Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022
CÓ QUÂN ĐỘI NÀO NHƯ QĐNDVN KHÔNG
BÙI TÍN VÀ NỖI ĐAU CỦA KẺ PHẢN BỘI
Bùi Tín - Nguyên Đại tá Quân đội, Phó tổng biên tập Báo Nhân dân. Sinh năm
1927 tại Huế, trước khi lầm đường lạc lối, Bùi Tín từng được mệnh danh là người
chiến sĩ, sĩ quan, nhà báo cách mạng kiên trung, với những bài viết khiến hàng
triệu người nể phục. Cha của Bùi Tín là cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng thư Bộ
Hình của triều đình Huế và nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa.
Cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Tín có lẽ đã rất rực rỡ, nếu như không xảy ra
một bị kịch:
Tháng 9 năm 1990, Bùi Tín sang Pháp dự hội thảo hàng năm của báo
“L’Humanité” (Nhân Đạo - báo của Đảng Cộng sản Pháp) và không bao giờ quay đầu
lại. Do đã cấu kết với các tổ chức chống cộng từ trước, Bùi Tín trốn ở lại, rồi
xin tị nạn chính trị tại Pháp, với lý do là để “Đấu tranh cho tự do, dân chủ và
nhân quyền”.
Bùi Tín đã bị lôi kéo, dụ dỗ với lời hứa: một vị trí xứng đáng trong bộ máy
nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Từ một chiến sỹ cách mạng, một ngòi bút với lập
luận sắc bén nhưng bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng, niềm tin bị lung lay, đã
quay đầu chống lại Nhà nước, chống lại Nhân dân và Cách mạng.
Nhà thơ Phan Xuân Hạt từng nói:
“Bùi Tín là người có tham vọng chính trị cực lớn. Với óc nhạy cảm thái quá,
Bùi Tín cho là phe XHCN sẽ tan rã, Liên bang Xô viết sụp đổ, Trung Quốc rối
loạn - Bùi Tín tin là, Việt Nam cũng sẽ nằm trong quỹ đạo đó. Và Bùi Tín đã
nhanh chóng nhảy sang phía đối lập, giương cờ để chờ cơ hội quay lại làm người
số 1 của Việt Nam”.
Ảo tưởng về sự sụp đổ của Chủ nghĩa Cộng sản đã giết chết lý trí, tinh thần
và bản lĩnh của Bùi Tín. Hắn điên cuồng lao vào viết bài như một con thiêu
thân. Không trừ một câu từ, bài viết nào, kể cả viết về những cái không có
thật, những bài viết nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh... miễn sao “bôi nhọ” chế độ,
Đảng, Nhà nước, và có tiền để sống và nuôi bồ nhí.
Những tháng năm cuối cùng của cuộc đời, Bùi Tín đã nhận ra một điều rằng:
“Tiền bạc và danh vọng nó bạc như vôi”. Khi không còn có thể viết bài, khi đã
hết giá trị lợi dụng, Bùi Tín như một con ch.ó già nơi xó nhà, chờ chết trong
sự ghẻ lạnh, hắt hủi của những kẻ từng được hắn coi là “cùng chiến tuyến”.
Ở Paris, Bùi Tín sống trên căn gác xép chật chội cùng một người phụ nữ, và
bị người Việt ở hải ngoại nghi kỵ, dò xét. Những đối tượng phản động nhất cũng
coi Bùi Tín là một kẻ không đáng để kết giao. Chúng luôn cho rằng, Bùi Tín được
cách mạng Việt Nam nuôi lớn nhưng phản bội lại, đó là hành động của một kẻ “Ăn
cháo đá bát”, là bất hảo. Chúng cho rằng, Bùi Tín có thể là một tên gián điệp
của Cộng sản Việt Nam, nên hắn luôn bị tẩy chay, nghi ngờ.
Ngay đến Võ Văn Ái, chủ biên tờ Quê mẹ và Nguyễn Gia Kiểng tờ Thông luận
cũng viết bài miệt thị coi Bùi Tín là “Phần tử bất hảo không đáng tin”. Ngay cả
ở Mỹ, trong một buổi nói chuyện tại San Joses ngày 23/6/2012, chính Bùi Tín đã
bị cộng đồng người Việt tẩy chay, chửi rủa, đuổi khỏi diễn đàn. Còn đâu một Đại
tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, còn đâu nữa bóng dáng hiên ngang
của một sỹ quan cấp cao của quân giải phóng Việt Nam có mặt tại dinh Độc lập
vào đúng ngày giải phóng đất nước 30/4/1975?
Bùi Tín luôn đau ốm, sống đơn độc không bằng hữu. Với đồng lương thất
nghiệp nhà nước Pháp cho, Bùi Tín chỉ đủ trả tiền thuê nhà. Nghĩ cho cùng, đó
là cái kết cục tất yếu của những kẻ phản bội, bán nước cầu vinh.
Những nỗi đau cứ gặm nhấm Bùi Tín cho đến lúc chết. Với nhân dân Việt Nam,
Bùi Tín là một kẻ phản bội, là một Trần Ích Tắc thứ hai. Hắn được sinh ra trong
một gia đình cách mạng, được cách mạng nuôi lớn, được Bác Hồ chở che, nuôi nấng
thành người, nhưng khi đủ lông, đủ cánh, hắn lại quay sang cõng rắn cắn gà nhà,
chống phá cách mạng.
