Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2022

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH: TẠI SAO CỔNG THÔNG TIN CHÍNH PHỦ LẠI QUẢNG CÁO CHO "TRƯỜNG ĐẠI HỌC FULBRIGHT DO CIA MỞ?

         Kính gửi cổng thông tin điện tử chính phủ!
Tôi lượm được hình ảnh này trên Facebook không biết có thật không ?
Một trường đại học Fulbright do tên CIA mở sao cổng thông tin điện tử lại bị a cho bọn chúng như đám phản động vậy? Hoạt động này là quảng cáo cho bọn phản động một cách bất chấp vậy? Chúng tôi nghĩ những cá nhân tập thể bi a quảng cáo cho trường đại hoc Fulbright Họ có tư tưởng phản động nếu chính phủ Việt Nam vẫn để thể này thì chế độ XHCN Việt Nam sẽ mất trong tay bọn chúng.
Sau đây là ý kiến của những người dân  
Thật khó hiểu, một trường do tên đồ tể khát máu Thảm sát Thạnh Phong Bob Kerrey. Hắn cầm đầu vụ thảm sát ngày 25 tháng 2 năm 1969 tại Khâu Băng (ấp Thạnh Hòa, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre), lực lượng biệt kích SEAL của quân đội Mỹ, do Bob Kerrey chỉ huy, giết hại 21 thường dân gồm người già, phụ nữ và trẻ em trong khi truy tìm một cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
Nếu Mỹ thực sự tốt với Việt Nam thì họ phải giúp Việt Nam đào tạo cán bộ kỹ thuật - công nghệ là cái mà chúng ta cần chứ không phải là những thứ phục vụ cho âm mưu DBHB của họ. Hãy xem việc mới đây đại sứ Mỹ khen ngợi con phản động phạm đoan trang như là minh chứng rõ ràng cho bản chất hai mặt nham hiểm của Washington!
1. Miếng pho mát miễn phí chỉ có trong chiếc bẫy chuột. 2. Trong hình có chiếc lọ nhỏ xíu à, nhưng nó mang sức mạnh hủy diệt.
Điều rất lo lắng là : TTCP lại PR cho trường chống cộng Fulbright./.
Môi Trường ST.

VĨ TUYẾN 17 GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI!

