Thứ Tư, 16 tháng 3, 2022

Tâm huyết của người kỹ sư anh hùng

 

“Là Bộ đội Cụ Hồ, tôi luôn mong muốn trao truyền, lan tỏa những kiến thức, kinh nghiệm cho thế hệ tương lai của gia đình và đất nước”-Anh hùng LLVT nhân dân, kỹ sư Đào Duy Cảnh chia sẻ.

Cùng bộ đội tên lửa vào chiến trường

Ngay từ khi 4 tuổi, cậu bé Đào Duy Cảnh (sinh ngày 19-8-1941) ở Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội đã mồ côi cha. Chứng kiến cảnh gia đình và làng quê bị quân Pháp đốt phá, nên khi mới hơn 10 tuổi, Đào Duy Cảnh xin được làm liên lạc cho tổ chức cách mạng ở địa phương. Năm 1953, nhận thấy tố chất của thiếu niên Đào Duy Cảnh, cán bộ đã đến nhà, động viên mẹ Cảnh là bà Nguyễn Thị Tơ-một cơ sở cách mạng của xã Cổ Loa gửi con ra vùng tự do học tập. Vậy là thoát ly gia đình, Đào Duy Cảnh lên chiến khu. Là người chịu khó, say mê học tập nên Đào Duy Cảnh từng bước rèn luyện, trưởng thành. Vừa học, Đào Duy Cảnh vừa cùng các bạn học sinh đi lao động tại mỏ than Quán Triều, Nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ... để có tiền ăn học cũng như gửi về quê đỡ mẹ. “Có lẽ do hạnh kiểm và điểm thi tốt nên tôi đã được vào học chuyên ngành vô tuyến điện tại Trường Đại học Bách khoa-niềm mơ ước của nhiều thanh niên thời bấy giờ”, ông Đào Duy Cảnh kể.

Ngày 12-7-1965, tốt nghiệp đại học, kỹ sư Đào Duy Cảnh nhập ngũ. Khoảng một tháng sau, ông được điều động về làm trợ lý xe kips đạn tên lửa thuộc Ban Kỹ thuật Trung đoàn 238 (nay thuộc Sư đoàn 363), Quân chủng Phòng không-Không quân. Cho đến bây giờ, ông Cảnh vẫn thấy tiếc nuối vì thời điểm ông được điều về Trung đoàn 238 thì đơn vị vừa kết thúc khóa huấn luyện chuyển loại tên lửa kéo dài 6 tháng do chuyên gia Liên Xô lên lớp. Lúc này, Tiểu đoàn 85 đã có 12 kỹ sư (6 kỹ sư cơ khí, 5 kỹ sư hóa và 1 kỹ sư điện), Đào Duy Cảnh là kỹ sư thứ 13, duy nhất là kỹ sư vô tuyến điện trong khi các khối của khí tài và đạn tên lửa chủ yếu là điện tử. Chính vì vậy, ông quyết tâm học tập tiến tới làm chủ vũ khí, khí tài để phục vụ chiến đấu. Và sau hơn nửa năm khổ luyện cùng sự giúp đỡ của đồng đội, ông đã cơ bản làm chủ kỹ thuật của khí tài, phát hiện và sửa chữa kịp thời hầu hết các hỏng hóc của xe.

Năm 1966, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Theo chỉ đạo của trên, Trung đoàn 238 nhận nhiệm vụ cơ động vào chiến trường Khu 4 chiến đấu bảo vệ tuyến giao thông và nghiên cứu cách đánh B-52. Cùng các đơn vị của trung đoàn, kỹ sư Đào Duy Cảnh và Tiểu đoàn 85 nhanh chóng đưa khí tài, xe máy cơ động bám sát đội hình, vừa hành quân vừa triển khai sản xuất đạn cho các đơn vị hỏa lực chiến đấu. Trên đường hành quân, xe kips do đồng chí Cảnh chỉ huy đến ngầm Cà Tang (Quảng Bình) gặp nước dâng to, cọc tiêu chỉ còn mập mờ, việc di chuyển lên phía trước của xe gặp nhiều khó khăn. Trước tình huống đó, ông đã lệnh cho đồng chí Khoán lái xe tắt đèn gầm, còn mình ra ngoài ca bin bám sát đầu xe, “xi nhan” dưới ánh pháo sáng của địch để đi, quyết đưa xe vượt qua trọng điểm an toàn. Tháng 7-1967, đạn tên lửa của Tiểu đoàn 84 bị hỏng, Trung đoàn 238 lệnh cho Tiểu đoàn 85 cử một dây chuyền kiểm tra cơ động, trong đó có kỹ sư Đào Duy Cảnh, cấp tốc cùng tổ chuyên gia Liên Xô vào hỗ trợ. Hơn một ngày làm việc, không phát hiện hỏng hóc, chuyên gia đề nghị đóng máy trở ra Hà Nội xin chi viện của quân chủng. Lúc này, mang tâm trạng lo ngại nếu chờ chuyên gia quân chủng tăng cường thì không biết lúc nào mới đến được, trong khi các đơn vị hỏa lực đang rất cần đạn chiến đấu, Đào Duy Cảnh mạnh dạn đề nghị cấp trên cho phép tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân hỏng hóc trong khi chờ đợi. Được sự đồng ý của chỉ huy các cấp cùng sự hỗ trợ của đồng đội, trải qua 56 giờ không nghỉ, kỹ sư Đào Duy Cảnh đã phân tích hoạt động liên quan giữa xe kips và đạn cùng sự phản hồi giữa đạn và xe kips. Ông đã tìm ra vị trí hỏng nên khí tài và đạn tên lửa được sửa chữa sớm, kịp thời cung cấp cho các đơn vị hỏa lực. 3 trong số đạn tên lửa được sửa chữa lần ấy đã đi vào lịch sử khi lần đầu tiên bộ đội tên lửa Việt Nam bắn rơi máy bay B-52 trên bầu trời Vĩnh Linh ngày 17-9-1967...

