Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2022
HÃY C.Ú.T VỀ NƯỚC MỸ VÀ ĐỪNG BAO GIỜ TRỞ LẠI!
TỔNG THỐNG NGA PUTIN KÊU GỌI NGƯỜI DÂN PHƯƠNG TÂY KHÔNG TIN VÀO NHỮNG LỜI NÓI, TUYÊN TRUYỀN DỐI TRÁ VỀ NƯỚC NGA!
BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG PHAN VĂN GIANG TIẾP ĐẠI SỨ CUBA Ở. N. H. GUILLÉN!
PHẠT 6 NĂM TÙ BỊ CÁO NGOÀI 60 TUỔI VÌ HOẠT ĐỘNG LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN!
MỸ, ANH ĐANG DÙNG KẾ LY GIÁN!
Vai trò của báo chí cách mạng Việt Nam và mối quan hệ giữa báo chí cách mạng với Đảng Cộng sản Việt Nam
Báo chí là một
bộ phận cấu thành quan trọng trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng, là một
trong những công cụ sắc bén, hiệu quả để xây dựng, bồi đắp nền tảng tư tưởng
chính trị của Đảng, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, động viên
cổ vũ nhân dân thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với báo chí là đòi hỏi khách quan, khoa học.
Đòi hỏi này xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Đảng
lãnh đạo báo chí là đề ra nghị quyết, chỉ thị về công tác báo chí; định hướng
quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống báo chí; định hướng nội dung thông tin
tuyên truyền; lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát
của Đảng đối với tổ chức Đảng và đảng viên trong cơ quan báo chí.
Đảng cách mạng
phải lãnh đạo báo chí, xuất bản, đó là nguyên tắc bất di, bất dịch. Sự lãnh đạo
của Đảng là nhân tố hàng đầu để báo chí phát triển lành mạnh, tiến bộ và bền
vững. Trên thực tế dưới sự lãnh đạo của Đảng báo chí cách mạng đã phát triển
rất mạnh mẽ về số lượng cơ quan báo chí, số lượng nhà báo và loại hình báo chí.
Báo chí đã trở thành công cụ đặc biệt quan trọng để tuyên truyền, giáo dục
chính trị, tập hợp các tẩng lớp nhân dân theo Đảng làm cách mạng, là vũ khí tư
tưởng sắc bén trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, là
cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa nhân dân với Đảng, là cánh cửa để Việt Nam
mở rộng giao lưu, hội nhập với thế giới. Đảng lãnh đạo báo chí hoàn toàn không
phải để hạn chế tự do và sáng tạo của báo chí và nhằm giúp báo chí đi đúng định
hướng, hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, phục vụ có hiệu quả lợi
ích Tổ quốc, dân tộc, nhân dân. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), đối với báo chí, Đảng ta
khẳng định: “Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân.
Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng, nhiều chiều,
kịp thời, chân thực và bổ ích”. “ Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của
tổ chức chính trị – xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo
trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật; đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và
tính đa dạng” (Nghị quyết số 16 – NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa
X “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới”).
Quan điểm về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Việt Nam là không thể xuyên tạc
Quan điểm của Việt Nam trong bảo
vệ, bảo đảm và pháp triển quyền con người là rất rõ ràng. Thế nhưng lâu nay,
một số tổ chức, cá nhân thù địch vẫn cố tình bóp méo, xuyên tạc quan điểm, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bảo vệ và phát triển
quyền con người.
Tết Nhâm Dần
vừa đến. Trong bối cảnh gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là về kinh tế, bảo đảm
an sinh xã hội do tác động ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhưng Đảng và Nhà
nước ta vẫn nỗ lực để bảo đảm cho mọi người, mọi nhà đều phải có Tết với tinh
thần “nghĩa tình, tri ân, an toàn, lành mạnh, vui tươi, hạnh phúc, tiết kiệm”.
Theo tinh thần
ấy trong suốt thời gian qua, cấp ủy, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể các
địa phương và cộng đồng doanh nghiệp đã “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng
người” xem có ai khó khăn, có ai thiếu ăn, thiếu mặc… nhất là các gia đình
chính sách, người có công, hộ nghèo, công nhân lao động, những gia đình chịu
ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 với quyết tâm không ai bị bỏ lại phía
sau, không người nào, không gia đình nào không có Tết… Đây được xem là một dẫn
chứng sinh động, cụ thể khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong bảo đảm quyền
con người.
Không phải đến
bây giờ Đảng, Nhà nước Việt Nam mới khẳng định điều ấy mà ngay trong bản Tuyên
ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ, cộng
hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “tất cả các dân tộc trên thế
giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và
quyền tự do”.
Trong suốt quá
trình lãnh đạo, điều hành đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định: Con người
là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con
người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Mọi chủ trương, đường lối,
chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người.
Hơn ai hết
Việt Nam hiểu rõ giá trị của nhân quyền. Bởi đất nước này đã từng phải gánh
chịu những hậu quả nặng nề bởi các cuộc chiến tranh xâm lược của ngoại bang,
từng là nạn nhân của những hành động vi phạm nhân quyền khủng khiếp nhất. Đảng,
Nhà nước Việt Nam nhận thức rất rõ rằng quyền con người vừa mang tính phổ biến,
thể hiện khát vọng chung của nhân loại, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội
và cộng đồng. Trong một thế giới ngày càng đa dạng, Chính phủ Việt Nam cho rằng
khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực,
nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử,
chính trị, kinh tế – xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, phong
tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực.
Các thế lực
thù địch, phản động tuyên truyền xuyên tạc nói xấu tình hình nhân quyền Việt
Nam rồi so sánh với nước khác và tỏ ra thiện chí “khuyên” rằng phải “học theo”
nước này, nước nọ thì mới cải thiện được nhân quyền…Về việc này, Việt Nam đã
nhiều lần tuyên bố, những hành động, luận điệu đó là vô lối, không thể chấp
nhận và phải kiên quyết đấu tranh phản bác. Quan điểm của Việt Nam là không một
nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá của mình cho một
quốc gia khác. Cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về
dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không
được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Theo Việt Nam, các quyền và tự do của mỗi cá nhân
chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung
của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm đối
với xã hội. Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và
một số quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các
quyền kinh tế, xã hội và văn hoá của cả cộng đồng là cách tiếp cận chủ quan,
phiến diện, không phản ánh đầy đủ bức tranh toàn cảnh về quyền con người .