         Theo báo cáo gửi về Hà Nội của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng nêu rõ ý tưởng giới tuyến quân sự là do phái đoàn Anh khởi xướng. Sau đó, ý tưởng được Pháp và Mỹ ủng hộ. Mỹ cho rằng nên để giới tuyến ở vĩ tuyến 20 (Thanh Hóa) còn Pháp cho rằng nên ở vĩ tuyến 16 (Quảng Nam - Đà Nẵng). Cả Pháp và Mỹ đều muốn chia Việt Nam thành hai quốc gia riêng biệt chứ không chỉ dừng lại là giới tuyến quân sự tạm thời. Về phía Trung Quốc, họ lúc đó đã nắm được ý đồ phá rối hội nghị của Mỹ nhưng cũng ủng hộ quan điểm về chia cắt Việt Nam thành hai quốc gia riêng biệt của các nước phương Tây bất chấp đây là điều Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hết sức phản đối.
Ngày 02 tháng 3 năm 1954, trong thư gửi Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu nội dung: "Nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, có thể bảo đảm được một khu vực tương đối hoàn chỉnh. Trên thực tế, giới tuyến đình chiến hôm nay có thể trở thành ranh giới chia cắt trong tương lai…Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt. Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ Bắc"
Khi mới bắt đầu bước vào đàm phán, Việt Nam chủ động đưa ra phương án tập kết tại chỗ đối với cả chính trị lẫn quân sự. Tuy nhiên, phía Pháp bác bỏ và yêu cầu phải có tập kết theo ranh giới rõ ràng khiến Việt Nam chuyển sang chủ trương lấy Vĩ tuyến 13, cắt ngang đèo Đại Lãnh giữa Phú Yên và Khánh Hòa, làm giới tuyến quân sự tạm thời bởi Việt Nam có vùng tự do Liên khu V kéo dài từ Quảng Nam vào đến Phú Yên và thời hạn tổng tuyển cử là 6 tháng sau khi ngừng bắn. Giới tuyến quân sự không được coi là biên giới quốc gia. Trước khi đàm phán bắt đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muốn tập kết tại chỗ chứ không cần giới tuyến quân sự tạm thời khi ít nhất 75% diện tích lãnh thổ Việt Nam đang do họ kiểm soát. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thuộc cấp nhận định phương án này chắc chắn sẽ bị Pháp phản đối nhưng phía Bắc Việt sẽ dùng chiến thắng tại Điện Biên Phủ để buộc Pháp phải chấp nhận tập kết tại chỗ. Trong trường hợp không thành công, họ sẽ chuyển sang phương án ấy vĩ tuyến 13.
Theo phương án thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định lấy vĩ tuyến 13 làm giới tuyến quân sự mặc dù là hợp lý nếu xét trên thực tế và sẽ giúp Bắc Việt Nam có được Cố đô Huế, cũng như các vị trí chiến lược như Đà Nẵng hay Tây Nguyên (đây sẽ là những bàn đạp chiến lược cho các hoạt động quân sự và hỗ trợ lực lượng chính trị của Việt Minh ở miền Nam Việt Nam) nhưng đây chỉ là điểm khởi đầu để đàm phán, vĩ tuyến 17 (Bến Hải - Quảng Trị) là không thể chấp nhận được và phái đoàn sẽ chấp nhận vĩ tuyến 16 (Quảng Nam - Đà Nẵng). Trong trường hợp đàm phán khó khăn, Việt Nam sẽ chấp nhận để Pháp kiểm soát Đà Nẵng và Đường 9 - Khe Sanh để nối Biển Đông với Lào và chấp nhận để Hoàng tộc nhà Nguyễn có quyền tảo mộ hàng năm (do theo phương án này thì Huế sẽ nằm trong vùng kiểm soát của Quân đội Nhân dân Việt Nam).
Hai bên Việt Nam và Pháp ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực, lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một khu vực phi quân sự hai bên giới tuyến, tập kết chính trị tại chỗ, tập kết dân sự theo nguyên tắc tự nguyện.
Việt Nam sẽ thực hiện thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước vào tháng 7 năm 1956, dưới sự kiểm soát của ủy ban quốc tế (Ấn Độ, Ba Lan và Canada)
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa miễn cưỡng chấp nhận giới tuyến tạm thời dù đã có chiến thắng ở trận Điện Biên Phủ và mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra với đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quyết tâm đạt được điều khoản mà trong đó Việt Nam được thống nhất về mọi mặt. Các nhà sử học Việt Nam cho rằng Việt Nam chấp nhận đàm phán do đó là thời điểm thuận lợi nhất để đạt được lợi ích tối đa. Tương quan lực lượng Việt - Pháp thật sự không có lợi cho Việt Minh nếu tiếp tục chiến đấu. Điều Việt Minh cần lúc này là tạm hoãn chiến tranh để khôi phục thực lực, sử dụng giải pháp chính trị để giành chiến thắng toàn diện. Đồng thời, khi phái đoàn Việt Nam sang Liên Xô và Trung Quốc để kêu gọi sự ủng hộ thì hai cường quốc này tuyên bố sẽ ngừng hỗ trợ Việt Nam nếu Việt Nam tiếp tục chiến tranh. Lúc đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng nhận định: "Kết quả từ Hiệp định đã làm cho lực lượng so sánh giữa ta và địch biến chuyển có lợi cho ta nhưng chưa phải biến chuyển căn bản có tính chất chiến lược". Đặc biệt, cục diện quốc tế lúc đó thực sự bất lợi cho Việt Nam khi cả Liên Xô và Trung Quốc đều muốn hòa hoãn với phương Tây. Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng chính sự can thiệp của các cường quốc khiến Việt Nam không thể giành được thắng lợi toàn diện ngay lập tức mà phải tiến từng bước. Điều này cũng lặp lại ở Hội nghị Paris, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào năm 1973 mới chỉ giành được chiến thắng chiến lược khi đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngụy quyền Sài Gòn mới chịu đầu hàng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Trong quá trình thương thuyết, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiểu rằng họ cần tranh thủ quá trình đàm phán để đạt được sự có lợi mà không phải đổ máu. Đầu tiên, họ muốn tập kết tại chỗ do đang nắm lợi thế về dân số và diện tích kiểm soát (trên 80% lãnh thổ). Sau đó, do biết Pháp không chấp nhận đề xuất này nên họ chuyển sang chấp nhận giới tuyến quân sự tạm thời. Họ mong muốn khu vực giới tuyến quân sự tạm thời để tập kết lực lượng hai bên nằm dời sâu về phía Nam. Ban đầu, họ định đề xuất vĩ tuyến 13 (phía Bắc Phú Yên), căn cứ theo quyền kiểm soát của họ đối với vùng rừng núi rộng lớn. Tuy nhiên, đề xuất này bị phía Pháp bác bỏ, với lý do tuy những vùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát có diện tích rộng lớn, nhưng lại có rất ít dân (trên thực tế hơn 90% dân chúng Việt Nam sống ở nông thôn, nơi Việt Minh nắm quyền kiểm soát), trong khi quân đội Pháp kiểm soát toàn bộ các thành phố lớn, các trục đường quan trọng ở đồng bằng và khu ven biển. Theo Pháp, vĩ tuyến 19 (phía Bắc Vinh - Nghệ An), sẽ là thích hợp hơn. Lúc này, Việt Nam muốn kiểm soát cả Huế, Đà Nẵng và Tây Nguyên, những địa bàn có tính chiến lược và biểu tượng.
Trước sự cứng rắn không khoan nhượng của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 24 tháng 6 năm 1954, phía Pháp đưa ra đề nghị ở vĩ tuyến 18 (sông Gianh - Quảng Bình), với lý do họ cần đường thông thương qua Lào, tức quốc lộ 9. Phía Việt Minh vẫn không nhượng bộ. Hội nghị bế tắc trong 18 ngày.