“Trâu chết để da - người chết để tiếng”! Tiếng của Bùi Tín để lại là bài
học về kết cục đắng ngắt cho những kẻ vong nô, bán nước cầu vinh, là kẻ thù
muôn đời của dân tộc. Đây cũng chính là tấm gương cho những kẻ ngày đêm hoạt
động, tuyên truyền chống phá cách mạng, phá hoại sự ổn định của đất nước như
một lô một lốc nào là Quang A, Chu Hảo - tấm gương về: NỖI ĐAU CỦA KẺ PHẢN BỘI!
CHỮ "QUAN LIÊU" VIẾT THẾ NÀO?
Học viện Quốc phòng học tập, nghiên cứu thực tế tại Lữ đoàn xe tăng 201
Chiều 29-3, Đoàn cán bộ, giảng viên, học viên lớp Đào tạo cao cấp Chỉ huy, Tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược (khóa 11) Học viện Quốc phòng do Thiếu tướng Bùi Huy Biết, Phó chính ủy học viện làm trưởng đoàn đã đến học tập, nghiên cứu thực tế tại Lữ đoàn xe tăng 201, Binh chủng Tăng Thiết giáp.
DÂN ĐỨC CHỬI KHÔNG TIẾC LỜI KHI NGHE NGÀI BỘ TRƯỞNG PHÁT NGÔN: "HÃY TẮT VAN KHÍ ĐỐT, DẦU MỎ ĐI. LẠNH THÌ MẶC ÁO VÀO"!
Vẫn trò “vơ đũa cả nắm”
Sau việc Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương đề nghị kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y và 12 quân nhân có vi phạm, những kẻ đội lốt “dân chủ” lại lợi dụng quy chụp, thổi phồng, “vơ đũa cả nắm”... rêu rao rằng: “Tham nhũng xảy ra ở toàn quân...”(!)
CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN VÀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Chủ nghĩa cá nhân và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là
vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm. Ngay sau khi cách mạng
Tháng Tám thành công, vào ngày 15-10-1948 trên Báo Sự thật, Bác có bài viết:
“Chủ nghĩa cá nhân” để chỉ ra biểu hiện, tính chất, mức độ nguy hiểm và phương
pháp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cho cán bộ, đảng viên thấy rõ.
Để giúp cán bộ, đảng viên hiểu rõ hơn thế nào là chủ nghĩa
cá nhân Người khái quát: “Cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá
nhân”. Người chỉ rõ: Chủ nghĩa cá nhân là một trong ba kẻ địch nguy hiểm của
người cách mạng. Chủ nghĩa cá nhân có những biểu hiện rất đa dạng, lúc tinh vi,
kín đáo, lúc lộ liễu, trắng trợn. Chung quy, chủ nghĩa cá nhân có ba biểu hiện
chính yếu dưới đây.
Chủ nghĩa cá nhân là đòi hưởng thụ, đòi thỏa mãn ham muốn cá
nhân. Bác nêu rõ: “Họ yêu cầu hưởng thụ, yêu cầu nghỉ ngơi, họ muốn lựa chọn
công tác theo ý thích của cá nhân mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể
giao phó cho họ. Họ muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng. Dần dần tinh
thần đấu tranh và tính tích cực của họ bị kém sút, chí khí anh dũng và phẩm
chất tốt đẹp của người cách mạng cũng giảm sút, họ quên rằng tiêu chuẩn số một
của người cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”.
Người khẳng định: “Vì chưa gột sạch chủ nghĩa cá nhân, cho nên có cán bộ, đảng
viên còn “kể công” với Đảng. Có ít nhiều thành tích thì họ muốn Đảng “cảm ơn”
họ. Họ đòi ưu đãi và địa vị. Họ đòi hưởng thụ. Nếu không thỏa mãn yêu cầu của
họ thì họ oán trách Đảng, cho rằng họ “không có tiền đồ”, họ “bị hy sinh”. Rồi
dần dần họ xa rời Đảng”.
Chủ nghĩa cá nhân là thái độ kiêu ngạo, công thần. Bác viết:
“... Có một số ít cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên
kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người
khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà,
nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe
ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng”. “Họ tự xem mình
cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng, mà chỉ
muốn làm thầy quần chúng. Họ ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục
quần chúng. Họ mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”.
Chủ nghĩa cá nhân là hành động tự do, vô tổ chức. Bác nêu
rõ: “... Chủ nghĩa cá nhân đã đưa các đồng chí ấy đến chỗ “tự do hành động”
trái với tổ chức và kỷ luật của Đảng. Dù muốn hay không muốn, hành động của
những đồng chí ấy làm giảm sút uy tín và ngăn trở sự nghiệp của Đảng, cản trở
bước tiến của cách mạng”. Người vạch rõ những tác hại của chủ nghĩa cá nhân:
Một là, chủ nghĩa cá nhân làm cho “một số cán bộ, đảng viên
xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”.
Hai là, nó làm cho cán bộ, đảng viên thoái hóa, lạc hậu:
“Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ.
Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của
chủ nghĩa cá nhân. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu
họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”.
Ba là, chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan
liêu, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn
nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn
danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của
nhân dân. Và Bác chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách
rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.
Hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách chống
phá Đảng, Nhà nước ta về mọi mặt, chúng không từ âm mưu, thủ đoạn và hành động
nào nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội;
trong nước tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn tồn tại gây bức xúc xã
hội... Bởi vậy, để tiếp tục quét sạch chủ nghĩa cá nhân, mọi người trước hết là
cán bộ, đảng viên phải tích cực, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo
đức cách mạng; thật sự gương mẫu, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ cương, kỷ luật, coi
trọng công tác kiểm tra, đánh giá thường xuyên việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật
của cán bộ, đảng viên; kịp thời phát hiện, uốn nắn, giáo dục, sửa chữa cán bộ,
đảng viên và công nhân viên chức có dấu hiệu coi thường, vi phạm kỷ luật, biểu
hiện chủ nghĩa cá nhân ngay từ ban đầu, tránh tạo thành tiền lệ xấu. Phát huy
vai trò của lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong công tác phát hiện biểu hiện gây mất
đoàn kết, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, chia rẽ bè phái, ích kỷ… để có phương
pháp xử lý hiệu quả. Làm cho nội bộ cơ quan, đơn vị và trong nhân dân thật sự
đoàn kết, không có “đất sinh sôi” của chủ nghĩa cá nhân./.
ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC
Công tác thi đua khen thưởng (TĐ-KT) của ngành Giáo dục trong những năm qua
luôn được thực hiện nghiêm túc, ngày càng hoàn thiện về chất lượng, bám sát yêu
cầu của thực tiễn đất nước, thực tiễn của ngành; góp phần tạo chuyển biến sâu sắc
về nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, công đoàn giáo dục, cơ
sở giáo dục và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên
các cấp học.
Nhìn chung, công tác khen thưởng trong bình xét, khen
thưởng đúng người, đúng thành tích, công khai, minh bạch, dân chủ và công bằng;
kịp thời phát hiện và khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích xuất
sắc trong hoạt động. Nhiều phong trào thi đua yêu nước, như “Mỗi thầy giáo, cô
giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Cán bộ, công chức, viên chức
thi đua thực hiện văn hóa công sở”, “Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia”, “Giỏi
việc trường, đảm việc nhà”, “Xã hội hóa giáo dục”... được ngành phát động và
triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của giáo dục với nội dung, hình thức
phong phú, thu hút đông đảo nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh
viên các cấp tham gia, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần thực hiện thắng mục
tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch năm học của ngành.
Công tác phát hiện, tôn vinh, bồi dưỡng và nhân rộng
các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, các tập thể, cá nhân điển hình
tiên tiến, chiến sĩ thi đua được chú trọng triển khai thực hiện tích cực, bảo đảm
khen thưởng kịp thời. Nhiều chính sách TĐ-KT trong ngành phát huy mạnh mẽ vai
trò động viên, khuyến khích đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nâng cao
phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, vượt
qua khó khăn để thi đua nghiên cứu, giảng dạy, đổi mới, sáng tạo phát huy sức mạnh
tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ; đồng thời động viên, khích lệ học sinh, sinh
viên thi đua học tập, khơi dậy tinh thần yêu nước, tích cực hưởng ứng tham gia
các phong trào thi đua của ngành.
Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, thực hiện
chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc ưu tiên nguồn lực hỗ trợ học sinh khó
khăn không có phương tiện học tập trực tuyến, bảo đảm công bằng trong tiếp cận
phương thức dạy và học mới, qua đó thúc đẩy phát triển xã hội số, hoạt động
“Sóng và máy tính cho em” trong ngành đã được triển khai tích cực, mang lại hiệu
quả thiết thực và ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc.
Trong tình hình mới, công tác TĐ-KT trong ngành Giáo dục
cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung lý luận, bám sát thực tiễn, vận dụng sáng tạo
tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm đổi mới toàn diện phong trào thi đua và công tác khen
thưởng; góp phần nâng cao chất lượng chất lượng giáo dục, thực hiện thành công
mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; để TĐ-KT thực sự là động
lực phát triển và xây dựng con người mới.
Thứ nhất, tiếp tục tổ chức tốt việc học tập, quán triệt
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác TĐ-KT; tạo sự
chuyển biến, nâng cao nhận thức của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
các cấp về đổi mới công tác TĐ-KT gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được
giao theo tinh thần Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 7/4/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen
thưởng. Đổi mới và nâng cao chất lượng, tổ chức hiệu quả các hoạt động, phong
trào thi đua trong toàn ngành gắn với thực hiện hiệu quả chương trình, kế hoạch,
nhiệm vụ của ngành giáo dục, góp phần triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội
XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ
Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh và cuộc vận động, phong trào thi đua “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm
gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”...
Thứ hai, đổi mới công tác quản lý nhà nước, lãnh đạo,
chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ trong công tác TĐ-KT với nhiều hình thức,
nội dung phong phú. Trước mắt, gắn công tác TĐ-KT với triển khai thực hiện nhiệm
vụ đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; tạo động lực đưa sự
nghiệp giáo dục đất nước phát triển đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong
tình hình mới. Tiếp tục tổng kết, đánh giá đầy đủ, cụ thể những vướng mắc, bất
cập trong công tác TĐ-KT của ngành để đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện
chính sách; bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật,
phù hợp với thực tiễn của ngành. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải
cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong quản lý công tác TĐ-KT của ngành từ
Trung ương đến cơ sở.
