Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

HẾT LÒNG PHỤNG SỰ TỔ QUỐC, PHỤC VỤ NHÂN DÂN

 

Một trong những đặc trưng cơ bản về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là: “Có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy”.

Qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, phẩm chất cao đẹp ấy vẫn luôn được các cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta gìn giữ, phát huy, dù thời chiến hay thời bình.

1. Hơn 50 năm trước, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang bước vào giai đoạn ác liệt, có một tấm gương tiêu biểu, được ví như “Pavel Corsaghin” (nhân vật trong tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy”) của thanh niên miền Bắc. Đó là tấm gương liệt sĩ Vương Đình Cung, “cậu ấm” duy nhất của Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Lê Quý Quỳnh (tức Vương Văn Thành).

Những người thân trong gia đình liệt sĩ Vương Đình Cung kể rằng: Trong lúc quân đội chưa có chủ trương huy động sinh viên ra trận, năm 1965, khi đang học năm thứ nhất Trường Đại học Nông nghiệp (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam), Vương Đình Cung đã viết thư, tha thiết nhờ bố cho mình về quê để nhập ngũ: “Bố ạ, con sẽ đi bộ đội vì nguyện vọng của con là trở thành một chiến sĩ cách mạng. Con biết đi là gian khổ, nhưng chắc bố chẳng bao giờ ngăn con. Ở đây họ chưa tuyển bộ đội, bố cho con về dưới ấy để con đi. Bây giờ chỉ có bố là cho con đi được thôi. Bố nói với các chú Tỉnh đội tuyển con vào nhé! Con thích đi lắm rồi, con thiết tha mong bố cho con vào quân đội...”. Trước nguyện vọng tha thiết ấy, Bí thư Tỉnh ủy Lê Quý Quỳnh đã đồng ý cho cậu con trai duy nhất nhập ngũ vào Tiểu đoàn Bãi Sậy, một đơn vị của Tỉnh đội Hưng Yên, khi đó đang chuẩn bị hành quân vào chiến trường miền Nam. Được biết, ngay từ nhỏ, dù bố là Bí thư Tỉnh ủy, nhưng không bao giờ Vương Đình Cung ỷ thế bố. Lá thư đề đạt nguyện vọng “cho con về dưới ấy để nhập ngũ” chính là lần duy nhất Vương Đình Cung phải nhờ vào “uy” bố...

Có một điểm chung trong mỗi câu chuyện kể từ các đồng đội của liệt sĩ Vương Đình Cung, đó là chuyện về những lần Vương Đình Cung thiết tha trình bày nguyện vọng được ở lại đơn vị chiến đấu mỗi khi cấp trên gợi ý cử anh đi học; rồi những hôm anh lo tới mất ăn mất ngủ khi biết cấp trên muốn điều động anh về tuyến sau, bởi ngay từ khi nhập ngũ, Vương Đình Cung đã luôn xác định: “Vào Nam để ra trận”. Trong một lá thư viết cho em gái, Vương Đình Cung đã trích câu nói của nhân vật Pavel Corsaghin trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy”: “Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí”; rồi căn dặn em: “Đời bộ đội quá gian nan, nhưng gian nan bao nhiêu anh cũng chịu đựng và vượt qua được. Em còn bé nhưng rèn luyện cho mình là vừa, có thế ta mới sống một cách có ích...”. Ngày 7-5-1970, trong một trận chiến đấu quyết liệt với quân địch, Vương Đình Cung đã anh dũng hy sinh.

Ngay sau ngày Vương Đình Cung hy sinh, Trung ương Đoàn đã phát động một phong trào học tập, noi theo liệt sĩ Vương Đình Cung cùng câu nói nổi tiếng: “Vào Nam để ra trận” của anh. Năm 2014, liệt sĩ Vương Đình Cung được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng, liệt sĩ Vương Đình Cung là một trong số rất nhiều sinh viên đã rời ghế giảng đường đại học để thực hiện ước muốn nhập ngũ, lên đường vào Nam chiến đấu. Khi mang trên mình màu xanh áo lính, họ luôn phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giữ gìn đạo đức trong sáng, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình”. Đó cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội đã và đang gìn giữ, phát huy.

2. Trong thế kỷ 21, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với các quốc gia. Hậu quả do những thách thức an ninh phi truyền thống gây ra có khi còn thiệt hại nặng nề, nghiêm trọng hơn những thách thức an ninh truyền thống. Tác động trực tiếp nhất đối với nước ta thời gian gần đây là đại dịch Covid-19.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ cùng sự nỗ lực, đồng thuận của toàn dân, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân, chúng ta đã phòng, chống, khắc phục kịp thời, hiệu quả thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội. Trong thành quả chung đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao những nỗ lực to lớn của các cán bộ, chiến sĩ quân đội. Cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, quân đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đã phát huy tốt vai trò xung kích, nòng cốt, kịp thời có mặt ở những nơi xung yếu, khó khăn, không quản ngại gian khổ, hy sinh, phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống, khẳng định vai trò, chức năng của “đội quân chiến đấu”, “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất”.