Ngày 9 tháng 7 năm 1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề nghị hạ xuống vĩ tuyến 14 (Bình Định). Pháp vẫn giữ vững vĩ tuyến 18
Ngày 13 tháng 7 năm 1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hạ yêu cầu xuống vĩ tuyến 16 (Quảng Nam - Đà Nẵng)
Hội nghị chỉ tiếp tục khai thông khi đồng minh Trung Quốc tạo sức ép để đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề xuất chọn vĩ tuyến 16 (Quảng Nam - Đà Nẵng), vị trí mà vào năm 1945, các nước Đồng Minh đã vạch ra nhằm phân chia khu vực giải giới quân Nhật ở Đông Dương, kèm theo lời cam kết về Tổng tuyển cử trong thời gian 6 tháng. Một lần nữa, phía Pháp bác bỏ đề xuất này và đưa ra đề xuất của mình là ở khu vực vĩ tuyến 18 và chỉ chấp nhận Tổng tuyển cử về mặt nguyên tắc với những điều khoản mơ hồ.
Mãi đến ngày 19 tháng 7 năm 1954, cả phía Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thông qua đề nghị của phía Liên Xô chọn vĩ tuyến 17 (Bến Hải - Quảng Trị) và ấn định thời gian Tổng tuyển cử trong vòng 2 năm (từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 7 năm 1956). Ngày hôm sau, thứ Tư, ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp ước Genève được ký kết. Theo đó, Việt Nam được chia làm 2 vùng tập kết quân sự; ranh giới là vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) không được coi là biên giới quốc gia hay chính trị. Một khu phi quân sự, rộng không quá 5 cây số dài theo hai bên bờ sông Bến Hải, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 14 tháng 8 năm 1954.
Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy không thỏa mãn vì cho rằng họ xứng đáng kiểm soát một khu vực rộng lớn hơn nhiều và thời cơ để nắm quyền kiểm soát toàn bộ đất nước. Tuy nhiên, trước sức ép từ đồng minh, họ đành chấp nhận giải pháp dung hòa "vĩ tuyến 17" kèm theo lời hứa hẹn sẽ tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất sau 2 năm. Dù đã lường trước điều này, nhưng họ không thể ngờ đó lại chính là cuộc chia cắt những 20 năm, cùng với một cuộc chiến tranh khốc liệt chưa từng có.
Mỹ không công nhận kết quả Hiệp định Genève tuy nhiên vẫn tuyên bố ủng hộ nền hòa bình tại Việt Nam và thúc đẩy sự thống nhất hai miền Nam - Bắc Việt Nam bằng các cuộc bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, những nguồn tin khác nhau chỉ ra cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành, do đó Mỹ thực tế lại ủng hộ ngụy quyền Sài Gòn từ chối tổ chức Tổng tuyển cử tự do thống nhất Việt Nam.
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Ngô Đình Diệm (tay sai của Mỹ) tuyên bố: "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng đồng thời Ngô Đình Diệm còn nói thêm là ông ta "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc". Đáp lại những cáo buộc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời với các nhà báo Mỹ ở hãng U.P rằng: "Đó là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam."
Theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định Genève thì tổng tuyển cử ở cả hai miền được dự trù vào tháng 7 năm 1956 nhưng Ngô Đình Diệm bác bỏ mọi cuộc thảo luận sơ khởi, hành động này khiến Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây. Theo nhận xét của Tây phương thì Ngô Đình Diệm là kẻ ngoan cố và khao khát quyền lực chuyên chế. Miền Bắc có dân số đông hơn miền Nam 2 triệu người (tính cả gần 1 triệu người miền Bắc bị Mỹ - Diệm cưỡng bức di cư vào Nam). Hơn nữa, vào thời điểm 1955 – 1956, trước sự hỗn loạn gây ra bởi các giáo phái và do hoạt động bí mật của Việt Minh tại miền Nam, cuộc Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam tạo ra bầu không khí căng thẳng dẫn đến cuộc nổi dậy của nông dân tại các vùng lân cận Vinh, những tình hình diễn ra ở cả hai miền khiến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương không có hy vọng đảm bảo một cuộc bầu cử thật sự tự do trong đó cử tri có thể bỏ phiếu theo ý muốn mà không sợ bị trả thù chính trị.Theo Mark Woodruff, những quan sát viên của Canada thuộc Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến đồng ý với quan điểm của Quốc gia Việt Nam rằng miền Bắc không đủ điều kiện tổ chức bầu cử công bằng, đồng thời báo cáo rằng cả hai miền đều không thi hành nghiêm chỉnh thỏa thuận ngừng bắn trong khi phái đoàn Ấn Độ và Ba Lan có ý kiến ngược lại. Tuy nhiên, Clark Clifford đã dẫn các báo cáo của Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến cho biết: trong giai đoạn 1954-1956, họ chỉ nhận được 19 đơn khiếu nại về việc trả thù chính trị trên toàn lãnh thổ miền Bắc Việt Nam. Trên thực tế, ngay từ mùa hè năm 1956, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ngừng tiến hành cải cách ruộng đất và tới cuối năm 1956, tình hình hoàn toàn đi vào ổn định. Điều này đã đủ đảm bảo cho cuộc Tổng tuyển cử được diễn ra. Trong khi đó, hoạt động Tố cộng, diệt cộng và đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục khiến miền Nam trở nên hỗn loạn.
Năm 1956, Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không".
Như vậy, Cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam đã không được tổ chức. Tới năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử khác để thống nhất đất nước về mặt Nhà nước.
- Thông tin bổ sung: Cầu Hiền Lương do Pháp xây dựng lại vào tháng 5 năm 1952, dài 178 mét, 7 nhịp, trụ bằng bê tông cốt thép, mặt cầu lát gỗ thông, rộng 4 mét. Từ khi sông Bến Hải thành giới tuyến, cầu Hiền Lương cũng bị chia đôi, mỗi bên dài 89m, sơn hai màu khác nhau. Bờ Bắc 450 tấm ván mặt cầu. Bờ Nam 444 tấm . Đường ranh phân chia Nam - Bắc là một vạch sơn trắng rộng 1cm làm ranh giới hai miền. Hàng ngày công an và cảnh sát hai miền thay phiên nhau canh gác, đổi phiên qua lại theo chế độ liên hợp. Âm mưu dùng màu sơn để tạo nên hình ảnh chia cắt đất nước ta, Mỹ-Diệm chủ động sơn màu xanh nửa cầu phía Nam. Nhưng với ý nguyện “thống nhất non sông”, chúng vừa sơn xong đầu hôm, thì trong đêm, công an ta sơn nửa phần cầu bờ Bắc bằng màu xanh cho hòa một màu. Thời gian sau chúng lại cho người ra sơn lại phần cầu phía Nam bằng màu nâu. Cứ thế, cầu Hiền Lương luôn thay đổi màu sắc. Hễ địch sơn một màu khác đi để tạo ra hai màu đối lập, thì lập tức ta sơn lại thành một màu chung. “Cuộc chiến sơn màu cầu” kéo dài gần 5 năm trời, cuối cùng chính quyền ngụy Sài Gòn phải chịu thua để cho chiếc cầu chung một màu sơn thống nhất./.
Môi Trường ST.

