Thứ Ba, 22 tháng 3, 2022

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ TỘI ÁC CỦA KHMER ĐỎ

 

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM VÀ TỘI ÁC CỦA KHMER ĐỎ

 

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975, quân Pol Pot đã tiến hành xâm lấn biên giới Việt Nam mà đầu tiên là đảo Phú Quốc (4/5/1975) rồi tới đảo Thổ Chu giết chết 500 thường dân. Chúng gây ra hàng loạt cuộc thảm sát nhân dân biên giới Việt Nam-Cam Pu Chia.

Tháng 4/1977, quân Pol Pot tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát nhiều dân thường.

Ngày 25/9, 4 sư đoàn quân Pol Pot đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất tích.

Tính từ tháng 5/1975 đến ngày 23/12/1978, Pol Pot đã giết hại hơn 5.000 dân thường Việt Nam, làm bị thương gần 5.000 người, bắt và đưa đi thủ tiêu hơn 20.000 người. Chủ trương của quân Pol Pot là “Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam”.

Ngày 31/12/1977 Việt Nam đưa vào Campuchia 6 sư đoàn bộ binh đánh sâu vào đất Campuchia giải thoát cho một số cán bộ quan trọng của Campuchia trong đó có Thủ tướng tương lai Hun Sen.Cuộc tấn công này được xem là lời “cảnh cáo” cho chính quyền Khmer Đỏ.

Việt Nam đề nghị đàm phán nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới, nhưng Pol Pot nhiều lần từ chối, và giao tranh lại tiếp diễn. Từ 12/1977 đến 6/1978, hơn 30 vạn thường dân Việt Nam phải di tản vào sâu trong nội địa.

Ngày 13/12/1978, được sự trang bị và hậu thuẫn của Trung Quốc, chính quyền Khmer Đỏ đã huy động 19 trong 23 sư đoàn (khoảng 80.000 đến 100.000 quân) tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Trước tình hình đó Việt Nam đã huy động Quân đoàn 2 (Sư 304, 325) Quân đoàn 3 (Sư 10, 31, 320, 302) Quân đoàn 4 (Sư 7, 9, 341, 2 – Lữ đoàn 22 thiết giáp, Lữ đoàn 24 pháo binh, Lữ đoàn 25 công binh) Quân khu 5 (Sư 307, 309 – Lữ đoàn đặc công 198) Quân khu 7 (Sư 5, 302, 303, Trung đoàn đặc công 117,Trung đoàn 262 pháo binh, Trung đoàn 26 thiết giáp, Trung đoàn công binh E25 QK7) Quân khu 9 (Sư đoàn 4, 330, 339); Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 và Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101; Đoàn 901 không quân (Sư đoàn không quân 372, Trung đoàn 921) và hơn 1 vạn quân thuộc Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia (UFNSK) (là chính phủ kháng chiến được thành lập bởi Hun Sen) chống lại quân xâm lược.

Từ tháng 6/1977 đến tháng 12/1978, quân tình nguyện Việt Nam đã tiêu diệt 38.563 quân Khmer đỏ, bắt sống 5.800 lính khác. Kết thúc cuộc chiến, quân tình nguyện Việt Nam tiêu diệt hơn 10 vạn quân Pol Pot.

Đến 07/01/1979, Phnom Penh được giải phóng nhưng 10 năm sau, cuộc chiến tranh mới kết thúc, hơn 3 triệu dân Campuchia chết dưới nạn diệt chủng của Pol Pot. Cuộc chiến kết thúc với thiệt hại của Việt Nam là hơn 50 ngàn quân nhân hi sinh hoặc mất tích và 200 ngàn người bị thương, hơn 55 ngàn dân thường chết hoặc bị thương

 

 

Cảm nghĩ về ngày thành lập Đoàn 26-3

     Ngày 26-3, tuổi trẻ cả nước tưng bừng kỷ niệm 91 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, trong niềm phấn khởi và niềm tin thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

