Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2022

 

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CHỐNG PHÁ

NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

Phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những chiêu bài nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội và thủ đoạn này đang được gia tăng tuyên truyền chống phá trong thời gian qua, khi Đảng ta tiến hành kiểm tra, xử lý nhiều cá nhân, tổ chức đảng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Có thể nhận diện các thủ đoạn xuyên tạc, chống phá sau đây:

Thứ nhất, luận điệu cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập, không thể kết hợp, do đó không có khái niệm nguyên tắc tập trung dân chủ, kêu gọi Đảng từ bỏ nguyên tắc này. Họ cho rằng, tập trung với dân chủ giống như lửa với nước, hai khái niệm “không thể dung hòa” và hướng lái rằng, các đảng Cộng sản ở Liên Xô, Đông Âu tan rã là do sai lầm từ việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ. Từ đó, các đối tượng “khuyên” Đảng Cộng sản Việt Nam rằng, để tránh giẫm phải lối sụp đổ thì “hãy từ bỏ tập trung dân chủ càng sớm càng tốt”.

Thoạt nghe, cảm tưởng như “lời khuyên thiện chí” muốn đóng góp cho Đảng, song thực chất, đây là kiểu chống phá ngụy trang dưới dạng “góp ý” khiến người thiếu hiểu biết có thể bị ru ngủ, cả tin. Tập trung và dân chủ là hai vấn đề có quan hệ biện chứng, là một nguyên tắc thống nhất, không tách rời, càng không thể đối lập giữa tập trung và dân chủ. Tập trung trên cơ sở dân chủ nhưng dân chủ phải có sự lãnh đạo để bảo đảm tập trung. Tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột, bảo đảm cho Đảng Cộng sản thống nhất về tư tưởng chính trị và tạo nên sức mạnh của tổ chức, xây dựng được đội ngũ đảng viên năng động, sáng tạo, có kỷ luật chặt chẽ, có sức chiến đấu cao. Tập trung dân chủ là nguyên tắc phân biệt đảng cách mạng của giai cấp công nhân với các đảng chính trị khác. Do đó, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ là phủ nhận bản chất và tổ chức, hoạt động của Đảng, là một luận điệu hết sức nguy hiểm cần phải nhận diện, đấu tranh.

Thứ hai, luận điệu cho rằng, tập trung dân chủ chỉ phù hợp khi đảng còn hoạt động bí mật hoặc trong điều kiện chiến tranh, nay thời bình vẫn “ôm” nguyên tắc đó là lỗi thời, dẫn tới trì trệ, tiêu cực. Trước Đại hội XIII của Đảng, trên diễn đàn hải ngoại, một số người nhân danh “nhân sĩ, trí thức” một mặt vẫn tỏ ra ca ngợi Đảng và Bác Hồ đã vận dụng tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, sáng suốt chèo lái con thuyền cách mạng. Mặt khác, họ “lộ đuôi” khi cho rằng, nay đất nước đổi mới, hội nhập sâu rộng thì tập trung dân chủ đã lỗi thời, lạc hậu; trong cơ chế thị trường, chính vì Đảng vẫn giữ tập trung dân chủ nên đây là nguyên nhân cốt lõi gây ra hàng loạt vụ cán bộ, đảng viên phạm pháp, khiến Đảng “tự bắn vào mình”. Với cách suy diễn như vậy, họ vờ tỏ ra “thiện chí” đòi hỏi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ “cho phù hợp tình hình mới”. 

Đây là kiểu chống phá bao biện dưới dạng “lý lẽ khoa học”. Tập trung dân chủ thể hiện bản chất của Đảng thì không phân biệt giai đoạn chiến tranh hay hòa bình, đó là nguyên tắc xuyên suốt. Trải qua hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột của Đảng, đồng thời nội dung của nguyên tắc này không ngừng được bổ sung, phát triển. Việc cho rằng tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ khiến nhiều tổ chức, cá nhân bị xử lý “do nguyên tắc đã lỗi thời” là cách suy diễn sai trái, quy chụp. Thực chất, sai phạm do không chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, do xa rời, buông lỏng nguyên tắc tập trung dân chủ chứ không phải do áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ, việc đánh lận vấn đề này là thủ đoạn rất xảo trá.

Thứ ba, các thế lực xấu quy kết tình trạng mất tập trung dân chủ là “lỗi từ gốc” do độc đảng, từ đó cổ súy tư tưởng đa nguyên, đa đảng. Đây là âm mưu có từ lâu, nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ định hướng XHCN. Gần đây, các đối tượng lại gia tăng các bài viết tuyên truyền tư tưởng đa nguyên, đa đảng, cho rằng Việt Nam muốn dân chủ, tiến bộ thì “phải chấm dứt sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản”. 

Về vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ quan điểm: Dân chủ không phụ thuộc một hay nhiều đảng mà phụ thuộc vào bản chất của chính đảng cầm quyền. Ở một số quốc gia như Mỹ, mặc dù có nhiều đảng nhưng cũng chỉ có 2 đảng luân phiên cầm quyền là đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ. Những đảng này đại diện cho giai cấp tư sản thì tất yếu phải hướng đến phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Thực tiễn cho thấy, nhiều nước đa đảng cũng mất dân chủ, vi phạm nghiêm trọng quyền con người. Trong điều kiện ở Việt Nam, một đảng lãnh đạo, đó là đảng của giai cấp công nhân, lấy lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc làm mục tiêu xuyên suốt và luôn xây dựng, chỉnh đốn để đảng thực sự trong sạch, vững mạnh thì tính chất dân chủ, tiến bộ phụ thuộc vào bản chất, mục đích phục vụ chứ không phụ thuộc số lượng bao nhiêu đảng. Năm 2010, đồng chí Nguyễn Phú Trọng (khi đó là Chủ tịch Quốc hội) đã trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế rằng: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên hay không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất”.

Tính chất nguy hiểm của luận điệu “không thể có dân chủ trong chế độ một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam” còn thể hiện ở chỗ cổ súy cho sự ra đời và công khai, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập nhằm xóa bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây cho thấy rõ âm mưu, ý đồ nguy hiểm này.

Thứ tư, luận điệu bôi đen hiện thực, xuyên tạc tập trung dân chủ “chỉ là khẩu hiệu mị dân”. Khi Đảng ta đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, xử lý nghiêm nhiều cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng sai phạm với quan điểm “không có vùng cấm” thì các thế lực xấu lại lợi dụng vấn đề này để quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất, cho rằng tham nhũng là “bản chất” của Đảng, đảng viên Cộng sản chỉ có độc đoán, chuyên quyền, vơ vét làm giàu, ức hiếp dân, vấn đề dân chủ “là thứ xa xỉ”. Luận điệu này đã đánh lận bản chất, bôi lem mục tiêu mà Đảng ta xác định rõ khi xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên sai phạm là “xử một người, cứu muôn người”, “chặt cành để cứu cây”, xử lý nghiêm để cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa chung. Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII xác định rõ quan điểm “kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”.