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2022

Kỷ niệm 74 năm Chiến công 19/3- Trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên

 Đầu năm 1948, quân Pháp triển khai chiến thuật Đờ La tua (De Latour), xây dựng hàng trăm đồn bót, tháp canh trên các trục lộ từ Tân Ba lên thị trấn Tân Uyên tỉnh Thủ Biên (nay là Bình Dương), đến Sở cao su Phước Hòa và  từ ấp Cây Đào đến Rạch Đông để đàn áp phong trào cách mạng. Là phương tiện bố phòng, tháp có hình vuông, mỗi cạnh từ 4 - 5m, tường dày từ 0,5- 0,8m, cao từ 8- 10m, được xây bằng đá hoặc gạch nung. Xung quanh được bao bọc bởi lũy đất dày, có nhiều lỗ châu mai, hàng rào kẽm gai và chông mìn dày đặc… Mỗi tháp canh được bố trí cách nhau khoảng 1km để có thể báo hiệu và chi viện cho nhau nếu bị tấn công. Hệ thống tháp canh của thực dân Pháp ở miền Đông Nam bộ đã gây cho lực lượng kháng chiến của ta rất nhiều khó khăn, đặc biệt là công tác giao liên và tiếp tế lương thực, vũ khí...

Ông Hai Cà (Trần Công An) phụ trách đội du kích Tân Uyên được giao nhiệm vụ phá tháp canh. Với quyết tâm phải đánh thắng trận đầu, mở đường cho phong trào diệt tháp canh của địch về sau; đêm ngày 18 rạng sáng 19/3/1948, với trang bị chỉ 1 khẩu súng trường, 8 quả lựu đạn và 1 thang cây,  Tổ du kích 5 người (2 cảnh giới, 3 trực tiếp đánh), luồn sâu, bí mật bất ngờ, tiêu diệt toàn bộ 11 lính, thu toàn bộ súng, lựu đạn trong tháp canh. Thắng lợi của trận tập kích tháp canh Bà Kiên đã mở ra một cách đánh mới, sáng tạo, độc đáo, phù hợp với thực tế chiến trường Nam Bộ lúc bấy giờ.

Với cách đánh trên, đêm 22 rạng sáng 23/3/1950, 300 chiến sĩ chia thành 50 tổ đồng loạt phá huỷ 50 tháp canh, 70 tên địch bị tiêu diệt, ta thu 30 súng các loại. Sau trận đánh vang dội này, Hội nghị Khu 7 chính thức gọi cách tiến công đồn bót, tháp canh là "công đồn đặc biệt", gọi tắt là "đặc công". 

TRUYỀN THÔNG UKRAINE XÚC PHẠM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH CỦA CHÚNG TA!

         Sau ít ngày khi tờ Odessa của Ukraine xuyên tạc về cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, gọi những người Cộng sản Việt Nam là đế quốc, tàn ác và xâm lược miền Nam Việt Nam thì hiện nay báo chí và truyền thông Ukraine đã không ngừng công kích, bịa đặt, xuyên tạc về đất nước ta. Nấc thang cao nhất, tột cùng của sự thù địch, xúc phạm chính là họ đã công kích, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.
Bức ảnh số 1 là từ kênh truyền hình Ukraine 24TV - đơn vị truyền thông hàng đầu trong hạng mục truyền thông tin tức tại Ukraine, tiêu đề bài viết mang tên: “Hồ Chí Minh - là một “ông già độc tài” với dã tâm Bolshevik”. Đính kèm bài báo này là phóng sự cùng tên nói về những nhà độc tài (diệt chủng) trên thế giới. Nội dung phóng sự này mô tả chủ tịch Hồ Chí Minh là một người độc tài, phải chịu trách nhiệm cho nhiều người Việt Nam đã chết vì chiến tranh, đổ lỗi rằng chiến tranh xảy ra ở Việt Nam là “do dã tâm” và “củng cố quyền lực”.
Bức ảnh số 2 là từ tờ Pravda Ukraine, tờ tin tức có số lượng độc giả đứng thứ 3 tại Ukraine viết rằng mối quan hệ của Lenin với những lãnh đạo như Mao Trạch Đông, Pol Pot, Fidel Castro… đã dẫn đến chiến tranh, đói nghèo, độc tài, diệt chủng, bạo lực tại chính những quốc gia ấy. Nơi nào có sự xuất hiện của những con người trên thì nơi ấy có chiến tranh, người dân không được sống trong hòa bình, không được tự do đấu tranh… 
Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình cho Tổ quốc, cho nhân dân, vì lý tưởng cộng sản, vì độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức, vì hòa bình và công lý trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ nhân dân, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng cộng sản Việt Nam để chiến đấu, xoá tan đêm trường nô lệ mà chủ nghĩa thực dân, đế quốc tròng lên cổ người Việt Nam. Chính Người đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân đấu tranh thống nhất nước nhà. Với nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới thì Chủ tịch Hồ Chí Minh là vĩ nhân, lãnh tụ vĩ đại, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng con người.
Năm 1987, tại kỳ họp lần thứ 24, Tổ chức Giáo dục - Văn hóa - Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã ra Nghị quyết tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và nhà văn hóa kiệt xuất”. Sau khi có Nghị quyết, có 88 Quốc gia đã có các hoạt động tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết Ukraine. Những người Cộng sản Ukraine trong ngôi nhà chung Liên Xô vĩ đại đã đánh bại chủ nghĩa phát xít, cứu rỗi toàn nhân loại. Là người bạn chí nghĩa, chí tình với Việt Nam. Liên Xô nói chung và Ukraine nói chung trước đây đều có ơn với Việt Nam. Thế nhưng sau khi Liên Xô sụp đổ và đặc biệt là từ 2014 đến nay, chính quyền Ukraine đã xét lại lịch sử, bôi nhọ, xoá nhoà chiến công của cha ông họ. Ban hành nghị quyết giải trừ Chủ nghĩa Cộng sản. Xoá sạch dấu vết về một thời huy hoàng, gọi đó là thế chiến thứ hai thay vì Cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại.
Chính Quyền Ukraine đã cổ súy cho các thành phần theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phát xít mới. Nhồi sọ thế hệ trẻ sự thù địch với Nga và những nước theo con đường XHCN. Theo Mỹ và NATO để đối đầu Nga và bước qua lằn ranh đỏ. Hậu quả là buộc người Nga phải động binh khi mà an ninh quốc gia họ bị đe doạ, không gian ngày càng bị bóp nghẹt, người Nga bị giết hại. Đảng và nhà nước Việt Nam luôn kiên định với lập trường của mình. Việt Nam không chọn phe mà chỉ chọn chân lý, lẽ phải. Mong muốn Nga và Ukraine giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình, tránh gây khổ đau cho nhân dân. Thế nhưng những con dân của nước Việt Nam từ trước đến nay vẫn giữ thế trung lập hay ủng hộ Ukraine (thiểu số) chắc chắn sẽ suy nghĩ lại. Không người Việt Nam chân chính nào lại đi ủng hộ đất nước xúc phạm lãnh tụ vĩ đại của dân tộc họ. Riêng cá nhân tôi, luôn luôn ủng hộ Nga tiểu trừ Chủ nghĩa phát xít, giải trừ triệt để đối với chính quyền Ukraine./.