Khát vọng trao truyền

Năm 1967, được tin quê nhà bị máy bay Mỹ đánh phá, từ chiến trường, Đào Duy Cảnh gửi về xã Cổ Loa 6 tháng lương cơ bản cấp thiếu úy cùng 20% phụ cấp khu vực chiến trường của mình làm phần thưởng cho các em học sinh. Ông mong các em học hành thật tốt, sau này nối tiếp truyền thống cha anh xây dựng, bảo vệ quê hương. Còn bản thân ở đơn vị, ông vẫn miệt mài với những công việc hằng ngày của mình, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ trên giao với nhiều hành động “táo bạo”. Ví như lần cơ động xe kips ra Hà Nội theo chế độ định kỳ do các chuyên gia Liên Xô đưa phòng thí nghiệm sang kiểm tra, hiệu chỉnh. Sau khi qua Ngã ba Đồng Lộc chừng 1km, do đường hẹp, bánh xe phía sau, bên phải tụt xuống mép cống, kẹt lại khi trời vừa rạng sáng. Để bảo đảm an toàn cho khí tài, tránh địch phát hiện, ông nhanh chóng tổ chức ngụy trang xe, đồng thời quyết định tháo toàn bộ các tủ, khối của khí tài gửi nhờ nhà dân, đề phòng trường hợp nếu bị địch tập kích thì chỉ hỏng vỏ xe. Sau đó, ông cùng đồng đội chia các ngả đi vận động chính quyền và các cơ quan chức năng giúp đỡ, nhất định không để lật xe, bảo vệ bằng được khí tài quý hiếm. Gần một ngày mệt và đói lả, rất may, khi mặt trời dần khuất núi cũng là lúc xe xích và lực lượng cứu hộ tới, kéo xe kips lên an toàn. Trên đường hành quân ra Bắc, nhiều lần gặp máy bay địch đánh phá, mặc dù bị sức ép bom, bị thương ở chân trái nhưng với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, kỹ sư Đào Duy Cảnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đưa khí tài về bàn giao xong mới đi điều trị vết thương...

25 năm quân ngũ, trải qua nhiều cương vị khác nhau, ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, được đồng đội đánh giá là con người ham học, say mê công tác, điềm đạm, có lối sống hòa đồng, thân thiện. Đến tháng 8-1990, Trung tá Đào Duy Cảnh, cán bộ Phòng Kế hoạch tổng hợp, Văn phòng Bộ Quốc phòng được nghỉ theo chế độ. Về với cuộc sống đời thường, ông tích cực tham gia các hoạt động tại địa phương, tham gia cấp ủy liên tục hơn 20 năm. Cùng Ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 238, ông thường xuyên tổ chức các chuyến đi thăm lại chiến trường xưa, cũng như động viên, chia sẻ với các đồng đội có hoàn cảnh khó khăn. Không phải bận rộn như khi còn trong quân ngũ, ông đã thành lập và là Chi hội trưởng Chi hội Lịch sử họ Đào Việt Nam, biên chế tại Văn phòng Trung ương Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Ông cũng thành lập và là Chi hội trưởng Chi hội Đào Cam Mộc thuộc Hội Di sản văn hóa Thăng Long-Hà Nội, hai lần được Trung ương Hội Di sản tặng bằng khen và kỷ niệm chương. Chia sẻ với chúng tôi, ông cho biết, nhiều năm trước khi sức khỏe còn tốt, ông thường đi điền dã, sưu tầm thông tin từ nhiều nguồn, tập hợp thành tài liệu tham khảo và viết sách, báo. Đến nay, ông đã có hơn 20 bài báo về danh nhân Cổ Loa họ Đào được đăng tải trên các báo, tạp chí. 

Hồi tưởng về những năm tháng tuổi trẻ, ông Đào Duy Cảnh cho biết, ông cũng như lớp thanh niên ngày ấy, bước vào cuộc kháng chiến của dân tộc, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương máu, đem sức lực, trí tuệ của mình hiến dâng cho độc lập của Tổ quốc. Còn chúng tôi, sau nhiều lần gặp gỡ, trò chuyện với ông đều cảm nhận thấy sự đôn hậu, khiêm tốn của một người lính trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến với sự khâm phục sâu sắc. Kỹ sư Đào Duy Cảnh thực sự là một trong những điển hình tiêu biểu cho lớp trí thức trẻ những năm 60 của thế kỷ trước. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, năm 2018, ông được Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, toàn bộ số tiền thưởng đi kèm danh hiệu này cùng với số tiền tiết kiệm hằng tháng, ông dành để vào dịp Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7) gửi những món quà thăm hỏi, tỏ lòng biết ơn tới gia đình và người có công với đất nước ở địa phương nơi cư trú, cùng với hai xã quê hương...

nguồn báo QĐND

Khắc phục biểu hiện “mệnh lệnh hóa” trong quản lý bộ đội

 

Sau khi Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (Nghị quyết 847), chúng tôi có cuộc trao đổi với Trung tướng Nguyễn Mạnh Hùng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Tổng cục Công nghiệp quốc phòng.

Bày tỏ tâm đắc với các nội dung Nghị quyết 847 đề cập, Trung tướng Nguyễn Mạnh Hùng tâm sự nhiều về tình đồng chí, đồng đội và cần chống những biểu hiện “mệnh lệnh hóa” trong quản lý bộ đội, coi trọng “mệnh lệnh không lời”, bởi tình đồng chí, đoàn kết keo sơn là nét văn hóa đặc trưng, rất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. 

Phóng viên (PV): Gần 40 năm làm lãnh đạo, chỉ huy các cấp, từng là Chính ủy Quân khu 3 trước khi về công tác tại Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, đồng chí tâm đắc nhất điều gì khi nghiên cứu Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương?

Trung tướng Nguyễn Mạnh Hùng: Việc Quân ủy Trung ương ban hành nghị quyết về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới là rất ý nghĩa và hết sức cần thiết. Nếu cán bộ, chiến sĩ ghi nhớ và tự giác phấn đấu thực hiện đầy đủ 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và tránh 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Nghị quyết 847 đã nêu thì thực sự xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ cao quý.

Tuy nhiên, điều tôi đặc biệt tâm đắc, thấm thía là Nghị quyết 847 nhiều lần đề cập tới tình đồng chí, đồng đội, cả trực tiếp và gián tiếp trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cần phải tiếp tục gìn giữ, phát huy và các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cần phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, cũng như quan điểm chỉ đạo và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện nghị quyết này.

Rõ nhất là ở đặc trưng thứ 5: “Chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt...”; đồng thời phải chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân như: Háo danh, tự cao tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy; quan liêu, thiếu sâu sát hay thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội...

PV: Vì sao việc chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội lại khiến đồng chí tâm đắc, thấm thía nhất?