Thứ năm, lợi dụng vấn đề dân chủ để phê phán, chỉ trích Đảng, Nhà nước, cổ súy tư tưởng dân chủ theo phương Tây, tìm cách can thiệp vào nội bộ và kích động “cách mạng màu”. Từ việc xuyên tạc trong Đảng hiện không tồn tại dân chủ, chỉ có bè phái, độc quyền, tham nhũng, các đối tượng xấu rêu rao đã đến lúc phải hành động “trước khi quá muộn”. Họ lợi dụng tình hình biểu tình tại một số nước trên thế giới để viết bài tiêm nhiễm vào nhận thức của người dân về một “xu hướng xuống đường đòi dân chủ”, rêu rao muốn có dân chủ phải hành động, không thể ngồi nhà để đợi dân chủ. Cùng với đó, các đối tượng lợi dụng những vụ việc tiêu cực xảy ra trong nước để chụp mũ dân chủ, nhân quyền, kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp, lên án Đảng, Nhà nước... Thủ đoạn này không mới nhưng luôn được làm nóng trước các sự kiện chính trị lớn hay khi Đảng ta xử lý nghiêm các vụ việc tham nhũng, tiêu cực liên quan cán bộ cấp cao, khi cơ quan chức năng xử lý đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia.

5 luận điệu trên, có luận điệu tồn tại từ lâu, có luận điệu mới nảy sinh, được “vôi ve”, thêm thắt chất liệu để làm nóng và tạo điểm nhấn để thu hút sự chú ý của dư luận, tất cả đều lấy điểm tựa phê phán nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Trong môi trường mạng, các luận điệu này pha trộn đan xen dưới nhiều vỏ bọc, ngụy trang dưới dạng “góp ý”, “thư ngỏ”, đánh tráo lý luận khoa học và bôi lem thực tiễn. Do đó, khi bàn về nguyên tắc tập trung dân chủ, chúng ta cần nắm vững quan điểm nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng tồn tại, hạn chế, song phải thấy rõ vị trí, bản chất rường cột của nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của Đảng, từ đó chống các quan điểm sai trái, thù địch, lợi dụng để xuyên tạc, chống phá.

 

ĐẤU TRANH VỚI HÀNH VI LỢI DỤNG NHÂN QUYỀN CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin thì quyền con người là quyền của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ(6). Trong lĩnh vực pháp luật, quyền con người được phân thành 2 nhóm chính, đó là nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhân quyền được hình thành từ hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội. Quyền con người mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhưng không phải tự nhiên mà có, mà đó là thành quả của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội, lịch sử phát triển loài người. Nhân quyền có các đặc trưng: là sản phẩm của sự phát triển lịch sử; là những giá trị gắn với con người với tư cách cá nhân, đồng thời với tư cách là thành viên của cộng đồng, xã hội; được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế; là tổng thể các quyền mặc nhiên cơ bản của con người, thể hiện nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người.

Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản, phổ biến của con người được nêu ra trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người. Nhà nước Việt Nam luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”(7).

Việt Nam quan niệm quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Trong một thế giới ngày càng đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác. Các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cả cộng đồng là cách đề cập phiến diện. Do sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, nên mỗi quốc gia có cách tiếp cận khác nhau về quyền con người. Không nước nào có quyền sử dụng, lợi dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác.

Trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng hiện nay, nhân quyền luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng, chính trị hóa để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch sử dụng chính sách “ngoại giao nhân quyền” để áp đặt tiêu chuẩn, “xuất khẩu” nhân quyền phương Tây trên phạm vi toàn cầu thông qua luận điểm về “giá trị phổ quát” của nhân quyền. Họ thường áp đặt các giá trị dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cho các nước khác trên tất cả các lĩnh vực, như xây dựng, thực thi pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển “xã hội dân sự” nhằm tạo đối trọng với chính phủ.

Lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam luôn là một trong những hoạt động nguy hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “an ninh con người cao hơn an ninh quốc gia”, “nhân quyền không có biên giới quốc gia”, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”. Dân chủ, nhân quyền đang là “cái cớ”, “vỏ bọc” cho các hành động can thiệp, gây sức ép thúc đẩy sự thay đổi chính trị ở Việt Nam của các thế lực thù địch, đồng thời là một khẩu hiệu, ngọn cờ để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, tạo ra các khuynh hướng dân chủ cực đoan, tập hợp lực lượng chống đối, biểu tình, tiến tới các hoạt động khủng bố, bạo loạn, lật đổ. Thực tế diễn biến chính trị ở một số nước trên thế giới trong những năm gần đây cho thấy, phần lớn sự mất ổn định chính trị, xã hội đều xuất phát từ nhận thức lệch lạc về dân chủ, nhân quyền và âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, hiểu đúng về dân chủ, nhân quyền và bản chất của việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền, giúp nâng cao cảnh giác cách mạng, đồng thời có cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền./.

CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ ĐẶC BIỆT CỦA NGA Ở UKRAINA LÀM THẾ GIỚI TỈNH NGỘ!

         (Trên 5 ngàn lệnh cấm vận!)
Sau khi xung đột quân sự Nga-Ukraine bùng nổ, hành vi ăn cướp của toàn bộ thế giới phương Tây đã phá vỡ nhận thức của nhiều người, khiến họ cảm thấy lo lắng mãnh liệt và sâu sắc.
Thứ nhất, trước đây, mọi người thường tin rằng tất cả các nền tảng công cộng là trung lập và sẽ không bị gián đoạn cho dù có chuyện gì xảy ra. Tuy nhiên, sau khi xung đột Nga-Ukraine bùng nổ, một số nền tảng được gọi là công cộng đã ngay lập tức tuyên bố tham gia vào các lệnh trừng phạt chống lại Nga. Một số lượng lớn các nhà khai thác dịch vụ Internet nước ngoài do Hoa Kỳ đứng đầu đã công bố các biện pháp trừng phạt chống lại Nga và thực hiện một "hành động ngắt kết nối" chống lại Nga. Sau đó là việc loại bỏ các ngân hàng lớn của Nga khỏi hệ thống SWIFT do Hoa Kỳ kiểm soát, khiến các ngân hàng lớn của Nga không thể thực hiện các giao dịch và thanh toán toàn cầu. Cả hệ thống thư mục gốc của mạng và hệ thống thanh toán bằng đô la Mỹ đều được gọi là nền tảng công cộng do Hoa Kỳ kiểm soát. Một khi chiến tranh nổ ra, tất cả sẽ trở thành vũ khí chiến tranh, thậm chí trở thành nhân tố mấu chốt quyết định thắng bại. Độ phụ thuộc vào các hệ thống này càng lớn thì mức độ thiệt hại càng sâu.
Thứ hai, một số tuyên truyền trước đây đã nói rằng các vệ tinh trong không gian là an toàn và sẽ không bị tấn công và chiến tranh không gian sẽ không nổ ra. Tuy nhiên, ngay sau khi chiến tranh Nga-Ukraine bùng nổ, một nhóm hacker bí ẩn (rõ ràng là hành vi quân đội mạng của một số tổ chức chính phủ) đã tấn công vào trung tâm điều khiển vũ trụ của Nga, và tuyên bố đã đóng cửa trung tâm vũ trụ của Nga và thành công làm cho toàn bộ vệ tinh Nga mất kiểm soát. Trung tâm kiểm soát không gian của Nga cho biết nó thực sự đã bị tấn công, nhưng hệ thống an ninh đã tự động che khuất cuộc tấn công và đẩy lùi nó. Điều này có cho thấy rằng chiến tranh đã mở rộng ra ngoài không gian? Các trận chiến không gian vẫn luôn đang được tiến hành?
Thứ ba, mọi người thường tin rằng ngân hàng ở các nước phương Tây an toàn hơn ngân hàng trong nước và các nước phương Tây rất coi trọng quyền bất khả xâm phạm của tài sản tư nhân. Nhưng sau khi chiến tranh Nga-U nổ ra, các nước tây phương đột nhiên bộ lộ hành vi sói đói vồ mồi hung ác, tất cả tài sản của chính phủ và tư nhân Nga ở nước ngoài đều bị cướp sạch không còn, không chỉ tài sản ngân hàng bị đóng băng mà ngay cả du thuyền sang trọng và tư gia của người Nga ở nước ngoài cũng bị lấy đi. Theo thống kê sơ bộ, tổng số tài sản Nga ở nước ngoài bị các nhóm phương Tây phong tỏa lần này là khoảng 8 nghìn tỷ đô la Mỹ.
Thứ tư, trong ý thức của mọi người, Thụy Sĩ là một quốc gia trung lập, an toàn tuyệt đối khi cất giữ tiền ở Thụy Sĩ, tuy nhiên, sau khi chiến tranh Nga-Ukraine bùng nổ, Thụy Sĩ đã ngay lập tức từ bỏ quan điểm trung lập, tuyên bố tham gia vào các lệnh trừng phạt chống lại Nga, và đóng băng tất cả các quỹ của Nga trong các ngân hàng Thụy Sĩ, do đó bóc trần tấm mặt nạ giả dối rằng Thụy Sĩ là một vùng đất tài chính thuần túy. Những tài sản này bây giờ có lẽ không còn an toàn nữa.
Thứ năm, sau khi chiến tranh Nga-Ukraine bùng nổ, hầu như tất cả các công ty công nghệ cao của Mỹ và các nhóm phương Tây đều tuyên bố tham gia các lệnh trừng phạt nhằm vào Nga, cắt nguồn cung cấp chip và tất cả các sản phẩm công nghệ cao cho Nga. Starlink của Elon Musk cũng tham gia vào lệnh trừng phạt chống lại Nga và ủng hộ Ukraine, Apple cũng tham gia vào các lệnh trừng phạt. Độ sâu và bề rộng của lệnh trừng phạt công nghệ mà phương Tây áp đặt lên Nga nằm ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Lệnh trừng phạt được áp dụng cho bất cứ thứ gì có thể gây nhức nhối hoặc giết Nga, mọi thủ đoạn được áp dụng đến cùng cực. Tuyên bố khoa học không có biên giới chỉ là trò nhảm nhí.
Thứ sáu, nhiều người cho rằng dư luận phương Tây là tự do nhất và tin tức phương Tây là trng thực nhất. Nhưng sau khi chiến tranh Nga-U xảy ra, toàn bộ dư luận phương Tây biến thành 1 cỗ máy phát động chiến tranh dư luận với Nga. Các nền tảng Internet lớn ở Hoa Kỳ và Châu Âu đã đóng các kênh truyền thông bên ngoài của Nga, họ kiểm soát toàn bộ việc phát tán dư luận, hướng dẫn dư luận theo hướng có lợi cho Hoa Kỳ và phương Tây, và họ tiếp tục tạo ra các tin tức giả.
Thứ bảy, còn nhiều biện pháp trừng phạt khác, ví dụ như ngành thể thao, văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc đã áp dụng lệnh trừng phạt đối với Nga, thậm chí cả mèo Nga và cây Nga cũng bị xử phạt. Điều này trông có vẻ buồn cười, nhưng thực ra không hề buồn cười. Đó biểu hiện của bá quyền chính trị và văn hóa của phương Tây, cho ta thấy tầm ảnh hưởng và sự kiểm soát của bá quyền phương Tây sâu và rộng đến mức nào. Những lĩnh vực này mới nhìn thì không có liên quan gì đến chính trị nhưng một khi chiến tranh xảy ra thì chúng đều sẽ trở thành vũ khí chiến tranh, đều trở thành công cụ chiến tranh giết người không thấy máu, đây có lẽ là lần đầu tiên chúng ta được cảm nhận sâu sắc như vậy.
Những điểm trên nên cho chúng ta một cảm giác thức tỉnh đột ngột. Bây giờ chúng ta sẽ thực sự nhận ra rằng chiến tranh Nga-Ukraine thực sự là một cuộc chiến tranh toàn phương diện thực sự do toàn khối phương Tây tiến hành chống lại Nga. Tập đoàn tây phương không chỉ tài trợ vũ khí và tiền bạc cho Ukraine, mà còn tiến hành CHIẾN TRANH TOÀN DIỆN chống lại Nga. Nếu không phải Mỹ và khối phương Tây e sợ hàng nghìn quả bom hạt nhân của Nga, e sợ cá tính dám nói dám làm của Putin, thì chắc hẳn họ đã lao vào cắn xé trực tiếp Nga./.
Yêu nước ST.

 

SỰ THẬT VỀ  “ĐẠO CHÂN KHÔNG”

“Đạo Chân không” hoặc “đạo Lưu Văn Ty” do Lưu Văn Ty, sinh năm 1954 tại Hà Nội sáng lập. Lưu Văn Ty có trình độ học vấn 7/10, vợ của ông này là bà Lê Thị Oanh, sinh năm 1947, nguyên là giáo viên cấp I, bỏ nghề dạy học giúp Lưu Văn Ty hành nghề. Sau đó, ly thân với Lưu Văn Ty về sống ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Trước đây, Lưu Văn Ty từng làm công nhân kỹ thuật lái máy kéo, bị kỷ luật do trộm cắp tài sản, bị buộc thôi việc về địa phương sinh sông. Sau đó, Lưu Văn Ty vào miền Nam tìm hiểu kinh sách Phật giáo, trở về địa phương tự xưng là nhà sư, tuyên truyền là đã nói chuyện được với “người nhà trời” và có năng lượng siêu phàm để chiêu dụ và cứu rỗi chúng sinh.

Xuất hiện đầu tiên tại tỉnh Hà Tĩnh, dưới hình thức tín ngưỡng đạo Phật, Lưu Văn Ty đã tổ chức làm lễ tại đền Võ Miếu (phường Tân Giang, TP Hà Tĩnh). Ban đầu, hoạt động của Lưu Văn Ty chỉ thuần túy Phật giáo nên đã thu hút được nhiều người mộ đạo theo. Sau khi tập hợp lôi kéo được nhiều người, Lưu Văn Ty đã dựng lều trái phép trong khu vực đền Võ Miếu, đặt tên là “Chùa Tam ấm”, tự xưng là “giáo ngoại biệt truyền diệt tâm”.

“Đạo Chân không” không có kinh sách mà chỉ là những lời thuyết giáo bằng miệng của Lưu Văn Ty dựa trên các giáo lý của nhà Phật. Lưu Văn Ty dùng giáo lý Phật giáo như: “thuyết diệu đế”, “sinh tử luân hồi”, “nhân quả”, “nghiệp báo”... nhằm hướng luật, kinh sách tới những người có hoàn cảnh éo le, những người giàu có nhưng mê tín để thuyết giáo.

Ngoài ra, Lưu Văn Ty còn đưa ra thuyết “xả phú cầu bần” làm cho một số người tin theo đem của cải, tài sản, thậm chí cả tính mạng mình để cho Lưu Văn Ty lợi dụng. Trong những lúc thuyết giáo, Lưu Văn Ty luôn răn dạy đạo hữu phải biết diệt dục, diệt nghiệp, thậm chí còn đưa ra luận điệu rất phản văn hóa, đại loại như: “thân xác con người ta vì cứ che đậy nên sinh ra ham muốn và muốn diệt trừ được ham muốn thì phải thoát bỏ y phục”.

“Đạo Chân không” tổ chức theo nhóm, đứng đầu là Lưu Văn Ty, lập chân rết ở các địa phương và giao cho các đệ tử đi truyền đạo, thu hút tín đồ. Đạo “Lưu Văn Ty” không có nghi thức rõ ràng, người theo đạo này không cần đến chùa chiên, không cần kinh sách, chuông mõ, tượng Phật mà chỉ cân tu tại tâm và chỉ cần tu hành khổ hạnh, chia của cải cho các oan hồn, phải đi khất thực lấy tiền về cúng cho “giáo chủ”.