        Ra đời trong phong trào đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc, 91 năm qua, được Bác Hồ kính yêu và Đảng vĩ đại tổ chức và trực tiếp lãnh đạo, rèn luyện, dìu dắt, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh không ngừng trưởng thành lớn mạnh, xứng đáng là đội dự bị, cánh tay đắc lực của Đảng. Chúng ta thật tự hào, ở giai đoạn cách mạng nào, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam cũng có những phong trào hành động cách mạng mang dấu ấn lịch sử; cũng có những tấm gương tuổi trẻ sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giàu trí sáng tạo, làm rạng danh đất nước, như phong trào: “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”, “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, “Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
        Sinh thời, Bác Hồ kính yêu luôn đặt niềm tin mãnh liệt vào thanh niên, luôn dành cho thế thệ trẻ tình cảm thân thương, sự chăm sóc, dạy bảo ân cần. Đền đáp công ơn trời biển và tình cảm sâu nặng của Người, không gì thành tâm hơn là tuổi trẻ Việt Nam nguyện ước thực hiện tốt nhất lời Bác dạy: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.


        Kỷ niệm 91 năm ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn, cũng là dịp diễn ra Đại hội Đoàn các cấp, tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII. Đây là dịp tốt để tổ chức Đoàn đánh giá một cách thực chất công tác Đoàn và phong trào thanh niên ở cơ quan, đơn vị, địa phương mình, từ đó nhân rộng, phát triển những mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả, nhằm xây dựng lớp thanh niên theo tiêu chí: "Bản lĩnh, yêu nước, tri thức, sức khỏe, sáng tạo, tình nguyện". Đồng thời khắc phục được những tồn tại, yếu kém như trong thi đua còn nặng tính hình thức, thiếu những biện pháp thiết thực; một bộ phận thanh niên sống thiếu mục tiêu, lý tưởng, sa ngã trong các tệ nạn xã hội... Đó là những vấn đề rất cần được trao đổi tại Đại hội Đoàn các cấp, nhất là Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII sắp tới, đồng thời luôn cần sự quan tâm về mọi mặt, định hướng kịp thời của các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội....

VLADIMIR PUTIN, NGƯỜI BẠN LỚN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM!

         Khi sang thăm Việt Nam, vào Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vòng hoa kính viếng, Vladimir Putin nói: “Hồ Chí Minh là một nhân cách văn hóa lớn của nhân loại!”
Khi nhắc đến quan hệ Việt Nam - Nga, Vladimir Putin viết:
“Tình hữu nghị giữa Nga và Việt Nam đã vững vàng vượt qua được những thử thách nảy sinh từ nhiều sự kiện bi thương của thế kỷ 20 cũng như những biến đổi kỳ vĩ trên thế giới và ở hai đất nước chúng ta. Song có một điều còn mãi không bao giờ thay đổi - đó là quan hệ tôn trọng lẫn nhau, là truyền thống tin cậy và giúp đỡ lẫn nhau. Là biết trân trọng sự giúp đỡ vô tư không hề vụ lợi của các đối tác KHÔNG KHI NÀO PHẢN BỘI.
Về điều này tôi muốn dẫn ra đây những lời nói nổi tiếng của CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH: “Uống nước nhớ nguồn”. Tôi coi những lời này là sự ủy thác tinh thần cho các thế hệ công dân hôm nay và mai sau của hai đất nước chúng ta. Nhất định phải ghi nhớ về những trang sử chung, về những gì gắn bó chúng ta. Đó chính là sự đảm bảo tính kế thừa và sự bền vững cho mối quan hệ hướng đến tương lai của chúng ta.”
Và khi có một phóng viên phương Tây hỏi VIỆT NAM - NGA MỐI QUAN HỆ CỦA TÌNH HỮU NGHỊ THUỶ CHUNG, SÂU SẮC? Vladimir Putin chỉ ngắn gọn: 
“Điều ấy cả thế giới đều biết, chỉ riêng anh không biết. Điều ấy không cần phải quảng cáo.”
Vâng, điều ấy không cần phải quảng cáo. Vladimir Putin! Ông là Người bạn lớn của Nhân dân Việt Nam!
🇻🇳🇷🇺 🇻🇳🇷🇺🇻🇳🇷🇺🇻🇳🇷🇺🇻🇳
🇻🇳🇷🇺 🇻🇳🇷🇺🇻🇳🇷🇺🇻🇳🇷🇺🇻🇳
Yêu nước ST.