Yêu nước ST.

Xây dựng văn hóa phải bắt đầu từ trong tổ chức đảng và đảng viên

 

Xây dựng văn hóa phải bắt đầu từ trong tổ chức đảng và đảng viên

Cán bộ, đảng viên phấn đấu cho lý tưởng cao đẹp của Đảng cầm quyền, đó là cách thể hiện văn hóa đảng một cách sinh động nhất.

Xây dựng văn hóa trong Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là xây dựng văn hóa đạo đức cán bộ đảng viên, nhất là việc nêu cao tinh thần gương mẫu, thường xuyên rèn luyện đạo đức, lối sống, bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm, trung thực, tiên phong trong mọi hoạt động và phong trào. Đây chính là cách để mỗi cán bộ đảng viên không chỉ tự hoàn thiện mình mà còn góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng.

Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt chú trọng xây dựng văn hóa đảng, xây dựng những giá trị chuẩn mực được thể hiện trong các hoạt động của tổ chức Đảng và không bị tách rời với văn hóa dân tộc. Đây là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu ra tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chú trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, đạo đức, kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng và tiêu cực để Đảng thực sự tiêu biểu cho lương tri, phẩm giá con người Việt Nam.

Tổng Bí thư nêu rõ: Đảng ta khẳng định trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế, xây dựng văn hóa trong Đảng, trong hệ thống chính trị, xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ đảng viên.

Tiến sĩ Võ Hồng Hải, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Hà Tĩnh nhìn nhận, văn hóa chính là nền tảng, sức mạnh nội sinh và là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tổ chức và cán bộ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là những người đại diện cho văn hóa Đảng, mang văn hóa Đảng lan tỏa tới đời sống xã hội. Vì vậy trước hết cần tập trung xây dựng văn hóa trong Đảng bằng việc mỗi tổ chức Đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải làm tốt chức trách, nhiệm vụ của mình xây dựng và thực hiện chuẩn mực trong thực hiện nhiệm vụ và ứng xử với nhân dân với tinh thần hết lòng phục vụ nhân dân.

“Văn hóa Đảng là văn hóa của một tổ chức cầm quyền, tổ chức tinh hoa giữ trọng trách dẫn dắt, lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam theo một cương lĩnh, đường lối dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là tính văn hóa cao nhất của Đảng. Văn hóa Đảng trước hết là văn hóa của con người, là phẩm chất, đạo đức trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là với những người đứng đầu, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, đó là những người tiên phong, gương mẫu trong mọi lĩnh vực”, Tiến sĩ Võ Hồng Hải phân tích thêm.

Điều đặc biệt quan trọng là xây dựng văn hóa trong lãnh đạo quản lý, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức, phong cách, văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng văn hóa nêu gương trong Đảng chính là một trong những mấu chốt dẫn đến xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tiến sĩ Nghiêm Vũ Khải, đại biểu Quốc hội khóa XIV cho rằng: “Văn hóa là vô cùng quan trọng. Chống tham nhũng chính là văn hóa lòng tự trọng, nhân phẩm, giá trị mà con người, nhất là đảng viên, người có chức có quyền theo đuổi. Những giá trị cao quý, lối sống văn hóa sẽ ngăn ngừa người ta không tham nhũng. Chính trong những lúc khó khăn nhất, nhiều tấm gương giữ một khối tài sản lớn của đất nước nhưng không tơ hào một chút nào. Đấy chính là đạo đức, văn minh, văn hóa”.

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Phan Xuân Sơn, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa, đạo đức của đảng viên, cán bộ công chức là điểm tựa, là bản lề cho việc xây dựng văn hóa, đạo đức trong Đảng và trong xã hội. Nếu cán bộ đảng viên thiếu văn hóa, sa sút về đạo đức thì khó có thể xây dựng được một xã hội văn hóa.