Chính phủ Việt
Nam cho rằng, trách nhiệm và quyền hạn của trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền
con người trước hết thuộc về mỗi quốc gia. Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng
hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp
quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên hợp quốc có tính đến hoàn cảnh của mỗi
nước để bảo đảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất.
Do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá
trị truyền thống văn hóa… nên cách tiếp cận về quyền con người của mỗi quốc gia
có thể khác nhau. Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy và
bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan. Việt Nam ủng hộ
việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên cơ sở đối
thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng
tốt hơn các quyền con người. Việt Nam sẵn sàng học hỏi, tiếp thu có chọn lọc
những tinh hoa của nhân loại nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.
Tuy nhiên,
Việt Nam cũng kiên quyết phản đối việc một số quốc gia, tổ chức, cá nhân có
những âm mưu, thủ đoạn, hành động lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào
công việc nội bộ của các nước, trong đó có Việt Nam. Nhà nước và nhân dân Việt
Nam cho rằng đó là hành động vô lối và không thể chấp nhận. Theo Việt Nam,
không cho phép bất kỳ nước nào có quyền sử dụng vấn đề quyền con người làm công
cụ can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia, gây đối đầu, gây sức ép chính
trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế,
thương mại… với nước khác.
Trong một thế
giới hội nhập ngày càng sâu rộng, tùy thuộc lẫn nhau, Việt Nam cho rằng các
quyền con người chỉ có thể được tôn trọng và bảo vệ trong một môi trường hòa
bình, an ninh, bình đẳng và phát triển bền vững, trong đó các giá trị nhân bản
được tôn trọng và bảo vệ. Cuộc đấu tranh vì các quyền con người cần tiến hành
đồng thời với các biện pháp ngăn chặn các cuộc chiến tranh, xung đột, khủng bố,
nghèo đói, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia… đang hàng ngày, hàng giờ đe dọa
hòa bình, an ninh, độc lập và phồn vinh của mọi quốc gia, ngăn cản việc bảo vệ
và thúc đẩy quyền con người trên toàn thế giới.
Các quan điểm,
chính sách nhất quán như đã đề cập của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các
nguyên tắc, nội dung cơ bản và xu thế phát triển theo hướng tiến bộ của luật
pháp quốc tế nói chung và trong lĩnh vực quyền con người nói riêng. Bảo vệ, bảo
đảm, thúc đẩy phát triển quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi
đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Những năm qua,
đặc biệt là sau hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thúc đẩy, bảo vệ, bảo
đảm quyền con người. Nhưng bằng mọi âm mưu, thủ đoạn, luận điệu, chiêu trò các
thế lực thù địch vẫn cố tình phủ nhận thành tựu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân
Việt Nam đã đạt được, gia tăng sự chống phá Việt Nam núp dưới chiêu bài “dân
chủ, nhân quyền”. Việt Nam kịch liệt phản đối, lên án và kiên quyết đấu tranh
với những âm mưu và hành động ấy. Bởi nó không giúp ích cho bảo vệ, bảo đảm và
thúc đẩy quyền con người mà trái lại đó là những hành động trắng trợn xúc phạm
các giá trị của nhân quyền không hơn không kém./.
Đảng Cộng sản Việt Nam ngày một phát triển, trong sạch vững mạnh chứ không phải “tiếp tục suy yếu và bế tắc”
Vẫn là các
thông tin ảo, mò, tung lên mạng xã hội những ngày qua giống như Việt Hoàng cho
rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam sắp có sự thay đổi nhân sự cấp cao. Chả có luận cứ
nào, song những các nhà “nhân sự mạng” cũng thi nhau nhận định, quy chụp rằng
việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục ở lại nhiệm kỳ Đại hội XIII là vì
“Đảng cộng sản hoàn toàn bế tắc. Họ không có giải pháp nào cho đất nước cũng
như cho chính họ”.
Ngớ ngẩn đến
mức thế thì chỉ có Việt Hoàng và các thế lực thù địch mới nghĩ ra được. Bởi
rằng, với uy tín và bản lĩnh của mình, việc đồng chí Nguyễn Phú Trọng tiếp tục
ở lại nhiệm kỳ Đại hội XIII và được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng không chỉ là
niềm vui mừng, tin tưởng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân mà còn là trọng
trách của đồng chí trước Tổ quốc và nhân dân. Vì thế, những quyết sách của Đảng
về xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, quyết sách liên quan đến công tác
phòng và chống tham nhũng nói riêng từ nhiệm kỳ Đại hội XII được tiếp tục triển
khai sâu rộng trong nhiệm kỳ này. Chắc chắn một điều rằng, đấu tranh chống tham
nhũng ở Việt Nam không phải/nhất định không bao giờ là “đấu đá phe nhóm và để
triệt hạ lẫn nhau. Phe nào thắng thì đốt lò, phe nào thua thì làm củi” như sự
bịa đặt của Việt Hoàng.
Hơn nữa, tình
trạng tham nhũng của Việt Nam đã từng bước được ngăn chặn, kiểm soát chứ không
phải “ngày càng gia tăng chứ không hề có dấu hiệu giảm xuống”. Thực tế thì đúng
là giữa lúc đại dịch Covid-19 đang hoàng hành, vẫn có sự kiện công ty Việt Á và
việc công ty này đã bị điều tra, bị phong tỏa tài sản cũng đã được các cơ quan
báo chí, truyền thông thông tin. Song nói vậy không có nghĩa là, sự kiện Việt Á
hay Tân Hoàng Minh hay vụ “bán chui cổ phiếu” của Trịnh Văn Quyết (FLC) là minh
chứng cho thấy niềm tin của người dân “vào chính quyền cộng sản và các đại gia
ngày càng xuống thấp”.