Trung tướng Nguyễn Mạnh Hùng: Theo tôi, đây chính là nét đặc trưng nhất, điểm căn bản khác biệt của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam với quân đội các nước tư bản, tạo nên sức mạnh đoàn kết vô địch của Quân đội ta, đồng thời đó cũng là phẩm chất cốt lõi của Bộ đội Cụ Hồ, được nhân dân vô cùng quý trọng.

Từ xưa, ông cha ta đã có truyền thống “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” để tạo sức mạnh đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam đã kế tục xứng đáng và không ngừng phát huy truyền thống cao đẹp đó. Thực tế cho thấy, người dân nói đến QĐND Việt Nam là nói đến tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, sự đoàn kết, thống nhất vạn người như một để vượt qua mọi gian khổ, thách thức, hiểm nguy... Vì thế, rất nhiều người Việt Nam thuộc và thích bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu, đã được nhạc sĩ Minh Quốc phổ nhạc thành bài hát “Tình đồng chí”. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất viết về Bộ đội Cụ Hồ với những câu thơ vô cùng xúc động, sống mãi với thời gian.

Theo chủ quan của tôi, tình đồng chí, đồng đội keo sơn không chỉ là yếu tố cơ bản nhất tạo sự đoàn kết, thống nhất một lòng để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hiểm nguy, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, mà suy cho cùng đó chính là yếu tố sâu xa, căn cốt quyết định các phẩm chất, đặc trưng khác của Bộ đội Cụ Hồ, quyết định sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta, quyết định cả hiệu quả đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Tôi nghĩ, chỉ có tình đồng chí, đồng đội thực sự chân thành thì chúng ta mới góp ý, phê bình, giúp nhau cùng tiến bộ được. Ngược lại, nếu người cán bộ nào không coi trọng tình đồng chí, đồng đội, xa rời nét văn hóa đặc trưng, rất cao đẹp đó của Bộ đội Cụ Hồ thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể quản lý, chỉ huy đơn vị tốt, khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Từ đó, chúng ta cần phải chú ý phê phán, đấu tranh với những biểu hiện vì cái tôi cá nhân, thậm chí chỉ vì thích oai mà dẫn đến độc đoán, quân phiệt, nguyên nhân gây mất đoàn kết; đặc biệt là hiện tượng “mệnh lệnh hóa” trong quản lý bộ đội vẫn khá phổ biến hiện nay, chủ yếu ở cán bộ cấp phân đội.    

nguồn báo QĐND

Văn học, nghệ thuật góp phần xây dựng bản lĩnh và nhân cách Bộ đội Cụ Hồ

 

Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là kết tinh những giá trị văn hóa cao đẹp của dân tộc và nhân loại, tiêu biểu là bản lĩnh và nhân cách của người chiến sĩ cách mạng được hình thành, bồi đắp, trui rèn qua nhiều giai đoạn với nhiều yếu tố và động lực, trong đó có vai trò quan trọng của văn học, nghệ thuật (VHNT).

Khẳng định những giá trị đó, đồng thời đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”, ngày 16-3, tại Hà Nội, Báo Quân đội nhân dân (QĐND) tổ chức tọa đàm với chủ đề “Văn học, nghệ thuật góp phần xây dựng bản lĩnh và nhân cách Bộ đội Cụ Hồ”.

Tọa đàm thu hút sự quan tâm, tham gia của gần 20 đại biểu là các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ có uy tín, tài năng trong giới văn chương, nghệ thuật Việt Nam, như: GS, TS, Đại tá Đinh Xuân Dũng, nguyên Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, phê bình VHNT Trung ương; GS Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học; PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình VHNT Trung ương; TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; PGS, TS Phan Trọng Thưởng; nhà văn Ngô Vĩnh Bình; PGS, TS Nguyễn Thanh Tú; nhà thơ Nguyễn Đức Mậu; nhà thơ Trần Anh Thái; nhà văn Ngô Thảo...

Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ, Tổng biên tập Báo QĐND chủ trì tọa đàm.

Phát biểu khai mạc, Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ bày tỏ trân trọng, biết ơn các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ đã quan tâm, tham gia tọa đàm. Sự có mặt của các đại biểu là cơ hội để cán bộ, phóng viên của Báo QĐND thêm tự hào, tự tin. Tự hào bởi ngày đầu năm mới, tờ báo của những người lính được đón các đại biểu là những người nổi tiếng trong giới văn chương, nghệ thuật, những sứ giả văn hóa của nước nhà cùng bàn thảo những vấn đề rất nhân bản và cũng rất thời sự của đất nước. Tự tin với sự góp mặt của các đại biểu khẳng định tọa đàm hết sức có ý nghĩa, giá trị và thành công tốt đẹp. Thật xúc động là tâm huyết của PGS, TS Lưu Khánh Thơ với tình cảm trân quý Báo QĐND và đánh giá cao chủ đề tọa đàm, mặc dù sức khỏe còn yếu do vừa qua cơn bạo bệnh, nhưng bà đã đến từ rất sớm, chỉ để kịp gửi bản tham luận tới ban tổ chức rồi cáo từ, tiếp tục vào bệnh viện điều trị. Còn GS, TS Đinh Xuân Dũng vừa trải qua ca phẫu thuật, vết mổ chưa lành nhưng cũng đã có mặt để nói lên những suy nghĩ của mình về những phẩm chất, giá trị cốt lõi Bộ đội Cụ Hồ. Các đại biểu đã rất cảm động khi GS Phong Lê tuổi đã cao, sức khỏe không được tốt, nhưng rất quan tâm đến đề tài tọa đàm nên đã tới dự và phát biểu ý kiến rất tâm huyết.

Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ nhấn mạnh, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ là hình ảnh đẹp đẽ nhất, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho VHNT: “Trong lớp lớp thanh niên được tiếp cận với VHNT về Bộ đội Cụ Hồ, chính bản thân tôi cũng cảm thấy mình được lớn lên, trưởng thành, vững vàng bởi được học, được đọc về VHNT nói chung và về hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ nói riêng. VHNT viết về Bộ đội Cụ Hồ chính là “thang thuốc bổ” của cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng bản lĩnh và nhân cách Bộ đội Cụ Hồ”.