Thứ ba, việc tổ chức các phong trào TĐ-KT phải bao
quát hết các lĩnh vực, đối tượng, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng và hướng
về cơ sở giáo dục, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và người học; quyết
tâm, quyết liệt khắc phục bệnh thành tích, hình thức. Quan tâm hơn nữa đến công
tác TĐ-KT khu vực giáo dục ngoài công lập, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
biên giới, hải đảo. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục
trong công tác TĐ-KT. Coi kết quả công tác TĐ-KT là một trong những tiêu chí
đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của lãnh đạo, công chức, viên chức, nhân
viên cơ sở giáo dục; tiêu chí để bề bạt, bổ nhiệm và thực hiện các chế độ đãi
ngộ.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ công chức, viên chức làm công
tác TĐ-KT của ngành ngày càng chuyên nghiệp, đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo trong tình hình mới. Thực hiện tốt
công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác TĐ-KT về phẩm chất chính trị,
đạo đức, chuyên môn, kiến thức về công tác TĐ-KT. Nâng cao trách nhiệm của các
thành viên Hội đồng TĐ-KT từ cấp sở, phòng đến các cơ sở giáo dục trong đề xuất,
tham mưu nội dung các phong trào thi đua, xét công nhận danh hiệu thi đua và
khen thưởng; chủ động, tích cực trong công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy,
người đứng đầu đơn vị chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác TĐ-KT, có giải pháp
kịp thời đưa TĐ-KT ngày càng thực chất, hiệu quả hơn trong thúc đẩy đổi mới,
sáng tạo trong dạy và học. Triển khai phần mềm quản lý, lưu trữ các dữ liệu về
TĐ-KT trong toàn ngành để tạo thuận lợi trong việc tra cứu và thống kê.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm
tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về TĐ-KT trong ngành. Tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát để kịp thời ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong công tác
TĐ-KT; kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện đúng các quy định về
TĐ-KT; phát hiện những và chấn chỉnh những biểu hiện chạy theo thành tích, thực
hiện hình thức - “làm cho có”, mâu thuẫn nội bộ...
Thứ sáu, phát huy sức mạnh tổng hợp của tổ chức Công
đoàn Giáo dục với các tổ chức đoàn thể ở nhà trường trong việc phối hợp lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục và TĐ-KT. Làm tốt công tác phối
hợp giữa công đoàn với nhà trường, với cấp ủy, chi bộ, với các đoàn thể trong
nhà trường và ngoài xã hội để chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng cho công
đoàn viên. Qua đó, động viên, khích lệ đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
trong cơ sở giáo dục nhiệt tình tham gia, tích cực hưởng ứng các phong trào thi
đua yêu nước, các cuộc vận động mang tính xã hội rộng lớn và triển khai thực hiện
tốt việc đổi mới công tác TĐ-KT trong giai đoạn mới./.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn coi trọng khơi dậy, phát động phong trào thi đua yêu nước
trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Người coi đây là một trong những
biện pháp căn bản để tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước vừa chứa đựng
những giá trị khoa học, nhân văn cao cả, vừa bao hàm những giá trị lý luận và
thực tiễn sâu sắc.
Ngày 11/6/1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp đang trong giai đoạn khó khăn, cam go và quyết liệt nhất, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi
đua yêu nước trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Người kêu gọi: “Mỗi người
dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần
phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mọi mặt trận: quân sự, kinh tế, chính
trị, văn hóa”. Từ đây, phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi
xướng, phát động và tổ chức thực hiện ngày càng phát triển, gắn liền với lịch sử
và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Nói về thi đua, Người nhấn mạnh: “Tưởng lầm rằng thi
đua là một việc khác với những việc hằng ngày. Thật ra công việc hằng ngày
chính là nền tảng của thi đua. Thí dụ từ trước đến nay ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở.
Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn
làm ruộng, nay ta thi đua làm cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều
thi đua như vậy”. Theo Hồ Chí Minh, công việc hàng ngày của mỗi người là nền tảng
của thi đua yêu nước. Để có phong trào thi đua với sự tham gia đông đảo của các
tầng lớp quần chúng phải chú trọng tất cả các mặt lợi ích; phải lấy lợi ích của
dân tộc làm trọng, làm điểm tương đồng, phải kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, cộng
đồng. “Thi đua ái quốc là lợi ích cho mình, lợi ích cho gia đình mình và lợi
ích cho làng, cho nước, cho dân tộc”.
Người nói: “Thi đua là cải tạo con người, càng hăng
hái thi đua thì người chiến sĩ càng phải ra sức tìm tòi, học hỏi tiến bộ”. Theo
đó, thi đua yêu nước cũng là môi trường tu dưỡng, rèn luyện con người. Qua đó, mỗi
người biết nâng cao ý thức, chủ động khám phá, sáng tạo, dám hy sinh vì nghĩa cả,
biết sống vì đạo lý, hăng hái làm việc tốt, biết phấn đấu để trở thành người tốt.
Người cũng chỉ rõ: “Thi đua không phải là tranh đua…
không giấu nghề, người đi trước hiểu biết, dẫn người đi sau, làm cho mọi người
cùng tiến bộ”. Đó là “một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến
bộ”. Nhờ công tác thi đua mà bản thân thi đua thể hiện rõ sức thu hút, sự huy động
đối với mọi nguồn lực vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị
và mục tiêu, nhiệm vụ cho công cuộc đổi mới.
Thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng. Khen
thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Người nhấn mạnh: “Thi đua là gieo trồng,
khen thưởng là thu hoạch”. Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động
viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục; động viên,
khuyến khích phát triển cái tốt để lấn át cái xấu, xây dựng con người mới.
Hồ Chí Minh chủ trương đa dạng các hình thức TĐ-KT, bởi
“Số người và những tập thể được công nhận là anh hùng, chiến sĩ thi đua được tặng
huân chương, huy chương vẫn chỉ là số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con
người hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà… gọi
là người tốt việc tốt”. Vì thế, bên cạnh hình thức tuyên dương Anh hùng, Chiến
sĩ thi đua, Người còn đề xuất hình thức tuyên dương gương Người tốt, việc tốt để
những việc bình thường nhưng ích nước lợi dân được trân trọng và nhân rộng
trong xã hội. Người đề nghị xuất bản sách người tốt, việc tốt, phổ biến sâu rộng
trong nhân dân, qua đó nhân lên nhiều tấm gương điển hình tiên tiến mới.
Ngày 27/3/1948, trong bối cảnh khó khăn, thách thức của
những năm đầu cuộc kháng chiến kiến quốc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra
Chỉ thị về phát động phong trào thi đua ái quốc, trong đó nêu rõ “Thi đua ái quốc
là gì? Là ai nấy đều gắng làm nhanh, làm tốt, làm đẹp, không kể công việc của
mình thuộc về đời sống vật chất hay tinh thần, không kể mình hoạt động ở hậu
phương hay tiền tuyến, cốt sao lợi cho nước nhà mà mình tiến bộ. Nước nhà đang
kháng chiến và kiến quốc, mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến
mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”(1).
Trong các giai đoạn của sự nghiệp cách mạng, có thể
nói, việc tổ chức triển khai thực hiện các phong trào thi đua và công tác khen
thưởng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã góp phần to lớn vào công cuộc
giải phóng dân tộc, củng cố quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt
trận và các đoàn thể ngày càng vững mạnh; mang lại nhiều hiệu quả thiết thực,
trở thành động lực và hành động cách mạng trong các cuộc kháng chiến toàn dân,
toàn diện đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Để phong trào thi đua yêu nước ngày càng phát triển,
phù hợp với tình hình mới, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác TĐ-KT, từ năm 1998 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều chỉ thị về
công tác TĐ-KT. Thể chế đường lối, chủ trương của Đảng về công tác TĐ-KT, năm
2003, Quốc hội ban hành Luật Thi đua, Khen thưởng và được sửa đổi bổ sung năm
2005 và 2013. Chính phủ ban hành nhiều nghị định quy định và hướng dẫn thi hành
Luật Thi đua, Khen thưởng, tạo hành lang pháp lý quan trọng đưa chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về TĐ-KT vào đời sống xã hội.
Vẫn trò 'vơ đũa cả nắm'
Sau việc Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung
ương đề nghị kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y và 12 quân nhân có
vi phạm, những kẻ đội lốt 'dân chủ' lại lợi dụng quy chụp, thổi phồng, 'vơ đũa
cả nắm'... rêu rao rằng: 'Tham nhũng xảy ra ở toàn quân...'(!)
Đây thực ra vẫn là trò cũ soạn lại của các đối tượng chống phá, chỉ khác
mức độ, tần suất được các trang mạng phản động đưa tin, giật tít nhằm thu hút
sự chú ý của dư luận, tác động xấu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và nhân
dân, hòng làm suy giảm uy tín, vai trò của quân đội, tiến tới thúc đẩy “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội.
Thực tế cho thấy, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều
quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu
cực; Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thường xuyên chỉ đạo, triển khai, kiểm
tra, giám sát... công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí trong toàn quân và quyết liệt xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm
pháp luật, vi phạm điều lệnh, quy định của quân đội. Vì thế, Đảng bộ Quân đội
được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đánh giá là trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; hình
ảnh Bộ đội Cụ Hồ được nhân dân trân trọng, tin yêu.
Tuy nhiên, dưới tác động của mặt trái kinh tế thị trường, một số ít quân
nhân, trong đó có cả sĩ quan cao cấp, người chỉ huy đơn vị sa vào chủ nghĩa cá
nhân, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống... Những quân nhân vi
phạm pháp luật đều được điều tra, xử lý nghiêm minh. Công tác phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị tiếp tục thực hiện
ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng
cấm, không có ngoại lệ”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết
quả rõ rệt; được nhân dân đồng tình, ủng hộ.
Từ những vấn đề trên cho thấy, sai phạm của một số quân nhân trong thời
gian qua liên quan đến tham nhũng chỉ là hiện tượng cá biệt, không phải là hiện
tượng phổ biến, càng không phải là bản chất của quân đội như một số đối tượng
thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị cố tình lợi dụng để xuyên tạc, thổi phồng,
quy chụp kiểu “vơ đũa cả nắm”. Do đó, mỗi chúng ta trong quá trình tiếp nhận
thông tin cần phải hết sức cảnh giác, biết lựa chọn, sàng lọc và xem xét khách
quan, toàn diện để tránh mắc mưu của kẻ xấu.
QĐND
HỌ ĐANG HÙA THEO NHAU VÌ BỊ DỌA!
Một số giải pháp Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh tư tưởng trong giai đoạn hiện nay, các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và các cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về công tác bảo vệ an ninh tư tưởng
Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận thức đúng về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; nhiệm vụ, nội dung của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng, nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Trọng tâm của công tác bảo vệ an ninh tư tưởng hiện nay là phải đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; làm rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết bảo vệ và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy giao lưu và hợp tác trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao đời sống của nhân dân lao động.
Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc làm chủ thông tin có vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến việc định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực, đúng với bản chất sự việc, tránh bị lợi dụng, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch xuyên tạc; không để rơi vào thế “bị động”, “chống đỡ” mà phải chủ động, tiến công. Do đó, các cơ quan thông tấn, báo chí phải bảo đảm việc cung cấp thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước thường xuyên, kịp thời, chính xác đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân. Đặc biệt, cần quán triệt phương châm cơ bản trong bảo vệ an ninh tư tưởng là phải coi trọng công tác chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính. Mặt khác, phải tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, các hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm một cách quyết liệt.
Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan các cấp đối với công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch.