“Xây dựng nền văn hóa của Việt Nam nói chung và xây dựng văn hóa cho con người Việt Nam nói riêng, và trong Nhà nước pháp quyền, nói xây dựng văn hóa công vụ, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội thì văn hóa công vụ là nền tảng tinh thần của hành chính, của nhà nước pháp quyền. Làm lãnh đạo, quản lý mà không có văn hóa thì đừng nói đến chuyện nhân dân có văn hóa. Văn hóa được Đảng chú trọng xây dựng trong hệ thống chính trị, trong Đảng, trong cơ quan Nhà nước, trong doanh nghiệp, trong các cộng đồng, xây dựng con người Việt Nam và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH. Phải có một môi trường văn hóa như vậy thì đạo đức cách mạng mới có đất sống, vì môi trường văn hóa sẽ nuôi dưỡng đạo đức cách mạng”, Giáo sư-Tiến sĩ Phan Xuân Sơn nhấn mạnh.

Đảng là đạo đức, là văn minh, bởi vậy xét về khía cạnh văn hóa, đạo đức của Đảng chính là thể hiện bằng đạo đức của người cán bộ thực hành đạo đức cách mạng, chính là lời nói đi đôi với việc làm, rèn luyện nhân cách, lối sống, nghiêm túc tự phê bình và phê bình, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, biết hy sinh lợi ích cá nhân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Đó chính là cách để người cán bộ, đảng viên phấn đấu cho lý tưởng cao đẹp của Đảng cầm quyền, đó cũng là cách thể hiện văn hóa đảng một cách sinh động nhất./.

 

Đoàn Quân đội đẫn đầu Chung khảo báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc

 

Đoàn Quân đội đẫn đầu Chung khảo báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc

 (ĐCSVN) - Ban Tổ chức Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc đã trao 1 giải Đặc biệt, 5 giải Nhất, 9 giải Nhì và 12 giải Ba cho các thí sinh. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư TƯ Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo TƯ trao giải Đặc biệt cho thí sinh Trần Quang Trung - Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An, thuộc Đảng bộ Quân đội.

Chiều 18/3, tại Học viện Hải quân (TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà), Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức Lễ Bế mạc và trao giải Hội thi Chung khảo toàn quốc báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 .

Dự Lễ Bế mạc Hội thi có các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Hải Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa; Phan Xuân Thủy, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Phó trưởng Ban Chỉ đạo, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi; Đỗ Phương Thảo, Giám đốc Trung tâm Thông tin công tác Tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng Ban Giám khảo Hội thi; đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị có thí sinh dự thi cùng với sự tham gia của 27 đồng chí báo cáo viên, tuyên truyền viên đến từ Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Công an Trung ương và 21 Đảng bộ tỉnh, thành.

Hội thi Chung khảo toàn quốc báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi năm 2022 diễn ra trong 2 ngày (từ 17 - 18/3/2022). Các thí sính tham gia Hội thi phải trải qua 3 phần thi: Soạn đề cương, thuyết trình và trả lời câu hỏi của Ban giám khảo.

Báo cáo kết quả Hội thi Chung khảo toàn quốc, đồng chí Đỗ Phương Thảo - Giám đốc Trung tâm Thông tin công tác Tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng Ban Giám khảo Hội thi cho biết: Với tinh thần trách nhiệm cao của các thành viên Ban Tổ chức, Ban Giám khảo, Tổ Thư ký; tinh thần xây dựng, chấp hành Quy chế Hội thi của các Đoàn, và đặc biệt là sự nỗ lực, cố gắng của 27 thí sinh, Hội thi Chung khảo toàn quốc báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã thành công tốt đẹp.

Đồng chí Đỗ Phương Thảo cho biết, tham dự vòng Chung khảo toàn quốc có 27 thí sinh đến từ Đảng bộ Quân đội, Đảng bộ Công an Trung ương và 21 Đảng bộ tỉnh, thành phố, trong đó, có 7 thí sinh nữ chiếm tỷ lệ  25,9 %; 20 thí sinh nam, chiếm tỷ lệ 74,1%; 01 thí sinh học hàm Phó Giáo sư; 3 thí sinh học vị Tiến sĩ; 19 báo cáo viên thuộc lực lượng vũ trang, chiếm 70,4%. Thí sinh ít tuổi nhất là đồng chí Lê Hảo, Đảng bộ TP Hồ Chí Minh, sinh năm 1994 (28 tuổi).

Trải qua nhiều vòng thi, từ cơ sở đến nay, 27 đồng chí báo cáo viên, tuyên truyền viên đã tiếp tục khẳng định bản lĩnh chính trị, kỹ năng, nghiệp vụ tuyên truyền miệng, tâm huyết, trách nhiệm của mình. Đồng thời, với tỷ lệ báo cáo viên chiếm 70,4%, công tác tuyên truyền miệng, hoạt động báo cáo viên trong lực lượng vũ trang thực sự được các cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hiệu quả, đóng góp không nhỏ vào việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị.

Về chủ đề dự thi, cũng như tại các Hội thi khu vực, bám sát mục đích, yêu cầu, tại Hội thi Chung khảo, có nhiều nội dung mới, cốt lõi, quan trọng trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng như: “Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”; “Xây dựng thế trận lòng dân”; “Vấn đề an ninh con người”;  “Trách nhiệm nêu gương”… tiếp tục được nhiều thí sinh lựa chọn làm nội dung thi. Một số thí sinh đã đầu tư thời gian, công sức xây dựng mới hoàn toàn nội dung thi của mình so với nội dung thi khu vực.

“Đa phần những đồng chí đoạt giải Nhất, Nhì, Ba khu vực đã thể hiện tốt phần thi của mình, thuyết phục được Ban Giám khảo và đông đảo đại biểu tham dự tại hội trường. Nhiều thí sinh đã trả lời câu hỏi của Ban giám khảo rõ ràng, chặt chẽ, thuyết phục, có sự liên hệ thực tiễn của đất nước cũng như địa phương, đơn vị nơi mình đang công tác. Tất cả 27 đồng chí thí sinh tại Hội thi đều là những đồng chí báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi, xuất sắc nhất tại các địa phương, đơn vị, đã có thành tích cao tại 3 khu vực do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức. Điều này khiến Ban Tổ chức vô cùng khó khăn khi cân nhắc lựa chọn. Điểm thi của nhiều đồng chí rất sát nhau, có trường hợp chỉ chênh lệch tới con số 0,01%”- đồng chí Đỗ Phương Thảo chia sẻ.

