Ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (từ ngày 20 đến 25-1-1994), Đảng ta xác định 4 nguy cơ cản trở thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta, đó là: Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết, tác động lẫn nhau.
Sau gần 30 năm, vì
sao Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra còn
tồn tại, có mặt gay gắt hơn. Vậy nhận diện nguy cơ trong tình hình mới thế nào?
Giải pháp nào để đẩy lùi, giữ vững sự trường tồn của dân tộc, giữ vững chế độ
XHCN? Trong loạt bài này, chúng tôi chỉ góp một góc nhìn để nhận định, phân
tích, làm rõ hơn vấn đề nêu trên để thêm vững tin vào con đường đi lên CNXH mà
Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Bài 1: Nguy cơ “chệch hướng” và “người
thuyền trưởng” vững lái
Với sứ mệnh là
"người thuyền trưởng", trong suốt 92 năm chèo lái “con thuyền cách
mạng” nước ta, có lúc, có thời điểm Đảng ta cũng phạm những sai lầm, khuyết
điểm. Nhưng với tinh thần thẳng thắn, Trung ương Đảng đã không hề che giấu
khuyết điểm mà luôn nhìn thẳng vào sự thật, kịp thời điều chỉnh để vững lái đưa
cách mạng Việt Nam liên tục phát triển, đạt nhiều thành tựu to lớn.
Những “khúc cua” lịch sử và Đảng không giấu
khuyết điểm
Thực tiễn phong
phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua đã chứng minh sự lãnh
đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi,
lập nên nhiều kỳ tích trong các thời kỳ cách mạng.
Thế nhưng, trong
quá trình lãnh đạo cách mạng, trước những “khúc cua” lịch sử ở từng giai đoạn,
hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta cũng từng mắc phải những sai lầm, khuyết điểm, thậm
chí là nghiêm trọng. Trong cuộc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc
(1953-1956), khi nhận ra những sai lầm, Trung ương Đảng đã họp tự kiểm điểm
suốt một tháng (từ ngày 25-8 đến 24-9-1956). Trung ương Đảng thẳng thắn thừa
nhận: “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những
sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với
nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với chế độ
pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân”(*). Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị
phụ trách công tác này đều tự phê bình một cách sâu sắc và tự nhận hình thức kỷ
luật rất nghiêm khắc. Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức. Các đồng chí Lê Văn
Lương, Hoàng Quốc Việt xin rút khỏi Bộ Chính trị. Sau khi hội nghị kết thúc,
Đảng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, công khai thừa nhận sai
lầm trước nhân dân.
Sau hơn 10 năm đất
nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH nhưng rơi vào khủng hoảng kinh
tế-xã hội, Đảng ta một lần nữa tiến hành đợt tự phê bình và phê
bình nghiêm túc và sâu sắc. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ
sự thật, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) dũng cảm nhận thấy “những sai lầm
nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến
lược và tổ chức thực hiện”. Đảng tự thấy mình mắc “bệnh chủ quan, duy ý chí,
lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là
khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế-xã hội, không chấp hành nghiêm
chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”.
Những năm đầu của
thời kỳ đổi mới, một số cán bộ, đảng viên muốn rập khuôn kinh nghiệm cải tổ, cải
cách của nước ngoài, nhất là trong đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế và hoạt
động báo chí, văn hóa, văn nghệ. Đã chớm nở khuynh hướng đòi “dân chủ, công
khai" một cách cực đoan; khuynh hướng phủ nhận quá khứ, bôi đen hiện thực;
khuynh hướng muốn chuyển nhanh nhất loạt sang cơ chế thị trường tự do, muốn tư
nhân hóa hoàn toàn, "thương mại hóa" báo chí, xuất bản... Những
khuynh hướng này đã được ngăn chặn, uốn nắn kịp thời. Các nghị quyết, chỉ thị
của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã định hướng tư tưởng
trong toàn Đảng và xã hội. Thực sự có cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng để đổi
mới và giữ vững định hướng XHCN.
Thực tế Đảng ta
cũng đã phạm những khuyết điểm, sai lầm. Điều quan trọng là Đảng ta không che
giấu khuyết điểm, sai lầm, mà công khai thừa nhận, thành tâm lắng nghe ý kiến
nhân dân. Và một khi phát hiện và nhận ra sai lầm thì quyết tâm sửa chữa để
phấn đấu đi lên, từ đó Đảng ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.