Hơn nữa, ở
Việt Nam, bất kỳ tổ chức và cá nhân nào vi phạm pháp luật đều chịu sự trừng
phạt của pháp luật. Việc đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng những năm qua và
ngay trong các tháng đầu năm 2022 là minh chứng cho thấy chủ trương, biện pháp
quyết liệt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều đó không chỉ góp phần làm trong
sạch Đảng, trong sạch hệ thống chính trị mà còn thiết thực để phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội…, tạo sự ổn định của quốc gia. Cho nên, nhận định thiển cận
của Việt Hoàng rằng, “rõ ràng ai cũng thấy Đảng cộng sản không còn là giải pháp
cho đất nước” là chủ quan và nó thể hiện rõ dã tâm, sự phản động của các thế
lực thù địch!
Sự thật thì
Tập hợp Dân chủ đa nguyên và Việt Hoàng chỉ dùng xảo ngữ để bôi đen sự thật
lịch sử; xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng và chế
độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chứ không phải họ muốn góp sức để biến “giấc
mơ” về đất nước Việt Nam phát triển giàu mạnh trở thành hiện thực!
Đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, dân tộc và thống nhất không phải là “nội chiến”, là “tranh giành quyền lực”
Do vị thế địa
chính trị đặc biệt của mình, nên lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam là lịch sử đoàn kết, cố kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong hành trình
đấu tranh chống thiên tai, địch họa, tai ương và dịch bệnh… Đặc biệt, từ thập
niên 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã
kiên cường đấu tranh cách mạng để đánh đuổi phát xít Nhật và thực dân Pháp
giành độc lập dân tộc; đã tiến hành cuộc trường trinh dài 30 năm để chống sự
xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Bắc, rồi giải phóng
miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng bước vào một kỷ nguyên mới- kỷ
nguyên hòa bình, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Lịch sử 30 năm
nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ,
cứu nước là để thực hiện khát vọng về đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ đã được minh định. Trên những chặng đường
lịch sử ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối chính trị phù hợp điều kiện cụ
thể của Việt Nam; với phương pháp lãnh đạo đúng đắn đã huy động và phát huy
được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để làm nên thắng lợi cuối
cùng. Lịch sử các cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam hòa bình, dân tộc và thống
nhất trong lịch sử dân tộc, chắc chắn không phải là “những cuộc nội chiến tranh
giành quyền lực giữa các thế lực thống trị, hay những cuộc chiến chống ngoại
xâm mà mục đích, xét cho cùng, cũng chỉ là để đổi một ách nô lệ ngoại bang lấy
một ách nô lệ bản xứ” như nhóm Tập hợp Dân chủ đa nguyên vu khống, xuyên tạc.
Lịch sử cách
mạng Việt Nam và lịch sử thế giới hiện đại đều ghi nhận cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước là cuộc chiến tranh nhân dân của nhân dân
Việt Nam để giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ, thống trị, xâm lược của ngoại
bang. Mỗi người dân Việt Nam sống trên đất nước này đều hiểu hơn ai hết giá trị
của độc lập, tự do, của những quyền dân chủ mà mỗi người được thụ hưởng từ sau
ngày 2/9/1945 cho đến nay. Một hệ thống pháp luật ngày càng được xây dựng, bổ
sung, hoàn thiện với các quyền con người và quyền công dân được hiến định trong
Chương II, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cho thấy,
người dân Việt Nam ngày càng được thụ hưởng đúng đắn nhất giá trị của độc lập,
tự do và dân chủ.
Sự thật này
không thể bôi đen, càng không thể bẻ cong được. Cho nên, mới nói nhận định của
nhóm Tập hợp Dân chủ đa nguyên rằng: Việt Nam “chưa bao giờ là một dân tộc tự
do”, để rồi kêu gọi “chiến đấu để mở ra cả một kỷ nguyên mới…, kỷ nguyên của
những con người Việt Nam tự do và của một nước Việt Nam dân chủ” thật sự hão
huyền là vì thế. Yêu nước bằng hành động thiết thực, bằng sự hết lòng phụng sự
Tổ quốc và nhân dân, chứ không phải bằng chiêu trò bôi đen lịch sử và kích động,
thì nhất định sẽ được nhân dân ủng hộ!
Đất nước Việt Nam sẽ phát triển phồn vinh và hạnh phúc
Mỗi người dân
Việt Nam yêu nước chân chính đều ước mơ đất nước mình, nhân dân mình được sống
trong một quốc gia hòa bình, độc lập, tự do; trong một đất nước ngày càng phát
triển và giàu mạnh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Thực tế là suốt chiều dài
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước đều
đã góp một phần nhỏ bé của mình để dựng xây và biến ước mơ đó từng bước trở
thành hiện thực. Tuy nhiên, ước mơ đó chỉ có thể trở thành sự thật khi Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành chính
quyền, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước suốt 9 thập niên.
Một đất nước
Việt Nam càng trong gian lao, thử thách càng tỏ rõ sức mạnh của tinh thần và ý
chí Việt; càng cùng nhau đoàn kết thành một khối vững chắc dưới sự lãnh đạo của
Đảng để đưa đất nước từng ngày đổi mới và phát triển như hôm nay là kết quả mà
bao thế hệ người Việt Nam đã tận tâm, tận sức phấn đấu, chứ đâu phải chờ đến
cái gọi là Tập hợp Dân chủ đa nguyên hôm nay ra rả kêu gọi. Kỳ thực là, lịch sử
dân tộc bị bôi đen, lòng yêu nước chân chính của người Việt Nam bị xuyên tạc
qua “miệng lưỡi” của nhóm Tập hợp Dân chủ đa nguyên này khi họ bịa đặt cho rằng
“làm người Việt Nam cho tới nay đã là một điều bất hạnh thì làm người Việt Nam
trong một tương lai gần sẽ phải là một niềm vui, một may mắn và một nguồn hãnh
diện”. Vì vậy, mỗingười Việt Nam yêu nước chân chính hãy bằng lương tri và trái
tim mình nhận thức rõ việc xuyên tạc sự thật bằng ngôn từ xảo trá của những kẻ
ngáo dân chủ.