Khi tiến hành nghi lễ của đạo, Lưu Văn Ty cho các đệ tử cởi bỏ quần áo rồi chất thành đống rồi tưới xăng đốt, sau đó nhảy múa xung quanh tụng niệm, bố thí lẫn nhau, hóa đốt các động vật, thức ăn và các loại vật dụng rồi quăng xuống sông. Đến năm 1991, Lưu Văn Ty chuyển sang hoạt động “tà giáo”.

Để trục lợi cá nhân và mê hoặc được nhiều người, Lưu Văn Ty tuyên truyền là đã đến thời kỳ “phá chấp”, người đi theo đạo này không cần chùa chiền, kinh sách, chuông mõ, chỉ cần tu tại tâm nên đã phá chùa do ông ta dựng lên, đốt phá bàn thờ gia tiên, tượng Phật và các loại vật chất có thể đốt được. Ngoài ra, Lưu Văn Ty còn tổ chức lễ “diệt dục”, “diệt nghiệp” mang tính phản văn hóa.

Năm 1992, Lưu Văn Ty bị Công an tỉnh Hà Tĩnh bắt trong khi đang tổ chức làm lễ “diệt dục” tại nhà riêng. Cơ quan pháp luật đã tuyên truyền, tuyên phạt đối tượng 3 năm tù giam về tội “hành nghề mê tín dị đoan gây hậu quả nghiêm trọng”.

Trong thời gian ở tù, các đệ tử của Lưu Văn Ty vẫn tiếp tục hoạt động ở nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh. Sau khi mãn hạn tù, Lưu Văn Ty trở về địa phương ở thành phố Hà Tĩnh tiếp tục hành nghề và đã dùng nhiều thủ đoạn để lôi kéo nhiều người tin và xem y như bậc “chân tư” là “thầy” Ty.

 Hết thời gian bị quản chế, Lưu Văn Ty bắt đầu mở rộng hoạt động của mình ra các địa phương khác như: Can Lộc (Hà Tĩnh), Tp. Vinh (Nghệ An). Ngoài những địa bàn trên, Ty còn cho đệ tử đi hoạt động ở nhiều nơi như: Thanh Hóa, Thái Bình, Hà Nội, Quảng Ninh, Tiền Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Bạc Liêu. Những người theo “đạo Lưu Văn Ty” phải nộp một khoản tiền gọi là tiền cúng giường nhằm “tiêu tội, tiêu nghiệp”.

Ngoài ra, các đệ tử mới tham gia phải hành xác bằng cách lao động mệt nhọc, ăn uống kham khổ, ngủ đất và thậm chí còn ngủ trong bao tải. Sau khi vượt qua được các thử thách trên, ai được thu nạp thì phải mặc áo nâu sồng, cạo trọc đầu như tu sĩ Phật giáo để đi khất thực kiếm cơm, nước uống hàng ngày và mỗi ngày chỉ được 500 đồng, số còn lại phải nộp về “thầy” Ty.

Hiện nay Lưu Văn Ty đã tuyên bố từ bỏ không hoạt động, nhưng các đệ tử của ông ta vẫn hoạt động lén lút ở các địa phương. Tuy nhiên, số người tin theo giảm dần. Thành phần tin theo chủ yếu là những người bị bệnh nặng, phần nhiều là phụ nữ…

Theo báo CAND online

MỸ VÀ NATO QUYẾT KHÔNG ĐỐI ĐẤU VỚI NGA TRÊN BẦU TRỜI ĐÔNG ÂU!

         Mới đây Tổng thống Joe Biden đã xem bài phát biểu của người đồng cấp Ukraine Volodymyr Zelensky trước Quốc hội Mỹ. Ông ấy cảm thấy Tổng thống Zelensky rất lôi cuốn và mạnh mẽ. Nhưng trên lăng kính an ninh quốc phòng cho chính bản thân Mỹ thì việc lập vùng cấm bay là tuyệt đối không được.
Theo bà Jen Psaki (Thư ký Nhà Trắng) nếu như Mỹ và NATO lập vùng cấm bay tại Ukraine thì điều đó đồng nghĩa với việc họ phải bắn hạ các máy bay của Nga và Thế Chiến thứ 3 chắc chắn sẽ xảy ra nếu như điều này trở thành hiện thực.
Các chuyên gia quân sự cho biết, Nga hiện đang sở hữu tổ hợp tên lửa liên lục địa (ICBM) mạnh mẽ bậc nhất hành tinh. Với tốc độ gấp 10 lần vận tốc âm thanh cùng việc mang theo tối thiểu 6 - 8 đầu đạn hạt nhân cho mỗi cú phóng thì việc đánh chặn gần như là không thể và sát thương chúng mang lại thì vô cùng lớn.
Vậy nên 1 cuộc chiến trực diện với giữa Mỹ - NATO với Nga là điều không bên nào mong muốn và Vùng Cấm Bay khả năng cao sẽ mãi mãi chỉ có trong tưởng tượng của Ukraine./.
Yêu nước ST.

 

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

Quan điểm của V.I.Lênin về kiểm soát quyền lực nhà nước được thể hiện khá toàn diện cả về sự cần thiết của việc kiểm soát quyền lực nhà nước và những phương thức, điều kiện cụ thể để đảm bảo kiểm soát quyền lực nhà nước có hiệu quả.

Thứ nhất, quan điểm của V.I.Lênin về sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát quyền lực của bộ máy nhà nước.

Qua thực tiễn lãnh đạo trong nhà nước Xô viết, V.I.Lênin đã thấy được nguy cơ tha hóa quyền lực nhà nước ngay cả trong thời kỳ xây dựng nhà nước XHCN. Quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy quyền nhưng những người được ủy quyền vẫn có nguy cơ chiếm quyền, lạm quyền, lộng quyền, không thực hiện đúng nhiệm vụ được giao, bộ máy nhà nước trở thành thiết chế đứng ngoài và đứng trên nhân dân. Nguyên nhân của sự tha hóa quyền lực do hoàn cảnh tư bản chủ nghĩa vẫn còn tồn tại, sở hữu tư nhân và những nhu cầu tư lợi cá nhân vẫn tồn tại, trình độ dân trí thấp chưa đủ sức kiểm soát quyền lực nhà nước... Ông nói rằng “Trong các tổ chức chính trị và công đoàn của chúng ta, viên chức bị hủ hóa (hay nói đúng hơn là có xu hướng bị hủ hóa) bởi hoàn cảnh tư bản chủ nghĩa; họ có xu hướng biến thành những người quan liêu, nghĩa là thành những nhân vật có đặc quyền, thoát ly quần chúng và đứng trên quần chúng”. Vì vậy, để hạn chế sự tha hóa quyền lực của viên chức nhà nước, đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực hiện có hiệu quả, V.I.Lênin chỉ ra yêu cầu phải thiết lập được cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.

Thứ hai, quan điểm của V.I.Lênin về thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài và bên trong bộ máy nhà nước.

Trong cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên ngoài bộ máy nhà nước, V.I.Lênin nhấn mạnh đến việc nhân dân tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước. Người dân sau khi đã ủy quyền cho cơ quan nhà nước thì vẫn phải có quyền kiểm soát bộ máy nhà nước đó để không bị mất quyền, lạm quyền. Các cơ quan nhà nước phải luôn giữ mối liên hệ với nhân dân, chịu sự kiểm soát của nhân dân để không trở thành quan liêu, thành bộ máy đứng trên nhân dân. Nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước trước hết phải có quyền lựa chọn người đại diện thực sự xứng đáng để họ tin cậy ủy quyền cho mình. Thể hiện ở việc quần chúng phải có quyền được đề bạt trong nội bộ của họ bất kỳ một công nhân nào lên phụ trách chức vụ lãnh đạo. Tuy nhiên, quyền bầu cử lựa chọn những người đại diện cho mình chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn quyền đó với quyền bãi miễn những đại biểu mà họ thấy không còn xứng đáng, không còn là đại diện thực sự cho lợi ích và nguyện vọng của họ nữa. Ông cho rằng: “Mọi cơ quan được bầu ra hay hội nghị đại biểu đều có thể coi là có tính chất dân chủ chân chính và đại biểu thực sự cho ý chí của nhân dân khi nào quyền bãi miễn của cử tri đối với những người trúng cử được thừa nhận và áp dụng”. Để đảm bảo cho những thủ tục đó dễ dàng thực hiện thì nhân dân phải là người trực tiếp quyết định các thể thức, quy trình thực hiện quyền bầu cử và bãi miễn. Để nhân dân có thể thực hiện quyền bầu cử và bãi miễn những đại biểu của mình thì vấn đề quan trọng là nhân dân phải kiểm soát được hoạt động của những người đại diện cho mình. Không kiểm soát được hoạt động của các cán bộ, nhân viên nhà nước, không biết họ có hoạt động thực sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân hay không thì không thực hiện đúng đắn quyền bầu cử và bãi miễn.

Để kiểm soát được hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước, theo V.I.Lênin phải thành lập những cơ quan thanh tra chuyên theo dõi, giám sát hoạt động của đội ngũ này. Những cơ quan thanh tra này có thể là tổ chức thanh tra của quần chúng. Như vậy, nhân dân có quyền kiểm soát mọi hoạt động của cán bộ, công chức nhà nước - những người đại diện cho ý chí và quyền lực của họ để đảm bảo cho hoạt động đó là đúng với chức năng, nhiệm vụ mà họ đã ủy quyền, tránh lạm quyền, lộng quyền là một nội dung quan trọng trong cơ chế nhân dân tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước.

Hoạt động cơ bản của nhà nước là quản lý xã hội bằng pháp luật, ban hành khung khổ pháp luật, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện pháp luật đó đảm bảo mọi hoạt động của xã hội đều trong khuôn khổ đó. Vì vậy, theo V.I.Lênin, nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước là kiểm soát mọi hoạt động của nhà nước, kiểm soát không chỉ những cơ quan dân cử do nhân dân bầu ra mà kiểm soát tất cả các cơ quan nhà nước. Trong đó có, nguyên tắc dân chủ về tổ chức - dưới hình thức cao nhất của nó, tức là việc các Xô viết thực hiện những đề nghị và những yêu cầu để cho quần chúng tích cực tham gia không những vào việc thảo luận những quy tắc, những quyết định và các đạo luật chung, không những tham gia vào việc kiểm tra việc chấp hành các quy tắc, quyết định và đạo luật đó mà còn trực tiếp tham gia thi hành chúng nữa.

V.I.Lênin không chỉ nói đến cơ chế kiểm soát quyền lực ở bên ngoài mà còn bàn về vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trong nội bộ, giữa các nhánh quyền lực nhà nước với nhau. Ở đây, V.I.Lênin nói về việc các cơ quan tư pháp được quyền kiểm soát hoạt động ban hành các đạo luật, nghị quyết, quyết định hành chính của các cơ quan dân cử (Quốc hội, hội đồng nhân dân ở địa phương) và cơ quan hành pháp. Ủy viên công tố chịu trách nhiệm làm sao cho bất cứ quyết định nào của bất cứ cơ quan hành chính địa phương nào cũng không được đi ngược lại pháp luật, Thông qua cơ chế này, cơ quan công tố có thẩm quyền kiểm tra, giám sát hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quyết định hành chính của các cơ quan nhà nước khác, bao gồm cả cơ quan thuộc nhánh lập pháp và hành pháp. Đây chính là cơ chế kiểm soát quyền lực của nhánh tư pháp đối với lập pháp và hành pháp. Như vậy, V.I.Lênin đã đưa ra định hướng là giữa các cơ quan nhà nước cần có sự kiểm soát quyền lực lẫn nhau, nhưng ở đây mới chỉ nói đến cơ quan tư pháp kiểm soát hoạt động của cơ quan hành pháp, lập pháp; còn cơ chế kiểm soát của cơ quan lập pháp và hành pháp đối với cơ quan tư pháp thì chưa được chỉ ra cụ thể.

Thứ ba, quan điểm của V.I.Lênin về điều kiện đề đảm bảo tính hiệu lực trong kiểm soát quyền lực nhà nước.

V.I.Lênin không chỉ đề cập đến các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm cơ chế kiểm soát bên trong và bên ngoài mà còn đưa ra những yêu cầu, điều kiện đề đảm bảo tính hiệu lực trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Đó là đảm bảo tính độc lập, đủ quyền lực của các chủ thể kiểm soát đối với các đối tượng kiểm soát. Để đảm bảo tính độc lập đó theo V.I.Lênin trước hết phải có sự phân công quyền lực, giao nhiệm vụ một cách độc lập, rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước. Nếu cơ quan tư pháp lại thực hiện những nhiệm vụ hành chính thì không thể kiểm soát các cơ quan hành chính được.

 

 

CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN VÀ CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG 

CHIẾN LƯỢC XUÂN 1975

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên là kết quả của quá trình phát huy tư tưởng chủ động tiến công, giành thắng lợi từng bước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tạo thời cơ và bước chuyển quan trọng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Ngày 27-01-1973, Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, rút hết Quân đội Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam. Mặc dù vậy, nhưng trên chiến trường vẫn không ngưng tiếng súng, bởi Nguyễn Văn Thiệu đẩy mạnh thực hiện xua quân “tràn ngập lãnh thổ” trên toàn miền Nam. Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 đã họp (7-1973), xác định: “Con đường tiến lên của cách mạng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực. Bất kể trong tình huống nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công”1. Theo đó, cơ quan Tổng hành dinh đã tập trung vào xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược. Kế hoạch do Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo, trên cơ sở tiếp thu ý kiến các tư lệnh chiến trường; sau nhiều lần hoàn thiện theo chỉ đạo của trên, kế hoạch chiến lược được hoàn chỉnh, báo cáo Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Tháng 10 và 12 năm 19742, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã tổ chức hai cuộc họp cùng với lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt các chiến trường thống nhất và thông qua kế hoạch chiến lược. Bộ Chính trị họp hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975, 1976 và Kế hoạch Tác chiến chiến lược năm 1975 do Bộ Tổng Tham mưu đề nghị3.