Kiên quyết đấu tranh đẩy lùi các biểu hiện nói, viết và làm không đúng nghị quyết


          Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (Nghị quyết 847) đã “điểm mặt, chỉ tên” 10 biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cá nhân và một trong những biểu hiện đó là: “Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

          Việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện nêu trên, phải được coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi quân nhân để góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.

          Để đấu tranh phòng, chống, đẩy lùi các hiện tượng trên đây, trước hết, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ về nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu giúp cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nhận thức đầy đủ, toàn diện, hiểu đúng và sâu sắc các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng, kỷ luật quân đội; nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong quân đội; ngăn ngừa cán bộ, đảng viên và chiến sĩ vin vào sự “thiếu hiểu biết” để biện minh cho những phát ngôn tùy tiện, bài viết, việc làm không đúng với nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy.

          Các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, nhất là Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 “Quy định về những điều đảng viên không được làm”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

          Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phương pháp làm việc khoa học cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ; nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên trong chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội. Tích cực rèn luyện cán bộ, đảng viên, chiến sĩ theo những chuẩn mực của đạo đức cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Chú trọng rèn luyện phong cách làm việc khoa học, sáng tạo, nói đi đôi với làm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và chiến sĩ; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đơn vị.

          Mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cần nêu cao tính đảng, tính kỷ luật khi phát ngôn, viết bài, đăng tải, tuyên truyền những vấn đề liên quan đến nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Thực hiện nghiêm quy định của Đảng, của quân đội về quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin; quy chế công bố sản phẩm nghiên cứu khoa học, nhất là những vấn đề mới, nhạy cảm chính trị, chưa được kiểm chứng trên các ấn phẩm sách, báo chí, các phương tiện thông tin, các trang mạng xã hội. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ bản thân không bị tác động tiêu cực bởi các thông tin xấu độc.

          Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với đảng viên trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Kịp thời phê bình, nhắc nhở, kiểm điểm đảng viên khi mới có dấu hiệu vi phạm, tránh để vi phạm nhỏ kéo dài dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với những cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nói, viết, làm việc không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội.

          Có thể khẳng định rằng, việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện “Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội” phải được coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi quân nhân để góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.

KẺ THÙ TRONG LÒNG TA MỚI LÀ KẺ THÙ NGUY HIỂM NHẤT !

 

          V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa.

          Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

          Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.

          Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.

 

 

Những biểu hiện không thể chủ quan, xem thường

 

          Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động. Nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là vấn đề có tính nguyên tắc, quy định pháp lý mà mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội phải tuyệt đối chấp hành, thực hiện thống nhất. Vì vậy, mọi quân nhân khi đã đứng trong hàng ngũ của quân đội thì nhất thiết phải tự giác nói, viết và làm theo nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội.

          Yêu cầu này đã được phổ biến, giáo dục sâu kỹ ngay từ khi mỗi người viết đơn xin tự nguyện nhập ngũ và tuyên thệ dưới Quân kỳ Quyết thắng, tuyên thệ trước cờ Đảng trong lễ kết nạp Đảng. Vinh dự, tự hào được đứng trong hàng ngũ của quân đội anh hùng, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội luôn đặt lợi ích chung của Đảng, của quân đội lên trên hết, tự giác phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đó.