Xin lỗi cái
giấc mơ hão huyền của cái nhóm ngáo dân chủ, nhân danh dân chủ này để kích động
lòng nhân. Bởi rằng, sự thật thì người dân Việt Nam chân chính, yêu nước chân
chính chưa bao giờ thấy mình “bất hạnh” vì đã là con dân đất Việt, nhất là từ
khi mỗi người đã có một cuộc đổi đời lịch sử từ thân phận nô lệ, thần dân, từ
phận “con sâu, cái kiến”, từ mảnh đời “chị Dậu, anh Pha, lão Hạc…” trở thành
chủ nhân một nước độc lập, tự do sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm
1945. 77 năm sau cuộc đổi đời lịch sử đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, một đất nước Việt Nam tiếp tục từng bước khẳng định uy tín, vị thế
của mình trên trường quốc tế; tiếp tục đóng góp sức mình vì tự do, công lý và
giữ gìn hòa bình… trong cộng đồng các quốc gia, dân tộc là sự thật và sự thật
này thì dù có xảo biện đến đâu, nhân danh cái gì cũng không thể bẻ cong được.
Nên là, yêu
nước và mơ ước mà chỉ nói bằng sự xảo biện và xuyên tạc như nhóm Tập hợp Dân
chủ đa nguyên đã và đang làm thì không bao giờ trở thành sự thật. Người dân
Việt Nam yêu nước chân chính đủ trí tuệ và bản lĩnh để phân biệt thật- giả,
hiện thực và mơ hão, nên sẽ không mắc bẫy “rân chủ”.
BÀ MARINE LE PEN - ỨNG CỬ VIÊN TỔNG THỐNG PHÁP: “AI LÀ NGƯỜI ĐÃ CỨU CẢ THẾ GIỚI KHỎI CHỦ NGHĨA PHÁT XÍT NHỮNG NĂM 40”!
Khai mạc Hội thi chung khảo toàn quốc báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi
Sáng 17-3, tại Học viện Hải quân đã diễn ra Lễ khai mạc Hội thi chung khảo toàn quốc báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Tham dự khai mạc
hội thi có các đồng chí: Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng,
Phó chủ nhiệm Tổng
cục Chính trị, Phó trưởng ban chỉ đạo hội thi; Phan Xuân Thủy, Phó trưởng
Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng ban Tổ chức hội thi; đại biểu của Ban Tuyên
giáo Trung ương, Quân chủng Phòng không-Không quân, Quân chủng Hải quân, Quân
khu 5, Cục Tuyên huấn; đại biểu Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy
trực thuộc Trung ương. Đặc biệt là sự có mặt tham gia thi của 27 thí sinh đến
từ Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Công an Trung ương và 21 tỉnh, thành phố.
Các thí sinh sẽ
tham gia thi 3 nội dung gồm: Đề cương (bản thuyết trình và trình chiếu Power
Point), thi thuyết trình và trả lời trực tiếp các câu hỏi.
Phát biểu khai mạc
hội thi, đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng
ban Tổ chức hội thi cho biết: Thời gian qua, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền
viên luôn nêu cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, tự học tập, tự nghiên cứu để
nâng cao trình độ, thực hiện tốt vai trò là cầu nối đưa chủ trương, nghị quyết
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong bối cảnh
tình hình thế giới, khu vực đang biến động phức tạp, cùng với tác động của đại
dịch Covid-19, những vấn đề an ninh phi truyền thống, an ninh con người, công
tác tuyên giáo nói chung, công tác tuyên truyền miệng nói riêng đang phải đối
mặt nhiều khó khăn, thách thức... Do đó, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền
viên phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả góp phần đấu tranh
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn đẩy lùi các thông tin xấu
độc…
Phát biểu chào
mừng hội thi, Trung tướng Trịnh Văn Quyết chúc mừng lãnh đạo Ban Tuyên giáo
Trung ương, đại biểu và 27 thí sinh đã nỗ lực, xuất sắc để có mặt tại Hội thi
chung khảo toàn quốc báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi tuyên truyền Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ
2020-2025.
Đồng chí Phó chủ
nhiệm Tổng cục Chính trị nhấn mạnh: Trong Quân đội, công tác tuyên truyền miệng
và hoạt động báo cáo viên là nội dung quan trọng của hoạt động công tác Đảng,
công tác chính trị, là kênh tuyên truyền hiệu quả, có ưu thế đặc biệt, gắn liền
với quá trình ra đời, xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta. Trong
những năm qua, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị các
cấp đã quán triệt nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư,
Quân ủy Trung ương, sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, phát
huy tính chủ động, triển khai tổ chức thực hiện chặt chẽ, chính vì thế công tác
tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên trong Quân đội đạt nhiều kết quả
quan trọng, được các cấp, các ngành đánh giá cao.
Trung tướng Trịnh
Văn Quyết mong muốn, thời gian tới công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo
cáo viên trong Quân đội tiếp tục nhận được sự quan tâm của Ban Tuyên giáo Trung
ương, cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương để hoạt động này ngày càng đạt
nhiều hiệu quả thiết thực.
Cộng đồng quốc tế nỗ lực thúc đẩy lệnh ngừng bắn tại Ukraine
Trong bối cảnh xung đột giữa Nga và Ukraine vẫn diễn ra căng thẳng, cộng đồng quốc tế hoan nghênh các cuộc đàm phán giữa hai bên, đồng thời tiếp tục thúc đẩy nỗ lực ngoại giao nhằm đạt được lệnh ngừng bắn tại Ukraine.
Sau khi Nga tiến
hành chiến dịch quân sự đặc biệt ở miền Đông Ukraine,
phái đoàn hai nước đã trải qua 3 vòng đàm phán trực tiếp. Giờ đây, các cuộc đàm
phán được tiến hành hằng ngày theo hình thức trực tuyến. Theo TASS, ngày
17-3, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova cho biết, phái đoàn hai
nước đang thảo luận về các vấn đề quân sự, chính trị và nhân đạo.
Trước đó, ngày
16-3, tại một cuộc họp, ông Farhan Haq, Phó phát ngôn viên của Tổng thư ký Liên
hợp quốc (LHQ) thông báo, LHQ kêu gọi tất cả các bên liên quan đến tình hình
Ukraine kiềm chế trước những tuyên bố gây kích động, bất hòa và thù hận. Ông
Haq nói rằng LHQ đang tập trung vào các nỗ lực nhằm đạt được một lệnh ngừng bắn
ở Ukraine.
RIA Novosti đưa
tin, cùng ngày, sau cuộc họp giữa Bộ trưởng Quốc phòng các nước thành viên Tổ
chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Brussels (Bỉ), Tổng thư ký NATO Jens
Stoltenberg cho biết, liên minh quân sự này ủng hộ mọi nỗ lực ngoại giao nhằm
giải quyết xung đột ở Ukraine, bao gồm các cuộc đàm phán giữa Ukraine và Nga.