Đã từng có câu hỏi đặt ra: “Bộ đội thời bình sướng hay khổ?”. Tìm đáp án cho câu hỏi ấy, chúng tôi không vội gặp những người lính trong quân ngũ mà tới hỏi chuyện những người vợ của các sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đang công tác xa nhà. Các chị bộc bạch rằng, có dịp đến thăm chồng ở đơn vị mới thấy công việc của chồng còn bận hơn cả công nhân ở các công ty da giày, may mặc... Bởi theo chức trách, nhiệm vụ, họ phải làm việc liên tục từ sáng sớm đến tối muộn, nếu là cán bộ trung đội thì phải quản lý trực tiếp chiến sĩ, “cùng ăn, cùng ở, cùng học tập, huấn luyện” với chiến sĩ. Vì thế mà dù nhà gần hay xa đơn vị thì họ cũng không dễ có điều kiện về nhà ăn cơm, ngủ nghỉ cùng vợ con... Bố mẹ công tác xa, những đứa trẻ cũng chịu không ít thiệt thòi so với các bạn cùng trang lứa. Một anh bạn sĩ quan công tác xa nhà tâm sự, lâu lâu có dịp về thăm gia đình, khi đưa các con đi chơi ở siêu thị, khu mua sắm, thấy các con xem cái gì cũng rụt rè, lạ lẫm, không hào hứng như các bạn cùng tuổi. Thì ra ở nhà, vắng chồng nên vợ anh luôn đầu tắt mặt tối, không có thời gian dứt ra khỏi công việc nội trợ, chăm sóc con cái để đưa chúng đi “giải ngố” ở những khu vui chơi sầm uất, hiện đại, cho dù nhà không quá xa trung tâm thành phố. “Mỗi lần về, dẫn các con đi chơi, đi ăn những đồ ngon vật lạ để bù đắp cho những tháng ngày xa bố, vợ tôi lại trách: Bố cứ chiều thế dễ làm các con hư”, anh bạn sĩ quan kể chuyện, cười vui mà khóe mắt rưng rưng...

Những câu chuyện trên cho thấy, có bao điều giản dị, đời thường như việc sinh hoạt, sum vầy vẫn hằng ngày diễn ra trong mỗi gia đình, nhưng với không ít quân nhân thì sự bình dị ấy lại có phần trở nên “xa xỉ”. Chuyện sum họp đối với nhiều gia đình quân nhân càng khó khăn hơn trong những năm qua, khi đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các cán bộ, chiến sĩ quân đội đã không ngại hiểm nguy, gác lại nỗi niềm riêng tư để thực hiện trách nhiệm phụng sự nhân dân, mang sứ mệnh màu xanh áo lính đi giữa màu đỏ của tâm dịch để cùng đồng bào vượt qua khó khăn, thử thách...

Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, người dân đã gặp hình ảnh các cán bộ, sĩ quan quân đội luôn tiên phong, đồng hành, sẻ chia gian khổ với chiến sĩ và nhân dân ở những nơi nguy hiểm, khó khăn nhất; người dân cũng chứng kiến hình ảnh một sĩ quan ở Ban CHQS TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) nhận đỡ đầu 3 trẻ mồ côi, bởi tim anh đã nhói đau và nhòe nước mắt khi nghe các bé bày tỏ mong muốn được gọi anh là ba; hình ảnh buổi lễ tôn vinh các lực lượng chi viện TP Hồ Chí Minh chống dịch, nơi mà nước mắt đã rơi trên gương mặt các đại biểu dự lễ, thấm ướt cả khẩu trang...

Phát biểu trong Chương trình “Nghĩa tình quân dân” (tháng 12-2021), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh: “Những người con của nhân dân mang sứ mệnh màu xanh áo lính đã đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người, cần mẫn hướng dẫn nhân dân phòng, chống dịch; đi chợ; thu hoạch nông sản; phục vụ trong khu cách ly; canh gác các chốt kiểm dịch; cứu chữa người bệnh; chăm sóc em bé mồ côi; mai táng đồng bào tử vong do dịch bệnh bằng tất cả tấm lòng và trái tim chan chứa tình người. Kể sao hết được những người cha, người mẹ suốt mấy tháng trời chỉ nghe thấy tiếng, chỉ nhìn thấy mặt con yêu thương qua điện thoại; không ít cán bộ, chiến sĩ đã không thể về đưa tiễn người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ cũng sẵn sàng hoãn cưới vợ, cưới chồng, cưới con; không thể ở nhà lúc vợ trở dạ, sinh con... để hoàn thành mọi trọng trách mà nhân dân giao phó”.

Đó chính là sự ghi nhận xứng đáng, sự đánh giá khách quan của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đúng với bản chất, truyền thống của Quân đội ta.

Trải qua các cuộc kháng chiến, nhiều người con đã hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đã dũng cảm chiến đấu, xả thân, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình”. Tiếp nối trách nhiệm, nghĩa vụ cao cả ấy, trong thời bình, Bộ đội Cụ Hồ đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, vùng trời, vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... và làm nghĩa vụ quốc tế. Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, mỗi cán bộ, chiến sĩ đã và đang tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, để trong gian khó, nguy nan, quân đội tiếp tục là chỗ dựa tin cậy của nhân dân, góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU ĐỐI LẬP GIỮA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin.

Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của Người, cùng với Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”. Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác - Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội”. Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

Luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc. Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác - Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác - Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”, và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Mác - Lê nin. Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác - Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác - Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác - xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác - Lênin.

NOI GƯƠNG BÁC, TỰ SOI, TỰ SỬA

 

Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình? Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh.

Ý NGHĨA “TỰ MÌNH”

Năm 1927, trong sách Đường cách mệnh, khi bàn về tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đề cập 3 mối quan hệ: Tự mình phải, đối người phải, làm việc phải.

Tháng 2/1947, trong Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, Người đề cập cán bộ phải có 5 mối quan hệ: Mình đối với mình, mình đối với đồng chí mình, mình đối với công việc, đối với nhân dân, đối với đoàn thể.

Năm 1948, khi viết về Tư cách người Công an cách mệnh, Người đề cập 6 mối quan hệ: Đối với tự mình, đối với đồng sự, đối với Chính phủ, đối với nhân dân, đối với công việc, đối với địch.

Đúc kết lại, mỗi người phải xử sự, xử thế các mối quan hệ: tự mình, đối với người, đối với việc. Đáng lưu ý là trong tất cả các mối quan hệ trên dù bất cứ ở thời kỳ nào, Hồ Chí Minh đều đặt “đối với tự mình” lên trên hết. Vì sao như vậy?