          Vì vậy, những biểu hiện nói, viết, làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội cần phải được ngăn chặn kịp thời, hiệu quả. Những biểu hiện này được thể hiện trước hết ở việc một số ít quân nhân phát ngôn, cung cấp thông tin, tham gia trả lời phỏng vấn, viết bài cho báo chí, trang tin điện tử, sử dụng các trang mạng xã hội để đăng tải, bình luận, chia sẻ thông tin với những nội dung không chính xác, chưa được kiểm chứng, thậm chí trái với nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội.

          Một số cán bộ, đảng viên còn có hiện tượng “tiền hậu bất nhất”, tự tạo “uy tín giả” của cá nhân, khi “tiền hô hậu ủng” trên diễn đàn, trong sinh hoạt, hội họp nhưng sau diễn đàn, bên ngoài hội nghị, khi xa cuộc họp, họ lại có những phát ngôn trái với tinh thần nghị quyết của Đảng, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Một số quân nhân khi được tổ chức phân công nhiệm vụ có biểu hiện chấp hành gượng ép, “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, thậm chí có hiện tượng không chấp hành, hoặc chấp hành không triệt để sự phân công của tổ chức, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Nghiêm trọng hơn, đã xuất hiện một số ít cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chấp hành không nghiêm nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây ra nhiều hệ lụy cho tổ chức và đã bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc.

          Hiện tượng một số quân nhân nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, bản chất, truyền thống của Đảng, quân đội, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và quân đội. Không chỉ vậy, những thông tin, phát ngôn, bài viết, việc làm không đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội của một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội vô hình trung tạo ra những sơ hở để các thế lực thù địch tạo cớ, lợi dụng đẩy mạnh âm mưu hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội bằng những chiêu trò ngày càng thâm hiểm, xảo quyệt.

          Nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng này có cả khách quan và chủ quan. Trước hết, do sự tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường đã làm cho một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ vì vụ lợi cá nhân dẫn đến vi phạm, hoặc tìm cách “lách luật” không làm đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy để trục lợi cá nhân. Trước những âm mưu tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, một số cán bộ, đảng viên và quần chúng không tỉnh táo, thiếu bản lĩnh đã bị lôi kéo, dẫn đến sa ngã. Bên cạnh đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức; việc quản lý con người, các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ chưa chặt chẽ. Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ chưa nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thiếu tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu và thực hiện nhiệm vụ được giao.

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong cộng đồng quốc tế.

* Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào

Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng phân tích: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, không ít liên minh quân sự đã ra đời như: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ra đời từ 1949; Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á; Tổ chức Hiệp ước Trung tâm Baghdag; Tổ chức Hiệp ước Trung Đông, (CENTO); Tổ chức Hiệp ước Varsawa do Liên Xô đứng đầu. Như vậy, liên minh quân sự là một vấn đề khá phổ biến với nhiều nước.

Những liên minh quân sự nói trên có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng của các nước thành viên; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường; tạo thêm uy tín, vị thế và sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh trong những thời điểm nhất định. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ tồn tại các liên minh quân sự trên, tình hình khu vực, thế giới luôn căng thẳng, bởi các liên minh này đối đầu nhau, nhất là khi giữa họ có những mâu thuẫn về lợi ích. Họ công khai hoặc ngầm chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh hoạt động khiêu khích, lôi kéo các quốc gia, khu vực đến gần hiểm họa chiến tranh. Mà Việt Nam chúng ta cũng là nạn nhân của cuộc chiến tranh nóng đó vào những năm 60 – 70 của thế kỷ trước.

Trong chính sách quốc phòng, Việt Nam, chúng ta chủ trương không liên minh quân sự bởi đó là giải pháp hiệu quả để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào, hiệp ước quân sự nào, càng không thể trông chờ, ỷ lại vào nước ngoài, mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, bằng đoàn kết đồng lòng của triệu triệu con người Việt Nam dù sống ở bất cứ đâu trên trái đất này.