Lịch sử truyền thống QĐND Việt Nam là minh chứng sống động về “VHNT góp phần xây dựng bản lĩnh và nhân cách Bộ đội Cụ Hồ”. GS, TS Đinh Xuân Dũng khẳng định, VHNT bằng những sáng tạo và sức mạnh của mình đã “chuyên chở” hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ vượt không gian, thời gian để sống mãi trong lòng các thế hệ đã qua, hôm nay và mai sau. Ông lấy một dẫn chứng nhỏ nhưng vô cùng sinh động của sức lan tỏa, qua bốn câu thơ trong bài “Núi Đôi” của Vũ Cao: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm”, để lại một hình ảnh tuyệt đẹp về Bộ đội Cụ Hồ và một tình yêu bất tử. Không chỉ tạo sức lan tỏa hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, bằng những sáng tác xuất sắc, độc đáo với nhiệt huyết và cảm hứng của người trong cuộc, “người cùng cầm vũ khí”, nhiều tác phẩm VHNT đã có sức cổ vũ to lớn và vẫy gọi thiết tha người lính vươn tới, đạt tới cái đẹp, cái anh hùng trong cuộc đời binh nghiệp vô cùng gian khổ, hy sinh. Trong ba lô của người lính thường có những bài thơ, bản nhạc, truyện ngắn và tiểu thuyết như một gia tài tinh thần quý giá.

nguồn báo QĐND

Hòa Bình _ Gía trị từ mỗi góc nhìn. Ba255

 "Lịch sử của Việt Nam được viết bởi những cuộc chiến tranh và những chiến thắng. Đó là một nỗi niềm tự hào mà không phải dân tộc nào cũng có được, nhưng bên cạnh niềm tự hào thì còn những mất mát. Một thế hệ chiến thắng cũng chính là một thế hệ phải nếm trải đủ những đau thương." Nhìn từ xung đột Ukraine - Nga, tôi càng thêm khâm phục những gì mà cha ông ta đã làm được hồi trước. Không chấp nhận là một quốc gia thuộc địa, họ kiên cường đấu tranh trong bao nhiêu năm tháng. Họ thành lập quân đội, thành lập Việt Minh, đứng lên chống Pháp và Nhật. Họ đấu tranh bền bỉ, họ đánh Pháp ở Điện Biên Phủ. Họ khiến Pháp phải kí Hiệp định Genève qua đó Pháp phải rút quân khỏi Việt Nam và chấm dứt chế độ thực dân cho toàn cõi Đông Dương. Nhưng một lần nữa, lịch sử lại thử thách họ và đất nước “chia đôi”. Nhưng cuộc chiến lần này nhiều máu và nước mắt hơn. Và họ lại tiếp tục chiến đấu, hết lớp người này đến lớp người khác. Họ chiến đấu ở Quảng Trị, ở Củ Chi, ở Bến Tre, ở Trường Sơn… họ chống lại “những vũ khí hiện đại nhất thế giới lúc ấy” - trừ bom hạt nhân. Họ bắn rụng B52 - chiếc máy bay “vô đối” và không thể bị bắn hạ bấy giờ. Rồi một hiệp định nữa ra đời, người Mỹ phải rút quân và ngừng can thiệp vào Việt Nam. Đến mùa Xuân 1975, cuối cùng thì lãnh thổ Việt Nam thống nhất, họ nghĩ rằng đây sẽ là cuộc chiến cuối cùng của họ. Nhưng chỉ ít lâu sau, một chế độ diệt chủng ra đời, hàng ngàn người ở Ba Chúc bị thảm sát, biên giới Tây Nam bị đe dọa. Họ đưa những bằng chứng xác thực ra quốc tế nhưng không mấy ai quan tâm và một lần nữa, họ lại phải cầm súng. Và ở phía Bắc, những người đã-từng-là-đồng-chí tấn công Việt Nam, họ phải đối đầu với 2 kẻ địch một lúc. Kinh tế đi lùi mấy mươi năm, vừa phải chiến đấu, vừa phải chịu cấm vận, vừa phải chịu điều tiếng... Thật may là những điều trên đã là quá khứ. Nhưng hòa bình vẫn mới chỉ hơn 30 năm mà thôi, bằng khoảng ⅓ quãng thời gian chiến tranh ngày trước. Có một đoạn hội thoại không rõ thực hư rằng: Có sợ không? - Sợ. Nhưng tại sao sợ mà vẫn đánh? - Sợ mất nước. Đó là vì sao mà tôi ghét sự xét lại lịch sử, ghét những luồng tư tưởng “đa chiều” nhưng chỉ toàn là “chiều phía bên kia”. Cách đây ít năm, lần đầu tiên được xem đoạn clip về những người lính Hồng quân Ukraine bị lứa trẻ tạt nước và chửi bới, mình đã nghĩ rằng liệu những điều này liệu có xảy ra trong tương lai ở Việt Nam hay không? Nhìn về chiến tranh, để biết giá trị của hòa bình, nhìn về quá khứ để phát triển tương lai. Hãy nhìn về nước bạn, như Ukraine, Yemen, Syria… đã và đang trong vòng chiến để biết rằng cách đây nhiều năm, người nước ngoài nhìn về Việt Nam cũng như vậy. Đến nay, nhiều người nước ngoài vẫn nghĩ rằng Việt Nam vẫn còn chiến tranh, bạo lực, xung đột… Sau chiến tranh thì sẽ là hòa bình. Nhưng có một nghịch lý là, phần lớn những người đã chiến đấu trong chiến tranh lại sẽ không thấy được hòa bình. Và phần lớn những người sống trong hòa bình lại không biết được chiến tranh ác liệt, dã man như thế nào. Phim ảnh, báo chí hay những thước phim chưa bao giờ mô tả được hết những gì đã diễn ra. Những người đã chiến đấu hết mình bằng tình yêu Tổ Quốc và niềm tin vào tương lai độc lập. Còn những người đang sống trong hòa bình, hãy kế thừa niềm tin đó và giữ vững giá trị của hòa bình.