Có nhiều cách cắt nghĩa, lý giải khác nhau, nhưng chắc chắn có mấy lý do cơ bản: một là, tự mình là rất khó. Tự “mổ xẻ” mình đâu có dễ. Kẻ thù ở trong mình không thể dùng lựu đạn, gươm giáo để tiêu diệt. Hai là, con người - nhất là cán bộ, đảng viên - thường mắc các chứng bệnh như tự cao tự đại, ưa người ta nịnh mình, do lòng yêu ghét của mình mà đối với người, đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Ba là, “đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta thì trước phải biết đúng sự phải trái ở mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”.

Khi bàn về các đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Hồ Chí Minh chỉ bảo rằng mình không Cần mà bảo người khác Cần là vô lý. Mình không Kiệm mà bảo người khác Kiệm là vô lý. Mình không Liêm mà bảo người khác Liêm là vô lý. Mình không Chính mà bảo người khác Chính là vô lý.

Về lý luận và thực tiễn, “đối với tự mình” là nói đến yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong, còn “đối với người” là nói đến yếu tố khách quan, yếu tố bên ngoài. Triết học mácxít chỉ rõ rằng yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong bao giờ cũng là yếu tố đóng vai trò quyết định.

Tục ngữ có câu: “Việc đời không gì khó, chỉ sợ chí không bền”. Vì vậy, đối với mọi việc, nói dễ thì dễ, nói khó thì khó. Hồ Chí Minh đúc kết: Không có việc gì khó/Chỉ sợ lòng không bền/Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên.

Từ khi chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời do C. Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo cách ngày nay 174 năm, các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá. Ngày nay, chúng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Tuyệt đối không được đánh giá thấp âm mưu và thủ đoạn phá hoại của kẻ thù, nhưng chúng ta phải nhận thức có hàm lương khoa học và cách mạng rằng “diễn biến hòa bình” không đáng sợ bằng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chúng ta đều biết rằng không có kẻ thù nào bảo chúng ta tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Những bệnh tật đó là do chính chúng ta tạo ra. Vì vậy, có thể nói rằng không kẻ thù nào bôi nhọ được chúng ta, ngoại trừ tự mình bôi nhọ mình; không kẻ thù nào tiêu diệt được chúng ta, ngoại trừ chúng ta tự tiêu diệt mình bằng chính sự tha hóa, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. V.I.Lênin viết: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ, thì tất cả sẽ sụp đổ”.

Hồ Chí Minh dạy chúng ta: “Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý”. Người nói rõ hơn: “Muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù trên thế giới, muốn đánh thắng thực dân phong kiến là kẻ thù trong nước thì trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình. Phải “chính tâm tu thân” mới có thể trị quốc bình thiên hạ”.

Như vậy vấn đề đã rõ ràng: “Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

ĐẢNG CHÂN CHÍNH CÁCH MẠNG PHẢI TỰ SOI, TỰ SỬA

“Tự mình” như đã phân tích có thể cá nhân, có thể tổ chức để phân biệt “đối với người”, “đối với việc”. Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh quan tâm cả cá nhân và tổ chức trong việc tự rèn, tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh, tự vượt lên chính mình. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, viết về tư cách của Đảng chân chính cách mạng, Hồ Chí Minh nêu lên 12 điều và khẳng định Đảng muốn được vững bền thì không được quên điều nào. Điều 12 bàn tới bản thân Đảng “phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”.

Mặt khác, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Vấn đề là Đảng dám tự phê bình, không dám tự phê bình như có bệnh mà giấu bệnh, không dám uống thuốc. “Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính. Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng. Sợ phê bình, tức là “quan liêu hóa”, tức là tự mãn tự túc, tức là “mèo khen mèo dài đuôi”.

Trong đổi mới, nhận thức rõ ý nghĩa to lớn, sâu xa của tự soi, tự sửa, Đảng ta khẳng định: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) viết: “Trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên”.

Trong đổi mới, nhận thức rõ ý nghĩa to lớn, sâu xa của tự soi, tự sửa, Đảng ta khẳng định: “Sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TỰ SOI, TỰ SỬA

Vì sao cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự rèn, tự tu dưỡng, tự điều chỉnh, tu thân, tự vượt lên chính mình? Vì đảng viên, cán bộ trong sạch, vững mạnh thì Đảng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền thường có nhiều hoặc ít quyền hành, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm, không giữ được đạo đức cách mạng thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân, ăn của đút, “dĩ công vi tư”. Nguy hiểm nhất là tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, đến nhân dân. Đảng viên hư hỏng sẽ đưa quần chúng đến hư hỏng. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải tự soi, tự sửa, tự thực hành cần kiệm liêm chính để làm kiểu mẫu cho dân.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức được rằng người đời không phải thánh thần, ai cũng có phần thiện, ác ở trong lòng. Vấn đề là ở chỗ phải tự soi, tự sửa, kiên quyết chống lại cái ác, những gì cũ kỹ, hư hỏng. Bác Hồ dạy: “Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích… Muốn được thích hợp với tình thế, muốn cùng tiến hay vượt các bạn khác, ta cần phải nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm để bồi bổ và sửa đổi đi. Sau khi làm xong một công việc gì, hay sau mỗi ngày làm việc, cần phải tự mình kiểm điểm xem có chỗ nào nhầm lẫn, chỗ nào chưa đầy đủ, có được ưu điểm gì nên nhớ, có được kinh nghiệm gì quý đáng ghi. Phải bỏ hẳn thái độ “xong việc thì thôi”. Không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”.

Vừa qua, Đảng ta ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định phục vụ cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Ví như Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021, Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm. Đảng có những kết luận, nghị quyết, quy định như thế là rất cần thiết để giúp đảng viên trong tu dưỡng rèn luyện.

Đảng viên, cán bộ phải tự giác, thường xuyên, hằng ngày, suốt đời tự soi, tự sửa như chuyện rửa mặt hằng ngày. Là đảng viên, cán bộ có “hai con người” trong một con người. Làm đảng viên cộng sản tức làm người có trình độ cao, nhưng vẫn trên cái nền “làm người”. Trước khi trở thành đảng viên, họ là con người bình thường. Khi là đảng viên, họ vừa phải có chất đảng viên vừa có “chất người”, “trình độ người”. Đảng viên phải có cái chất của người đảng viên trên cái nền “làm người”. Khi chưa phải là đảng viên mà đổ vỡ tư cách làm người, thiếu nhân tính là đổ vỡ tất cả. Thiếu một đức thì không thành người như Bác Hồ đã dạy. Nhưng khi là đảng viên, cán bộ và lãnh tụ thì phải thấy “khác với những người thường. Họ là những người chiến sĩ tiên phong của giai cấp, của dân tộc. Vì vậy, họ hoàn toàn không được đại biểu cho lợi ích cá nhân, mà phải đại biểu cho lợi ích của dân tộc, của giai cấp”.

Đảng viên, cán bộ phải thấy rõ, đầy đủ, sâu sắc mối quan hệ “hai trong một”. Là đảng viên, phải tự soi, tự sửa để giữ vững đạo đức cách mạng, cao nhất là chí công vô tư. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ việc gì, đều phải tự soi, tự rèn, tính đến lợi ích chung của Đảng, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, việc của cá nhân và lợi ích của nhân để lại sau. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Đó là nguyên tắc tối cao của Đảng, là Đảng tính.

Đảng viên tự soi, tự sửa, tự rèn, tự điều chỉnh, tự giáo dục, tự vạch ra khuyết điểm, tự vượt lên chính mình, tu thân chính tâm một cách tự giác, thành thực không nên chỉ vì “tấm chắn” của những điều đảng viên không được làm, mà còn phải vì đạo lý, lương tâm. Có những điều rất quan trọng, đó là nhân văn, nhân tính. “Pháp trị” nhưng phải có “đức trị”. Văn hóa phương Đông đề cao đạo đức. Tấm gương của Bác và nhiều cán bộ, đảng viên thời Bác qua phong cách, tác phong, việc làm, hành động, cử chỉ có sức mạnh lan tỏa, truyền cảm hứng tới cả dân tộc. Vô cùng thiêng liêng, sâu xa và cao quý!

Tự soi, tự sửa là để mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng không? Nếu không có lợi mà có hại cho nước, cho dân thì quyết không làm.

Tự soi tự sửa là để tránh tự kiêu, tự đại, vì tự kiêu, tự mãn như cái chén, cái đĩa cạn, một chút nước cũng tràn đầy vì độ lượng nó hẹp. Đảng viên phải như sông to, biển rộng, bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu.

Tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.

Đảng viên phải ghi tạc rằng, cùng với những điều đảng viên không được làm theo Quy định, Điều lệ Đảng, còn có nhiều điều đảng viên không được làm do lương tâm, đạo đức cắn rứt không cho phép làm; đạo lý dân tộc không cho phép làm. Đó mới là thiêng liêng, sâu xa, bền vững, tạo niềm tin vững chắc. Đảng viên trung thành với Đảng còn phải trung thành với đất nước, dân tộc, có trách nhiệm với chính bản thân mình.

Tự soi, tự sửa là để mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, cho Đảng. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Tự soi, tự sửa là để tránh tự kiêu, tự đại, vì tự kiêu, tự mãn như cái chén, cái đĩa cạn, một chút nước cũng tràn đầy vì độ lượng nó hẹp. Đảng viên phải như sông to, biển rộng, bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu.

Tự soi, tự sửa là để luôn luôn chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, phải học và giúp người tiến bộ. Không nịnh hót người trên. Không xem thường người dưới.

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vừa qua suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vì không chịu tự soi, tự sửa, tự rèn, tự phê bình, tự giáo dục, tự vạch ra khuyết điểm, tự điều chỉnh, tự chỉ trích, tự vượt lên chính mình, tu thân chính tâm hằng ngày, suốt đời, việc lớn việc nhỏ một cách tự giác, thật sự. Họ rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân, vừa không có cái chất của người đảng viên cộng sản vừa không có nhân tính, đổ vỡ tư cách làm người, đổ vỡ tư cách đảng viên./.

GIỮ VỮNG TƯ CÁCH NGƯỜI CÁCH MẠNG

 

“Tư cách một người cách mệnh” là bài giảng đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại các lớp huấn luyện chính trị và được in ngay trang đầu cuốn “Đường Kách mệnh”. Ba yêu cầu đối với tự mình, với người, với việc mà tác giả nêu trong bài thể hiện khái quát nhất về đức và tài ở một người cán bộ, sau này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến rất nhiều và có nội dung toàn diện hơn. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc, Người lại dặn: Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Muốn làm cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, điều quyết định là phải có một đảng cách mạng và những người cách mạng thật sự, vừa có năng lực cách mạng, vừa có đạo đức cách mạng. “Tự mình phải: Cần kiệm... Cả quyết sửa lỗi mình... Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm... Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”. Đó là tư cách, là đức và tài của người cán bộ.

Có tài không có đức, có hại cho nước

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đức và tài là hai nhân tố quan trọng hàng đầu làm nên tư cách người cán bộ, trong đó đức là gốc; không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết; có lòng yêu nước, yêu đồng bào; không tham danh vị, không tham tiền, không tham sắc; biết người tốt thì nâng đỡ, biết người xấu thì không dùng; nói và làm cho nhất trí, làm thế nào cho dân tin; phải mạnh dạn, quả quyết nhưng không phải làm liều; có lòng dũng cảm trong công việc,... Tài ở người cán bộ là trình độ chuyên môn, là năng lực công tác; không chỉ am hiểu những vấn đề của cuộc sống, dự đoán được xu thế của nó mà còn có khả năng quy tụ, tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp, vấn đề mới nảy sinh trong các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực chuyên môn của mình.