“Chúng ta không đứng về bên nào, chúng ta bảo vệ lẽ phải, bảo vệ Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đồng thời, Việt Nam không chấp nhận để nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, hoặc là sử dụng một phần lãnh thổ Việt Nam để phát động chiến tranh xâm lược nước thứ ba. Lịch sử hiện đại cho chúng ta thấy rõ, nếu có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ của mình, dễ biến Tổ quốc ta thành mục tiêu tiến công của các thế lực thù địch, ít nhất thì cũng khiến đất nước ta khó tránh khỏi bị lôi kéo vào xung đột, chiến tranh giữa các nước”- Thiếu tướng Nguyễn Hồng Quân phân tích.

Còn theo Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Hải, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (Bộ Quốc phòng), sử dụng vũ lực và liên minh quân sự không phải là phương thức tối ưu trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Mà chính đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ, hòa bình, chính nghĩa, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc mới là điều mà các quốc gia, dân tộc tiến bộ đều đang hướng tới. Kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và luật pháp quốc tế. Việt Nam không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, không phải là Việt Nam tự “trói tay” mình, trái lại, nó có tác dụng “cởi trói” cho chúng ta, cả trong tư duy và hành động để ta có thể suy nghĩ và hành động một cách độc lập, sáng tạo và không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức không bị người khác trói mình.

* Mở rộng quan hệ quốc tế nhưng không tham gia liên minh quân sự

Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng nhấn mạnh: Chúng ta mở rộng quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, không hề mâu thuẫn với việc chúng ta không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy rõ: Tuy có quan hệ thân thiết với nhau, thậm chí liên minh quân sự với nhau, nhưng khi gặp vấn đề liên quan tới lợi ích quốc gia, dân tộc của nước lớn, họ sẽ xử lý quan hệ với các đồng minh theo triết lý ưu tiên lợi ích của họ là trước hết, là trên hết.

Trên thế giới chưa bao giờ có nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Chính vì vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù là thời bình hay thời chiến, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài, không tham gia liên minh quân sự với nước khác. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là mở rộng quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, đồng thời phải tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, xây dựng thực lực sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế. Việt Nam không chọn bên, không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình. Chính vì vậy, chúng ta không hề mâu thuẫn khi một mặt mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác chúng ta không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia.

Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Hải, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự cho rằng, liên minh quân sự không phải là giải pháp tối ưu trong bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc. Thứ hai, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc là thiêng liêng và tối cao, không thể phó thác hoàn toàn cho bên ngoài, dù đó là một đồng minh cường quốc. Thứ ba, không tham gia liên minh quân sự bởi quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Thứ tư, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là sức mạnh nội lực của dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại, sức mạnh của độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Thứ năm, thực tiễn luôn chứng minh điều đó là hoàn toàn đúng. Cho nên, với Việt Nam, bảo vệ Tổ quốc phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, sức mạnh nội sinh của đất nước, kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào, càng không thể trông chờ vào nước ngoài. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc.

 “Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải xuất phát từ xây dựng, củng cố, phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc của chúng ta. Thực tiễn Việt Nam chỉ ra rằng: Khi nào kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, “cả nước chung sức”, “trên dưới đồng lòng”, thì chủ quyền đất nước được giữ vững. Trong tình hình mới, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; làm sâu sắc, hiệu quả hơn đối ngoại quốc phòng, kiên định về chiến lược, linh hoạt về sách lược; đan xen lợi ích và duy trì quan hệ cân bằng với các nước lớn; không để đất nước rơi vào thế bị bao vây, cô lập, lệ thuộc; làm bạn, làm đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đó không những là bài học kinh nghiệm, mà còn là yếu tố căn bản, cội nguồn sức mạnh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đất nước” – Thiếu tướng Nguyễn Hồng Quân nêu quan điểm.

