Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2022

VĨ TUYẾN 17 GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ TẠM THỜI!

         Theo báo cáo gửi về Hà Nội của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng nêu rõ ý tưởng giới tuyến quân sự là do phái đoàn Anh khởi xướng. Sau đó, ý tưởng được Pháp và Mỹ ủng hộ. Mỹ cho rằng nên để giới tuyến ở vĩ tuyến 20 (Thanh Hóa) còn Pháp cho rằng nên ở vĩ tuyến 16 (Quảng Nam - Đà Nẵng). Cả Pháp và Mỹ đều muốn chia Việt Nam thành hai quốc gia riêng biệt chứ không chỉ dừng lại là giới tuyến quân sự tạm thời. Về phía Trung Quốc, họ lúc đó đã nắm được ý đồ phá rối hội nghị của Mỹ nhưng cũng ủng hộ quan điểm về chia cắt Việt Nam thành hai quốc gia riêng biệt của các nước phương Tây bất chấp đây là điều Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hết sức phản đối.
Ngày 02 tháng 3 năm 1954, trong thư gửi Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu nội dung: "Nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, có thể bảo đảm được một khu vực tương đối hoàn chỉnh. Trên thực tế, giới tuyến đình chiến hôm nay có thể trở thành ranh giới chia cắt trong tương lai…Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt. Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ Bắc"
Khi mới bắt đầu bước vào đàm phán, Việt Nam chủ động đưa ra phương án tập kết tại chỗ đối với cả chính trị lẫn quân sự. Tuy nhiên, phía Pháp bác bỏ và yêu cầu phải có tập kết theo ranh giới rõ ràng khiến Việt Nam chuyển sang chủ trương lấy Vĩ tuyến 13, cắt ngang đèo Đại Lãnh giữa Phú Yên và Khánh Hòa, làm giới tuyến quân sự tạm thời bởi Việt Nam có vùng tự do Liên khu V kéo dài từ Quảng Nam vào đến Phú Yên và thời hạn tổng tuyển cử là 6 tháng sau khi ngừng bắn. Giới tuyến quân sự không được coi là biên giới quốc gia. Trước khi đàm phán bắt đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muốn tập kết tại chỗ chứ không cần giới tuyến quân sự tạm thời khi ít nhất 75% diện tích lãnh thổ Việt Nam đang do họ kiểm soát. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thuộc cấp nhận định phương án này chắc chắn sẽ bị Pháp phản đối nhưng phía Bắc Việt sẽ dùng chiến thắng tại Điện Biên Phủ để buộc Pháp phải chấp nhận tập kết tại chỗ. Trong trường hợp không thành công, họ sẽ chuyển sang phương án ấy vĩ tuyến 13.
Theo phương án thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định lấy vĩ tuyến 13 làm giới tuyến quân sự mặc dù là hợp lý nếu xét trên thực tế và sẽ giúp Bắc Việt Nam có được Cố đô Huế, cũng như các vị trí chiến lược như Đà Nẵng hay Tây Nguyên (đây sẽ là những bàn đạp chiến lược cho các hoạt động quân sự và hỗ trợ lực lượng chính trị của Việt Minh ở miền Nam Việt Nam) nhưng đây chỉ là điểm khởi đầu để đàm phán, vĩ tuyến 17 (Bến Hải - Quảng Trị) là không thể chấp nhận được và phái đoàn sẽ chấp nhận vĩ tuyến 16 (Quảng Nam - Đà Nẵng). Trong trường hợp đàm phán khó khăn, Việt Nam sẽ chấp nhận để Pháp kiểm soát Đà Nẵng và Đường 9 - Khe Sanh để nối Biển Đông với Lào và chấp nhận để Hoàng tộc nhà Nguyễn có quyền tảo mộ hàng năm (do theo phương án này thì Huế sẽ nằm trong vùng kiểm soát của Quân đội Nhân dân Việt Nam).
Hai bên Việt Nam và Pháp ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực, lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một khu vực phi quân sự hai bên giới tuyến, tập kết chính trị tại chỗ, tập kết dân sự theo nguyên tắc tự nguyện.