Ngày 06-01-1975, Chiến dịch Đường số 14 - Phước Long “trận trinh sát chiến lược” của ta giành thắng lợi, tạo cơ sở vững chắc để Bộ Chính trị chính thức hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam, xác định: Tây Nguyên là chiến trường chủ yếu. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ trên giao, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên đã trực tiếp chỉ đạo cơ quan, cùng đội ngũ cán bộ tác chiến khẩn trương triển khai công tác chuẩn bị chiến trường, nhất là xây dựng và hoàn thành kế hoạch chiến dịch, bao gồm các kế hoạch: Triển khai đường cơ động trên các hướng, các mũi chiến dịch; cơ động lực lượng; nghi binh chiến dịch; tập kết bộ đội; bảo đảm hậu cần kỹ thuật; tiếp nhận cơ sở vật chất, lực lượng tăng cường và bảo đảm tối đa hệ số kỹ thuật các phương tiện hiện có. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần làm tốt công tác chính trị tư tưởng, nâng cao ý chí quyết tâm chiến đấu, phát huy sức mạnh tổng hợp, thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Ngày 09-01-1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp, bàn và quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên với mật danh “Chiến dịch 275”. Từ ngày 17 đến 19-02-1975, Bộ Tư lệnh Chiến dịch họp và xác định phương án tác chiến; trong đó, xác định cách đánh chung là: “Bí mật triển khai lực lượng cắt đường giao thông đường số 14, 19, 21, ngăn chặn lực lượng cơ động chiến dịch, chiến lược của quân Ngụy ứng cứu, tăng viện cho Buôn Ma Thuột”4. Ngày 04-3-1975, ta mở Chiến dịch Tây Nguyên và chọn mục tiêu tiến công chủ yếu là Buôn Ma Thuột làm trận đột phá then chốt mở màn cho Chiến dịch giành thắng lợi, làm đảo lộn thế phòng thủ của địch, buộc chúng phải rút khỏi Kon Tum, Pleiku, tạo bước ngoặt quan trọng và thời cơ thuận lợi cho các chiến trường tiến tới thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Dự kiến Phương án và Kế hoạch Tác chiến chiến lược cho năm 1975, Trung ương Đảng đã khẳng định: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”5. Sự quyết đoán của Trung ương Đảng, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy sắc sảo, quyết tâm chiến lược táo bạo nhưng hết sức chính xác. Cùng với đó, ta đã tận dụng được thời cơ chiến lược mở ra từ thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, chuyển sang kế hoạch một năm từ tiến công chiến lược sang tổng tiến công chiến lược, rút ngắn một nửa thời gian hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam.

Năm 1974, Quân đội Sài Gòn bị thất bại nặng nề, nhưng lực lượng của địch còn hàng triệu quân, được trang bị hiện đại, đang triển khai hoàn chỉnh trên bốn quân khu từ Trị Thiên đến đồng bằng sông Cửu Long. Trong tình hình đó, việc lựa chọn hướng, mục tiêu chủ yếu mở đầu cuộc tổng tiến công, tiêu diệt lớn quân địch làm thay đổi nhanh chóng so sánh tương quan lực lượng, chuyển biến cục diện chiến trường, tạo bước ngoặt về chiến lược là vấn đề hết sức quan trọng đã được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cân nhắc hết sức cẩn trọng. Buôn Ma Thuột được lựa chọn mở đầu cho Chiến dịch Tây Nguyên, đó là mục tiêu lớn ta tổ chức đánh, làm rúng động quân địch, tạo điều kiện cho các hướng phát huy sức mạnh hiệp đồng binh chủng đột phá tiến hành và phát triển thuận lợi để đánh vào các mục tiêu quan trọng.

Tháng 6 năm 1974, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên ra Nghị quyết xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên thành binh đoàn chiến dịch, có khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng, có sức cơ động cao. Về lực lượng, thành lập trung đoàn pháo binh ở các sư đoàn; lực lượng pháo binh của mặt trận được tổ chức thành 02 trung đoàn hoàn chỉnh; lực lượng phòng không được tổ chức lại thành 02 trung đoàn (234, 575); thành lập Trung đoàn Đặc công 198, Trung đoàn Xe tăng 273, Trung đoàn Thông tin 29. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, đặc biệt là thành lập một số quân đoàn chủ lực6.

Về hậu cần, kỹ thuật, được tổ chức theo hướng bảo đảm khả năng tác chiến tập trung quy mô lớn, có sức cơ động cao, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu. Bộ Tư lệnh Trường Sơn phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên tổ chức xây dựng hệ thống đường cơ động, kho, trạm dự trữ được khối lượng lớn vật chất hậu cần chiến dịch, bảo đảm cho bộ đội có thể tác chiến hiệp đồng binh chủng dài ngày. Cùng với đó, công tác huấn luyện được coi trọng kết hợp giữa tác chiến với luân phiên đưa bộ đội về phía sau để huấn luyện theo hình thức tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã mở nhiều lớp tập huấn chiến dịch - chiến thuật7 cho cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên. Bước vào thực hiện Chiến dịch, Bộ Tư lệnh tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, nhất là quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 21; tổ chức các cuộc vận động “nâng cao chất lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu”, “thi đua giết giặc lập công”…, tạo nên khí thế thi đua sôi nổi với quyết tâm chiến đấu cao. Bộ đội Công binh phối hợp với các lực lượng chuẩn bị chu đáo hệ thống đường cơ động chiến dịch, bảo đảm tuyến vận chuyển chiến lược - chiến dịch trên đường Hồ Chí Minh và mở thêm nhiều tuyến đường mới bảo đảm cho thực hiện chiến dịch giành thắng lợi.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, để giữ quyền chủ động tiến công, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chỉ đạo tiến hành kế hoạch nghi binh rất công phu. Trong lúc địch cho rằng ta chưa đủ điều kiện để đánh lớn ở Tây Nguyên và tiến công giải phóng miền Nam…; chúng lại rơi vào thế bị động; phân tán lực lượng; chưa phán đoán được quyết tâm chiến lược của ta, ta quyết định mở chiến dịch. Bằng cuộc tiến công hiệp đồng binh chủng, kết hợp các đơn vị đặc biệt tinh nhuệ và các tiểu đoàn bộ binh bí mật tiến vào bố trí sẵn, với tốc độ tiến công cao, đánh thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột, đập tan Sở Chỉ huy Sư đoàn 23 và Sở Chỉ huy tiểu khu của địch, sau đó phát triển tiến công, cùng các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy, giải phóng các tỉnh Tây Nguyên và ven biển miền Trung. Triệt để tận dụng thời cơ chiến lược mở ra từ chiến thắng Tây Nguyên ta chuyển sang Tổng tiến công chiến lược hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam. Kết quả đó là nhờ chủ động làm tốt công tác chuẩn bị mọi mặt cho Chiến dịch Tây Nguyên và thực hiện kế hoạch quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương nên ta đã triệt để chớp thời cơ giành thắng lợi lớn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

BẢN CHẤT CÁI GỌI LÀ BẢN PHÚC TRÌNH “NHỐT CHÚNG TÔI Ở TRONG NHÀ”

 

Mới đây, ngày 17/2/2022, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) đã công bố cái gọi là bản phúc trình với tiêu đề “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam”. Đây là luận điểm vô căn cứ, đổi trắng thay đen về tình hình tại Việt Nam.

Hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức thủ đoạn chống phá nhân dân, Đảng, Nhà nước ta với mức độ ngày càng quyết liệt. Trong đó, chúng luôn mượn danh vấn đề nhân quyền để xuyên tạc tình hình đất nước, hòng làm mất đi hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển trên trường quốc tế.

Mới đây, ngày 17/2/2022, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) đã công bố cái gọi là bản phúc trình với tiêu đề “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam”. Đây là luận điểm vô căn cứ, đổi trắng thay đen về tình hình tại Việt Nam.

Hồ đồ bản phúc trình "nhốt chúng tôi ở trong nhà"

Cái gọi là bản phúc trình “Nhốt chúng tôi ở trong nhà: Hạn chế tự do đi lại của các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam” thực chất là tổng hợp các nội dung mà HRW xuyên tạc về tình hình Việt Nam trong thời gian năm 2004 đến năm 2022.

Trong đó, tập trung vào việc vu cáo, xuyên tạc rằng Việt Nam đang hạn chế quyền tự do đi lại và các quyền cơ bản khác của các "nhà hoạt động", những người bất đồng chính kiến, người "bảo vệ nhân quyền".