* Việt Nam có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia

Cũng theo Thiếu tướng Nguyễn Hồng Quân, chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam không phải bất biến, cứng nhắc mà luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn. Hiện tại, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng để kiểm soát được tình hình an ninh, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, khi đất nước xảy ra nguy cơ chiến tranh thì Đảng, Nhà nước ta sẽ hoạch định những chiến lược, chính sách quốc phòng phù hợp.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rất rõ rằng: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của ta ngày càng rộng mở, chúng ta có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là những quốc gia có vai trò, có ảnh hưởng chủ chốt trong duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

Đây là điều chưa từng có từ trước tới nay. Điều đó chứng tỏ chúng ta chẳng bị ai cô lập, trái lại, còn mở rộng không ngừng quan hệ đối ngoại. Điều đó là cơ hội thuận lợi để chúng ta ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế./.



Trường Giang/Phát thanh Quân đội

Hà Nội tập trung vào 3 hướng chính là: Tiêm vaccine; tăng cường năng lực điều trị tầng 2, tầng 3 và đẩy mạnh y tế cơ sở để quản lý, hỗ trợ F0 điều trị tại nhà

 

Hà Nội tập trung vào 3 hướng chính là: Tiêm vaccine; tăng cường năng lực điều trị tầng 2, tầng 3 và đẩy mạnh y tế cơ sở để quản lý, hỗ trợ F0 điều trị tại nhà

Ngày 21-3, Thường trực Thành ủy Hà Nội đã họp, cho ý kiến về công tác phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn thành phố.

Trao đổi với báo chí về kết quả hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Đinh Tiến Dũng cho biết, trong bối cảnh dịch Covid-19 tăng cao thời gian qua, thành phố đã tập trung vào 3 hướng chính là: Tiêm vaccine; tăng cường năng lực điều trị tầng 2, tầng 3 và đẩy mạnh y tế cơ sở để quản lý, hỗ trợ F0 điều trị tại nhà.

“Nhờ thực hiện tốt các biện pháp đúng, trúng, cùng sự chung sức, đồng lòng của người dân, Hà Nội luôn giữ vững tình hình từ cơ sở. Tuần qua, số ca mắc có chiều hướng giảm mạnh, đặc biệt tỷ lệ ca tăng nặng, người tử vong tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp, hạn chế rủi ro sức khỏe cho người dân” - Bí thư Thành ủy Đinh Tiến Dũng nói.

Tuy nhiên, đồng chí Đinh Tiến Dũng yêu cầu cả hệ thống chính trị từ thành phố tới cơ sở nhận thức rõ tinh thần phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay là không được chủ quan.

Thường trực Thành ủy giao Ban Cán sự đảng UBND TP chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện 3 giải pháp trọng tâm là: tiêm vaccine (đặc biệt là đối tượng có nguy cơ cao), tăng cường năng lực điều trị tầng 2, tầng 3; đẩy mạnh y tế cơ sở để quản lý, hỗ trợ F0 điều trị từ sớm, chú ý ứng dụng các nền tảng công nghệ.

Trong đó, ngành Y tế và các địa phương phải chú ý quản lý, điều trị người bệnh là trẻ em, phụ nữ mang thai, người cao tuổi, người có bệnh nền; theo sát kế hoạch của Chính phủ, Bộ Y tế về việc tiêm vaccine cho trẻ, kể cả từ 3 tuổi trở lên, chuẩn bị các phương án cần thiết, bảo đảm an toàn để khi được phân bổ vaccine có thể triển khai được ngay.

Các quận, huyện, thị xã, phường, xã, thị trấn phải quán triệt chỉ đạo của Chính phủ, Thường trực, Ban Thường vụ Thành ủy và UBND thành phố; đẩy mạnh tuyên truyền công tác phòng, chống dịch ở địa bàn dân cư, nhất là yêu cầu đeo khẩu trang, khử khuẩn (yêu cầu 2K - PV)...

Bí thư Thành ủy Hà Nội cho rằng, thành phố đã mở lại hoạt động du lịch và cho phép các dịch vụ hoạt động sau 21h hằng ngày. Hiện nay, lượng khách du lịch chưa nhiều, các hoạt động dịch vụ cũng còn có mức độ. Tuy nhiên, các sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã phải có kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng khi các hoạt động du lịch, dịch vụ sôi động trở lại.