“Chúng tôi ủng hộ mọi nỗ lực tìm kiếm một giải pháp ngoại giao. Và tất nhiên,
chúng tôi hoan nghênh các cuộc đàm phán hiện đang diễn ra giữa Ukraine và Nga”,
ông Stoltenberg nhấn mạnh.
Hai quốc gia thành
viên NATO là Đức và Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang nỗ lực “hạ nhiệt” căng thẳng giữa Nga
và Ukraine để đạt được một lệnh ngừng bắn. Trong cuộc họp báo chung cùng ngày
với Thủ tướng Phần Lan Sanna Marin, Thủ tướng Đức Olaf Scholz tuyên bố, Đức ủng
hộ tiến trình đàm phán giữa Nga và Ukraine. Theo ông Scholz, Berlin đang trao
đổi với cả Moscow và Kiev, nỗ lực tạo cơ hội cho các cuộc đàm phán giữa hai
bên. Trong khi đó, Văn phòng Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ cho biết, nhà lãnh đạo
nước này sẽ tiếp tục nỗ lực để sắp xếp một cuộc gặp giữa Tổng thống Ukraine
Volodymyr Zelensky và Tổng thống Nga Vladimir Putin nhằm đạt được một lệnh ngừng
bắn bền vững. Ông Tayyip Erdogan cho rằng việc tiếp tục chiến sự
không có lợi cho bất kỳ ai. Trước đó, theo AFP, tại cuộc họp báo chung ở thủ đô
Ankara của Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 14-3, hai nhà lãnh đạo Đức và Thổ Nhĩ Kỳ đã kêu
gọi một lệnh ngừng bắn giữa Nga và Ukraine. Thủ tướng Đức đã ca ngợi những nỗ
lực của Ankara là “tích cực và rất hữu ích”.
Trả lời phỏng vấn
với đài NBC, Tổng thống Ukraine Zelensky cho biết, các cuộc đàm phán giữa nước
này và Nga vẫn tiếp tục và đang tiến triển song “khá khó khăn”. Nhà lãnh đạo
Ukraine cũng nhấn mạnh rằng bất kỳ cuộc xung đột vũ trang nào đều có thể dừng
lại trên bàn đàm phán. Trước đó, ông Zelensky nói rằng các cuộc đàm phán giữa
phái đoàn Ukraine và Nga nên tiếp tục, bất chấp những khó khăn để hiểu biết lẫn
nhau. Trong một cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình Ukraine 24, ông
Mikhailo Podolyak, cố vấn của người đứng đầu Văn phòng Tổng thống Ukraine, nói
rằng quan điểm của Kiev và Moscow về tình hình ở Ukraine là rất khác
nhau, nhưng hiện tại hai bên đã bắt đầu đạt được một số thỏa hiệp. Theo ông
Podolyak, các bảo đảm an ninh cho Ukraine đang được thảo luận tại các
cuộc đàm phán. Ngoài ra, ông Podolyak cũng thông báo về việc chuẩn bị các
tài liệu để thảo luận trong cuộc đàm phán với Nga ở cấp cao. Ông Podolyak cho
rằng để giải quyết xung đột cần cuộc đàm phán trực tiếp giữa tổng thống hai
nước.
Về phần mình, ông
Dmitry Peskov, Thư ký báo chí của Tổng thống Nga nói với RIA Novosti rằng hai
nhà lãnh đạo Nga và Ukraine có thể gặp nhau nhưng không phải để thảo
luận, mà là để sửa đổi các thỏa thuận đã đạt được. Theo ông Peskov, Nga
đang rất nỗ lực đàm phán với Ukraine. Ông Peskov khẳng định các điều kiện của
Moscow vô cùng rõ ràng, được xây dựng và thông báo đầy đủ tới các nhà đàm phán
Ukraine. Ông Peskov cũng đánh giá vẫn còn quá sớm để tiết lộ bất kỳ thỏa
thuận tiềm năng nào giữa Moscow và Kiev. Bình luận của Điện Kremlin được
đưa ra sau khi tờ Financial Times đưa tin Ukraine và Nga đã có bước tiến đáng
kể trong việc xây dựng thỏa thuận hòa bình gồm 15 điểm.
Liên quan đến
chiến dịch quân sự của Nga ở miền Đông Ukraine, Tòa án Công lý quốc tế (ICJ)
của LHQ đã ra phán quyết yêu cầu Nga ngay lập tức dừng chiến dịch này. Phán
quyết của tòa cũng yêu cầu Nga bảo đảm mọi lực lượng do nước này kiểm
soát hoặc hậu thuẫn cần chấm dứt hoạt động quân sự tại Ukraine. Ông Peskov
thông báo, Moscow sẽ không thể tính đến quyết định của ICJ. “Trong trường hợp
này, đây là điều mà chúng tôi không thể tính đến”, ông Peskov nhấn mạnh.
Trong một diễn
biến liên quan, Thư ký báo chí Nhà Trắng Jen Psaki cho biết, Tổng thống Mỹ Joe
Biden không thay đổi quan điểm trước lời kêu gọi của Tổng thống Ukraine
Zelensky về việc thiết lập vùng cấm bay tại nước này. Nhà lãnh đạo Mỹ cho rằng
động thái như vậy là quá rủi ro và có thể khiến cuộc chiến với Nga lan rộng. Dù
không đồng ý thiết lập vùng cấm bay, Mỹ đã thông báo khoản viện trợ
quân sự trị giá 1 tỷ USD dành cho Ukraine nhằm hỗ trợ an ninh và triển khai các
vũ khí tầm xa hơn cho nước này.
Nga và Ukrane có thể tiếp tục đàm phán vào hôm nay 18-3
“Chúng tôi đang tiếp tục đàm phán với
Ukraine”, đặc phái viên Nga tại Liên hợp quốc Vasily Nebenzya trả lời câu hỏi
của một phóng viên sau cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ).
Trước đó, trong
cuộc đàm phán trực tuyến giữa Nga và Ukraine vào ngày 17-3, quan chức hai bên
tiếp tục thảo luận về các vấn đề quân sự, chính trị và nhân đạo.