Phát biểu tổng kết Hội thi, đồng chí Phan Xuân Thủy - Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh, tuyên truyền viên là một hình thức tuyên truyền giáo dục trực tiếp, đưa tiếng nói và tình cảm của Đảng đến với mọi đối tượng, tác động trực tiếp vào trái tim, khối óc của từng con người. Hình thức tuyên truyền này còn là sự giao tiếp và đối thoại sinh động giữa người nói và người nghe, thực hiện có hiệu quả thông tin hai chiều trong quá trình dân chủ hóa thông tin trong Đảng và trong xã hội. Do đó, trong thời đại ngày nay, khi công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, số hóa thông tin, mạng xã hội phát triển như vũ bão, đem đến nhiều tiện ích cũng đặt ra nhiều thách thức cho công tác tư tưởng của Đảng nhưng công tác tuyên truyền miệng vẫn giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thay thế.

Đồng chí Phan Xuân Thủy lưu ý, cần tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần định hướng tư tưởng chính trị và dư luận xã hội trước các vấn đề mới nảy sinh trong đời sống xã hội.

Đồng chí cũng đề nghị các báo cáo viên, tuyên truyền viên tập trung tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động tuyên truyền miệng, đáp ứng nhanh nhu cầu thông tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, nâng cao tính định hướng và sức thuyết phục của hoạt động tuyên truyền miệng, nhất là đối với những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội.

 

Đồng chí Phan Xuân Thủy nhấn mạnh, cần tăng cường trao đổi, đối thoại, vừa truyền tải trực tiếp những thông tin cần thiết, vừa nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và người dân. Bên cạnh đó, phải chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, phát huy tối đa ưu thế của mạng xã hội để hỗ trợ truyền tải thông tin phục vụ công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên. Gắn kết chặt chẽ công tác tuyên truyền miệng với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng.

Để thực hiện ngày càng tốt hơn nữa hoạt động và có viên, tuyên truyền viên, đồng chí Phan Xuân Thủy cũng đề nghị, Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện nghiêm túc Quy chế hoạt động Báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng; thường xuyên kiểm tra công tác tuyên truyền miệng, động viên, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích nổi bật, đồng thời nhắc nhở, phê bình những đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ; triển khai tốt hơn nữa, hiệu quả hơn nữa, thực tế hơn nữa về thực hiện Quyết định 238-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương về Quy chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo các cấp với cơ quan nhà nước cùng cấp trong việc thực thi pháp luật, triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giải quyết các vấn đề nổi cộm,  nhân dân quan tâm.

Đồng chí Phan Xuân Thủy nhấn mạnh, từ kết quả tích cực, giá trị lan tỏa của Hội thi Chung khảo toàn quốc, Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ tiếp tục định kỳ tổ chức Hội thi báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc sau mỗi kỳ Đại hội Đảng và tiếp tục nghiên cứu tổ chức hội thi chuyên đề chuyên sâu, những nội dung trọng yếu gắn với chủ trương, đường lối của Đảng.

Trên cơ sở kết quả 3 phần thi: Soạn đề cương thuyết trình, thuyết trình và trả lời câu hỏi của Ban giám khảo, Ban Tổ chức Hội thi Báo cáo viên, tuyên truyền viên giỏi toàn quốc đã trao 1 giải Đặc biệt, 5 giải Nhất, 9 giải Nhì và 12 giải Ba cho các thí sinh. 1 giải Đặc biệt thuộc về thí sinh Trần Quang Trung - Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An, thuộc Đảng bộ Quân đội. 5 Giải Nhất, trong đó Đoàn Đảng bộ Quân đội có 3 giải Nhất thuộc về các thí sinh: Nguyễn Mạnh Dũng, Trương Công Pháp, Ngô Minh Sáng; 2 Giải Nhất còn lại là thí sinh Nguyễn Duy Hưng đến từ Đảng bộ Thái Bình và Nguyễn Hồng Phong thuộc Đảng bộ Công an Trung ương./. 

 

MỘT ĐOẠN VIDEO TẠI VÒNG 1/8 CÚP C2 CHÂU ÂU ĐÊM QUA: SÂN VẬN ĐỘNG RAJKO MITICVANG LÊN HAI TIẾNG VIỆT NAM!