Trong hoàn cảnh nào cũng phải bảo đảm độc lập, tự chủ và cân đối về năng lượng

  Chiều 16-3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc làm việc với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) về tình hình sản xuất, kinh doanh (SXKD) năm 2021 và kế hoạch SXKD năm 2022.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chia sẻ với rất nhiều khó khăn, thách thức của tập đoàn, trong đó có những vấn đề có thể giải quyết được ngay, nhưng cũng có những khó khăn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thể chế, cơ chế, chính sách và liên quan tới nước ngoài. Chính phủ sẽ tập trung cùng với PVN và các bộ, ngành, cơ quan liên quan giải quyết một cách tích cực nhất, phân loại, lựa chọn các vấn đề trọng tâm, trọng điểm, có ảnh hưởng lớn, dễ làm trước, khó làm sau; trên cơ sở giữ đúng nguyên tắc, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phù hợp tình hình cụ thể và mang lại hiệu quả cao.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ qua các thời kỳ đều rất quan tâm tới PVN để tập đoàn phát triển ổn định, lành mạnh và ngày càng có hiệu quả. Trong những tháng qua, lãnh đạo Chính phủ đã có nhiều cuộc làm việc với PVN về nhiều vấn đề khác nhau như xử lý các vấn đề tồn đọng liên quan tới Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và các vấn đề năng lượng khác...

Thủ tướng Chính phủ nêu rõ, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ để góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Vì vậy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải bảo đảm độc lập, tự chủ và cân đối về năng lượng, không phụ thuộc vào bên ngoài, đáp ứng nhu cầu SXKD, quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội...

PVN phải nhanh chóng thích ứng tình hình và linh hoạt xử lý các vấn đề cụ thể thuộc chức năng, thẩm quyền, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, bảo đảm cân đối lớn về năng lượng; chủ động đẩy mạnh khai thác, tập trung lực lượng, lãnh đạo, chỉ đạo, tận dụng tối đa tất cả những gì thuận lợi nhất hiện nay để hóa giải những khó khăn, thách thức. Phải nắm chắc tình hình, vừa xử lý các vấn đề cụ thể, thường xuyên, vừa chuẩn bị cho vấn đề lâu dài và vấn đề đột xuất, bất ngờ có thể xảy ra. Về lâu dài, phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chiến lược phát triển năng lượng, chiến lược phát triển ngành dầu khí; đồng thời có kịch bản cho các vấn đề tình thế, đột xuất, bất ngờ.

Thủ tướng đề nghị PVN cũng như các ngành, cơ quan liên quan tập trung đánh giá đúng tình hình, phân tích rõ nguyên nhân, đề xuất giải pháp, lộ trình xử lý, đặc biệt là tập trung giải quyết vấn đề liên quan đến Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn.

Thủ tướng cho biết, thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt và việc xử lý các vấn đề liên quan tới Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đang được triển khai tích cực, đạt kết quả; cần tiếp tục rút kinh nghiệm, phát huy cách làm tại dự án này để giải quyết các vấn đề tại các dự án khác.

Thủ tướng đề nghị PVN cùng tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch điện VIII trên tinh thần không vì lợi ích cục bộ của ngành, đơn vị, mà tất cả vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thủ tướng yêu cầu PVN cùng các cơ quan liên quan nắm chắc tình hình, phối hợp chặt chẽ trong việc bảo đảm quốc phòng, an ninh, trong đó có an ninh kinh tế; kiên định các nguyên tắc bất di bất dịch như giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nhưng linh hoạt, phù hợp với tình hình cụ thể; tính toán, cân nhắc việc gì tốt nhất cho đất nước thì làm, kết hợp hài hòa, hợp lý, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh, kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống người dân...

nguồn báo QĐND

VÒNG TRÒN BẤT TỬ . (K08.10)

“Gạc Ma ơi! 34 năm, 64 liệt sỹ

Ngã xuống rồi còn nắm chặt tay nhau

Vững lời thề hóa vòng tròn bất tử

Nơi các anh nằm nước biển mất màu xanh.

Xin gửi vòng hoa đỏ đến các anh

Những anh hùng hy sinh vì Tổ quốc

Những nỗi đau không gì đo đếm được

64 người mẹ khóc tiễn đưa con!

Tháng năm trôi nhưng lịch sử mãi còn

Các anh đứng vững những tượng đài bất tử

Dẫu biển Đông còn ngàn con sóng dữ

Nhưng vững bền mãi mãi, Việt Nam tôi!”

Tinh giản biên chế phải gắn với rà soát chức năng, nhiệm vụ

 

Ngày 16-3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Ban chỉ đạo (BCĐ) Trung ương về quản lý biên chế tổ chức Hội nghị lần thứ hai.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng BCĐ Trung ương về quản lý biên chế, chủ trì hội nghị. Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực BCĐ cùng dự.

Tại hội nghị, các đại biểu nghe tóm tắt kết quả công tác quản lý biên chế cán bộ, công chức, viên chức của hệ thống chính trị giai đoạn 2016-2021; trao đổi, thảo luận đề xuất biên chế giai đoạn 2022-2026, làm cơ sở tham mưu cho Bộ Chính trị ban hành quyết định tổng biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022-2026.

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Võ Văn Thưởng khẳng định, công tác quản lý biên chế, thực hiện tinh giản biên chế và xây dựng vị trí việc làm là những vấn đề lớn, hết sức hệ trọng, đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị cao, phải căn cứ và bám sát các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. 

Đồng chí Võ Văn Thưởng yêu cầu, nhiệm vụ tinh giản biên chế phải gắn với rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; hoàn thiện xây dựng vị trí việc làm, cải cách tiền lương, cải cách hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền trong công tác quản lý biên chế, trong đó tăng thẩm quyền và bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong quản lý biên chế ở địa phương. BCĐ cần khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản để trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định.

 nguồn báo QĐND

KÝ ỨC NGƯỜI CHIẾN SĨ GẠC MA (K08.10)


Ông Trần Thiên Phụng (trú tại Đông Hà, Quảng Trị), một trong 9 chiến sĩ sống sót trở về sau trận hải chiến Gạc Ma, không thể nào quên sự kiện ngày 14-3-1988. Ký ức về ngày 14-3 bi thương và kiêu hùng ấy không bao giờ phai nhạt trong trái tim ông. Ông bảo cuộc đời còn lại của ông bây giờ là ký ức về đồng đội, về Gạc Ma. Càng bi thương thì càng không được phép lãng quên.