Phát biểu với báo
giới tại Moscow, Thư ký báo chí của Tổng thống Nga Dmitry Peskov nêu rõ việc
Nga và Ukraine ký kết được và thực thi một thỏa thuận có thể nhanh chóng chấm
dứt những gì đang xảy ra ở nước này. “Phái đoàn Nga đang rất nỗ lực và thể hiện
sự sẵn sàng cao...” ông nhấn mạnh.
Trước đó, người
phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova cho biết, trong một cuộc họp báo
hôm 17-3, chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga ở Ukraine không nhằm mục đích hủy
hoại Ukraine hoặc lật đổ Tổng thống của nước này. “Chiến dịch quân sự đặc biệt
không theo đuổi mục đích chiếm đóng lãnh thổ, hủy hoại địa vị quốc gia hoặc lật
đổ Tổng thống Ukraine đương nhiệm”, người phát ngôn nhấn mạnh.
Trước đó, trả lời
các phóng viên hôm 15-3, đại diện thường trực của Nga tại LHQ cũng nhấn mạnh
rằng “khi các mục tiêu của chiến dịch quân sự đặc biệt đạt được, nó sẽ dừng
lại”.
PHẢN ĐỐI BÁO TUỔI TRẺ TỰ Ý SỬA PHÁT NGÔN CỦA BỘ NGOẠI GIAO!
Chia sẻ và sử dụng có hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Ngày 18-3, tại Hà Nội, Văn phòng Chính phủ tổ chức hội nghị trực tuyến tập huấn triển khai một số nhiệm vụ tại Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6-1-2022 của Thủ tướng Chính phủ và tổ chức triển khai 25 dịch vụ công thiết yếu theo Phụ lục 1 Quyết định số 06/QĐ-TTg lên Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn chủ trì hội nghị.
TS Ngô Hải Phan,
Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ cho hay, Đề án
phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ
chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 nhấn mạnh 13
nhóm nhiệm vụ chung. Trong đó nội dung thực hiện số hoá và tái sử dụng kết quả
số hoá hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến thông tin,
giấy tờ cá nhân trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính để cập nhật, bổ
sung, kết nối, chia sẻ và sử dụng có hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
phục vụ giải quyết thủ tục hành chính được triển khai tại bộ phận một cửa cấp
bộ, cấp tỉnh từ 1-6-2022, cấp huyện từ 1-12-2022, cấp xã từ 1-6-2023.
Về tiến độ và kết
quả triển khai 25 dịch vụ công thiết yếu, trong tháng 5-2022, các bộ, ngành tập
trung hoàn thành tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ (21/25 dịch vụ công) theo
Nghị định số 45/2020/NĐ-CP; Quyết định 468/QĐ-TTg và Quyết định 06/QĐ-TTg ngày
6-1-2022 của Thủ tướng Chính phủ theo hướng kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia
về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, cổng Dịch vụ công Quốc gia
để tự động điền thông tin, chia sẻ tài liệu đã số hoá hoặc là kết quả giải
quyết thủ tục hành chính tại cơ quan, đơn vị khác. Các Bộ tích hợp đầy đủ thông
tin về việc giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính trên cổng Dịch vụ công Quốc gia
để chia sẻ cho các địa phương quản lý, giám sát, theo dõi tình hình tiếp nhận,
giải quyết các dịch vụ công này trên địa bàn tỉnh, thành phố…
Về đề xuất, kiến
nghị đối với 25 dịch vụ công thiết yếu, Bộ Tư pháp khẩn trương hoàn thành kết
nối giữa cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử với hệ thống một cửa điện tử cấp tỉnh để
tránh việc cán bộ, công chức phải thực hiện thao tác 2 lần trên 2 hệ thống
(hiện mới kết nối, tích hợp được ở 27 địa phương). Bộ Tài nguyên và Môi trường
sớm phối hợp với Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ để tái cấu trúc quy trình, kết
nối, tích hợp, xây dựng phần mềm, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên cổng
Dịch vụ công Quốc gia. Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Công an kết nối,
chia sẻ dữ liệu và triển khai nhân rộng toàn quốc; phối hợp với các địa phương
để kết nối, tích hợp với Hệ thống một cửa điện tử cấp tỉnh phục vụ cho tiếp
nhận hồ sơ trực tiếp. Bộ Y tế chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh có thẩm quyền
trên toàn quốc cấp giấy khám sức khoẻ điện tử để thực hiện thủ tục cấp đổi, cấp
lại giấy phép lái xe trực tuyến qua cổng Dịch vụ công Quốc gia.
TỔNG THỐNG UKRAINE KÊU GỌI BIDEN HÃY LÀM LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI, LÃNH ĐẠO HOÀ BÌNH!
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược lâu dài trong công cuộc đổi mới
Ngày 17-3, Ban Kinh tế Trung ương đã tổ chức Hội
nghị cho ý kiến các dự thảo Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương,
Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng kết Nghị quyết chủ trì hội nghị.
Phát biểu chỉ đạo
tại hội nghị, đồng chí Trần Tuấn Anh khẳng định: Thực hiện Quyết định số
02-QĐ/TW ngày 26-3-2021 của Ban Bí thư về thành lập Ban Chỉ đạo tổng kết 15 năm
thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn,
trong thời gian qua, Ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết đã có nhiều nỗ lực, cố
gắng, đóng góp trí tuệ và công sức vào quá trình tổng kết và xây dựng Báo cáo
tổng kết Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Ban Chỉ đạo đã tổ
chức 26 hội nghị, hội thảo, tọa đàm; 15 cuộc làm việc với các Bộ, ngành địa
phương; tổng hợp báo cáo của 28 Ban, Bộ ngành Trung ương, 26 báo cáo chuyên đề.
Trên cơ sở báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương; kết quả nghiên cứu, khảo sát;
ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học; Thường trực Ban chỉ đạo, Tổ Biên tập
đã xây dựng dự thảo Báo cáo tổng kết Nghị quyết 26-NQ/TW gửi xin ý kiến các cơ
quan ở Trung ương, địa phương, thành viên Ban Chỉ đạo.
