhiệm vụ xây dựng con người luôn luôn được Đảng đặt lên hàng đầu.

Khi chúng ta xác định: phải bắt đầu từ việc xây dựng con người, từ gia đình, trường học đến xã hội, thì cũng có thể hiểu: văn hóa, đạo đức trước tiên là xây dựng con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Người cũng nói: “Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một đức thì không thành người”. Vì vậy, con người mà chúng ta xây dựng là con người chính trị và đạo đức. Đồng thời, không thể không xem trọng những yếu tố khác góp phần tạo nên con người cụ thể như cá tính, sở thích, ước muốn… của họ. Thời kỳ mới, cần có hệ giá trị chuẩn mực mới về văn hóa, đạo đức cho con người. Đây là vấn đề lớn, rất lớn nhưng ta chưa làm được.

Đạo đức của con người phải là lòng yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, lao động sáng tạo, ham thích học tập, có trách nhiệm, có ý thức tổ chức kỷ luật… Phải gạt bỏ những tập tục không còn phù hợp, đồng thời trân trọng những giá trị tốt đẹp ngàn xưa đã trở thành truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc.

Các chủ thể gia đình, trường học, xã hội đều có trách nhiệm và có khả năng đóng góp vào việc củng cố đạo đức. Mỗi người trước tiên phải là một thành viên tốt trong gia đình và nhà trường, thì sau đó mới trở thành thành viên tốt của xã hội. Những đức tính tốt đẹp cần phải được thấm sâu vào tâm hồn từng người Việt từ tấm bé đến lúc trưởng thành, đó là: “Thờ cha kính mẹ”“Chị ngã em nâng”“Anh em như thể chân tay”“Trên kính dưới nhường”“Bán anh em xa mua láng giềng gần”“Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”“Một sự nhịn là chín sự lành”“Một cây làm chẳng nên non/Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”“Kính thầy yêu bạn”“Cô giáo là mẹ hiền”“Kính lão đắc thọ”“Thấy người hoạn nạn cưu mang/Thấy người già yếu lại càng chăm nom”“Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Hiện nay, chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật là tất yếu của một xã hội hiện đại, văn minh. Tuy nhiên, nền tảng đạo đức luôn luôn được coi trọng. Việc xây dựng con người Việt Nam được đặt lên hàng đầu, mà nhiều người trong xã hội trân trọng gọi là “đạo làm người”. Theo đó, con người dù là ở cương vị nào trong xã hội cũng đều phải tu dưỡng, rèn luyện để có phẩm chất tốt đẹp, có đạo đức, nếu không sẽ không làm đúng “đạo làm người”. Cán bộ và đảng viên - những người cộng sản - giữ địa vị càng cao càng cần tu dưỡng, rèn luyện nghiêm cẩn. Đảng ta đã ra Quy định số 08-QĐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Theo đó, cấp trên phải nêu gương sáng cho cấp dưới, đảng viên phải nêu gương sáng, làm mực thước cho người khác làm theo.

Làm được những điều này, chúng ta có cơ sở để tin rằng tình trạng suy thoái đạo đức hiện nay sẽ từng bước được khắc phục. Không hề dễ dàng, không thể nóng vội, nhưng phải kiên quyết, quyết liệt với sự đồng tâm nhất trí của toàn Đảng, toàn dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước pháp quyền do nhân dân làm chủ, chúng ta có cơ sở để tin rằng cái thiện sẽ thắng cái ác, cái tốt sẽ thắng cái xấu, chúng ta sẽ xây dựng thành công một xã hội đạo đức tốt đẹp cùng với nền kinh tế tăng trưởng, phát triển - một xã hội xã hội chủ nghĩa đúng nghĩa./.

 

 Một vài suy nghĩ về tư tưởng đạo đức vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng vì dân là kết tinh những giá trị nhân nghĩa của dân tộc ta trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Người không những hiểu mà còn tiếp nhận tư tưởng “dân vi bản” (dân là gốc) của Khổng Tử; Trần Quốc Tuấn với phương châm “khoan thư sức dân” để giữ nước; Nguyễn Trãi “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” đến tư tưởng vì dân của Hồ Chí Minh, giá trị nhân nghĩa đó đã thực sự trở thành nền tảng phương pháp luận trong suy nghĩ và hành động.


Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho yêu nước, nơi có truyền thống đấu tranh bất khuất, Nguyễn Sinh Cung sớm nhận được sự giáo dục tốt của gia đình, quê hương, đặc biệt chịu ảnh hưởng sâu sắc của người cha Nguyễn Sinh Sắc. Tất cả đã thôi thúc Người phải ra đi tìm một con đường mới để cứu dân, cứu nước. Ngay từ những ngày còn trẻ, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành hết sức cảm thông với nỗi thống khổ của nhân dân lao động đang sống dưới ách thống trị của bọn thực dân đế quốc. Trong bài viết lên án chế độ thực dân, tiêu biểu nhất là Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Người đã phân tích sâu sắc những chính sách và thủ đoạn của bọn thực dân, tố cáo những tội ác tày trời của chúng, vạch rõ nguồn
Quan điểm “dân là gốc” đã trở thành “lý tưởng dân chủ”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Với tư cách lãnh tụ Đảng và người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhiệm vụ của chính quyền ta và đoàn thể ta là phụng sự nhân dân” và “chịu trách nhiệm trước dân”. Phải luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Quần chúng sẽ là người kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng không, phải yêu dân, kính dân, tin dân. Từ đó Người nêu cao đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, kiên quyết tẩy sạch quan liêu mệnh lệnh. Đó là thứ bệnh mà Người đã chỉ rõ thực chất là xa nhân dân, không hiểu dân, không yêu thương dân. Với nhân dân, Người rất ân cần, gần gũi, khiêm nhường, yêu quý như người trong gia đình, đồng chí, đồng bào. Năm 1963, biết Quốc hội định tặng Huân chương Sao Vàng cho mình, Hồ Chủ tịch  xin phép chưa nhận vì “... Tổ quốc hiện đang tạm bị chia cắt... đế quốc Mỹ hiện đang tăng cường cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Đồng bào miền Nam đang bị đày đọa dưới chế độ Mỹ - Diệm”. Người xin Quốc hội “chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà... đồng bào miền Nam sẽ trao huân chương cao quý” ấy cho Người. Làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến những lợi ích của dân, Người suốt đời hy sinh vì sự nghiệp cứu dân, cứu nước.

Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đều vì dân vì nước, Người không bao giờ hưởng hạnh phúc riêng tư khi nhân dân còn đau khổ. Ngay cả khi trở thành Chủ tịch nước, Người luôn sống giản dị, cần kiệm. Nguyện vọng tha thiết của Người, ham muốn tột cùng của Người là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Theo Người “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng tư tưởng đạo đức của Người mãi mãi sưởi ấm lòng mỗi người dân Việt Nam. Những lớp đảng viên hôm nay hơn ai hết càng thấm thía hơn tư tưởng đó của Người. Người đảng viên cộng sản phải biết đau nỗi đau của dân, phải biết động lòng trắc ẩn trước cảnh nghèo đói của dân, biết gần gũi quan tâm đến từng số phận con người. Xa rời dân, sống xa hoa, hách dịch đều là sản phẩm của tư tưởng phong kiến lỗi thời và đều trái ngược với tư tưởng vì dân của Hồ Chủ tịch.

 

GẠC MA 1988 - BÀI HỌC LỊCH SỬ BẰNG MÁU

 

Sự kiện thảm sát Gạc Ma đã diễn ra 34 năm trước, nhưng bài học kinh nghiệm luôn cần được đặt ra mổ xẻ để bánh xe lịch sử không lặp lại. 

Thảm sát Gạc Ma

Ngày 14/3/1988 là một ngày đặc biệt đối với người dân Việt Nam. Đó là ngày Trung Quốc xua quân tấn công các chiến sĩ công binh của Việt Nam tại khu vực Trường Sa. Máu đã loang trên mặt biển Đông. 64 chiến sĩ của chúng ta đã mãi mãi không trở về.

Nhiều bài viết gọi đây là cuộc “hải chiến Trường Sa”. Cách gọi này hoàn toàn không đúng với bản chất của sự kiện. Bởi vì, bên Trung Quốc đã dùng hải quân trang bị vũ khí tấn công, gồm cả pháo tầm xa, còn bên ta chỉ là các chiến sĩ công binh với vũ khí bộ binh phòng vệ. Bản chất của nó phải được gọi đúng tên là một cuộc thảm sát những người lính công binh Việt Nam do lực lượng hải quân Trung Quốc gây ra.

Trung Quốc còn tàn độc hơn khi không cho phép các tàu của lực lượng chữ thập đỏ ra cứu các nạn nhân, cho dù đây luôn là thông lệ quốc tế trong chiến tranh.

Sự kiện đã diễn ra 34 năm, niềm đau thương, mất mát tưởng chừng như lắng dịu. Tuy vậy, những bài học kinh nghiệm luôn cần được đặt ra, để làm sao cho bánh xe lịch sử không lặp lại lần nữa.