Ngày 17-3-1987, ông Phụng lên đường tòng quân, nhập ngũ Trung đoàn Công binh 83 Hải quân (nay là Lữ đoàn Công binh 83 Hải quân). Gần một năm sau, ông cùng đồng đội xuống tàu HQ604 hành quân ra đảo Gạc Ma, thực hiện nhiệm vụ xây đảo. Sau 3 ngày đêm, chiều tối 13/3/1988, tàu HQ604 đến vùng biển cụm đảo Sinh Tồn. "Rạng sáng 14/3/1988, chúng tôi được lệnh tiếp cận đảo Gạc Ma, dựng cờ Tổ quốc khẳng định chủ quyền và thực hiện xây đảo thì bất ngờ có 3 tàu của Trung Quốc chạy tới vây ráp. Liền sau đó, lính Trung Quốc nổ súng bắn vào tàu HQ604 và bắn vào đảo Gạc Ma. Các chiến sĩ trên đảo Gạc Ma hy sinh, chìm vào biển nước" - ông Phụng nhớ lại.

Ông Phụng cho biết thêm khi chiếm đảo Gạc Ma, lính Trung Quốc bắn phá làm chìm tàu HQ604. Lính Trung Quốc đứng trên tàu nhìn thấy các chiến sĩ của ta bơi sát mép tàu bèn dùng câu liêm xiên hoặc móc vào thịt dìm đến chết. Ông Phụng bị thương phần tay, máu đầm đìa. Ông cố bám vào khúc gỗ, thả trôi tự do trên biển, nhiều giờ sau đó thì bị bắt, đưa về bán đảo Lôi Châu (Trung Quốc). Mãi đến ngày 2/9/1991, ông cùng 8 đồng đội bị bắt giữ được trả tự do.

Thi thể 64 đồng đội ông ngã xuống và hòa vào biển mặn Gạc Ma 34 năm qua chưa được vớt lên là nỗi đau không dứt. Vì lẽ đó mà hằng năm, cứ đến dịp 14-3, ông và các đồng đội còn sống sót tề tựu về Khu Tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma (huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa) - nơi linh hồn của 64 liệt sĩ Gạc Ma yên nghỉ vĩnh hằng - để tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh.

 

CÒN MÃI TINH THẦN VÀ KHÍ PHÁCH GẠC MA (K10.80)

Kỷ niệm 34 năm cuộc chiến bảo vệ chủ quyền ở Gạc Ma 14/3/1988 – 14/3/2022).

34 năm đi qua, sóng biển có thể đã xóa nhòa mọi dấu vết nhưng không thể xóa được ký ức bi tráng của người dân Việt Nam, về những con người quả cảm mà sự hy sinh của họ được dựng thành những tượng đài bất tử về tình yêu Tổ quốc. Tinh thần chiến đấu của các anh là một dấu son trong lịch sử dân tộc mà thế hệ hôm nay và mai sau phải khắc cốt ghi tâm.

34 năm trước, vào ngày 14/3/1988, 64 người lính bảo vệ đảo Gạc Ma, trong cuộc chiến không cân sức, một bên chỉ có cuốc xẻng, súng AK giữa mênh mông biển khơi, một bên là tàu lớn, đại bác và súng máy, đã vĩnh viễn nằm xuống dưới làn mưa đạn. 64 người lính đã tỏ rõ lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân. Trong giờ phút sinh tử, giữa họng súng quân thù, các chiến sĩ đã nắm chặt tay nhau tạo thành vòng tròn bảo vệ lá cờ Tổ quốc. Họ dặn nhau “Không được lùi bước. Phải để cho máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc và truyền thống vinh quang của Quân chủng” (câu nói của Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Phương). Câu nói ấy không chỉ thể hiện khí phách anh hùng, mà còn là tư thế của người làm chủ thực sự biển đảo dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là một tuyên ngôn bất tử về Trường Sa - tuyên ngôn của thế hệ trẻ hôm nay không sợ hy sinh, gian khổ, quyết đem cả tính mạng của mình bảo vệ từng tấc đất, sải sóng thiêng liêng của Tổ quốc.

Thời gian có dài bao nhiêu, lịch sử có đổi thay thế nào, thì cuộc chiến đấu tự vệ và bảo vệ Trường Sa của Hải quân nhân dân Việt Nam năm 1988 vẫn thức tỉnh trái tim người Việt về nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Nhớ lại sự kiện Gạc Ma không chỉ là thể hiện lòng biết ơn trước sự hy sinh anh dũng của 64 chiến sĩ hải quân cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc mà tấm gương của những anh hùng liệt sĩ ấy còn là bài học lịch sử bằng máu không bao giờ được lãng quên./.

 

 