Bản phúc trình dài 66 trang, được công bố cùng với những phát biểu hồ đồ và áp đặt của ông Phil Robertson, Phó giám đốc Ban Á châu của HRW: “Chính quyền Việt Nam đàn áp một cách có hệ thống các quyền dân sự và chính trị, khiến các nhà hoạt động và các nhà bất đồng chính kiến luôn phải đối mặt với rủi ro thường trực... “Nhà cầm quyền áp dụng các chiến thuật lạm dụng nhân quyền như quản chế các nhà hoạt động tại gia vô thời hạn, câu lưu khi họ rời khỏi nhà, và cấm xuất cảnh trên cơ sở các lý do an ninh quốc gia ngụy tạo”.

Bản phúc trình còn xuyên tạc trắng trợn: “Nhà cầm quyền đã áp dụng nhiều phương pháp để kiềm tỏa người dân tại gia, như cử các nhân viên an ninh mặc thường phục đóng chốt ngoài tư gia, khóa cửa ra vào của người bất đồng chính kiến bằng khóa ổ, thậm chí đổ keo đa năng vào các ổ khóa, dựng rào chắn và các chướng ngại vật, và huy động côn đồ địa phương đe dọa người dân”.

Để chứng minh cho những luận điệu vớ vẩn, áp đặt trên, HRW nêu lại các sự kiện quấy rối của các tay sai đắc lực trong quá trình chống phá đất nước ta như:  Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy.

Đây là những đối tượng thường xuyên làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các đối tượng này đã bị bắt và đang phải ngồi tù vì nhiều tội danh liên quan đến việc chống lại lợi ích dân tộc Việt Nam. HRW tuyên bố có hơn 170 nhà hoạt động, blogger và nhà bất đồng chính kiến, cùng với người thân của họ được đưa vào bản phúc trình.

Nhận diện mưu đồ chống phá đằng sau "bản phúc trình"

Thực tế, lâu nay, các thế lực thù địch “khoác áo” nhân quyền để chống phá đất nước ta bằng nhiều hình thức khác nhau như: Kêu gọi trả tự do cho các “tù nhân lương tâm”; phản đối việc bắt các tay sai mà chúng gọi là “nhà hoạt động”; phản đối, kêu gọi tẩy chay các bản án xét xử các đối tượng mà chúng đã lôi kéo thành công...

Các hình thức chống phá này được “nhai đi nhai lại” với mưu đồ là nói mãi điều sai sẽ thành điều đúng. Tuy nhiên, những năm gần đây, quần chúng nhân dân đã nâng cao cảnh giác, không nghe theo các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, các tay sai phản động lần lượt bị cơ quan chức năng kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa nên các “chân rết" của chúng bị chặt đứt dần dần.

Vì vậy, bản phúc trình nói trên thể hiện sự bế tắc của các thế lực thù địch khi mà không còn nhiều người trong nước bị lôi kéo, mua chuộc. Cực chẳng đã, chúng đành phải “chuyển hướng” xuyên tạc, bôi nhọ về quyền tự do đi lại của những kẻ phản bội. Bản phúc trình cũng thể hiện một “hướng” chống phá mới của các thế lực thù địch.

Đó là, khi chưa có những “quân tốt thế mạng” (như Phạm Chí Thành, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Văn Điệp, Nguyễn Tường Thụy) thì triệt để tìm những chuyện “bên lề” để hạ thấp hình ảnh Việt Nam.

Cách thức này như một chiếc áo được chúng “khoác” lên các tổ chức nhân quyền mà HRW là điển hình. Từ đó, chúng hướng các tổ chức nhân quyền khác làm theo và lập nên cái gọi là “hồ sơ nhân về quyền thông thường” ở Việt Nam và nhiều nước khác.

Công bố cái gọi là bản phúc trình, HRW đã “lòi đuôi cáo” khi Phil Robertson nói: “Các nhà tài trợ và đối tác thương mại của Việt Nam cần nhận thức được sự cản trở đối với quyền tự do đi lại đang diễn ra hằng ngày và gây sức ép để chính quyền Việt Nam chấm dứt cách hành xử gây tê liệt người dân như thế”.

Rõ ràng, mục đích chính của chúng là làm méo mó hình ảnh của đất nước ta trên trường quốc tế. Từ đó, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, các đối tác thương mại tẩy chay Việt Nam. Về lâu dài, sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội; từ đó, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Thực chất, HRW không vì nhân quyền ở Việt Nam.

Tất nhiên, với các tổ chức nhân quyền như HRW, ngoài việc tài trợ của các thế lực thù địch thì việc tuyên bố các bản phúc trình như trên cũng không ngoài mục đích kêu gọi tài trợ.

Vì thế mà trên website của tổ chức này luôn hiện từ “donate now” (ủng hộ ngay bây giờ); và, sau mỗi bài viết đều có một biểu mẫu kêu gọi: “Món quà được khấu trừ thuế của bạn có thể giúp ngăn chặn vi phạm nhân quyền và cứu sống khắp nơi trên thế giới. Ủng hộ ngay: 50$, 100$, 250$...”.

Và tất nhiên, số tiền tài trợ, ủng hộ cho tổ chức này sẽ không được sử dụng để bảo vệ nhân quyền mà chỉ nhằm chống phá những đất nước không cùng “phe” với chúng.

 

Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW - Human Rights Watch) là một tổ chức phi chính phủ thành lập năm 1978, có trụ sở tại thành phố New York, Hoa Kỳ cùng văn phòng ở thủ đô và thành phố lớn nhiều nước như Hà Lan, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh, Nga, Pháp, Nhật, Canada...

HRW dưới danh nghĩa “nhân quyền” để thành lập các tổ chức hoạt động chống chủ nghĩa xã hội. Từ đó, tạo cớ để Mỹ, các nước phương Tây tăng cường hoạt động tác động về tư tưởng, văn hóa, dân chủ, nhân quyền rồi tiến hành xoá bỏ chế độ chủ nghĩa xã hộiở các nước Đông Âu, Liên Xô trước đây.

HRW bị nhiều quốc gia phản đối vì không bảo vệ quyền con người theo đúng nghĩa mà ngược lại, thường tìm cách can thiệp vào việc xử lý của các cơ quan chức năng một số nước.

Đối với Việt Nam, HRW cổ súy, tán dương với những nhân vật hoạt động chống đối Nhà nước, vi phạm pháp luật. Tổ chức này thường xuyên phác thảo ra những bản báo cáo, phúc trình xuyên tạc tình hình nhân quyền và can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam./.


ĐỪNG BỊ KẺ XẤU LỢI DỤNG

 

Vừa thấy tiếng xe máy của tôi về đến cổng, ông chú hàng xóm đã chạy ra chặn lại nhờ vả: “Cháu chơi thân với con trai chú, nhờ cháu khuyên em gỡ ngay mấy cái bài viết xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên Facebook xuống cho chú với”.

Nghe vậy, tôi lo lắng hỏi lại: “Cháu tưởng em ấy đang đi công tác ở trong Nam? Với lại, con trai chú là người điềm đạm, có nhận thức tốt, sao tự nhiên lại viết bài xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước được?”.

Thấy tôi hỏi vậy, chú liền lôi điện thoại ra, vừa lập cập bấm vào trang Facebook, vừa nói: “Nó viết bài yêu cầu Nhà nước ta phải lên tiếng về chiến sự ở Ukraine. Nó còn chê đường lối ngoại giao của Đảng, Nhà nước, rồi lên tiếng phê phán này nọ. Như vậy không phải xuyên tạc, ngấm ngầm chống phá thì là gì hả cháu?