Ngày 19-1-2022,
Ban Chỉ đạo Trung ương đã tổ chức Hội nghị toàn quốc lấy ý kiến góp ý cho dự
thảo Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW, dưới sự chủ trì của đồng
chí Võ Văn Thưởng, Thường trực Ban Bí thư; đồng chí Trần Tuấn Anh, Trưởng Ban
Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo; đồng chí Lê Văn Thành, Phó thủ tướng
Chính phủ.
Hội nghị đã tiếp
thu ý kiến góp ý bằng văn bản của 39 Ban, Bộ, ngành Trung ương; 63 tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương; ý kiến tại hội nghị, ý kiến chỉ đạo của đồng chí
Thường trực Ban Bí thư, Thường trực Ban chỉ đạo, Tổ Biên tập đã chỉnh sửa, bổ
sung, hoàn thiện, gửi xin ý kiến các đồng chí thành viên Ban chỉ đạo.
Đồng chí Trần Tuấn
Anh nhấn mạnh, nông nghiệp, nông dân, nông thôn là những vấn đề lớn, có tính
chiến lược và là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ
và phát triển đất nước. Việc đóng góp của các đại biểu tại hội nghị hôm nay có
ý nghĩa quan trọng cho việc xây dựng Nghị quyết mới, trình Trung ương đề ra
những chủ trương, định hướng lớn phát triển nông nghiệp, nông thôn và chăm lo
đời sống nhân dân, nâng cao vị thế nông dân, góp phần phát triển kinh tế-xã
hội, bảo đảm an ninh quốc phòng nước ta trong thời kỳ mới.
Báo cáo tại Hội
nghị, đồng chí Nguyễn Duy Hưng, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Phó trưởng
Ban Thường trực Ban Chỉ đạo thông tin: Nghị quyết 26-NQ/TW được thể chế hóa kịp
thời, hình thành hệ thống chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn toàn diện, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quản lý Nhà nước và hoạt động
sản xuất, kinh doanh của nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp.
Kết luận hội nghị,
đồng chí Trần Tuấn Anh ghi nhận ý kiến của các đại biểu khi đánh giá Báo cáo
Tổng kết của Ban Chỉ đạo được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, khoa học, đánh giá
sát tình hình thực tiễn, những thành tựu đạt được, chỉ rõ nguyên nhân cũng như
các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp. Đồng chí Trần Tuấn Anh cho biết, Dự thảo
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XIII) về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã kế thừa,
phát triển các quan điểm, định hướng của Nghị quyết 26-NQ/TW, khẳng định nông
nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược lâu dài trong công cuộc đổi
mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cùng một số nội dung
mới, trọng tâm được bổ sung và phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển nông
nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045.
Đồng chí Trần Tuấn
Anh đề nghị các đồng chí trong Ban Chỉ đạo, Tổ Biên tập nghiêm túc tiếp thu các
ý kiến tại hội nghị, những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, nhất là những vấn đề
cần kế thừa, phát triển Nghị quyết 26-NQ/TW, những quan điểm, giải pháp mới cho
giai đoạn đến năm 2030 để tiếp tục hoàn thiện Báo cáo tổng kết trình Bộ Chính
trị, đảm bảo đúng thời gian, tiến độ đã đề ra.
NẾU CÁC BẠN ĐÃ HẠ THẤP CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH THÌ ĐỪNG MONG CHÚNG TÔI ỦNG HỘ!
Đẩy lùi nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ
Ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (từ ngày 20 đến 25-1-1994), Đảng ta xác định 4 nguy cơ cản trở thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta, đó là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết, tác động lẫn nhau.
Sau gần 30 năm, vì
sao Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra còn
tồn tại, có mặt gay gắt hơn. Vậy nhận diện nguy cơ trong tình hình mới thế nào?
Giải pháp nào để đẩy lùi, giữ vững sự trường tồn của dân tộc, giữ vững chế độ
XHCN? Trong loạt bài này, chúng tôi chỉ góp một góc nhìn để nhận định, phân
tích, làm rõ hơn vấn đề nêu trên để thêm vững tin vào con đường đi lên CNXH mà
Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Bài 1: Nguy cơ “chệch hướng” và “người
thuyền trưởng” vững lái
Với sứ mệnh là
"người thuyền trưởng", trong suốt 92 năm chèo lái “con thuyền cách
mạng” nước ta, có lúc, có thời điểm Đảng ta cũng phạm những sai lầm, khuyết
điểm. Nhưng với tinh thần thẳng thắn, Trung ương Đảng đã không hề che giấu
khuyết điểm mà luôn nhìn thẳng vào sự thật, kịp thời điều chỉnh để vững lái đưa
cách mạng Việt Nam liên tục phát triển, đạt nhiều thành tựu to lớn.
Những “khúc cua” lịch sử và Đảng không giấu
khuyết điểm
Thực tiễn phong
phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua đã chứng minh sự lãnh
đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi,
lập nên nhiều kỳ tích trong các thời kỳ cách mạng.
Thế nhưng, trong
quá trình lãnh đạo cách mạng, trước những “khúc cua” lịch sử ở từng giai đoạn,
hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta cũng từng mắc phải những sai lầm, khuyết điểm, thậm
chí là nghiêm trọng. Trong cuộc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc
(1953-1956), khi nhận ra những sai lầm, Trung ương Đảng đã họp tự kiểm điểm
suốt một tháng (từ ngày 25-8 đến 24-9-1956). Trung ương Đảng thẳng thắn thừa
nhận: “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những
sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với
nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với chế độ
pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân”(*). Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị
phụ trách công tác này đều tự phê bình một cách sâu sắc và tự nhận hình thức kỷ
luật rất nghiêm khắc. Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức. Các đồng chí Lê Văn
Lương, Hoàng Quốc Việt xin rút khỏi Bộ Chính trị. Sau khi hội nghị kết thúc,
Đảng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, công khai thừa nhận sai
lầm trước nhân dân.
Sau hơn 10 năm đất
nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH nhưng rơi vào khủng hoảng kinh
tế-xã hội, Đảng ta một lần nữa tiến hành đợt tự phê bình và phê
bình nghiêm túc và sâu sắc. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ
sự thật, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) dũng cảm nhận thấy “những sai lầm
nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến
lược và tổ chức thực hiện”. Đảng tự thấy mình mắc “bệnh chủ quan, duy ý chí,
lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là
khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế-xã hội, không chấp hành nghiêm
chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”.