BẢO VỆ NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA LÊNIN

Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới. Kiên quyết bảo vệ “hòn đá tảng” của học thuyết mác-xít về hình thái kinh tế-xã hội Bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác trong tình hình hiện nay Vì vậy, bảo vệ những giá trị cơ bản của chủ nghĩa Lênin cũng là bảo vệ những giá trị, nền tảng căn cốt của chủ nghĩa Mác. Lênin vận dụng trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Giống như C.Mác và Ph.Ăng-ghen trong thế kỷ 19, V.I.Lênin xuất hiện trong thế kỷ 20 với tư cách là một nhà bác học vĩ đại nhất trong cách mạng và thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong khoa học; là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20. Chủ nghĩa Lênin trở thành cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và là kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trên thế giới. Lênin là người kế tục trung thành, bảo vệ và phát triển sáng tạo các học thuyết khoa học, cách mạng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Bolshevik (b) và nhân dân Nga làm cuộc cách mạng long trời lở đất, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột người; giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và cách mạng vô sản (CMVS) trên phạm vi toàn thế giới. Với việc bảo vệ và phát triển sáng tạo cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác trước sự tấn công từ nhiều phía của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị, Lênin đã bổ sung, phát triển toàn diện, đồng bộ cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học với hệ thống luận điểm mới, sáng tạo; nâng tầm cao thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của cuộc CMVS trong giai đoạn CNTB độc quyền chuyển thành chủ nghĩa đế quốc-đêm trước của CMVS. Sự cống hiến vĩ đại của Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác sống động hơn, trở thành hệ thống lý luận hoàn bị nhất, chắc chắn nhất, trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” để giai cấp công nhân nhận thức và cải tạo thế giới. Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Lênin được coi là sản phẩm phát triển chín muồi của chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, là sự hội tụ, kết tinh, liên tục đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững hệ tư tưởng vô sản, khẳng định sự tất thắng của mục tiêu, con đường đi tới CNXH của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại cách mạng XHCN. Lênin đã nâng tầm cao uy tín, vị thế, giá trị và ý nghĩa lý luận-thực tiễn của chủ nghĩa Mác; nêu tấm gương mẫu mực về sự trung thành, đổi mới sáng tạo trong kế thừa, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới. Lênin coi chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở, bởi ông cho rằng lý luận của C.Mác mới chỉ đặt nền móng cho một bộ môn khoa học mà những người cộng sản cần phải phát triển hơn nữa, nếu không muốn trở thành lạc hậu và bị cuộc sống đào thải. Sự thống nhất biện chứng về quan điểm, lập trường thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giữa chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin đã gắn chặt tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của các ông với giai cấp công nhân, với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp-xã hội XHCN. Vì lẽ đó, chủ nghĩa Lênin được coi là chủ nghĩa Mác trong thời đại mới-thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và CMVS trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa Mác đã được tiếp nối bằng sức sống đầy sinh khí của chủ nghĩa Lênin trên cơ sở thống nhất biện chứng giữa lập trường, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Vì vậy, chủ nghĩa Lênin chính thức trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin - nguồn năng lượng dồi dào, động lực mới tạo nên sức mạnh vô địch và là cấu phần rất quan trọng trong nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản. Trong chiều sâu của sợi dây chuyền ấy, người có công kết nối, xây dựng, tạo nên tượng đài dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới là Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Với linh hồn sống động của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng duy vật và giá trị nhân văn sâu sắc, Lênin đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa trung thành và sáng tạo, bảo vệ và phát triển, lý luận và thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản. Quan điểm của Lênin về cách mạng XHCN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vạch ra con đường đi tới với triển vọng thắng lợi của CMVS ở một số nước, thậm chí ở một nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống mọi loại kẻ thù. Để cách mạng thắng lợi hoàn toàn, Lênin yêu cầu phải bảo đảm quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân, đứng đầu là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất là Đảng Cộng sản. Cùng với đó, phải xây dựng khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc vững chắc; kiên quyết thực hiện chuyên chính vô sản; ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội; làm cho CNXH ngày càng nhiều hơn, dân chủ nhiều hơn. Chìa khóa để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng XHCN là sự giác ngộ và làm chủ vận mệnh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng và sử dụng hiệu quả tầng lớp trí thức XHCN.

“Tưởng” thế là... sai rồi!!!

Thấy nhà hàng xóm có tiếng trò chuyện rôm rả, tôi hé cửa nghe và nhận ra tiếng bác Minh chủ nhà đang khoe với khách: “Tối qua tôi vừa xuống thăm, động viên thằng cháu họ chuẩn bị lên nhập ngũ, thấy cu cậu phấn khởi lắm. Thật xứng đáng với truyền thống gia đình có ông nội, rồi bố cu cậu trước đây từng viết đơn tình nguyện đi bộ đội”. Tiếp lời bác Minh là giọng khàn khàn của một vị khách: “Ôi dào! Hào hứng, phấn khởi gì. Vào đấy lại bị lính cũ nó đánh cho, rồi mang tật về nhà, lúc ấy mới hiểu. Giờ cứ lính mới vào đơn vị là bị “làm luật” hết!”. Khách nói chưa hết câu, bác Minh đã nghiêm giọng: “Mới đầu năm ông đã nói gở. Quân đội có kỷ luật nghiêm minh, làm gì có chuyện cứ lính mới vào là bị đánh? Tôi dặn cháu rồi, vào đơn vị phải tự giác chấp hành nghiêm điều lệnh, kỷ luật, quy định, mệnh lệnh, chỉ thị của lãnh đạo, chỉ huy. Với anh em đồng chí, đồng đội, phải chan hòa, thân thiện, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội là trường học lớn cho mọi người học tập, rèn luyện. Ông đừng suy nghĩ méo mó, để các thế lực thù địch làm vẩn đục suy nghĩ như thế!”. Bị phản bác, vị khách kia vẫn chưa chịu dừng lại, giọng khàn khàn lại tiếp tục cất lên: “Ông thì toàn lý thuyết hão, chẳng chịu đọc mạng gì cả. Tôi nói có sách, mách có chứng nhé! Ông có nhớ mấy vụ rùm beng trên mạng vì tình trạng “ma cũ bắt nạt ma mới” không? Có cần tôi tìm lại bài viết trên mạng cho ông đọc không?...”. Thấy vị khách ngoan cố, muốn tranh luận đến cùng, ông Minh bình tĩnh nhấp ngụm trà rồi hạ giọng, nhẹ nhàng phân tích: "Chuyện các chiến sĩ có va chạm với nhau là có, tôi không phủ nhận. Trong môi trường tập thể đông người, đến từ các vùng, miền khác nhau, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau nên xung đột, một vài mâu thuẫn, xung khắc trong sinh hoạt là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, tuyệt đại đa số cấp ủy, chỉ huy đơn vị luôn sâu sát, gần gũi, nắm bắt được và giải quyết, xử lý kịp thời. Vụ việc ông nêu chỉ là trường hợp cá biệt, bị thế lực thù địch chống phá, kích động, thổi bùng lên thôi. Vin vào một sự việc mà quy thành bản chất, phủ nhận những giá trị tốt đẹp trong môi trường quân ngũ là không đúng đâu. Ông xem, những năm qua, nhất là trong thiên tai, dịch giã, bất cứ nơi nào khó khăn, gian khổ thì nơi đó hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ lại càng tỏa sáng. Cũng ít tình cảm bạn bè nào thân tình, gắn bó như tình cảm đồng chí, đồng đội. Thử hỏi, nếu không được giáo dục, rèn luyện tốt thì làm gì có được điều đó! Ông có 3 cậu con trai, có cậu nào giống tính cậu nào không? Ông nghiêm khắc thế nhưng thỉnh thoảng chúng vẫn cãi nhau, thậm chí đánh nhau còn gì? Nhưng không nên vì vậy mà nói chúng không yêu thương, quý trọng, suốt ngày đánh nhau được". Nghe ông Minh phân tích, vị khách im lặng một lúc rồi thừa nhận: “Ông nói cũng có lý. Tôi không đi bộ đội, chỉ xem trên mạng nên chưa hiểu hết môi trường quân ngũ thật. Cứ tưởng là...”. Lúc này, ông Minh mới nhẹ nhàng: “Lần này ông... tưởng sai rồi! Từ giờ đừng “cứ tưởng”... rồi đi nói chỗ này, chỗ kia, kẻo đã sai lại... càng sai đấy”.