Việt Nam sẽ thực hiện thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước vào tháng 7 năm 1956, dưới sự kiểm soát của ủy ban quốc tế (Ấn Độ, Ba Lan và Canada)
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa miễn cưỡng chấp nhận giới tuyến tạm thời dù đã có chiến thắng ở trận Điện Biên Phủ và mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra với đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quyết tâm đạt được điều khoản mà trong đó Việt Nam được thống nhất về mọi mặt. Các nhà sử học Việt Nam cho rằng Việt Nam chấp nhận đàm phán do đó là thời điểm thuận lợi nhất để đạt được lợi ích tối đa. Tương quan lực lượng Việt - Pháp thật sự không có lợi cho Việt Minh nếu tiếp tục chiến đấu. Điều Việt Minh cần lúc này là tạm hoãn chiến tranh để khôi phục thực lực, sử dụng giải pháp chính trị để giành chiến thắng toàn diện. Đồng thời, khi phái đoàn Việt Nam sang Liên Xô và Trung Quốc để kêu gọi sự ủng hộ thì hai cường quốc này tuyên bố sẽ ngừng hỗ trợ Việt Nam nếu Việt Nam tiếp tục chiến tranh. Lúc đó, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cũng nhận định: "Kết quả từ Hiệp định đã làm cho lực lượng so sánh giữa ta và địch biến chuyển có lợi cho ta nhưng chưa phải biến chuyển căn bản có tính chất chiến lược". Đặc biệt, cục diện quốc tế lúc đó thực sự bất lợi cho Việt Nam khi cả Liên Xô và Trung Quốc đều muốn hòa hoãn với phương Tây. Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng chính sự can thiệp của các cường quốc khiến Việt Nam không thể giành được thắng lợi toàn diện ngay lập tức mà phải tiến từng bước. Điều này cũng lặp lại ở Hội nghị Paris, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào năm 1973 mới chỉ giành được chiến thắng chiến lược khi đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngụy quyền Sài Gòn mới chịu đầu hàng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Trong quá trình thương thuyết, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiểu rằng họ cần tranh thủ quá trình đàm phán để đạt được sự có lợi mà không phải đổ máu. Đầu tiên, họ muốn tập kết tại chỗ do đang nắm lợi thế về dân số và diện tích kiểm soát (trên 80% lãnh thổ). Sau đó, do biết Pháp không chấp nhận đề xuất này nên họ chuyển sang chấp nhận giới tuyến quân sự tạm thời. Họ mong muốn khu vực giới tuyến quân sự tạm thời để tập kết lực lượng hai bên nằm dời sâu về phía Nam. Ban đầu, họ định đề xuất vĩ tuyến 13 (phía Bắc Phú Yên), căn cứ theo quyền kiểm soát của họ đối với vùng rừng núi rộng lớn. Tuy nhiên, đề xuất này bị phía Pháp bác bỏ, với lý do tuy những vùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát có diện tích rộng lớn, nhưng lại có rất ít dân (trên thực tế hơn 90% dân chúng Việt Nam sống ở nông thôn, nơi Việt Minh nắm quyền kiểm soát), trong khi quân đội Pháp kiểm soát toàn bộ các thành phố lớn, các trục đường quan trọng ở đồng bằng và khu ven biển. Theo Pháp, vĩ tuyến 19 (phía Bắc Vinh - Nghệ An), sẽ là thích hợp hơn. Lúc này, Việt Nam muốn kiểm soát cả Huế, Đà Nẵng và Tây Nguyên, những địa bàn có tính chiến lược và biểu tượng.
Trước sự cứng rắn không khoan nhượng của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 24 tháng 6 năm 1954, phía Pháp đưa ra đề nghị ở vĩ tuyến 18 (sông Gianh - Quảng Bình), với lý do họ cần đường thông thương qua Lào, tức quốc lộ 9. Phía Việt Minh vẫn không nhượng bộ. Hội nghị bế tắc trong 18 ngày.
Ngày 9 tháng 7 năm 1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề nghị hạ xuống vĩ tuyến 14 (Bình Định). Pháp vẫn giữ vững vĩ tuyến 18
Ngày 13 tháng 7 năm 1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hạ yêu cầu xuống vĩ tuyến 16 (Quảng Nam - Đà Nẵng)
Hội nghị chỉ tiếp tục khai thông khi đồng minh Trung Quốc tạo sức ép để đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra đề xuất chọn vĩ tuyến 16 (Quảng Nam - Đà Nẵng), vị trí mà vào năm 1945, các nước Đồng Minh đã vạch ra nhằm phân chia khu vực giải giới quân Nhật ở Đông Dương, kèm theo lời cam kết về Tổng tuyển cử trong thời gian 6 tháng. Một lần nữa, phía Pháp bác bỏ đề xuất này và đưa ra đề xuất của mình là ở khu vực vĩ tuyến 18 và chỉ chấp nhận Tổng tuyển cử về mặt nguyên tắc với những điều khoản mơ hồ.
Mãi đến ngày 19 tháng 7 năm 1954, cả phía Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới thông qua đề nghị của phía Liên Xô chọn vĩ tuyến 17 (Bến Hải - Quảng Trị) và ấn định thời gian Tổng tuyển cử trong vòng 2 năm (từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 7 năm 1956). Ngày hôm sau, thứ Tư, ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp ước Genève được ký kết. Theo đó, Việt Nam được chia làm 2 vùng tập kết quân sự; ranh giới là vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) không được coi là biên giới quốc gia hay chính trị. Một khu phi quân sự, rộng không quá 5 cây số dài theo hai bên bờ sông Bến Hải, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 14 tháng 8 năm 1954.
Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy không thỏa mãn vì cho rằng họ xứng đáng kiểm soát một khu vực rộng lớn hơn nhiều và thời cơ để nắm quyền kiểm soát toàn bộ đất nước. Tuy nhiên, trước sức ép từ đồng minh, họ đành chấp nhận giải pháp dung hòa "vĩ tuyến 17" kèm theo lời hứa hẹn sẽ tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất sau 2 năm. Dù đã lường trước điều này, nhưng họ không thể ngờ đó lại chính là cuộc chia cắt những 20 năm, cùng với một cuộc chiến tranh khốc liệt chưa từng có.