Các cấp ủy cần tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xác định mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng đúng đắn, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, phù hợp, các quy chế quản lý thông tin, báo chí, xuất bản, cơ chế cung cấp thông tin, phát ngôn phân rõ trách nhiệm cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Đồng thời, có chính sách động viên, khích lệ phù hợp, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phù hợp để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác tổ chức, cán bộ; phòng, chống nội gián, bảo vệ an ninh quốc gia. Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc phát tán những đơn, thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong phát hiện, xử lý những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cơ hội chính trị; giải quyết triệt để các vấn đề nảy sinh; phòng ngừa, ngăn chặn sự can thiệp, móc nối của các thế lực thù địch. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội theo Luật An ninh mạng, trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội; rà soát, sửa đổi, ban hành mới các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong các hoạt động sử dụng internet và mạng xã hội; tổ chức tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và các quy định của Nhà nước về sử dụng internet và mạng xã hội, nhất là Luật An ninh
Thứ ba, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.
Cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; nâng cao chất lượng giáo dục chính trị trong hệ thống các cơ sở giáo dục - đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng sáng tạo, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có lập trường, tư tưởng vững vàng, có tri thức, giàu tình cảm, đạo đức cách mạng trong sáng và lối sống lành mạnh; nhận diện rõ ràng âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nâng cao hiệu quả công tác quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục - đào tạo.
Nhận thức rõ đối tượng, đối tác trong điều kiện nước ta hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Chủ động cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo về hưu, văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên…, từ đó định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.
Tiếp tục nghiên cứu, khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; làm rõ các vấn đề cần bổ sung, phát triển; nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và sự bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, cần nghiên cứu trên quan điểm khách quan, biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ; đồng thời, chủ động nghiên cứu, phê phán bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch bằng các luận cứ khoa học và minh chứng bằng thực tiễn một cách thuyết phục. Quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước, những điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, những biểu hiện mới của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… , để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả.
Thứ tư, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.
Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, bất cập trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để tạo cớ xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; vừa “xây”, vừa “chống”, trong đó lấy “xây” làm chính. Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh; giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo; kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc chủ động, kịp thời thông tin làm rõ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự thống nhất cao đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo các hoạt động báo chí, xuất bản, nhất là trong việc định hướng chính trị - tư tưởng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Chú trọng làm tốt công tác nhân sự tại các cơ quan văn hóa, báo chí ở Trung ương và địa phương để củng cố nội bộ thật trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài có chất lượng, có chiều sâu đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông./.
Chống chủ nghĩa cá nhân trong văn học, nghệ thuật
Văn học, nghệ thuật (VHNT) là lĩnh vực tinh thần đặc thù gắn liền với cái tôi chủ thể, sáng tạo bằng cái tôi cá nhân. Cái tôi phải hằn rõ mới có thể làm nên cái cá biệt, cái riêng, vốn là những tiền đề cơ bản để tạo ra cái bản sắc. Với một tác phẩm nghệ thuật, nếu không có bản sắc thì thiếu sức sống, nhợt nhạt, ít giá trị. Một nền văn hóa lớn cố nhiên vừa là sự tổng cộng số học, vừa là sự tích hợp, tiếp biến của nhiều tác phẩm có bản sắc. Nói tổng cộng, số học là nói về hình thức, cái thấy được; nói sự tích hợp, tiếp biến là nói về giá trị nội dung (nhất là giá trị văn hóa). Các tác phẩm lớn luôn có sức ảnh hưởng, chi phối, thậm chí trở thành “mẫu gốc” vượt cả không gian và thời gian. Nhìn ở góc độ nào cũng thấy sự cần thiết của cá tính nghệ sĩ vì nếu thiếu thì không thể có tác phẩm giá trị. Những nghệ sĩ lớn trước hết là những cá tính độc đáo.
Nghệ sĩ vẫn là con người, phải sống với đời thực, phải sinh hoạt, học tập, quan hệ xã hội... nhưng thiên chức của anh ta là tạo ra “cuộc sống thứ hai”, tức tác phẩm. Anh ta phải sống, phải “đi, về” giữa hai thế giới, thế giới của đời thực và thế giới trong tưởng tượng với những nhân vật, hình tượng, chi tiết...
Người ta hay dùng các từ “phân thân”, “hóa thân”, “nhập thân”... khi nói về quá trình sáng tạo là vì vậy. Dựa vào đặc trưng này, tâm lý học nghệ thuật hiện đại cho rằng nghệ sĩ dễ sa vào tình trạng đa nhân cách, thất thường, dễ ảo tưởng, hay xúc động, cực đoan... Đây sẽ là điểm yếu khi có người thiếu bản lĩnh, dễ bị kẻ xấu lợi dụng, dụ dỗ, lôi kéo, lừa gạt... Nếu nghệ sĩ không tỉnh táo, nhà quản lý lại nhìn nhận đơn giản, một chiều sẽ dễ đẩy vấn đề càng đi về phía tiêu cực, có hại...
![]() |
| Ảnh minh họa /tuyengiao.vn |
Quy luật tồn tại và phát triển của VHNT là quy luật của cái riêng, cái đơn nhất với cơ sở gốc là cá tính sáng tạo mà sự hình thành của nó, ngoài năng khiếu chủ quan còn là sự may mắn hội tụ tinh hoa của thời đại, vùng văn hóa, cuộc sống, nghề nghiệp... Khi kết tinh thành tài năng, cá tính sáng tạo lại trở về hòa nhập với đời sống. Các tác phẩm của họ như những hạt lúa vào mẩy luôn có xu hướng níu mình về gốc. Những Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du... đều như thế. Không phải ngẫu nhiên, khi già dặn, họ lại thường viết về cái bình thường, nhỏ bé, như: Cây chuối, cây rau, hớp cháo...!
Cá tính sáng tạo không được điều chỉnh, như con ngựa hoang hiếu chiến, hiếu thắng-nếu gọi đích đáng thì đó là chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, tự phụ, tự cao, nổi loạn, phá phách... Cũng là cây xanh nhưng chưa sâu rễ, nhất là chưa quang hợp nhiều ánh sáng lý tưởng, chưa trải qua bão tố, có thể kết trái nhưng chưa chuyển hóa đủ dinh dưỡng văn hóa... Muốn loại cây này có ích cho đời, chỉ có cách là trồng nó vào vùng đất mới hoặc có chế độ chăm sóc đặc biệt!
Một biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa cá nhân trong lĩnh vực văn nghệ ở mọi thời là thoát ly cuộc sống, xa lạ với tư tưởng, tâm hồn, cách nghĩ, cách cảm của người lao động. Cá biệt lại có những suy nghĩ viết để nổi danh, có tên tuổi, muốn thế phải “gây hấn”, phải viết ngược, phải tạo scandal để gây chú ý. Chả khác gì cô gái không đẹp phải tự “lộ hàng” quảng cáo, “đóng đinh” vào mắt người yếu bóng vía...!!! Cũng vì “ăn xổi” mà “tác phẩm” không chịu kế thừa tinh hoa truyền thống, không chịu tiếp thu giá trị văn hóa nhân loại nên thiếu chiều sâu, hàm lượng văn hóa thấp, nhạt nhẽo. Nhưng vì sao vẫn có người đọc?
Vì gợi vào tâm lý thích cái lạ, cái bản năng của số ít độc giả, hoặc thủ thuật câu khách, quảng bá giật gân... Cũng dễ hiểu, có nghệ sĩ tài năng trong quá khứ nhưng do bị chi phối của cái tôi cá nhân mà ngày một xa rời lợi ích nhân dân, khư khư tự ôm lấy cái quan niệm cực đoan, ích kỷ, độc đoán, không chịu mở lòng hòa vào thế giới anh em đồng chí, cùng lo, cùng vui với số phận đất nước, cứ tách ra, đi riêng, thậm chí đi ngược.
Nghệ sĩ luôn sống trong cái tôi cô đơn. Cô đơn để suy ngẫm, để tưởng tượng không chỉ về cái tốt, tích cực mà cả cái xấu, cái thấp hèn, tiêu cực. Vì sứ mệnh của nghệ thuật chân chính vẫn phải sáng tạo về cái xấu để người đọc hiểu mà tránh xa nó, tiêu diệt nó. Có khi vì sống quá sâu với nhân vật mà có nghệ sĩ phát ngôn không phải cho cá nhân mình mà nói thay cho nhân vật (xấu), nên dễ gây ngộ nhận. Trường hợp này rất cần sự thông cảm, thể tất với đặc thù sáng tạo. Nhưng khi cái tôi bị đẩy đến cực đoan, vượt ngưỡng, thì một hạn chế của số người này là quá đề cao cá nhân, chỉ mình là nhất, rồi coi thường, coi rẻ sản phẩm nghệ thuật cũng như nhân cách đồng nghiệp.
Thế là dẫn tới quan hệ “cánh hẩu”, khen vống những ai hợp mình, vùi xuống bùn kẻ khác mình, có khi “không được ăn thì đạp đổ”. Nguy hiểm hơn khi có người như vậy lại là thành viên trong hội đồng tuyển chọn, xét duyệt sẽ dẫn tới sự thiếu công bằng, gây ra dư luận không tốt... Với họ sự khen chê chẳng qua cũng vì thỏa mãn cá nhân mình, để làm nổi cá nhân mình. Nguyên nhân của trường hợp này, ngoài sự quá lớn của cái tôi thì còn là do ít hiểu biết về sự mênh mông vô tận của tri thức nhân loại. “Ếch ngồi đáy giếng” là thế, chỉ nhìn thấy bầu trời bằng cái miệng giếng mà thôi!
Cần có những giải pháp khắc phục nào?
Tình trạng nhàn nhạt, quanh quẩn với những đề tài tình yêu, tình dục, tiêu cực xã hội, tha hóa tính người... không sâu sắc, thiếu tính tư tưởng... dẫn tới tình trạng bạn đọc xa dần VHNT. Tự thân nội dung vấn đề trình bày bên trên cũng đã cho thấy hướng khắc phục, để rõ hơn, xin lưu ý:
Một là, rất cần tôn trọng sự tự do sáng tạo, nhưng phải đặc biệt quan tâm việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ sĩ. Văn học là vấn đề tư tưởng. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng, trường phái nhất định. Sáng tạo theo học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, hoàn toàn hợp với quy luật tư tưởng và tình cảm của nghệ thuật.
Tư tưởng sẽ chuyển hóa để rồi trở thành máu thịt của tác phẩm. Để có tư tưởng phải là quá trình lâu dài, từ thấu hiểu (nhận thức) sâu sắc cuộc sống đến thấu cảm (đồng điệu, hòa nhập) vào hình tượng, cộng cảm (tiếp nhận, chia sẻ, lan tỏa) với cõi nhân sinh để có một mẫu số văn hóa chung mới có thể truyền cảm một cách sâu xa (nghệ thuật) tới đối tượng tiếp nhận.