Trong mối quan hệ giữa đức và tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đức là gốc, nhưng bao giờ cũng đặt tài đi liền với đức và chính Người là hiện thân của nghệ thuật dùng nhân tài. “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài, như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”. Như vậy là tài ở trong đức và sẽ được trọng dụng khi có đức; đức chỉ có ý nghĩa khi có tài. Đức và tài là sự hội tụ làm một trong nhân cách mỗi cán bộ.

“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống” mà do đấu tranh, rèn luyện hàng ngày mới có. Với quan niệm như vậy, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Người chỉ ra những việc phải hết sức làm khi có lợi cho dân, những việc phải hết sức tránh nếu làm hại đến dân. Trong công tác cán bộ, Người có cách nhìn toàn diện, nhân văn đồng thời sớm cảnh báo những điều dễ làm cán bộ suy thoái, biến chất. Chỉ sau hơn một tháng, Cách mạng giành chính quyền, Người đã có Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, chỉ rõ những lầm lỗi rất nặng mà cán bộ thường phạm phải, như: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân… Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra?… Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài…”.

Thật buồn, những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo đã hơn 70 năm, nhưng hiện nay vẫn không ít cán bộ vướng phải, nhất là tình trạng làm trái, tham nhũng, tiêu cực làm hại nước, hại dân và hại chính mình. Đọc những lời căn dặn ấy càng thấy chúng ta còn mắc nợ Người nhiều lắm.

Đưa việc làm theo Bác thành nhu cầu tự thân mỗi người

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tại Lễ truy điệu Người, Ban Chấp hành Trung ương đã nguyện thề: “Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người,… xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ Tịch”. Gần đây là ngày 18/5/2021, Bộ Chính trị có Kết luận số 01, tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây là công việc không chỉ thể hiện lòng biết ơn công lao trời biển của Người mà còn là trách nhiệm của chúng ta, trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên đối với dân, với nước.

Tuy có những kết quả chuyển biến đáng kể trong học và làm theo Bác, nhưng việc rèn luyện, tu dưỡng để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân như Người mong muốn thì còn nhiều điều phải làm. Thật đau xót, không ít cán bộ, có cả cán bộ cấp cao, cả tướng lĩnh mới hôm qua còn rực rỡ ánh hào quang, nhưng hôm sau đã bị cơ quan chức năng phát hiện phạm tội, thậm chí tội nghiêm trọng phải chịu án chồng án. Chưa bao giờ cuộc đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được chỉ đạo quyết liệt như những năm gần đây. Thế nhưng vẫn không ít cán bộ tham chức, tham tiền, tham quyền, tham danh lợi, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh người cán bộ, đến uy tín của Đảng, Nhà nước... Điển hình là những sai phạm nghiêm trọng trong đợt phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua. Cả nước phải gồng mình chống dịch như chống giặc. Đảng, Nhà nước dồn tổng lực cùng toàn dân chống dịch. Giữa lúc nước sôi lửa bỏng ấy, nhiều cán bộ vẫn cố tình nâng giá kit xét nghiệm để nhận hàng tỷ đồng từ Công ty Việt Á. Giữa lúc Nhà nước tìm mọi cách đưa bà con từ vùng nóng đại dịch về nước thì không ít cán bộ đã lợi dụng chính sách ấy để kiếm chác. Thử hỏi còn đâu là tư cách người cán bộ cách mạng!

Học tập, làm theo Bác là việc làm thường xuyên, suốt đời, mọi lúc, mọi nơi. Cán bộ có chức vụ càng cao càng phải thường xuyên soi lại mình, sửa mình để từng bước hoàn thiện hơn, có như thế mới nêu gương được cho cấp dưới. Các cấp ủy cần có nhiều đổi mới trong công tác cán bộ, nhất là việc đánh giá phải công tâm, minh bạch như lời Bác dặn, coi trọng cả đức và tài nhưng phải lấy đức làm gốc; có cơ chế rõ ràng để không ai lợi dụng được thân quen mà chạy chức, chạy quyền; tạo môi trường làm việc dân chủ thật sự cho ai có tài năng thì được cống hiến; ai tài năng, đức độ hạn chế thì phải nhường cho người hơn mình. Thiết nghĩ đó là một trong những động lực để cán bộ tự hoàn thiện mình hơn, để việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành nhu cầu tự thân, để giữ vững tư cách của một người cách mạng.

Chiêu bài “dân chủ nhân quyền” của thế lực thù địch


Dưới kiểu chiêu bài dân chủ nhân quyền chúng tiêm nhiễm tư tưởng đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập vào đội ngũ trí thức trẻ. Đây là biện pháp hết sức nguy hiểm được các thế lực thù địch đặt lên hàng đầu vừa công khai, vừa ngấm ngầm và hết sức mềm dẻo theo kiểu mưa dầm thấm lâu tác động vào đội ngũ trí thức trẻ của nước ta nói riêng, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới nói chung. Mục tiêu của chúng là từng bước chuyên hóa về lập trường, tư tưởng làm mất phương hướng phấn đấu, mục tiêu, lý tưởng cộng sản của đội ngũ trí thức trẻ, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, biến đội ngũ trí thức trẻ trở thành những thành viên tích cực tuyên truyền chủ nghĩa đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập và đi đầu trong các hành động bạo loạn lật đổ.