         Trận đấu trong khuôn khổ vòng 1/8 cúp C2 Châu Âu giữa Sao Đỏ Belgrade vs Rangers, thật xúc động khi nghe hô: 
“All we are saying is give peace a chance".
 “M.áu của hàng trăm triệu người đã đổ xuống, trong đó có Việt Nam”.
“All we are saying is give peace a chance", đó là lời điệp khúc của bài hát Give Peace A Chance (Hãy dành cơ hội cho hoà bình) của John Lennon, sáng tác từ những năm 1969.
 Bài hát này khi đó (1969) là để phản đối cuộc chiến phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam.
Hơn 47 năm chiến tranh tại Việt Nam đã qua đi, nhưng lời điệp khúc “All we are saying is: Give Peace A Chance" của bài hát (Tất cả những điều chúng ta đang nói là: hãy dành cơ hội cho hoà bình) vẫn còn nóng hổi trong trái tim của những người yêu chuộng hoà bình và muốn phản đối những cuộc chiến tàn khốc, vô nghĩa.
Nhiều đài phát thanh Châu Âu đã và sẽ phát bài hát này (Give Peace A Chance) để phản đối chiến tranh đang xảy ra tại Ukraine (chủ yếu là để phản đối Nga).
Tuy nhiên, khẩu hiệu lời điệp khúc “All we are saying is: Give Peace A Chance" của bài hát được hô vang tại Serbia thì lại là chuyện khác, đó là họ ủng hộ Nga, họ lên án các cuộc chiến tranh của Mỹ và NATO, trong đó có các cuộc không kích ném bom Nam Tư, ném bom thủ đô Belgrade năm 1999 (hãy xem khẩu hiệu trên khán đài sân vận động), và họ phản đối Mỹ, phản đối chính quyền phatxit Kiev là nguyên nhân chính gây ra cuộc chiến đẫm m.áu hiện nay ở Ukraine.
“M.áu của hàng trăm triệu người đã đổ xuống trong đó có Việt Nam”, là khẩu hiệu mà người dân Serbia phản đối Mỹ, tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ.
Xúc động và nghẹn ngào trước tình cảm của nhân dân Serbia, đã có các bạn Việt Nam vào bình luận:
“Cám ơn các bạn Serbia!”, “Nhục quá phương Tây dân chủ à”…










Ảnh: Một số hình ảnh chính chụp lại từ video.
Yêu nước ST.

GIỮ VẸN TRÒN NIỀM TIN YÊU VỚI ĐẢNG!

         Hơn 92 năm qua, trải qua bao thử thách thực tế, nhân dân ta đã hiểu, tin tưởng và kính trọng Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng đã làm tất cả vì dân, vì đất nước. Ngày 24-8-1954, Hồ Chủ tịch viết bài “Phải theo đúng kỷ luật của Đảng” đăng trên báo Nhân dân, khẳng định: “Nhiệm vụ của Đảng ta là một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Ngày 10-4-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Tất cả những việc Đảng và Chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho nhân dân. Làm gì mà không nhằm mục đích ấy là không đúng”.
Cán bộ, đảng viên của Đảng luôn trung thành, thực hiện tốt trách nhiệm, vinh dự, tình cảm với Đảng của mình. Cả hệ thống chính trị cũng luôn dành sự tin yêu, trọn vẹn niềm tin với Đảng. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Luật Quốc phòng quy định cụ thể tại điểm 1, Điều 3. Nguyên tắc hoạt động quốc phòng, như sau: “ 1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước”.
Điều tuyệt vời là không chỉ có cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng và hệ thống chính trị mà người dân cũng luôn trọn vẹn niềm tin yêu với Đảng. Trong Di chúc, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng”.
Thực tế cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã chứng minh nhân dân ta luôn tuyện đối tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, hết lòng, hết sức ủng hộ mọi quyết sách của Đảng.
Nhân dân cũng luôn thẳng thắn, chân thành, khách quan, có tính xây dựng cao trong việc góp ý, xây dựng Đảng. Bên cạnh đó nhân dân còn cảnh giác, tỉnh táo, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi của các thế lực thù địch, thế lực xấu cố tình chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân ta.
Đồng thời, người dân cũng rất chú trọng học theo gương sáng cán bộ, đảng viên. Tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” đã đem lại bao điều tốt đẹp trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Niềm tin, trách nhiệm, tình cảm với Đảng được duy trì bền chặt lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn. Trong kháng chiến, nhân dân sẵn sàng đóng góp, hy sinh vững bước đi theo Đảng, Bác Hồ, theo cách mạng. Khi hòa bình, xây dựng kinh tế, hội nhập quốc tế tình cảm, trách nhiệm, niềm tin của người dân với Đảng vẫn tiếp tục được phát huy, nâng cao hiệu quả.
Có một thực tế rất đáng trân trọng là càng trong lúc khó khăn, nhiều thử thách niềm tin yêu với Đảng của nhân dân càng thêm sắt son. Thời gian qua, dịch Covid-19 xuất hiện với bao khó khăn, hiểm nguy, thử thách… nhưng ý Đảng, lòng dân càng thủy chung, bền chặt. Nhân dân tuyệt đối tin tưởng và gắng sức đồng hành cùng Đảng trong phòng, chống dịch và đó là cơ sở quan trọng để chúng ta từng bước vượt qua dịch bệnh. Ngày 19-2-2022, tại buổi gặp mặt của Bộ Chính trị với các đồng chí nguyên lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước nhân dịp kỷ niệm 92 năm Ngày thành lập Đảng và Xuân Nhâm dần 2022, nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa đã phát biểu ý kiến, khẳng định rằng: “Trong bối cảnh khó khăn khi cả dân tộc gồng mình chống dịch Covid-19, tinh thần gắn bó, đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ; ngày càng xuất hiện nhiều tấm gương tốt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; càng trong hoàn cảnh khó khăn thì tình cảm và lòng người càng rộng mở hơn. Niềm tin, sự ủng hộ, chia sẻ của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền được tăng lên gấp bội”. 
 Khi chúng ta tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã dùng mọi thủ đoạn để chống phá, nhưng cử tri và nhân dân cả nước vẫn tuyệt đối tin theo Đảng, tích cực tham gia bầu cử, đưa bầu cử trở thành ngày hội của toàn dân với kết quả rất tốt đẹp. Đó thật sự là biểu hiện sinh động của sức mạnh đoàn kết thống nhất từ ý Đảng hợp lòng dân và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, của cả cộng đồng.
Thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm, nhiệm vụ và tình cảm công dân của mình chính là việc làm thiết thực nhất của người dân để thể hiện tinh thần luôn giữ trọn vẹn niềm tin yêu với Đảng.
Đảng trọn vẹn với dân, dân vẹn tròn với Đảng chính là cội nguồn sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước tiến lên trên con đường cách mạng với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.



Yêu nước ST.