Tuổi trẻ chúng nó đã làm sao hiểu được để có nền hòa bình, độc lập, sự ổn định cho phát triển đất nước suốt mấy chục năm qua một phần là nhờ đường lối đối ngoại khoa học, sáng tạo "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Đảng, Nhà nước ta. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn tốt, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Chúng ta kiên quyết không liên minh với nước này để chống nước kia. Vậy mà một số người trẻ không nhận thức đầy đủ, chỉ vì chút cảm tính bồng bột yêu ghét nhất thời mà lại thể hiện phản ứng một cách thiếu kiềm chế, thiếu hiểu biết, thế có nguy hiểm không!”.

Trước sự nóng giận, lo lắng của một cựu chiến binh, tôi động viên chú cứ bình tĩnh, đưa bài viết của cậu em cho tôi xem để hiểu rõ sự việc. Quả thực, trên Facebook của con trai chú ấy chia sẻ một số bài viết từ nhiều nguồn khác nhau bình luận về chiến sự ở Ukraine, nhưng không phải do cậu ta trực tiếp viết ra.

Rồi tôi giải thích: “Em ấy mới chỉ chia sẻ lại bài viết từ một số phần tử xấu bị kích động, chống phá thôi. Có thể do em mới đọc lướt qua, thấy thích nên vội vàng chia sẻ ngay chứ chưa chắc đã có cùng suy nghĩ, tư tưởng như người viết những bài này. Chú cứ bình tĩnh tìm hiểu để có cách xử lý phù hợp. Giờ cháu sẽ gọi điện trao đổi trực tiếp để xem em ấy nói gì, chú nhé”.

Dứt lời, tôi rút điện thoại gọi cho cậu em hàng xóm, bấm loa ngoài để chú cùng nghe. Ban đầu, cậu khẳng định việc mình chia sẻ các bài viết kia là việc... bình thường. Sau khi được tôi phân tích hậu quả của hành động chia sẻ ấy, cậu đã hiểu ra sự nguy hại và đồng ý gỡ bỏ. Trước khi tắt máy, cậu em cười nói qua điện thoại: “Chúng em còn trẻ, nhiều chuyện tầm vĩ mô chưa thể nhận thức hết được nên đôi khi nóng vội, thiếu thận trọng khi tham gia mạng xã hội. Từ nay em sẽ cẩn thận hơn kẻo vô tình tiếp tay cho kẻ xấu mà không biết”.

Nghe con trai mình nói vậy, chú hàng xóm phấn khởi: “Thế là nó vẫn phân biệt được đúng-sai cháu nhỉ”.

Theo QĐND.vn


LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”, đồng thời xác định tầm nhìn, định hướng chiến lược, trong đó “nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến 2045”.

Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng được Đảng ta chỉ đạo khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, tạo cơ sở hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng, con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn.

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu nhằm phê phán, bác bỏ, phủ nhận vai trò, tính chất pháp quyền của Nhà nước XHCN Việt Nam. Họ cho rằng, nhà nước pháp quyền là giá trị tiến bộ đã được các nước tư bản vận dụng, xây dựng, thực hiện từ lâu, bây giờ Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN).

Họ ra sức xuyên tạc Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam chỉ có “đảng trị” chứ không có tính pháp quyền “pháp trị”, xã hội không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Cho rằng chỉ có nhà nước pháp quyền tư bản, không có khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đồng thời rêu rao rằng, thoát li vai trò lãnh đạo của Đảng, nhà nước phải xây dựng theo mô hình nhà nước “tam quyền phân lập”, như vậy thì những giá trị tiến bộ về quyền cơ bản của con người mới được thừa nhận, tôn trọng và thực hiện…                       

Tung ra các luận điệu sai trái, công kích vào bản chất, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những mũi nhọn mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá trong suốt quá trình cách mạng, xây dựng, hoàn thiện nhà nước XHCN Việt Nam. Vậy bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN có đồng nhất nhà nước pháp quyền TBCN? Mục đích, âm mưu mà các đối tượng hướng tới là gì?

Trước hết có thể thấy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được các nhà chính trị, pháp lý như J.Locke (1632-1704), C.Montesquieu (1698-1755), J. Rousseau (1712 – 1778) đặt nền móng đầu tiên, sáng lập, phát triển như một thế giới quan pháp lý mới, phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền, làm cơ sở lý luận xây dựng nhà nước tư sản cho đến ngày nay. So với nhà nước phong kiến “ngàn năm trung cổ”, đây là những tư tưởng tiến bộ của nhân loại trong hoàn cảnh lịch sử khi đó. Tuy nhiên, tư tưởng này bị hạn chế bởi thế giới quan, bản chất giai cấp nên nhà nước tư sản vẫn là công cụ thuộc về thiểu số là giai cấp tư sản, dân chủ tư sản chưa phải là nền dân chủ của đa số, quảng đại quần chúng nhân dân lao động.

Bản chất nhà nước luôn là vấn đề trung tâm của mỗi chế độ chính trị, quyết định bản chất xã hội, biểu hiện ý chí, nguyện vọng của thiểu số hoặc đa số và tính chất, nội dung của một xã hội tiến bộ, dân chủ. Mặt khác, đây cũng là đề tài luôn được học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia không ngừng nghiên cứu, tranh luận trên cơ sở lập trường tư tưởng, khuynh hướng chính trị khác nhau. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lấy lý do này để tăng cường các hoạt động công kích, xuyên tạc, chống phá.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước là từ nhân dân, do nhân dân, phụng sự lợi ích của nhân dân. Người quan niệm, pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền đó thấm đượm bản chất nhân văn, chăm lo ấm no, hạnh phúc của nhân dân, lòng nhân ái, nghĩa đồng bào, truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc. Đó thật sự là giá trị dân chủ sâu sắc và triệt để của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, đó là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Kể từ đó, tiếp thu, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, quá trình nhận thức tư duy lý luận của Đảng qua các nhiệm kỳ đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới, không ngừng được phát triển và hoàn thiện. Những quan điểm, đường lối đó được Nhà nước cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (bổ sung năm 2011) hay Hiến pháp (2013), Đảng, Nhà nước ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Cương lĩnh chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khác nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ, pháp quyền dưới chế độ tư bản về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Trong khi bản chất nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đó là Nhà nước “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng và đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của các mạng Việt Nam”.

Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ, đòi hỏi phải có sự nhận thức lý luận khoa học, cách mạng, giữ vững định hướng XHCN trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đáp ứng yêu cầu đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới. Do đó việc lãnh đạo, tổ chức nghiên cứu, xây dựng, thực hiện đề án chiến lược này là khách quan, khoa học, vừa kế thừa, phát huy những thành tựu đạt được, vừa phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới.

Như vậy, không thể lập luận rằng “xây dựng Nhà nước pháp quyền là đi theo con đường TBCN”, không thể xuyên tạc ở Việt Nam “chỉ có đảng trị, không pháp quyền”, rêu rao “pháp trị thì xã hội không thể có tự do, dân chủ, nhân quyền”... Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” không phải là khuôn mẫu, tiến bộ về tự do, dân chủ nhân quyền. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm. Đưa ra luận điệu này, các đối tượng nhằm cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy mô hình nhà nước tam quyền phân lập, những cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây; dẫn dắt, gieo rắc nhận thức lệch lạc, xuyên tạc bản chất, vị trí, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN; chia rẽ khối đại đoàn kết, mối quan hệ, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Mặt khác, việc tung ra luận điệu trên làm méo mó bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội, làm giảm uy tín, vị thế Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trên trường quốc tế.

Lê Thế Cương (Học viện Chính trị CAND)