Sử dụng mạnh mẽ các biện pháp kinh tế nhằm lôi kéo đội ngũ trí thức trẻ. Đội ngũ trí thức trẻ ở nước ta vừa có số lượng đông, vừa có tiềm năng phát triển mạnh mẽ về tri thức khoa học, do đó các thế lực thống trị về kinh tế và khoa học công nghệ của thế giới đã đưa họ vào tiêu điểm để lôi cuốn, thu hút. Chính bằng biện pháp kinh tế, với những khoản tiền học bổng, tiền lương lớn và các tiện nghi sinh hoạt tốt, các nước tư bản đã thu hút một lượng lớn chất xám của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Dụ dỗ, lôi kéo, ra sức tuyên truyền lối sống thực dụng. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế, các luồng văn hóa xấu độc thẩm thấu ngày càng sâu vào nước ta. Thông qua hệ thống Internet, các hoạt động du lịch, giao lưu văn hóa, thể thao là những hoạt động thu hút được đông đảo lực lượng thanh niên, trong đó có giới trí thức trẻ. Các thế lực thù địch chủ động và tích cực tuyên truyền lối sống thực dụng chạy theo lợi ích cá nhân, không quan tâm tới lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia vào tri thức trẻ, nhất là số học sinh du học của nước ta ở nước ngoài. Đã có không ít trí thức trẻ bị sa ngã bởi sức mạnh của đồng tiền, sống buông thả, lười học tập, giao du với đối tượng xấu, thích ăn chơi, đua đòi... rơi vào con đường phạm tội. Thậm chí đã có những kẻ phản bội Tổ quốc, trở thành tay sai của các thế lực thù địch quay lại chống phá Tổ quốc, quê hương mình. Vì vậy, hơn lúc nào hết chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác với âm mưu thâm độc xảo quyệt của các thế lực thù địch, tiêm nhiễm tư tưởng đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập vào đội ngũ trí thức trẻ ở nước ta, chống lại chiến lược diễn biến hòa bình của địch./.

CÔNG NHÂN

 

Chiến thuật làm mất ổn định xã hội trong chiến lược “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” của các thế lực thù địch

 


Chúng ta hãy thử xâu chuỗi, đánh giá những tác động thứ phát mà những xung đột tôn giáo, sắc tộc có thể gây ra, kèm theo sự kiên trì đeo đuổi âm mưu, sự kết hợp với nhiều thủ đoạn khác… thì chúng ta sẽ thấy được mức độ nguy hiểm của “chiến thuật mất ổn định xã hội” này trong toàn bộ chiến lược diễn biến hoà bình. Bởi vậy, việc phân tích đánh giá mức độ thâm hiểm, những âm mưu gây rối thông qua xung đột tôn giáo, sắc tộc của các phần từ phản động để tuyên truyền đến mọi tầng lớp xã hội là một công việc hết sức cần thiết, góp phần tích cực làm thất bại chiến lược diễn biến hoà bình. Mặt khác, chúng ta cũng cần đi trước một bước trong việc xử lý kiên quyết, nghiêm minh (nhưng hết sức bình tĩnh, linh hoạt, mềm mỏng) các vụ việc theo đúng đường lối của Đảng và pháp luật Nhà nước; thực hiện tốt phương châm “phòng để chống” một cách hữu hiệu, nhằm làm giảm thiểu những tác động xấu đến khối đoàn kết dân tộc và ảnh hưởng đến các mối quan hệ quốc tế.

Ngoài việc tăng cường công tuyên truyền giáo dục với mọi người dân theo các đạo giáo, chúng ta cần chú ý đến với mỗi người dân, “phòng để chống” chính là bằng cách chủ động tìm hiểu, nắm vững chủ trương chính sách tôn giáo, dân tộc để kịp thời vạch trần những chiến thuật tinh vi nhất trong chiến lược “diễn biến hoà bình”. Qua đó, mỗi người chúng ta cần tự trang bị cho mình hiểu biết về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, ý thức chấp hành pháp luật, chủ động đấu tranh phòng, chống, làm thất bại mọi mưu toan chống phá chế độ của các thế lực thù địch. Đó cũng là cách để mỗi người góp phần cùng cả nước tạo dựng một xã hội ổn định, yên bình, phồn vinh và hạnh phúc.

TRƯỜNG TỒN

Tăng sức “đề kháng” chống lại “tự diễn biến”

 


Các tổ chức cơ sở đảng các cấp cần được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, mọi thành viên trong tổ chức có khả năng “đề kháng” tốt chính là cơ sở để ngăn ngừa tác động từ bên ngoài. Mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “Tự diễn biến” của các thế lực thù địch sẽ bị vô hiệu hoá, nếu nội bộ đất nước, nội bộ Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, nhất là Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ phải được thường xuyên chăm lo xây dựng thực sự vững mạnh. Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Việc tăng sức “đề kháng” chủ động ngăn chặn, phòng ngừa nếu không kết hợp chặt chẽ với chủ động tiến công làm thất bại những mưu đồ đen tối, những thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch thì hiệu quả đấu tranh sẽ không cao, kẻ thù sẽ có thời cơ và điều kiện để tổ chức chống phá quyết liệt hơn. Khi ấy, việc phòng ngừa, ngăn chặn có tích cực, chủ động đến đâu vẫn khó đánh bại. Kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa từ xa với chủ động tiến công làm thất bại âm mưu và ý đồ chống phá của các thế lực thù địch từ trong “trứng nước”, từ nơi sinh phát là phương châm đúng đắn, thể hiện rõ tư tưởng cách mạng tiến công trong chỉ đạo đấu tranh, chống “diễn biến hoà bình” của Đảng ta. Yêu cầu cơ bản khi thực hiện phương châm này là, cùng với tích cực, chủ động giữ vững ổn định bên trong, phòng ngừa, ngăn chặn các tác động tiêu cực từ phía các thế lực thù địch, cần phải tích cực, chủ động tổ chức các cuộc phản công, tiên công bằng nhiều hình thức, qui mô, lực lượng, trên nhiều lĩnh vực nhằm làm giảm sức chống phá, tiến tới đánh bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ được mình.

Muốn chống “tự diễn biến”, trước tiên phải lấy tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh làm chuẩn. Bời vì, như tác giả người Nga E.Cô-bê-lép đã viết: Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “hiến dâng toàn bộ cuộc đời tuyệt vời của mình, toàn bộ tài năng của một nhà cách mạng cho sự nghiệp đấu tranh vì tương lai tươi sáng của nhân dân nước mình. Vì sự toàn thắng của  chủ nghĩa Mác-Lênin. Do đó, xét về mặt đấu tranh ý thức hệ, bản thân cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã góp phần chống “diễn biến hoà bình”, chống “tự diễn biến” một cách có hiệu quả.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Cán bộ ở cương vị càng cao càng phải thực sự gương mẫu, nói đi đôi với làm, những cán bộ, đảng viên có sai phạm như tham nhũng, vi phạm nguyên tắc, gây mất đoàn kết nội bộ, làm việc theo kiểu độc đoán, gia trưởng, suy thoái về chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống, tự phê bình và phê bình yếu, quan liêu, xa dân… không được giới thiệu và tham gia vào cấp uỷ các cấp khoá mới.

Yêu cầu chống “tự diễn biến” không có gì là cao xa. Chỉ cần cán bộ đảng viên chịu tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo các cấp thực sự gương mẫu quản lí, cơ quan đơn vị, tổ chức Đảng không để những kẻ biến chất tham gia vào cơ chế lãnh đạo điều hành… thì “diễn biến hoà bình” sẽ tiếp tục bị đẩy lùi”. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ XIII, đang đến gần, cần phải luôn cảnh giác chống lại “Tự diễn biến” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

TRƯỜNG TỒN

NÊU CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA!

         Không phải đến bây giờ chúng ta mới khẳng định điều này mà ngay từ khi thành lập Đảng và trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn duy nhất đúng và chỉ có tuyệt đối trung thành với sự lựa chọn này dân tộc mới được độc lập, nhân dân mới có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Thế nhưng, thời gian gần đây, khi tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, trên một số trang mạng xuất hiện những bài viết có ý “khêu gợi, tư vấn” đường đi, nước bước cho sự phát triển của Việt Nam hiện nay. Thực chất của sự “tư vấn” ấy là gì? đằng sau những khuyến nghị đó ẩn chứa mưu đồ chính trị, mỗi chúng ta phải hết sức cảnh giác.
     Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn duy nhất đúng của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam, đó là xu thế phát triển của lịch sử, không có một thế lực phá hoại nào ngăn cản được bước tiến của dân tộc Việt Nam./.





Yêu nước ST.

 

KHÔNG ĐƯỢC LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO ĐỂ

VI PHẠM PHÁP LUẬT

 

          Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo đảm, tôn trọng trên thực tế.

 

          Từ nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện để người dân thực hành các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh, đúng pháp luật, đồng thời kiên quyết ngăn chặn các hành vi núp bóng tôn giáo để chia rẽ vùng miền, gây mất đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ.

          

 

Một góc nhìn về tự do tôn giáo 

ở Việt Nam


Hơn 30 năm sống trong cộng đồng Việt Nam tại vùng Little Saigon (miền nam California), nơi được ví là “thủ đô tị nạn”, lại hoạt động trong ngành truyền thông, tác giả Nguyễn Quang Trường có cơ hội nhận biết được những hoạt động của nhiều cá nhân, tổ chức cộng đồng trong việc sử dụng tôn giáo như một sức mạnh, phục vụ động cơ chống đối Nhà nước Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua. Mới đây anh đã có bài viết về vấn đề này gửi tới Báo Nhân Dân. Xin trân trọng giới thiệu bài viết này cùng bạn đọc, như một góc nhìn về vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam để cùng tham khảo.

Bài 1: Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá tự do tôn giáo 

Một số người Việt chống cộng ở hải ngoại có quan điểm chống đối chính quyền Việt Nam, đã dựa vào chính sách chung của chính quyền Mỹ, rất coi trọng các quyền tự do, mà trong đó, quyền tự do tôn giáo gần như được xem là hàng đầu, để từ đó tạo những ảnh hưởng, tác động vào các sinh hoạt chính trị trong cộng đồng người Việt Nam. Năm 1988, khi đặt chân lên đất Thái Lan, ngay trong trại tị nạn dành cho người vượt biên, tôi đã rất ngạc nhiên vì trong môi trường đầy khó khăn, thiếu thốn và hoang mang vì tương lai bấp bênh, vô định, thế nhưng các hoạt động về tôn giáo đã diễn ra sôi nổi mang đầy màu sắc chính trị.

CẢNH BÁO TÌNH TRẠNG XIN CHỤP ẢNH CMND, CCCD

 

Theo thông tin từ Bộ Công an hiện nay tại nhiều địa phương xuất hiện nhóm đối tượng xin chụp ảnh CMND, CCCD của người dân, sau đó trả tiền cho mỗi CMND, CCCD chụp hình được.


Do mã QR và chip trên thẻ CCCD chứa rất nhiều thông tin cá nhân của công dân mà tội phạm công nghệ cao có thể triệt để lợi dụng, chỉ cần dựa vào mã QR hoặc thông tin trên thẻ CCCD có thể biết rõ thông tin cá nhân của công dân. Từ đó, nguy cơ tội phạm dùng hình ảnh CMND, CCCD của công dân để đăng ký tài khoản ngân hàng, vay tiền trên app, đăng ký số điện thoại trả sau, đăng ký mã số thuế ảo... 