Hai là, nên tổ chức các chuyến đi sâu, dài ngày vào thực tế, người nghệ sĩ sẽ được hiểu kỹ hơn một mảng đời sống, sẽ có những vui buồn thật sự, cảm thông và chia sẻ với người lao động. Nghệ sĩ chỉ có thể kiến trúc mô hình và xây dựng tác phẩm từ mô hình và chất liệu ngoài cuộc sống. Vai trò lãnh đạo của hội chuyên ngành rất quan trọng, ngoài uy tín tài năng thì còn là tài tổ chức. Không chỉ là tổ chức trao đổi, gặp gỡ, thăm hỏi, cơ bản hơn là tổ chức ra các khuynh hướng, các trường phái sáng tạo phù hợp với sự phát triển, từ đó tạo ra các tranh luận học thuật để nảy ra các tư tưởng nghệ thuật mới.
Các nền văn học lớn đều có các trường phái vừa thống nhất, kế thừa, giao thoa, vừa tranh biện, bổ sung, loại trừ để cùng phát triển. Văn hay dở là do người viết. Hiện nay, các triết học trên thế giới đang rất đề cao chủ thể, vấn đề “mỹ học chủ thể” được nói đến nhiều. Nghĩa là coi tác giả mang tính quyết định chất lượng tác phẩm. Nghệ thuật là cái riêng, đơn nhất nên luôn cần đến tài năng. Vốn sống, vốn tri thức văn hóa của nhà văn luôn được coi là vấn đề gốc để "cây nhà văn" cường tráng, khỏe mạnh mà kết thành "quả tác phẩm" giàu chất bổ dưỡng.
Ba là, luật hóa xuất bản, thể chế hóa dưới luật một cách cụ thể về trách nhiệm để tránh xuất bản, phát sóng những văn hóa phẩm kém chất lượng.
Bốn là, tăng cường hơn nữa sự định hướng của các cơ quan quản lý và tiếng nói chuyên môn, chuyên gia cao cấp. Những nơi đó đóng vai trò vừa là cánh tay nối dài của Đảng, vừa là ngôi nhà chung, là điểm tựa của văn nghệ sĩ về tư tưởng, tình cảm, nghiệp vụ, đồng thời là sự khẳng định có trọng lượng học thuật cao nhất về các hiện tượng. Như một lẽ tự nhiên, văn chương phải có người đọc nên nhiều nước phát triển có chiến lược bồi dưỡng các thế hệ độc giả, gọi chung là “mỹ học tiếp nhận”. Có tác phẩm hay nhưng bạn đọc thờ ơ vì không hiểu, không hợp thị hiếu thì thật phí. Nhiều nhà văn nổi tiếng thế giới đều có đối tượng độc giả riêng là vì thế. Có nhà văn ở ta chưa chú ý tới bạn đọc dẫn tới sách chủ yếu vẫn nằm trên giá thư viện.
Năm là, bên cạnh việc tiếp thu lý luận văn nghệ nước ngoài, cơ bản hơn cần có chiến lược nghiên cứu tiếp thu, kế thừa, phát triển lý luận văn nghệ của cha ông. Xin nhắc lại lời Bác Hồ, sáng suốt, sâu sắc, tinh tế vô cùng: “Muốn thấy hết cái hay, cái đẹp của nghệ thuật dân tộc ta, thì phải đừng bị trói buộc bởi những tiêu chuẩn này nọ của nghệ thuật phương Tây... phải dựa trên tiêu chuẩn của ta. Tiêu chuẩn ấy là gì? Đó là nền mỹ học ẩn chứa trong thực tiễn truyền thống nghệ thuật dân gian, dân tộc” (1).
Chúng ta đang cố gắng làm giàu thêm lý luận VHNT bằng cách tiếp thu cái hợp lý của lý luận nước ngoài. Đấy là một hướng đi đúng. Nhưng thiết nghĩ, song hành với hướng đó và cơ bản hơn là phải đi sâu vào vốn cổ của ta để tìm tinh hoa lý luận truyền thống cha ông mà kế thừa, phát triển, nâng cao cho phù hợp với hôm nay. Bởi lý thuyết nước ngoài bao giờ cũng có độ vênh lệch, chưa nói đến có sự áp đặt, khiên cưỡng.
Mỹ học của cả một nền văn học dân gian rồi văn học trung đại là cả một kho vàng tư tưởng còn chìm trong các sáng tác văn chương. Chỉ có điều phải bỏ công tìm tòi, suy ngẫm bởi chúng ẩn sâu trong các hình tượng thẩm mỹ chứ không hiển hiện triết lý khô cứng ra bên ngoài. Chỉ xin đề cập tới một Nguyễn Trãi mà chúng tôi tìm hiểu đã thấy ở nhà tư tưởng lớn này cũng có hẳn một hệ mỹ học riêng với: Tư tưởng mỹ học về con người văn hóa, về thiên nhiên, về phạm trù cái đẹp; một quan niệm sứ mệnh nghệ thuật vì con người; quan niệm hiện đại về quy luật vận động đặc thù của nghệ thuật; một mỹ học chủ thể; một mỹ học tiếp nhận(2).
Không chỉ ở Nguyễn Trãi mà còn cả một kho tàng mỹ học mà cha ông đã học tập, tiếp thu, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao một cách tuyệt vời mỹ học truyền thống, thể hiện tinh tế trong trước tác. Đó là cả một mỏ vàng mà hậu thế chúng ta phải tìm tòi, khai thác, tinh luyện. Truyền thống lý luận của ta, ngoài những hiển ngôn trên văn bản còn thường thể hiện dưới dạng tác phẩm mà ngay ở thời hiện đại cũng có, ví như câu thơ hay của Phạm Tiến Duật: “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay” phải chăng còn có ý về chủ thể sáng tạo: Nghệ sĩ phải quên mình, làm mới mình để sáng tạo. Tác phẩm nghệ thuật phải có chức năng làm đẹp và nuôi dưỡng sự sống!