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng

 


Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng

 


 

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta một lần nữa khẳng định: Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ hội kiến Tổng thống nước Cộng hòa Sierra Leone

 


 

Chiều 16-3, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã hội kiến Tổng thống nước Cộng hòa Sierra Leone Julius Maada Bio.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam và Ukraine điện đàm

 


Chiều tối 16-3, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn có cuộc điện đàm với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ukraine Dmytro Kuleba.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ 30/4/1975

Ngày 20/02/2022, trên trang blog Tiếng Dân, đối tượng Bảo Giang tán phát bài “Thư gửi các đoàn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, nội dung xuyên tạc cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của quân và dân ta; xúc phạm danh dự các lãnh tụ; bôi nhọ, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ; tô hồng chế độ ngụy Việt Nam cộng hòa… Vậy thực chất những quan điểm, luận điệu nêu trên là gì?

Trước tiên khẳng định: Luận điệu trên là hoàn toàn sai trái; mục đích hòng xuyên tạc lịch sử Việt Nam và đánh tráo bản chất của cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta. Sở dĩ khẳng định như vậy bởi vì, trước năm 1975 đất nước ta bị chia cắt thành 2 miền ở vĩ tuyến 17. Sau khi ký Hiệp định Pari, mặc dù buộc phải rút hết quân nhưng đế quốc Mỹ vẫn tiếp tục dùng ngụy quân, ngụy quyền làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam. Từ đây, Mỹ tăng cường tiền của, vũ khí, phương tiện chiến tranh cho ngụy lấn đất, khống chế, cướp giết Nhân dân. Đồng thời, thực hiện các hoạt động ngoại giao xảo quyệt để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng miền Nam. Với âm mưu chống phá Hiệp định Pari, chúng đã điên cuồng đánh phá hòng xóa bỏ vùng giải phóng của ta, đẩy lùi lực lượng cách mạng 

Tháng 7/1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 đã khẳng định, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực và đề ra các nhiệm vụ lớn cho hai miền Nam - Bắc. 

Cuối năm 1974, khi cục diện chiến trường có nhiều thay đổi theo hướng có lợi cho ta, Bộ Chính trị họp bàn và đi đến quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới chiến trường giải phóng miền Nam, quyết chiến và toàn thắng” mà Tổng Tư lệnh - Đại tướng Võ  Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương truyền đi khắp chiến trường như một làn sóng cổ vũ tinh thần chiến đấu và quyết tâm chiến thắng của quân và dân ta đã tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam và liên tiếp giành thắng lợi.            

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và dân ta đã đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc, nhất là những thế lực cực hữu trong chính quyền Mỹ và một số là ngụy quyền Sài Gòn đang lưu vong tại nước ngoài vẫn không quên mối hận thua cuộc trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, chúng ngày càng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình’ với nhiều thủ đoạn, điển hình là xuyên tạc và bôi nhọ các lãnh tụ, nói xấu Đảng, lãng quên, phủ nhận giá trị của lịch sử, kích động nhân dân mất niềm tin vào chính quyền …

Do vậy, mỗi người cần nâng cao cảnh giác, nêu cao trách nhiệm của mình trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”, luôn luôn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu chế độ, kiên quyết đấu tranh trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Tuyệt đối trung thành và tin tưởng rằng: dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản, chắc chắn Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển nhanh và bền vững trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội./.
-------------------
PT-TG.st

CÁI GIÁ ẮT PHẢI TRẢ THÔI

 Ngày 16/3, TAND tỉnh An Giang tuyên bà Lê Thị Kim Phi (63 tuổi, ngụ TP Long Xuyên) phạm tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời phạt bị cáo 6 năm tù giam.

HĐXX xác định từ tháng 9-12/2020, bị cáo sử dụng tài khoản Facebook Phi Kim kết bạn với một số tài khoản của thành viên tổ chức phản động Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời do Đào Minh Quân cầm đầu.

Trong thời gian này, bà Phi thường xuyên theo dõi, bình luận, chia sẻ các bài viết, hình ảnh có nội dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 01/1/2021, bị cáo Phi làm hồ sơ tham gia tổ chức Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời. Người phụ nữ này được Đào Minh Quân giao nhiệm vụ tuyên truyền, khuếch trương thanh thế và móc nối, lôi kéo người tham gia tổ chức này.

Phát hiện sự việc, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang vào cuộc xác minh. Qua điều tra, cơ quan chức năng thu giữ 6 clip và 440 trang tài liệu từ tài khoản Facebook của Phi có nội dung tuyên truyền chống phá Nhà nước và hoạt động nhằm lật đổ chính quyền.

Tháng 7/2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh An Giang đã khởi tố, bắt tạm giam bà Phi.

Tại tòa, nữ bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bà Phi mong HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để được sớm về với gia đình.
---------------------
PT-TG.st


Phản đối hành vi vô nhân đạo với 64 chiến sỹ Gạc Ma đã hy sinh!


 


Như một thói quen đã được lập trình sẵn bao nhiêu năm, vào ngày 14/3 hàng năm là ngày chúng ta tri ân những chiến sỹ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền tại đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam: Việt Tân, Đài Á Châu Tự Do tiếp tục đăng đàn phô diễn luận điệu “Trận Gạc Ma đã không được nhà nước Việt Nam thông tin đầy đủ và ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông”, “Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc”, “Báo chí Trung Quốc hàng năm vẫn nhắc lại như một chiến thắng. Còn phía Việt Nam thì im lặng đến mấy chục năm sau mới dè dặt đề cập đến”.

Hết “bài Trung”, “thoát Trung” giờ lại đến “thoát Ngã”, rồi thoát ai nữa?



Lợi dụng cuộc chiến Ukraine hiện tại, Việt Tân ra sức truyền bá thông điệp sai lầm rằng để có tương lai cường thịnh thì Việt Nam phải vứt bỏ quan hệ với các nước như Nga, Trung Quốc và “về phe” hoàn toàn của Mỹ và phương Tây.

Đẩy lùi nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ

 

Ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (từ ngày 20 đến 25-1-1994), Đảng ta xác định 4 nguy cơ cản trở thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta, đó là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết, tác động lẫn nhau.