Trước tình trạng trên, Công an tỉnh Bình Dương khuyến cáo, người dân nâng cao cảnh giác, chủ động bảo vệ dữ liệu, thông tin cá nhân, thông tin tài khoản của cá nhân, không nên chia sẻ hình ảnh CMND, CCCD trên mạng xã hội, không cung cấp thông tin cá nhân và không cho đối tượng lạ chụp ảnh CMND, CCCD mà không rõ mục đích. Nếu phát hiện tình trạng trên, người dân cần báo ngay cơ quan Công an gần nhất để có biện pháp xử lý kịp thời. 

NHỮNG HÀNH VI "BẮT NẠT TRỰC TUYẾN" TRẺ EM ĐỀU ĐÁNG LÊN ÁN

Con gái một anh bạn của tôi rất thông minh, học giỏi, là học lớp 9 tại một trường trung học cơ sở ở Hà Nội. Cháu vốn là niềm tự hào của bạn tôi, thế mà cách đây vài tháng, bạn tôi đã rất lo lắng khi nhắc tới cháu.

Từ một cô bé hồn nhiên, yêu đời, cháu bỗng dưng trở nên ít nói, luôn ru rú ở trong phòng, không muốn đi đâu và đáng lo hơn là cháu không muốn tới trường. Tìm hiểu mãi, bạn tôi mới nắm được rằng con gái mình vừa bị một trận công kích, chửi bới từ bạn bè và cả những người không quen biết trên mạng xã hội. Nguyên nhân là vì cháu lỡ chê một bài hát mới của một nam ca sĩ là không hay.

Đáng lo ngại là những câu chuyện như của con gái bạn tôi ngày càng phổ biến. Một khảo sát được công bố gần đây tại Việt Nam cho con số giật mình rằng, khoảng 1/3 số lượng học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông khi được hỏi cho biết mình đã bị bắt nạt trên mạng; có những em vừa là nạn nhân nhưng cũng vừa là thủ phạm của các hành vi bắt nạt trên mạng. Những lý do của việc bắt nạt trên mạng đối với học sinh thì "muôn hình vạn trạng", trong đó không ít chuyện ẩm ương, không đâu như chuyện đầu tóc, quần áo, chuyện có người yêu, rồi ngoại hình béo hay gầy, cao hay thấp, học giỏi hay học kém...

Ai đã từng bị bắt nạt ngoài đời sẽ hiểu rõ cảm giác bị bắt nạt sẽ gây ức chế, thậm chí bế tắc thế nào. Thế nhưng bị bắt nạt trên mạng còn khủng khiếp hơn nhiều. Nạn nhân có thể cũng đã bị đối tượng bắt nạt trực tiếp ngoài đời, nhưng khi đối tượng sử dụng mạng xã hội thì hiệu ứng và hậu quả của việc bắt nạt lớn gấp nhiều lần. Bởi lúc đó, nạn nhân bỗng trở thành kẻ thù của cộng đồng mạng, có cảm giác bị bủa vây tứ phía. Mỗi thành viên mạng sẽ "ném" cho nạn nhân một lời bình luận ác ý. Hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu bình luận ác ý đủ để đánh gục tinh thần nạn nhân. Ở ngoài đời, khi bị bắt nạt, bị tấn công, người ta có thể trốn về nhà hay lánh ở một nơi nào đó, phạm vi ảnh hưởng, khuếch tán thông tin bó hẹp, nhưng khi bị bắt nạt, tấn công trên mạng thì không “chiếc vỏ ốc” nào có thể che chở cho nạn nhân. Sự ác ý, thù địch của cộng đồng mạng gây tổn thương ngay cả khi nạn nhân đang ở trong nhà mình.

Không chỉ học sinh mà ai cũng có thể trở thành nạn nhân của việc bắt nạt trên mạng. Trong thời gian qua, chúng ta thấy trên mạng xã hội xuất hiện rất nhiều vụ ồn ào liên quan tới cá nhân này, cá nhân kia. Có cảm giác như mỗi tuần, cộng đồng mạng lại tìm được cho mình một "con mồi" mới để cắn xé. Việc tấn công ai đó bằng bình luận ác ý dường như trở thành thói quen của không ít người dùng mạng xã hội. Có những người chẳng biết nạn nhân là ai, chẳng biết câu chuyện cụ thể thế nào đã “ném đá”, mà không lường hết những hậu quả.

Luật An ninh mạng đã có quy định bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, có quy định chống các thông tin mạng có nội dung làm nhục, vu khống, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác. Mới đây, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Đó là những động thái rất cần thiết để tạo ra một môi trường mạng an toàn hơn cho mỗi cá nhân, đặc biệt là đối với trẻ em, đối tượng dễ bị tổn thương tâm lý... tránh được những rủi ro kiểu như bị bắt nạt trên mạng./.

 

Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái về chính sách quốc phòng “bốn không”


​        Các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên mọi lĩnh vực; trong đó, có lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Gần đây, nhân sự kiện chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga đang diễn ra ở Ukraine, chúng tìm mọi cách lại xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam.

 

Phản bác luận điệu xuyên tạc chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực


         Lợi dụng việc Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII thảo luận và thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng xấu đã đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội nhiều thông tin, luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, gây phân tâm trong dư luận.

 

Vận dụng tư tưởng tác phẩm “Đường cách mệnh” trong xây dựng đội ngũ giảng viên trường Đảng



          Bên lề Hội thảo khoa học Tác phẩm “Đường cách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc - Giá trị lý luận và thực tiễn, do Học viện Chính trị khu vực III tổ chức vào 26/5 vừa qua, PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III - Chủ trì Hội thảo, đã dành cho phóng viên cuộc trao đổi về tư tưởng Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Đường cách mệnh” với vấn đề xây dựng đội ngũ giảng viên trường Đảng hiện nay.