Mỹ không công nhận kết quả Hiệp định Genève tuy nhiên vẫn tuyên bố ủng hộ nền hòa bình tại Việt Nam và thúc đẩy sự thống nhất hai miền Nam - Bắc Việt Nam bằng các cuộc bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, những nguồn tin khác nhau chỉ ra cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành, do đó Mỹ thực tế lại ủng hộ ngụy quyền Sài Gòn từ chối tổ chức Tổng tuyển cử tự do thống nhất Việt Nam.
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Ngô Đình Diệm (tay sai của Mỹ) tuyên bố: "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ", "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ" nhưng đồng thời Ngô Đình Diệm còn nói thêm là ông ta "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc". Đáp lại những cáo buộc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời với các nhà báo Mỹ ở hãng U.P rằng: "Đó là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam."
Theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định Genève thì tổng tuyển cử ở cả hai miền được dự trù vào tháng 7 năm 1956 nhưng Ngô Đình Diệm bác bỏ mọi cuộc thảo luận sơ khởi, hành động này khiến Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây. Theo nhận xét của Tây phương thì Ngô Đình Diệm là kẻ ngoan cố và khao khát quyền lực chuyên chế. Miền Bắc có dân số đông hơn miền Nam 2 triệu người (tính cả gần 1 triệu người miền Bắc bị Mỹ - Diệm cưỡng bức di cư vào Nam). Hơn nữa, vào thời điểm 1955 – 1956, trước sự hỗn loạn gây ra bởi các giáo phái và do hoạt động bí mật của Việt Minh tại miền Nam, cuộc Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam tạo ra bầu không khí căng thẳng dẫn đến cuộc nổi dậy của nông dân tại các vùng lân cận Vinh, những tình hình diễn ra ở cả hai miền khiến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương không có hy vọng đảm bảo một cuộc bầu cử thật sự tự do trong đó cử tri có thể bỏ phiếu theo ý muốn mà không sợ bị trả thù chính trị.Theo Mark Woodruff, những quan sát viên của Canada thuộc Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến đồng ý với quan điểm của Quốc gia Việt Nam rằng miền Bắc không đủ điều kiện tổ chức bầu cử công bằng, đồng thời báo cáo rằng cả hai miền đều không thi hành nghiêm chỉnh thỏa thuận ngừng bắn trong khi phái đoàn Ấn Độ và Ba Lan có ý kiến ngược lại. Tuy nhiên, Clark Clifford đã dẫn các báo cáo của Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến cho biết: trong giai đoạn 1954-1956, họ chỉ nhận được 19 đơn khiếu nại về việc trả thù chính trị trên toàn lãnh thổ miền Bắc Việt Nam. Trên thực tế, ngay từ mùa hè năm 1956, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ngừng tiến hành cải cách ruộng đất và tới cuối năm 1956, tình hình hoàn toàn đi vào ổn định. Điều này đã đủ đảm bảo cho cuộc Tổng tuyển cử được diễn ra. Trong khi đó, hoạt động Tố cộng, diệt cộng và đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục khiến miền Nam trở nên hỗn loạn.
Năm 1956, Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không".
Như vậy, Cuộc tổng tuyển cử tự do cho việc thống nhất Việt Nam đã không được tổ chức. Tới năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử khác để thống nhất đất nước về mặt Nhà nước.
- Thông tin bổ sung: Cầu Hiền Lương do Pháp xây dựng lại vào tháng 5 năm 1952, dài 178 mét, 7 nhịp, trụ bằng bê tông cốt thép, mặt cầu lát gỗ thông, rộng 4 mét. Từ khi sông Bến Hải thành giới tuyến, cầu Hiền Lương cũng bị chia đôi, mỗi bên dài 89m, sơn hai màu khác nhau. Bờ Bắc 450 tấm ván mặt cầu. Bờ Nam 444 tấm . Đường ranh phân chia Nam - Bắc là một vạch sơn trắng rộng 1cm làm ranh giới hai miền. Hàng ngày công an và cảnh sát hai miền thay phiên nhau canh gác, đổi phiên qua lại theo chế độ liên hợp. Âm mưu dùng màu sơn để tạo nên hình ảnh chia cắt đất nước ta, Mỹ-Diệm chủ động sơn màu xanh nửa cầu phía Nam. Nhưng với ý nguyện “thống nhất non sông”, chúng vừa sơn xong đầu hôm, thì trong đêm, công an ta sơn nửa phần cầu bờ Bắc bằng màu xanh cho hòa một màu. Thời gian sau chúng lại cho người ra sơn lại phần cầu phía Nam bằng màu nâu. Cứ thế, cầu Hiền Lương luôn thay đổi màu sắc. Hễ địch sơn một màu khác đi để tạo ra hai màu đối lập, thì lập tức ta sơn lại thành một màu chung. “Cuộc chiến sơn màu cầu” kéo dài gần 5 năm trời, cuối cùng chính quyền ngụy Sài Gòn phải chịu thua để cho chiếc cầu chung một màu sơn thống nhất./.
Môi Trường ST.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét