Thứ Hai, 21 tháng 3, 2022

Đảng viên không được phép phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

Ngày 29/11/2021, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW, hướng dẫn việc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm.

Trước đó, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Quy định nêu rõ 19 điều đảng viên không được làm. Quy định 37 thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về những điều đảng viên không được làm.

Phai nhạt lý tưởng sẽ rất dễ bị tha hóa.

 Trong 92 năm kể từ khi thành lập, Đảng luôn phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Rất nhiều cá nhân và tập thể cán bộ, đảng viên trung kiên trong chiến đấu, lao động và học tập góp phần vào thành tựu to lớn của đất nước. Tuy nhiên, cũng còn có những cán bộ, đảng viên không giữ được mình, tự diễn biến, tự chuyển hóa, tham nhũng, tiêu cực... Điều đó đã phần nào làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.

 Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được nghi ngờ, ngả nghiêng, dao động.

Xung đột Nga - Ukraine: Việt Nam lựa chọn lẽ phải và đứng về chính nghĩa.

 Kể từ khi xảy ra cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình, kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, trên các diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu, bình luận, suy diễn, xuyên tạc quan điểm và đường lối đối ngoại của Việt Nam. Để làm rõ hơn bản chất của vấn đề này, phóng viên VOV đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Văn Sơn, Học viện An ninh nhân dân.

Toàn văn tuyên bố của Việt Nam tại Đại hội đồng LHQ về tình hình Ukraine.

Từ ngày 28/2-2/3, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ 11 để thảo luận về tình hình Ukraine. Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã có bài phát biểu tại cuộc họp. Dưới đây là toàn văn bài phát biểu.

SỰ CẨU THẢ VÀ VÔ TRÁCH NHIỆM LÀM PHƯƠNG HẠI ĐẾN HÌNH ẢNH QUỐC GIA

Là một người hâm mộ thể thao nước nhà, thú thực là tôi không thể tưởng tượng nổi cái cách mà ban tổ chức đang làm cái gì cho cái khâu truyền thông, tuyên truyền, làm hình ảnh… cho cái SEA Games 31 này nữa.

Họ sử dụng bản đồ từ cái thời mà Hà Tây còn chưa nhập vào Hà Nội - một sự kiện đã diễn ra được 14 năm. Họ thiết kế địa giới hành chính Hà Nội hiện tại cùng một màu xanh, nhưng lại phân viền trắng chia làm Hà Tây cũ và Hà Nội cũ giống các bản đồ hành chính tồn tại trước 08/2008. Điều cẩu thả nữa là chú thích Hà Nội cũng sai khi vạch chú thích hướng về phần địa giới Hà Tây chứ phải là Hà Nội cũ.

Nói thì hơi châm chọc, nhưng nếu đem tấm bản đồ này xuyên không về năm 2003 để dùng cho SEA Games 22 thì chắc là vẫn được. Nếu quan chức thể thao, vận động viên, nhà báo nước bạn nhìn vào tấm bản đồ này, chắc cú là họ sẽ đi lạc và tự hỏi rằng hình như có cái gì đó sai sai.

Một lỗi khác nữa là tại một nhà thi đấu, môn đấụ vật lại được ghi là “Wrestlince” - nếu chính xác phải là Wrestling. Dám chắc rằng khi các vận động viên đấu vật đến, họ sẽ bối rối vì “chắc họ đưa chúng ta đến nhầm địa điểm” và “cả đời tôi chưa thi đấu cho cái môn “Wrestlince” nào cả”. 

Và còn khá nhiều những lỗi dịch thuật tiếng Anh khác nữa mà đã được dân mạng chỉ ra. Vài giây tra cứu Google Dịch có khi còn làm được tốt hơn.

Những lỗi sai đã được CĐM chỉ ra rất rõ, được lấy từ chính website của Tổng cục Thể dục Thể thao, trong các tập tin đính kém không có dòng chữ nào là các ấn phẩm “thử nghiệm”, “nháp”.... Mà đã gần 2 ngày kể từ khi các lỗi sai được “bóc”, website của Tổng cụ Thể dục Thể thao vẫn chưa có dấu hiệu chỉnh sửa, gỡ xuống.

SEA Games 30 (diễn ra năm 2019) gặp khá nhiều bê bối liên quan đến cơ sở vật chất, tiếp đón, khâu tổ chức và sự kiện này để lại nhiều thành kiến không tốt về nước bạn Philippines. Còn với SEA Games 31 lần này, mặc dù còn khoảng 2 tháng nữa mới đến thời gian thi đấu mà đã có khá nhiều vấn đề tồn tại, liệu khi đại hội diễn ra, có vấn đề gì khác nữa không? 

Hãy thẳng thắn nghe những lời góp ý và xin lỗi, thay vì đá quả bóng trách nhiệm cho các bên và dọa người hâm mộ là sẽ làm việc với cơ quan an ninh mạng. Thậm chí, phía các nhà chức trách còn chẳng có lời nói nào liên quan đến việc sẽ tiếp thu, sửa lỗi. Và ngược lại, chính họ cần phải có lời cám ơn những người đã phát hiện ra những lỗi sai này, vì có thể nếu không được phát hiện ra, thì những lỗi sai trên sẽ xuất hiện tại đại hội.

Lúc ấy, những lỗi sai đó không phải chỉ đơn thuần là ở chính tả nữa, mà bạn bè nước ngoài sẽ nhìn vào đó để đánh giá về tâm huyết, tính chuyên nghiệp, trình độ tổ chức và hình ảnh của nước chủ nhà. Bao nhiêu năm xây dựng và quảng bá về một Việt Nam phát triển, hội nhập, hiện đại... cũng bay màu hết sau một kì đại hội. 

PHẢN ĐỐI BÁO TUỔI TRẺ TỰ Ý SỬA PHÁT NGÔN CỦA BỘ NGOẠI GIAO

 

Phạm Thị Đoan Trang là một kẻ tội phạm hình sự, xâm phạm an ninh quốc gia. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã khẳng định: "Việt Nam cho rằng việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trao giải thưởng cho Phạm Thị Đoan Trang, một cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, đã bị đưa ra xét xử và đang thi hành án phạt tù là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ hai nước.".

Trong phát ngôn đó không hề có chữ "bà" như Báo Tuổi trẻ trích dẫn (trích nguyên văn). NHƯNG Báo Tuổi trẻ đã tùy tiện sửa hoặc cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật khi thêm từ "bà" vào trước tên của Phạm Thị Đoan Trang.

Việc SỬA PHÁT NGÔN NGOẠI GIAO là một hành vi nguy hiểm, vi phạm pháp luật, có thể gây ảnh hưởng đến quốc thể. Chúng tôi cực lực phản đối và lên án hành vi của Báo Tuổi trẻ! Tháng 7/2018, Báo Tuổi trẻ đã bị phạt ĐÌNH BẢN 3 tháng và 220 triệu đồng vì đưa tin sai sự thật, gây chia rẽ mất đoàn kết! NHƯNG xem ra báo này vẫn chứng nào tật nấy, ngựa quen đường cũ, không biết hối cải!

Đề nghị Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Thành đoàn TP Hồ Chí Minh vào cuộc xác minh, chấn chỉnh và xử lý nghiêm khắc.

Ps: Trong ngôn ngữ tiếng Việt, đại từ "bà", "ông", "anh", "chị"... là đại từ nhân xưng thể hiện sự tôn trong, kính trọng khi giao tiếp, khi soạn thảo văn bản... Còn trong dân gian, các loại tội phạm, đặc biệt lại là tội phạm "chống phá", xâm phạm an ninh quốc gia hay nôm na là "phản quốc" thì người dân thường gọi là "con tù", "thằng tù"!

Thật lạ! Xưa nay, Báo Tuổi trẻ luôn dùng từ "ông", "bà", "cụ bà"... một cách trân trọng để gọi những loại tội phạm chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia?! Phải chăng do phóng viên, biên tập viên, lãnh đạo tòa soạn có vấn đề về Tiếng Việt hay có vấn đề gì đó về nhận thức, tư tưởng chính trị hoặc có "cảm tình đặc biệt" đối với loại tội phạm này?!

 KINH NGHIỆM TRONG CHỈ ĐẠO KỊP THỜI, KIÊN QUYẾT, TRIỆT ĐỂ VÀ CHỚP THỜI CƠ TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN

Quán triệt sâu sắc quan điểm “Muốn tạo thời cơ, tranh thủ thời cơ, trước hết phải quán triệt tư tưởng chỉ đạo: Kiên quyết tiến công, tích cực tiêu diệt địch”8 và “Nếu không có tinh thần kiên quyết và liên tục tiến công thì không thể tạo được thời cơ tốt, có thời cơ tốt cũng bỏ lỡ mà có khi còn bị địch ép vào thế bị động rất nguy hiểm”9. Nắm bắt thời cơ lịch sử, sau khi giải phóng Tây Nguyên, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng “Chớp thời cơ nâng cao tốc độ tiến công”. Các đơn vị thừa thắng, phát triển xuống vùng Duyên hải Trung Bộ lần lượt giải phóng Bình Khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh… làm cho toàn bộ lực lượng Quân đoàn 2, Quân khu 2 của địch bị tan rã; hệ thống phòng thủ chiến lược của địch bị chia cắt, tạo nên thời cơ mới. Trong lúc Chiến dịch Tây Nguyên tập trung phản kích đánh địch ở Buôn Ma Thuột và tổ chức trận đánh tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 Quân đội Sài Gòn rút chạy trên Đường số 7. Ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975, nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng tiêu diệt Quân đoàn 1 Quân đội Sài Gòn, không cho chúng rút về Sài Gòn; giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Trung Bộ.

Thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, Quân khu Trị Thiên, Quân đoàn 2 đã mở Chiến dịch Trị Thiên - Huế (05-3 - 26-3-1975) nhằm bao vây, tiêu diệt tập đoàn phòng ngự thuộc Quân đoàn 1 - Quân khu 1, Quân đội Sài Gòn ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Từ ngày 05 đến 20-3-1975, ta tiến hành nghi binh ở bắc Quảng Trị; sử dụng lực lượng địa phương đánh nhỏ trên các trục giao thông, bao vây uy hiếp địch ở tuyến giáp ranh, kết hợp hoạt động vũ trang tuyên truyền; các đơn vị chủ lực đồng loạt tiến công đánh chiếm các căn cứ, vị trí phòng ngự của địch ở vùng giáp ranh và đồng bằng, đập tan mọi cố gắng phản kích của địch, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân nổi dậy; ngày 19-3-1975, tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng; ngày 26-3-1975, giải phóng thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên.

Tiếp đó, từ ngày 26 đến 29-3-1975, Quân đoàn 2, Quân khu 5 đã tổ chức Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Quảng Đà và lực lượng Quân đoàn 1 - Quân khu 1 Quân đội Sài Gòn tại Đà Nẵng. Trên các hướng, Quân Giải phóng tiến công các vị trí phòng thủ vòng ngoài của địch, mở đường tiến vào Thành phố. Hướng Bắc, Quân đoàn 2 đánh chiếm Phước Tường, Lăng Cô, đèo Hải Vân, kho xăng Liên Chiểu, tiến vào trung tâm Thành phố. Hướng Nam, các đơn vị chủ lực Quân khu 5 và lực lượng vũ trang Quảng Đà pháo kích chặn các cửa biển, đánh chiếm quận lỵ Duy Xuyên, Vĩnh Điện, thị xã Hội An, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà, căn cứ Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 Quân đội Sài Gòn, sân bay Đà Nẵng. Đến ngày 29-3-1975, ta giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Đà.

Đòn tiến công chiến lược vào Huế - Đà Nẵng giành thắng lợi, tạo bước nhảy vọt về chiến lược, làm thay đổi hoàn toàn cục diện so sánh lực lượng, thế trận. Trên đà thắng lợi, với tư tưởng: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa…”, ta bước vào chiến dịch cuối cùng, có ý nghĩa quyết định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Chiến dịch diễn ra với quy mô lớn, hiệp đồng tác chiến quân, binh chủng hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công của lực lượng vũ trang ba thứ quân và lực lượng chính trị quần chúng rộng khắp, đánh vào sào huyệt cuối cùng của địch ở Sài Gòn. Sau khi đã hoàn thành công tác chuẩn bị và tập trung một khối lượng lớn lực lượng và phương tiện trong thời gian ngắn nhất ở vùng kế cận Sài Gòn, chiều 26-4-1975, ta nổ súng mở màn Chiến dịch. Từ năm hướng, các quân đoàn đồng loạt tiến công Sài Gòn, chọc thủng tuyến phòng ngự vòng ngoài, đập tan sự kháng cự của các sư đoàn địch, tiếp cận Sài Gòn, làm cho địch bị rối loạn hoàn toàn về chiến lược. Ngày 29-4-1975, ta tổng tiến công bằng các binh đoàn bộ đội hợp thành tiến công trong hành tiến, tiêu diệt các cánh quân địch ngăn chặn và phản kích, nhằm thẳng các mục tiêu đã được phân công, các quân đoàn nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ Chiến thắng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giành thắng lợi trọn vẹn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, với tinh thần, ý chí triệt để cách mạng, tư tưởng tích cực, chủ động tiến công.

Thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên đến Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là sự vận dụng sáng tạo quan điểm tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh muốn giành thắng lợi không thể chỉ dựa vào ý chí, mà phải có đường lối chiến lược đúng đắn, sáng tạo, biết tạo ra sức mạnh và “Phải được tiến hành theo đúng những nguyên tắc căn bản của khoa học và chiến thuật quân sự”10. Đó là một hệ thống bao gồm các luận điểm về thế tiến công; về vận dụng các nhân tố lực, thế, thời và dùng mưu đánh giặc; về phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, đánh địch bằng mọi hình thức, mọi cách đánh và mọi thứ vũ khí trang bị; là biết giành thắng lợi từng bước, biết khởi đầu và kết thúc chiến tranh. Trong đó, tư tưởng “Kiên quyết không ngừng thế tiến công” giữ vị trí chủ đạo.

Tư tưởng chủ động, tích cực tiến công trong Chiến dịch Tây Nguyên là đòn tiến công chiến lược mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 giành thắng lợi, là nét đặc sắc trong chỉ đạo kiên quyết, triệt để. Thể hiện việc phát huy tư tưởng chủ động tiến công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được bắt đầu từ các phong trào đồng khởi Bến Tre; Chiến thắng Tua Hai, Chiến dịch Bình Giã… ; điển hình cho phát huy tính chủ động tiến công trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đã giáng cho đế quốc Mỹ một đòn thất bại nặng nề về quân sự và chính trị, buộc Mỹ phải xuống thang và chấp nhận giải quyết cuộc chiến tranh theo những điều kiện có lợi cho ta. Với tư tưởng chủ động tiến công trong Chiến dịch Tây Nguyên, một lần nữa cho thấy tầm tư duy quân sự của Đảng ta đã đưa đến một quyết định chiến lược dũng cảm và chính xác. Nhờ đó, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành thắng lợi trọn vẹn. Quân và dân ta đã đập tan bộ máy chiến tranh của chính quyền tay sai ở miền Nam, quét sạch bộ máy chính quyền Sài Gòn mà đế quốc Mỹ đã xây dựng hơn 20 năm. Ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam và các đảo do Quân đội Sài Gòn chiếm giữ. Nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến thắng Tây Nguyên khẳng định sự đúng đắn về sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, về sức mạnh của chiến tranh nhân dân, thể hiện chủ động tích cực tiến công địch của dân tộc ta tiếp tục được kế thừa, phát huy để chống mọi cuộc chiến tranh xâm lược đi đến giành thắng lợi quyết định trong sự nghiệp giải phóng dân tộc kết thúc chiến tranh. Những kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát huy trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống./.

 

 


 

TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TÁC BỔ NHIỆM CÁN BỘ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Trong những năm qua, Đảng ta đã đặc biệt chú trọng việc hoàn thiện các quy định, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong công tác cán bộ, góp phần khắc phục việc lạm quyền, lộng quyền của người đứng đầu trong bổ nhiệm cán bộ. Tuy nhiên, vẫn còn không ít trường hợp lợi dụng những kẻ hở để “lách” quy định, bổ nhiệm cất nhắc người nhà, người thân…Do vậy, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định, có các giải pháp để kiểm soát quyền lực trong công tác bổ nhiệm cán bộ.

          Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2017, triển khai nhiệm vụ năm 2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt vấn đề: Tại sao có hiện tượng đề bạt, cất nhắc nhiều người nhà, người thân quen mặc dù không đủ tiêu chuẩn? Vì sao cứ nói bổ nhiệm đúng quy trình nhưng kết quả thực tế bố trí cán bộ lại là sai? Kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về sai phạm của tập thể, cá nhân ở một số ngành, địa phương trong công tác cán bộ gần đây đã phần nào làm sáng tỏ những vấn đề trên. Có nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra, đáng chú ý nhất là việc lạm quyền, lộng quyền của người đứng đầu để “nâng đỡ không trong sáng”, dùng tập thể để hợp thức hóa quy trình, hợp thức hóa ý kiến cá nhân...Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực trong công tác bổ nhiệm cán bộ ở địa phương là vấn đề cấp thiết trong công tác tổ chức xây dựng Đảng hiện nay.

Kiểm soát quyền lực trong công tác bổ nhiệm cán bộ có thể hiểu là việc đặt quyền lực của tập thể, cá nhân vào đúng vị trí của nó trong từng khâu, từng bước của quy trình bổ nhiệm cán bộ, làm cho nguyên tắc tập trung dân chủ được phát huy hiệu quả nhằm bổ nhiệm đúng người, đúng việc. Kiểm soát quyền lực là vấn đề quan trọng, liên quan đến cơ chế vận hành của cả hệ thống chính trị.

Thời gian qua, việc phân cấp quản lý cán bộ, bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử quy định rõ quy trình, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân làm cho công tác bổ nhiệm cán bộ được thực hiện chặt chẽ hơn, hạn chế việc lợi dụng kẽ hở của cơ chế để bổ nhiệm người nhà, người thân... Chủ trương đã có, nhưng một khi cán bộ đã suy thoái, biến chất thì họ luôn tìm đủ mọi cách thức để “lách” quy định, nhất là người đứng đầu. Từ khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 12-KL/TW ngày 22/3/2017 về sửa đổi, bổ sung một số nội dung quy định về công tác cán bộ cho thấy, đã có tình trạng sử dụng chiêu bài lợi dụng thảo luận để nâng người này, hạ người kia hoặc cố tình dàn xếp gợi ý theo ý chí chủ quan của người đứng đầu hoặc nhóm người. Có những điểm chung ở những nơi xảy ra hiện tượng trên là: (1) Thông tin về nhân sự có đủ điều kiện, tiêu chuẩn dự kiến bổ nhiệm không được công bố đầy đủ và chính xác. (2) Cấp uỷ viên thụ động, tư tưởng nể nang, ngại va chạm, xuôi chiều, chưa thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm của mình trong việc thảo luận, đề xuất ý kiến trong các bước của quy trình bổ nhiệm cán bộ. (3) Cơ quan tham mưu cấp ủy chưa làm hết trách nhiệm của mình, chưa thẳng thắn, kiên định nguyên tắc, lựa chiều khi tham mưu.

Để khắc phục hạn chế nêu trên, các cấp ủy, các tổ chức đảng ở địa phương sẽ phải thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của tập thể và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên về công tác cán bộ, nhất là bổ nhiệm cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”(1). Vì vậy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên phải nhận thức đầy đủ công tác cán bộ là trách nhiệm của cấp ủy đảng; phải nhận thức đầy đủ bổ nhiệm cán bộ là khâu kiểm nghiệm, có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến hiệu quả, chất lượng của công tác cán bộ; phải được thực hiện đúng quy chế, quy định đã ban hành, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị chung của Đảng bộ và nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành mà chọn cán bộ; tiếp tục nhận thức đúng và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác bổ nhiệm cán bộ.

Hai là, quy định cụ thể những thông tin bắt buộc phải được công bố trong các hội nghị của quy trình công tác cán bộ. Các thông tin về phẩm chất, năng lực, uy tín của từng cán bộ dự kiến bổ nhiệm phải được cụ thể hóa theo tiêu chuẩn chức danh, tránh tình trạng chung chung, qua loa, đại khái, mỗi nơi làm một kiểu. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý, thẩm định hồ sơ cán bộ. Việc số hóa hồ sơ cán bộ giúp cho công tác tham mưu được chủ động, hiệu quả hơn, từng bước xây dựng các ứng dụng phục vụ nghiệp vụ công tác cán bộ như ứng dụng phục vụ thẩm định hồ sơ cán bộ, ứng dụng phục vụ hội nghị trong công tác cán bộ...Từ đó kịp thời cung cấp thông tin đến từng tổ chức, cá nhân trong việc thẩm định, tham khảo để đưa ra ý kiến tốt nhất.

Ba là, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ. Các cơ quan tham mưu của cấp ủy là người giúp việc của cấp ủy đảng về từng lĩnh vực công tác và luôn được xác định có vị trí quan trọng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy. Để kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ cần xây dựng và xác định rõ một số nguyên tắc cơ bản cho hoạt động của bộ máy cơ quan làm công tác cán bộ; hoàn thiện bộ máy làm công tác cán bộ theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tránh sự chồng chéo, phân công không rành mạnh, sự phối hợp không ăn khớp giữa các bộ phận trong cơ quan và với các cơ quan liên quan; quan tâm lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ. Xây dựng hình ảnh người cán bộ tổ chức xây dựng Đảng trong sáng, gương mẫu, tinh thông.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

Kiểm soát quyền lực là một điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong cơ chế vận hành của các thể chế chính trị nói chung, đồng thời cũng là một yếu tố quan trọng trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng nói riêng. Quyền lực phải được bảo đảm các điều kiện để thực thi có hiệu quả, đồng thời phải được ràng buộc chặt chẽ bằng trách nhiệm. Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bởi cơ chế, quyền lực phải được ràng buộc chặt chẽ với trách nhiệm, quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó; phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng quyền lực; từ đó, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực cụ thể trên tất cả các lĩnh vực, trước hết là các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao. Để kiểm soát quyền lực trong công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Một là: Cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị, trước hết là người đứng đầu, đặc biệt là các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng các cấp như: Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Công an nhân dân. Đây là những cơ quan giúp nhà nước giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, pháp luật và kiểm soát quyền lực.

Hai là: Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, trách nhiệm người đứng đầu trong hoạt động công vụ; kiểm soát tài sản, thu nhập; thanh tra, kiểm toán, giải quyết khiếu nại, tố cáo và giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước và của Đảng.

Ba là: Hoàn thiện và cụ thể hóa cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên trong, kiểm soát lẫn nhau và kiểm soát từ bên ngoài đối với các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Công khai, minh bạch trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan, trong đó có cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng, qua đó ngăn ngừa tha hóa quyền lực, lạm quyền, lộng quyền và tạo mọi điều kiện để người dân dễ dàng, thuận lợi trong tiếp cận thông tin về hoạt động của nhà nước, đặc biệt là những thông tin về những quyết định liên quan đến quyền và lợi ích của người dân. Việc công khai, minh bạch buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quyền phải thực hiện đúng đắn, nghiêm túc, công bằng các quyền hạn được giao, phải giải trình đầy đủ những vấn đề liên quan đến việc thực thi quyền hạn khi có yêu cầu.

Bốn là: Nhà nước cần hoàn thiện hệ cơ chế quản lý, kiểm soát ngân sách, vốn và tài sản của nhà nước, tài nguyên của đất nước; tránh để việc lợi dụng chức vụ để tham nhũng, chiếm đoạt tiền, đất đai... như trong thời gian vừa qua.

Năm là: Bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện quyền lực, các cơ quan nhà nước phải đặt mình dưới sự giám sát của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức. Những ý kiến, kiến nghị, khiếu nai, tố cáo của nhân dân về các hành vi lạm quyền, lộng quyền, sử dụng quyền lực vì mục đích cá nhân, lợi ích nhóm, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền cần phải được nghiêm túc lắng nghe, tiếp nhận và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

 

ĐỪNG ĐỂ ĐỨC TIN BỊ LỢI DỤNG!

Có thể dẽ dàng nhận thấy rằng, trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, dễ thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực dễ bị lợi dụng vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo.

Hoạt động lợi dụng tôn giáo và vấn đề tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội là hoạt động hết sức nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây chia rẽ giữa các tôn giáo, giữa tôn giáo với chính quyền, giữa quần chúng giáo dân và những người không theo tôn giáo, tạo ra những yếu tố phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ thành xung đột xã hội. Trên thực tế, đã xảy ra một số vụ mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhân dân có liên quan tới tôn giáo do tác động bởi hoạt động nói trên. Sự ổn định chính trị – xã hội ở một số nơi, một số lúc đã bị ảnh hưởng. Do đó, chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động này có vai trò quan trọng trong toàn bộ công tác tôn giáo cũng như bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội ở Việt Nam.

Với chủ trương “tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thời gian qua, tình hình tôn giáo ổn định, đời sống tôn giáo có những biến đổi sâu sắc cả về số lượng lẫn phạm vi hoạt động, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng, bảo đảm. Các tổ chức tôn giáo được công nhận xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo phù hợp với văn hóa truyền thống, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Cơ quan chức năng làm tốt công tác hướng dẫn, quản lý, từng bước đưa hoạt động tôn giáo đi vào nền nếp, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cần khẳng định rằng, bản chất của Tôn giáo chân chính là luôn hướng con người đến chân – thiện – mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Đức Phật, Đức Giê-su hay Đức Chúa Trời… không bao giờ răn dạy các tín đồ của mình phải làm điều ác, trái với đạo đức, luân thường, đi ngược lại với các quy định của pháp luật. Các đức tin của các Tôn giáo đều có chung khát vọng dẫn đường cho con người tu tập, thực hành giáo lý, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, xã hội phồn vinh, hướng con người đến với sự tốt đẹp, sống đoàn kết, lương thiện và thương yêu nhau.

Ngay trong Giáo luật Công giáo cũng đã khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hay trong Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Nhìn tổng thể thì trong suốt chặng đường lịch sử đã qua, tín đồ, chức sắc chân chính của các Tôn giáo ở Việt Nam đã, đang đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quyên góp hàng ngàn tỷ đồng xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Qua các phong trào này đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu là tăng ni, phật tử có thành tích xuất sắc được Đảng, Nhà nước tặng thưởng các phần thưởng cao quý.

Mỗi tín đồ tôn giáo cũng đồng thời là công dân Việt Nam, khi thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân trên cơ sở pháp luật, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, TTATXH, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân hay lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để trục lợi phi pháp, trái thuần phong mỹ tục, trái đạo đức, trái giáo lý. Và chắc chắn những kẻ lợi dụng tôn giáo để thực hiện hành vi phi tôn giáo, làm ô danh tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật. Mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, kịp thời tố giác, ngăn chặn hành vi của các đối tượng lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật; đó cũng là phương cách để bảo vệ chính mình, bảo vệ xã hội và chính là bảo vệ các tôn giáo chân chính đang hoạt động bình thường trên đất nước Việt Nam.

KHÔNG ĐƯỢC PHÉP LÃNG QUÊN.!

 

          Cả nước đã có 1.146.250 anh hùng, liệt sĩ hy sinh trong đó 191.605 Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp; 849.018 Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ; 105.627 Liệt sỹ hy sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Campuchia, Biển Đông… Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị. Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường ở hai miền Bắc – Nam đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại.

          Đóng góp vào sự nghiệp cách mạng, cả nước có trên 9.000.000 người có công; 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; trên 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động; gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh; hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam; gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…

          Chúng ta đời đời biết ơn các thế hệ cha anh đã hy sinh anh dũng để đất nước thống nhất, độc lập, tự do như ngày hôm nay.

                                                                                                St PQ

UKRAINE 2022, CAMPUCHIA 1979, NGA VÀ VIỆT NAM

 

          Khi chiến sự Nga - Ukraina đang diễn ra căng thẳng. Truyền thông Việt Nam với những nhà chiến lược, các cái gọi là giáo sư -tiến sĩ dồn dập lên tiếng với những bài viết rất hùng hồn, trích dẫn từ mọi thứ bao gồm đong đếm lại lịch sử, dẫn nguồn từ Hiến chương Liên Hiệp Quốc, cáo buộc Nga "xâm lược", đòi phải "chấm dứt ngay hoạt động quân sự" phải "rút quân"...v..v và mây mây...rất "trí tuệ, rất thông thái"..."tuyệt vời".

          Mỉa mai thay dù những kẻ này biết rất rõ, chính quyền Kiev là do các thế lực nước ngoài và chủ nghĩa dân tộc cực đoan new nazi gây dựng lên từ maidan và súng bắn tỉa, họ cũng biết rất rõ, kể từ năm 2014, các tiểu đoàn Azov, Aidar đã làm những gì trên khắp đất nước Ukraina và đặc biệt 8 năm chiến tranh ở Donbass cũng như các hành vi khủng bố, tàn sát, trấn áp người nói tiếng Nga, cựu chiến binh Hồng quân Liên Xô.

          Một số cơ quan truyền thông, trang mạng, báo chí của chúng ta, bám chặt theo đuôi truyền thông phương Tây MSM, tung ra những lời cáo buộc rất nặng nề, tấn công vào cuộc chiến tranh bắt buộc mà Nga phải tiến hành để bảo vệ mạng sống của chính người dân Nga.

          Điều đó chúng ta cũng quá rõ ràng qua những title, bài viết trên các trang báo điện tử nhiều triệu view....

          Tạm thời không đề cập đến vấn đề này vì có quá nhiều thông tin trên mạng xã hội. Cần nhớ lại, đất nước Việt Nam cũng buộc phải tiến hành một cuộc chiến bắt buộc, cứu nhân dân Camphuchia khỏi nạn diệt chủng trước sự ngoảnh mặt làm ngơ của cái gọi là Liên Hiệp Quốc, trước sự phản đối của hơn 180 nước trên thế giới.

          Để đến lúc này, sau khi nhìn "Cánh đồng chết", bảo tàng hài cốt còn lại của hơn 2 triệu người dân Camphuchia bị sát hại.

          Chúng ta đòi thế giới phải có một câu "xin lỗi", hình như thế giới vẫn làm ngơ!!! Chúng ta thừa biết, nếu không có cuộc chiến tranh bắt buộc đó, sự toàn vẹn của non sông hiện nay sẽ không có, đất nước hoặc sẽ tan nát với những cuộc chiến từ hai đầu đất nước, bị chia sẻ, hủy diệt với nhiều triệu người thiệt mạng.

          Thậm chí có thể nói, các giáo sư -tiến sĩ của chúng ta, đang chém gió trên truyền thông cũng không thể tồn tại hoặc giả thiết là có, thì cũng phát biểu bằng tiếng Bắc Kinh. Cần nhớ, Khmer Đỏ quyết sử dụng sinh mạng của 2 triệu người Camphuchia để diệt 20 triệu người Việt Nam.

          Tạm thời không đề cập đến hậu quả nếu như không có "cuộc chiến tranh bắt buộc" đó, cũng nhớ thêm là Khmer Đỏ lúc đó chưa nghĩ tới vũ khí sinh học hay vũ khí hạt nhân mà chỉ mới là mạng người.

          Một câu hỏi ngẫu nhiên, vì sao khi đó, với cả một mớ các quốc gia trên khắp thế giới sôi sục lên án chúng ta, ồ ạt cung cấp vũ khí trang bị, hậu cần kỹ thuật, lương thực thực phẩm...nhưng Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc lại không sử dụng vũ khí hạt nhân để ngăn chặn Việt Nam? họ quá tử tế?

          Đạo đức của những kẻ diệt chủng hàng chục triệu người dân da đỏ, ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hirosima và Nagazaki quá cao hay quá tốt bụng? Vì sao? Cần nhớ, tọa độ Hà Nội đến nay vẫn nằm trong số các mục tiêu của tên lửa đạn đạo LGM-30 Minuteman từ thời Chiến tranh Lạnh.

          Giả thiết nếu Mỹ - NATO khởi động một cuộc tập kích bằng vũ khí hạt nhân nhằm ngăn chặn Việt Nam vào thời điểm đó, thì chúng ta sẽ ra sao? Chắc chắn số lượng đầu đạn, nếu tính các mục tiêu là thành phố lớn và các điểm chiến lược, sẽ không dưới 10 đầu đạn với đương lượng nổ chiến thuật từ 100 Kt trở lên.

          Trong tình huống này sẽ không còn chúng ta, nước CHXHCN Việt Nam mà các nhà chiến lược, các giáo sư-tiến sĩ me Tây, thích ăn cháo đá bát đang ăn cả lương lẫn lậu từ tiền thuế của dân nữa. Và họ sẽ không gào khóc cho tân nazi.

          Tất nhiên, câu trả lời cũng dễ thấy, đó là do Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (USSR) đứng ở sau lưng chúng ta. Vì có USSR, chúng ta mới có thể cứu được Camphuchia và cứu được chính mình. Để Việt Nam không trở thành vùng phóng xạ hạt nhân...mà là đất nước tươi đẹp ngày nay.

          Để nhớ về những giúp đỡ vô cùng to lớn đó, thì có một số cơ quan truyền thông, vài tờ báo, trang mạng tại Việt Nam mượn danh tự do báo chí công khai chỉ trích Nga, quốc gia kế thừa USSR, công khai đăng tải những bài viết có tính nghịch đảo, bao che cho một nhà nước đang dung dưỡng chủ nghĩa phát xít mà hậu quả của nó ở Việt Nam có 2 triệu người chết đói năm Ât Dậu. Đó thực sự là hành vi đê hèn và vô đạo đức nhất có thể thấy được.

          Các ngài viết những bài báo đao to búa lớn, rất hay, rất giống truyền thông phương Tây, cái gọi là chuẩn mực media "dân chủ" theo cách các ngài gọi, vậy các ngài cũng có thể xem.

          Vào những năm 78 - 79 của thế kỷ trước. Truyền thông phương Tây có viết giống như các ngài đã viết bây giờ không khi nói về chính chúng ta.

                                                                                      ST PQ

XÂY DỰNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TRÊN CƠ SỞ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG

 ***Văn hóa công sở - yếu tố đảm bảo tính chuyên nghiệp và hiệu hiệu quả  của hoạt động công sở

Công sở là cơ quan của bộ máy nhà nước đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước quy định. Hoạt động của công sở nhằm phục vụ cho lợi ích của cộng đồng và thực hiện quyền lực nhà nước. Công sở có nhiệm vụ quản lý công vụ, công chức; tổ chức công tác phối hợp công việc giữa các bộ phận; tổ chức công tác thông tin trong công sở và với các cơ quan  khác. Công sở tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát việc hành chính, là nơi soạn thảo văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước. Đây còn là nơi tiếp nhận yêu cầu, đề nghị, khiếu nại của công dân, tổ chức việc giao tiếp với người dân... Do đó, công sở là một bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý Nhà nước, đại diện quyền lực của nhà nước trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao.

Mọi thành công hay thất bại trong hoạt động của công sở phụ thuộc vào rất nhiều  yếu tố, trong đó yếu tố chủ yếu nhất là con người và hành vi ứng xử văn hóa nơi công sở của các cá nhân, từ cấp lãnh đạo, quản lý, điều hành cho tới các nhân viên phục vụ. Biểu hiện cụ thể của văn hóa công sở là tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ công việc, ý thức chấp hành kỷ luật của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, lao động cùng với ý thức trau dồi kiến thức văn hóa, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ hiểu biết pháp luật để thực hiện công việc một cách chuyên nghiệp và hiệu quả. Thực tế, văn hóa công sở được hình thành trên cơ sở văn hóa ứng xử của các thành viên trong tổ chức, nó có tính kế thừa và tiếp thu sáng tạo, có chọn lọc qua các giai đoạn phát triển của bộ máy tổ chức và không ngừng được bổ sung hoàn thiện đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của chế độ công vụ và sự phát triển của tổ chức.

Thực hiện văn hoá công sở chính là một phần của yêu cầu cải cách hành chính để đạt được mục tiêu xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, có kỉ cương và dân chủ mà từng cán bộ, công chức, viên chức cần nhận thức và xác định đúng đắn vai trò và trách nhiệm của bản thân mình trong quá trình này. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cần có phong cách ứng xử chuẩn mực trong hoạt động công vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, luôn có ý thức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Do đó, tại các công sở, cán bộ công chức cần nghiêm chỉnh tuân theo các quy định cụ thể thực hiện văn hóa công sở, đặc biệt cần tuân thủ tốt quy định về phong cách phục vụ, ứng xử với đồng nghiệp, caaos trê, cấp dưới…một cách có văn hóa, góp phần tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh nơi công sở.

Với ý nghĩa đó, văn hóa công sở không chỉ thể hiện đạo đức, phẩm chất, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức trong khi thực thi nhiệm vụ mà còn thể hiện trình độ văn hóa của họ. Xây dựng văn hóa công sở thực chất là xây dựng con người lao động mới – văn minh, chuyên nghiệp – yếu tố quyết định chất lượng và khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động công sở.

***Văn hóa ứng xử  - nền tảng để xây dựng Văn hóa công sở

Như đã đề cập ở trên “văn hóa công sở được xây dựng trên nền tảng của văn hóa ứng xử”. “Văn hóa ứng xử là sự thể hiện triết lý sống, lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong việc ứng xử và giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội”.  Bản chất của văn hóa ứng xử là đạo đức, tình cảm, là lý trí và sự nhẫn nhịn, nhường nhịn. Còn biểu hiện của văn hóa ứng xử gồm có văn hóa nói và văn hóa hành động. Trong khi đó, nghệ thuật ứng xử luôn xuất phát từ cuộc sống chân thực, lối sống  chất phác, thái độ nhân văn và tâm lý sâu sắc.

Nếu một người có trái tim nhân hậu của người mẹ hiền, có bộ não uyên bác của nhà khoa học, có tâm hồn lãng mạn của một nghệ sỹ, có bàn tay khéo léo của một nghệ nhân, thì nghệ thuật ứng xử sẽ tự nhiên ngấm vào cuộc sống hàng ngày của họ. Nhưng nghệ thuật ứng xử không tự nhiên mà có, nó càng không thể xây dựng trên một nền tảng tâm hồn và trí tuệ nghèo nàn, mà là kết quả của cả một quá trình nhận thức và rèn luyện không ngừng của bản thân. Văn hóa ứng xử nói chung và văn hóa ứng xử nơi công sở nói riêng chính là thước đo sự văn minh của mỗi cán bộ công chức hay nói khác đi nó phản ánh sự nhận thức cũng như ý thức của mỗi cá nhân trong môi trường làm việc nơi công sở.

Con người tác động đến việc hình thành văn hóa công sở đồng thời văn hóa nói chung, văn hóa công sở nói riêng với những giá trị bền vững được kế thừa và tiếp thu có chọn lọc từ quá khứ đến hiện tại, tương lai; từ môi trường bên trong đến bên ngoài công sở sẽ có tác động trở lại góp phần hoàn thiện nhân cách, phẩm chất, đạo đức cho cán bộ công chức. Xây dựng văn hóa công sở chính là xây dựng một môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, thân thiện và hiệu quả. Cách hành xử văn hóa nơi công sở vì thế, mang lại rất nhiều lợi ích góp phần tạo dựng niềm tin, sự đoàn kết nhất trí của cả tập thể, từ đó tạo bầu không khí làm việc cởi mở, tích cực, giúp cán bộ nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.

Tuy vậy, hiện nay trong công sở của chúng ta vẫn còn một số nhiều hạn chế trong thực hiện văn hóa công sở như trong việc chấp hành kỷ luật,chế độ quy định…; đến công sở gặp đồng nghiệp, gặp lãnh đạo nhưng không chào hỏi nhau; ý thức giữ gìn vệ sinh chung, ý thức tiết kiệm trong việc sử dụng điện nước còn chưa tốt; ý thức trách nhiệm với công việc được giao chưa cao… đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả công việc, đến đồng nghiệp, đến bộ mặt của cả cơ quan đơn vị. Cá biệt, có lúc, có nơi còn có hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm trong công tác, thiếu nhiệt tình trong công việc, tâm lý làm cho có, làm cho xong việc…Nhưng cũng có những trường hợp chưa biết nhận thức phải làm như thế nào để có những hành vi, ứng xử văn minh, lịch sự nơi công sở.

Ai cũng trọng lời chào, vậy mà không ít cán bộ, công chức còn ngại chào khi gặp gỡ nhau. Chính vì vậy, nhiều cơ quan, đơn vị rất khuyến khích nhân viên thường xuyên chào hỏi khi gặp gỡ nhau như một cách để tăng cường mối liên kết và tình cảm của các thành viên. Đặc biệt, khi gặp lãnh đạo của cơ quan, đơn vị, các nhân viên cần chào hỏi và bày tỏ sự kính trọng. Buổi sáng gặp nhau ở công sở nhất thiết phải chào nhau. Kết thúc một ngày làm việc, đồng nghiệp nên chào nhau trước khi ra về. Kết thúc một tuần làm việc, chúng ta nên chào đồng nghiệp cùng lời chúc ngày nghỉ vui vẻ.

Việc phát ngôn hằng ngày cũng là một nội dung còn có những vấn đề cần được trao đổi nhiều hơn như kỹ năng trả lời điện thoại, kỹ năng trao đổi thông tin; người có kỹ năng phát ngôn tốt, chuẩn mực càng làm nổi bật bật tính chuyên nghiệp và cách ứng xử thanh lịch của công chức đó ở nơi công sở. Ông bà ta dạy rằng: “Ngôn là người”. Ngôn ở đây không chỉ được hiểu là giọng nói mà còn là cách nói, kiểu nói, cung cách trò chuyện; là sự ứng xử tình huống, nghệ thuật giải quyết xung đột.

Thực tế cuộc sống cho thấy chính văn hóa hành vi trong giao tiếp sẽ nói lên thật nhiều sự thanh lịch đích thực của một con người. Lời nói trong cuộc sống hằng ngày là những gì rất giản dị như cơm ăn áo mặc. Nhưng nói làm sao cho đẹp, có nghi lễ là điều cần có sự rèn luyện và tu dưỡng của mỗi cá nhân. Sự dễ dãi trong lời ăn tiếng nói có thể dẫn đến sự buông thả trong lối sống, tùy tiện trong công việc.

Những nội dung trên đây, phần nhiều đề cập tới những hành vi ứng xử đạo đức như là một yếu tố nền tảng của văn hóa ứng xử. Thực tế, văn hóa công sở còn phải xuất phát từ những hành vi, thái độ mang tính quy chuẩn, cần có quá trình đào tạo thường xuyên liên tục ở mỗi cơ quan đơn vị. Ví dụ như, Quy chế về văn hóa công sở, bao gồm quy định rõ về trang phục, về chấp hành kỷ luật, chế độ quy định về quy định giữ gìn vệ sinh, sử dụng vật chất, thiết bị hỗ trợ công việc... Đồng thời phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng về thái độ, kỹ năng ứng xử trong các trường hợp giao tiếp cụ thể ở cơ quan, ví dụ như kỹ năng giao tiếp hiệu quả, kỹ năng trao đổi thông tin, kỹ năng quản lý thời gian làm việc trong nội bộ phòng ban, đơn vị, nội bộ cơ quan...

Cuối cùng xin đề cập đến một nội dung quan trọng khác của văn hóa công sở đó là là phong cách làm việc. Đây là sự kết hợp tinh tế giữa các phẩm chất cá nhân và quá trình rèn luyện về lề lối làm việc mà Bác Hồ là một tấm gương tiêu biểu về phong cách làm việc khoa học, hiệu quả. Suốt cuộc đời mình, Bác luôn coi trọng phong cách làm việc tập thể và dân chủ, gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể như phương châm chỉ đạo suy nghĩ và hành động của Người.

Bác luôn luôn trân trọng ý kiến của mọi người, không phân biệt chức vụ, cấp bậc, đẳng cấp. Có rất nhiều bài viết quan trọng, Bác đã chuyển cho các đồng chí lãnh đạo chủ chốt đọc và góp ý trước khi công bố; nhưng cũng có nhiều bài viết Bác lại trao đổi với các đồng chí phục vụ để sửa chữa những chỗ viết còn khó hiểu. Phong cách làm việc khoa học của Bác Hồ là sự kết hợp nhuần nhuyễn của tính cụ thể, kịp thời, thiết thực trong mọi lời nói, hành động, ý kiến chỉ đạo… Phong cách làm việc Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người đã để lại cho dân tộc ta, đó cũng là  bài học lớn về rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, nhân cách làm Người, làm Cán bộ.

***Giải pháp đẩy mạnh văn hóa công sở

Nhằm tiếp tục hoàn thiện xây dựng văn hóa công sở không chỉ có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả khi xử lý, giải quyết công việc, xây dựng lề lối làm việc khoa học của đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động, mà còn góp phần thúc đẩy quá trình cải cách hành chính mà nghị quyết TW5 (khóa X) của Đảng đã đề ra, thiết nghĩ cần thực hiện tốt một số giải pháp thực hiện văn hóa công sở như sau:

- Thường xuyên tuyên truyền về văn hóa công sở nhằm nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về tầm quan trọng của việc thực hiện văn hóa công sở trong môi trường làm việc hiện nay; về ý nghĩa của việc đẩy mạnh thực hiện văn hóa công sở trong việc hoàn thiện nhân cách của người cán bộ.

- Bên cạnh việc sắp xếp công việc phù hợp còn phải tạo ra môi trường làm việc thân thiện, hiệu quả; quan tâm đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khi ốm đau…tạo động lực và môi trường cho những nét đẹp về ứng xử văn hóa được phát huy, nhân rộng trong cơ quan, đơn vị.

- Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng (tự bồi dưỡng) về văn hóa công sở cho toàn thể cán bộ, viên chức, chiến sĩ trong cơ quan về kỹ năng giao tiếp, ứng xử nơi công sở…

Tóm lại, Văn hóa công sở thực chất là văn hóa ứng xử ở nơi công sở, phản ánh đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Xây dựng văn hóa công sở suy cho cùng là xây dựng đội ngũ cán bộ công chức mới với đầy đủ phẩm chất cách mạng “ Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng” làm nền tảng cho việc xây dựng một phong cách làm việc của thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Đó cũng là một mục tiêu định hướng chúng ta cùng học tập và làm theo phong cách làm việc Hồ Chí Minh – phong cách tuyệt mỹ của một chỉnh thể lôgíc từ suy nghĩ (phong cách tư duy) đến nói, viết (phong cách biểu đạt) và được biểu hiện qua phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt hng ngày./.