Đặc biệt, Hà Nội là nơi sắp diễn ra SEA Games 31 với số lượng lớn vận động viên, quan chức, cổ động viên trong và ngoài nước sẽ có mặt tham gia. Do đó, Thường trực Thành ủy giao Ban Cán sự đảng UBND TP chỉ đạo triển khai công tác chuẩn bị, xây dựng phương án, tổ chức diễn tập để bảo đảm ứng phó kịp thời, bình tĩnh, hiệu quả trong mọi tình huống dịch bệnh...

Tất cả phải được triển khai khẩn trương, bảo đảm tiến độ, vì mục tiêu tổ chức thành công toàn diện các môn thi đấu SEA Games 31 tại Hà Nội, đáp ứng yêu cầu của trung ương, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của thành phố trước bạn bè quốc tế và nhân dân cả nước.

Cũng theo Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng, Ban Cán sự đảng UBND TP có trách nhiệm chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các quận, huyện, thị xã và các nhà trường tổ chức hình thức dạy và học, bao gồm cả việc học bán trú phù hợp với điều kiện cụ thể từng địa bàn, bảo đảm an toàn cho học sinh và giáo viên.

Một nhiệm vụ quan trọng khác, Thường trực Thành ủy cũng giao Ban Cán sự đảng UBND TP chỉ đạo tổ chức phương án chủ động, sáng tạo để phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trọng tâm trước mắt là ngành du lịch, dịch vụ, thương mại...

 

Công tác khoa học, công nghệ và môi trường trong Quân đội đã phát triển đúng hướng, toàn diện trên các lĩnh vực, đạt được những kết quả quan trọng

 

Công tác khoa học, công nghệ và môi trường trong Quân đội đã phát triển đúng hướng, toàn diện trên các lĩnh vực, đạt được những kết quả quan trọng

Chiều 22-3, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị Ban chỉ đạo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 791-NQ/QUTW ngày 30-12-2012 của Quân ủy Trung ương về lãnh đạo công tác khoa học, công nghệ và môi trường trong quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo chủ trì hội nghị. Cùng dự có Trung tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo.

Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung nghiên cứu, phân tích, đưa ra các ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện các văn bản, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, phục vụ cho hội nghị tổng kết trong thời gian tới.

Theo đánh giá tại hội nghị, sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 791-NQ/QUTW, công tác khoa học, công nghệ và môi trường đã phát triển đúng hướng, toàn diện trên các lĩnh vực, đạt được những kết quả quan trọng. Trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp được phát huy; thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu dự báo, phát triển lý luận nghệ thuật quân sự và xã hội nhân văn quân sự; tạo ra nhiều sản phẩm có bước đột phá về trình độ khoa học, công nghệ trong thiết kế, chế tạo, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật; chủ động nâng cao hiệu quả ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu...

Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Lê Huy Vịnh biểu dương cơ quan thường trực Ban chỉ đạo đã quán triệt sâu sắc chỉ thị của Quân ủy Trung ương, tích cực, chủ động, chuẩn bị chu đáo, đầy đủ nội dung phục vụ phiên họp lần thứ nhất của Ban chỉ đạo; các thành viên Ban chỉ đạo đã nghiên cứu kỹ nội dung văn bản và đóng góp những ý kiến xác đáng. Thượng tướng Lê Huy Vịnh yêu cầu cơ quan thường trực tiếp thu toàn bộ ý kiến đóng góp của các thành viên Ban chỉ đạo về thể thức, nội dung các văn bản, hoàn thiện và sớm trình trưởng ban chỉ đạo phê duyệt; phối hợp với các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện đúng kế hoạch, tiến độ đề ra; xây dựng hướng dẫn tổng kết bảo đảm cụ thể, khoa học...