Những năm đầu của
thời kỳ đổi mới, một số cán bộ, đảng viên muốn rập khuôn kinh nghiệm cải tổ, cải
cách của nước ngoài, nhất là trong đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế và hoạt
động báo chí, văn hóa, văn nghệ. Đã chớm nở khuynh hướng đòi “dân chủ, công
khai" một cách cực đoan; khuynh hướng phủ nhận quá khứ, bôi đen hiện thực;
khuynh hướng muốn chuyển nhanh nhất loạt sang cơ chế thị trường tự do, muốn tư
nhân hóa hoàn toàn, "thương mại hóa" báo chí, xuất bản... Những
khuynh hướng này đã được ngăn chặn, uốn nắn kịp thời. Các nghị quyết, chỉ thị
của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã định hướng tư tưởng
trong toàn Đảng và xã hội. Thực sự có cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng để đổi
mới và giữ vững định hướng XHCN.
Thực tế Đảng ta
cũng đã phạm những khuyết điểm, sai lầm. Điều quan trọng là Đảng ta không che
giấu khuyết điểm, sai lầm, mà công khai thừa nhận, thành tâm lắng nghe ý kiến
nhân dân. Và một khi phát hiện và nhận ra sai lầm thì quyết tâm sửa chữa để
phấn đấu đi lên, từ đó Đảng ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.
Có thể khẳng định,
có được đường lối chính trị đúng trong hoàn cảnh phát triển bình thường đã là
việc khó; ở những bước ngoặt của lịch sử, trong bối cảnh đất nước và quốc tế có
những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, thì việc Đảng ta xác định được một đường
lối chính trị đúng và bảo đảm cho đường lối đó thành hiện thực càng khó khăn
hơn. Nó là kết quả của trí tuệ, tài năng, phẩm chất, khí phách. Nó trải qua một
quá trình suy tư gian khổ, tìm tòi, đổi mới tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn,
có khi phải làm đi làm lại nhiều lần, thậm chí có lúc đã không tránh khỏi sai
lầm và tạm thời thất bại.
Giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng
Độc lập dân tộc
gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt
Nam. Tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta một
lần nữa khẳng định: Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn
đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế
phát triển của lịch sử.
Những bài học
xương máu được Đảng ta rút ra trong suốt hơn 35 năm đổi mới, để giữ vững định
hướng và kiên định con đường đã chọn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thì
Đảng phải giữ vững vai trò cầm quyền của mình.
Sở dĩ phải kiên
định sự lãnh đạo của Đảng, coi đây là vấn đề nguyên tắc, bởi sự lãnh đạo của
Đảng là nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường và mọi hoạt
động xã hội. Trong nhịp điệu và tiến trình của công cuộc đổi mới, vai trò lãnh
đạo của Đảng rất quan trọng, ở những bước chuyển giai đoạn thì vai trò lãnh đạo
của Đảng càng đặc biệt được khẳng định. Điều đó cắt nghĩa vì sao suốt mấy chục
năm qua, nhất là những năm gần đây, các thế lực thù địch không ngừng tấn công
vào Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ vũ cho con đường phát triển "kinh tế thị
trường tự do", "đa nguyên, đa đảng", tìm mọi cách thủ tiêu, hạ
thấp vai trò lãnh đạo của Đảng... nhưng đều nhận lấy sự thất bại và không bao
giờ hiện thực được những mưu đồ, tâm địa xấu xa.
Vấn đề đặt ra là
chúng ta phải kiên định những gì để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, để công
cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng đạt kết quả tốt? Chúng tôi xin đề cập một số
giải pháp sau:
Trước hết, mỗi cấp
ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên cần giữ vững bản chất giai cấp và tính tiên
phong của Đảng. Bản chất giai cấp của Đảng thể hiện trước hết ở mục tiêu, lý
tưởng của Đảng. Khi định ra đường lối, chính sách, Đảng phải luôn luôn đứng
vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành
với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng kiên định lập
trường có tính nguyên tắc của mình là lãnh đạo nhân dân xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh theo con đường
XHCN. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình hình trong nước và thế giới dù khó
khăn, phức tạp đến đâu, Đảng cũng vững vàng, không xa rời mục tiêu, lý tưởng
của mình, đấu tranh không mệt mỏi cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động.
Hai là, bảo vệ
vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đại hội VII của Đảng chính thức khẳng
định nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Theo quan điểm của Đảng ta, cho đến nay tuy có những vấn đề cần bổ sung và phát
triển, nhưng Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là học thuyết cách mạng và khoa học nhất,
tiên tiến nhất, không thể bác bỏ, phủ nhận (cả về phương pháp luận cũng
như hệ thống những luận điểm cơ bản). Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự
vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế
thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại. Đó là một hệ
thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam gắn liền với những biến động của
thế giới, có quan hệ đến đời sống của giai cấp và dân tộc, xã hội và con người,
quốc gia và quốc tế.
Ba là, giữ vững và
bảo vệ các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Đảng là một tổ chức chặt chẽ,
thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ
bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ
luật nghiêm minh. Sức mạnh của Đảng là ở tính thống nhất, đoàn kết chặt chẽ
"trăm người tiến đánh chỉ như một người". Xa rời hoặc không thực hiện
nghiêm túc tập trung dân chủ thì Đảng không thể có được sức mạnh. Bên cạnh đó,
thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương
lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động
trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Bốn là, thường
xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Bác Hồ khẳng định, Đảng ta là đảng
cầm quyền, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, lo đến cả "tương cà, mắm muối” và những thứ cần thiết cho đời sống
thường ngày của nhân dân. Phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,
đồng thời phải cải tiến, đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao chất
lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước và
các đoàn thể nhân dân. Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước; Đảng lãnh
đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống chính trị.
Quán triệt những
nguyên tắc cơ bản trên đây, chúng ta sẽ từng bước đổi mới, chỉnh đốn Đảng có
kết quả, đồng thời tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong
của Đảng, xây dựng Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
tổ chức và cán bộ; làm cho Đảng có đủ trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, phẩm
chất đạo đức, đoàn kết thống nhất, có sức chiến đấu cao, đảm đương sứ mệnh lãnh
đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh
hằng mong mỏi.