Có thể khẳng định,
có được đường lối chính trị đúng trong hoàn cảnh phát triển bình thường đã là
việc khó; ở những bước ngoặt của lịch sử, trong bối cảnh đất nước và quốc tế có
những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, thì việc Đảng ta xác định được một đường
lối chính trị đúng và bảo đảm cho đường lối đó thành hiện thực càng khó khăn
hơn. Nó là kết quả của trí tuệ, tài năng, phẩm chất, khí phách. Nó trải qua một
quá trình suy tư gian khổ, tìm tòi, đổi mới tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn,
có khi phải làm đi làm lại nhiều lần, thậm chí có lúc đã không tránh khỏi sai
lầm và tạm thời thất bại.
Giữ vững vai trò cầm quyền của Đảng
Độc lập dân tộc
gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt
Nam. Tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta một
lần nữa khẳng định: Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn
đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế
phát triển của lịch sử.
Những bài học
xương máu được Đảng ta rút ra trong suốt hơn 35 năm đổi mới, để giữ vững định
hướng và kiên định con đường đã chọn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thì
Đảng phải giữ vững vai trò cầm quyền của mình.
Sở dĩ phải kiên
định sự lãnh đạo của Đảng, coi đây là vấn đề nguyên tắc, bởi sự lãnh đạo của
Đảng là nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường và mọi hoạt
động xã hội. Trong nhịp điệu và tiến trình của công cuộc đổi mới, vai trò lãnh
đạo của Đảng rất quan trọng, ở những bước chuyển giai đoạn thì vai trò lãnh đạo
của Đảng càng đặc biệt được khẳng định. Điều đó cắt nghĩa vì sao suốt mấy chục
năm qua, nhất là những năm gần đây, các thế lực thù địch không ngừng tấn công
vào Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ vũ cho con đường phát triển "kinh tế thị
trường tự do", "đa nguyên, đa đảng", tìm mọi cách thủ tiêu, hạ
thấp vai trò lãnh đạo của Đảng... nhưng đều nhận lấy sự thất bại và không bao
giờ hiện thực được những mưu đồ, tâm địa xấu xa.
Vấn đề đặt ra là
chúng ta phải kiên định những gì để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, để công
cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng đạt kết quả tốt? Chúng tôi xin đề cập một số
giải pháp sau:
Trước hết, mỗi cấp
ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên cần giữ vững bản chất giai cấp và tính tiên
phong của Đảng. Bản chất giai cấp của Đảng thể hiện trước hết ở mục tiêu, lý
tưởng của Đảng. Khi định ra đường lối, chính sách, Đảng phải luôn luôn đứng
vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành
với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng kiên định lập
trường có tính nguyên tắc của mình là lãnh đạo nhân dân xây dựng một nước Việt
Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh theo con đường
XHCN. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình hình trong nước và thế giới dù khó
khăn, phức tạp đến đâu, Đảng cũng vững vàng, không xa rời mục tiêu, lý tưởng
của mình, đấu tranh không mệt mỏi cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động.
Hai là, bảo vệ
vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đại hội VII của Đảng chính thức khẳng
định nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Theo quan điểm của Đảng ta, cho đến nay tuy có những vấn đề cần bổ sung và phát
triển, nhưng Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là học thuyết cách mạng và khoa học nhất,
tiên tiến nhất, không thể bác bỏ, phủ nhận (cả về phương pháp luận cũng
như hệ thống những luận điểm cơ bản). Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự
vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế
thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại. Đó là một hệ
thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam gắn liền với những biến động của
thế giới, có quan hệ đến đời sống của giai cấp và dân tộc, xã hội và con người,
quốc gia và quốc tế.
Ba là, giữ vững và
bảo vệ các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Đảng là một tổ chức chặt chẽ,
thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ
bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ
luật nghiêm minh. Sức mạnh của Đảng là ở tính thống nhất, đoàn kết chặt chẽ
"trăm người tiến đánh chỉ như một người". Xa rời hoặc không thực hiện
nghiêm túc tập trung dân chủ thì Đảng không thể có được sức mạnh. Bên cạnh đó,
thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương
lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động
trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Bốn là, thường
xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Bác Hồ khẳng định, Đảng ta là đảng
cầm quyền, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, lo đến cả "tương cà, mắm muối” và những thứ cần thiết cho đời sống
thường ngày của nhân dân. Phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,
đồng thời phải cải tiến, đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao chất
lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước và
các đoàn thể nhân dân. Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước; Đảng lãnh
đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống chính trị.
Quán triệt những
nguyên tắc cơ bản trên đây, chúng ta sẽ từng bước đổi mới, chỉnh đốn Đảng có
kết quả, đồng thời tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong
của Đảng, xây dựng Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
tổ chức và cán bộ; làm cho Đảng có đủ trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, phẩm
chất đạo đức, đoàn kết thống nhất, có sức chiến đấu cao, đảm đương sứ mệnh lãnh
đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh
hằng mong mỏi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét