Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022

 

Bản chất tiên tiến, cách mạng của giai cấp công nhân trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Giai cấp công nhân (GCCN) được sinh ra và phát triển từ nền sản xuất công nghiệp hiện đại và chịu sự tác động trực tiếp từ các cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN). Bài viết tập trung phân tích những tác động của CMCN lần thứ tư đến GCCN hiện nay về số lượng, trình độ, tính thống nhất, đoàn kết và khẳng định bản chất tiên tiến, cách mạng của GCCN càng được củng cố, khẳng định giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ những luận điểm phủ nhận sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN trong bối cảnh mới.

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, GCCN có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng GCCN, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi ­sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng thành công CNXH và chủ nghĩa cộng sản. GCCN là sản phẩm, là chủ thể của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, gắn với phương thức lao động công nghiệp có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội; trong xã hội tư bản chủ nghĩa, họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất nên phải bán sức lao động và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. GCCN chịu sự tác động của mọi yếu tố, nhất là những biến đổi lớn lao về công cụ lao động làm thay đổi quá trình lao động của họ do sự tác động của các cuộc CMCN trong lịch sử và hiện nay là cuộc CMCN lần thứ tư.

CMCN lần thứ tư được bắt đầu từ đầu thế kỷ XXI, trên nền tảng của CMCN lần thứ ba, với đặc trưng “là sự cải tiến công nghệ một cách nhanh chóng thông qua việc tăng cường sử dụng truyền thông di động và kết nối internet (“internet vạn vật”), dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ robot, phương tiện tự điều khiển, công nghệ in 3D, nano và công nghệ sinh học, công nghệ điện toán”(1). Trên cơ sở ảnh hưởng bởi các cuộc CMCN trước đây, CMCN lần thứ tư có tác động mạnh mẽ đến GCCN một cách toàn diện, làm cho giai cấp này có những biểu hiện mới về số lượng, cơ cấu, chất lượng; theo đó, góp phần củng cố bản chất tiên tiến, cách mạng, những yếu tố cốt lõi quy định sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN.

1. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư củng cố bản chất tiên tiến của giai cấp công nhân

Bản chất tiên tiến của GCCN trước hết do điều kiện kinh tế quy định. Là giai cấp được sinh ra từ nền sản xuất đại công nghiệp, là sản phẩm và là chủ thể của nền sản xuất đại công nghiệp với sự phân công lao động cao và tính chất xã hội hóa của nền sản xuất đại công nghiệp ngày càng phát triển. Nền sản xuất công nghiệp ấy, cùng những yếu tố cấu thành như máy móc, cách thức tổ chức quản lý sản xuất, trình độ cao của lao động và hợp tác lao động công nghiệp... được C.Mác coi là “những nhà cách mạng” khiến xã hội hiện tại không thể duy trì trạng thái cũ(2). Tính chất xã hội hóa của nền sản xuất công nghiệp là yếu tố sâu xa, khẳng định sứ mệnh lịch sử của GCCN đối với quá trình phát triển văn minh nhân loại. Theo đó, GCCN có trình độ sản xuất hiện đại nhất, tiên tiến nhất, được trang bị và đổi mới, phát triển không ngừng về tri thức và kỹ năng.

Cũng như các cuộc cách mạng trong lịch sử, CMCN lần thứ tư tiếp tục củng cố những điều kiện cho tính chất tiên tiến của GCCN, cụ thể:

Thứ nhất, CMCN lần thứ tư góp phần gia tăng số lượng công nhân trên thế giới

Quy mô và sự phát triển liên tục của GCCN cũng là một minh chứng khẳng định vị trí ngày càng vững chắc mà GCCN nắm giữ trong sự phát triển năng động của hệ thống tư bản. Trên thực tế, số lượng người lao động, số lượng công nhân (lao động bằng phương thức công nghiệp) đều gia tăng qua các cuộc CMCN. Điều này được chứng minh thông qua các báo cáo số lượng lao động của các tổ chức quốc tế lớn (Ngân hàng thế giới - WB, Tổ chức Lao động quốc tế ILO) hoặc các nghiên cứu khoa học uy tín. Dù các số liệu có thể khác nhau đôi chút, nhưng bức tranh toàn cảnh là sự tăng lên mạnh mẽ của lao động nói chung trong đó có công nhân(3). Theo ILO, thế giới hiện nay có khoảng 3,3 tỷ lao động, trong đó, công nhân là lực lượng lao động được trả công và lao động theo phương thức công nghiệp có khoảng 2 tỷ (chiếm trên 60% số lao động toàn cầu)(4). Thực tế, lịch sử phát triển của các cuộc CMCN cũng cho thấy, việc ứng dụng công nghệ ngày càng tạo ra số lượng việc làm mới nhiều hơn số việc làm bị mất đi(5): Một kết quả nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, trong giai đoạn năm 1850- 2015, việc ứng dụng máy móc và công nghệ đã làm mất đi 3.508 việc làm, nhưng lại tạo ra 19.263 việc làm mới(6) (ví dụ, từ năm 1980 đến năm 2015, máy tính cá nhân (PC) đã làm mất đi hơn 3 triệu việc làm ở Mỹ, nhưng nó cũng tạo thêm 19,2 triệu việc làm mới). Theo Báo cáo Tương lai nghề nghiệp 2018 (The Future of Jobs 2018) của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), khoảng 75 triệu việc làm sẽ bị thay thế nhưng sẽ có khoảng 133 triệu việc làm được tạo ra vào năm 2022 ở các nền kinh tế phát triển và mới nổi(7).

Số việc làm mới được tạo ra đồng nghĩa với việc số lượng lao động, số lượng công nhân tăng dưới sự tác động của CMCN, và sẽ tập trung tăng ở lĩnh vực dịch vụ và công nghệ cao. Nhìn chung, CMCN lần thứ tư làm thay đổi loại hình việc làm chứ không làm giảm số lượng việc làm; Vì vậy, không làm giảm số lượng người lao động, trong đó có công nhân.

Thực tế, xu hướng ngày càng phát triển về số lượng GCCN do sự phát triển của các cuộc CMCN trong đó có CMCN lần thứ tư đã phủ nhận luận điểm cho rằng, công nghệ ngày càng thay thế sức lao động của con người, nên số lượng công nhân sẽ giảm, từ đó sẽ dẫn đến phủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN. Chẳng hạn Alvin Toffler trong “Làn sóng thứ ba” cho rằng: “Hiện nay số phần trăm công nhân làm việc ở các ngành sản xuất trong các quốc gia tiên tiến đã và đang giảm trong 20 năm qua... do sự co lại về sản xuất trong thế giới công nghiệp”(8). Hoặc như quan điểm của Lưu Bảo Quốc trong “Từ phần tử trí thức của giai cấp đến giai cấp của phần tử trí thức” đã nhận định: Kinh tế tri thức làm “không có người ở nhà máy”, dùng máy tính và người máy để điều khiển lao động..., nên dẫn đến sự thu hẹp của giai cấp vô sản công nghiệp, từ đó “giai cấp công nhân trong thời đại kinh tế công nghiệp cũng mất đi vai trò quan trọng trong xã hội”(9).

Sự phát triển về số lượng của GCCN là một tất yếu khách quan, tạo ra một lực lượng to lớn sẽ thực hiện một cuộc cách mạng khác tất cả các cuộc cách mạng trong lịch sử: “Phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu cầu lợi ích cho khối đại đa số”(10).

Thứ hai, CMCN lần thứ tư góp phần nâng cao trình độ của người công nhân

Những tiến bộ của khoa học và công nghệ bởi CMCN lần thứ tư đồng nghĩa với việc lao động theo phương thức công nghiệp có phạm vi hoạt động phức tạp hơn. Các ngành công nghiệp sáng tạo sẽ ngày càng phát triển, đòi hỏi những người công nhân tham gia quá trình đó phải có trình độ cao hơn những kỹ năng cơ bản.

Với việc ứng dụng công nghệ ngày càng mạnh mẽ vào các hoạt động kinh tế, dẫn đến một bộ phận không nhỏ lao động giản đơn bị công nghệ thay thế, đòi hỏi công nhân phải tiếp tục bồi dưỡng kỹ năng, trình độ để có thể tiếp tục được tham gia vào quá trình sản xuất. Đồng thời, với những công việc mới được tạo ra bởi cuộc CMCN lần thứ tư, công nhân cũng cần phải được đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng để thích nghi với những công nghệ mới. Nâng cao năng lực của công nhân trở thành xu hướng trong CMCN lần thứ tư. Hệ thống các kỹ năng được chú trọng, như: kỹ năng cứng (trước hết là các kỹ năng số nhằm đáp ứng tiêu chuẩn năng lực công nghệ thông tin cao hơn trong tương lai để thích ứng với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo, Internet kết nối vạn vật (IoT, S.M.A.C) và kỹ năng mềm (kỹ năng học tập suốt đời, tư duy phân tích và đổi mới, chiến lược học tập và học tập tích cực, sáng tạo, tính độc đáo và sáng kiến, thiết kế và lập trình công nghệ, tư duy phân tích và  phản biện, khả năng giải quyết vấn đề phức tạp, lãnh đạo và ảnh hưởng xã hội, trí tuệ cảm xúc, lý luận, giải quyết vấn đề và ý tưởng, phân tích và đánh giá mang tính hệ thống(11). Diễn đàn kinh tế thế giới cũng dự báo rằng, đến năm 2022, sẽ có khoảng 54% lao động được đào tạo lại kỹ năng và nâng cao kỹ năng để thích ứng với CMCN lần thứ tư(12).

Từ những xu hướng trên, bộ phận công nhân có trình độ cao ngày càng tăng: công nhân “cổ trắng” (white - collar worker), công nhân “cổ vàng” (gold - collar worker)(13) - những lao động gián tiếp; công nhân trí thức (Knowledge worker)(14), lao động với năng suất lao động cao, như: các chuyên gia công nghệ (các chuyên gia lập trình và thiết kế web, kỹ sư, nhà thiết kế...). Hiện nay, trên thế giới có hơn 1 tỷ lao động trí thức(15).

Như vậy, nội bộ GCCN có sự thay đổi giai tầng dẫn đến việc xuất hiện các quan điểm có liên quan đến GCCN như “Thuyết tiêu vong”, “Thuyết tan rã”, “Thuyết giai tầng trung gian”... gây hoài nghi đối với lý luận giai cấp của C.Mác và Ph.Ănghen(16).

Theo đó, một số học giả cho rằng: GCCN trong quan niệm của các nhà kinh điển mác xít chủ yếu là lao động chân tay và đã bị “giai cấp trung lưu mới” hay “giai cấp mới” thay thế, từ đó, GCCN không còn sứ mệnh lịch sử nữa. Các nhà tư tưởng như Andre Gorz, Luxembourg Hoffman đã tuyên bố rằng, GCCN truyền thống đã không tồn tại, nên hiện nay phải tìm kiếm lại chủ thể, xem xét lại “ai sẽ là người đảm nhận giải phóng xã hội”(17). Tác giả Lưu Quốc Bảo cho rằng: trong nền kinh tế trí thức, phần tử trí thức nắm vững công cụ sản xuất là máy tính (điều khiển nó, sắp xếp, ứng dụng những ký hiệu tin tức, tác động gián tiếp lên đối tượng lao động, gián tiếp tham gia sản xuất vật chất, do đó phần tử trí thức là đại biểu của lực lượng sản xuất tiên tiến, là người lao động chủ yếu của xã hội...(18).

Những quan điểm trên thực ra đã bỏ qua sự biện chứng của C.Mác, Ph.Ănghen trong quá trình nhận thức về GCCN. Các nhà kinh điển mác xít đã khẳng định: GCCN không phải chỉ là những người lao động chân tay, bộ phận lao động trực tiếp, mà còn bao gồm lao động trí óc, lao động gián tiếp, là “tất cả những người tham gia bằng cách này hay cách khác vào việc sản xuất ra hàng hoá...”(19).

Hơn nữa, những “phần tử trí thức” được tác giả Lưu Quốc Bảo đề cập đến không phải là bộ phận giai tầng nào khác, mà về bản chất chính là bộ phận thuộc về GCCN - công nhân trí thức, vì họ nắm vững công cụ sản xuất là máy tính: điều khiển nó, sắp xếp, ứng dụng những ký hiệu tin tức, tác động gián tiếp lên đối tượng lao động, gián tiếp tham gia sản xuất vật chất... Cuộc CMCN lần thứ tư tiếp tục sản sinh ra những công nhân trí thức, đồng thời cũng là những người làm chủ công nghệ mới thông qua việc sáng chế, điều khiển nó, nhằm phục vụ quá trình sản xuất rất đa dạng, mới mẻ và các hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực công nghiệp và hoạt động theo lối công nghiệp trong xã hội mới. Điểm chung ở họ - những người công nhân, dù là công nhân lao động chân tay hay lao động trí óc, lao động trực tiếp hay gián tiếp thì đều tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa (hàng hóa vật phẩm và hàng hóa dịch vụ, hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình), tham gia chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng lao động toàn cầu ngày càng phát triển mạnh mẽ. Những công nhân ấy đều là biểu hiện của bộ phận thuộc GCCN mang tính toàn thể. Trong sự phân tầng ấy, công nhân trí thức đang là lực lượng chủ đạo của GCCN, giống như C.Mác đã coi bộ phận công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp ở thế kỷ XVIII, XIX là hạt nhân, nòng cốt của GCCN thời kỳ đó.

Như vậy, CMCN lần thứ tư đang góp phần phát triển GCCN cả về số lượng và chất lượng, nhấn mạnh bản chất tiên tiến của lực lượng xã hội này, trước hết là xét trên phương diện kinh tế - kỹ thuật. Thực tiễn này cũng đã góp phần phản bác những luận điệu phủ nhận sự thật GCCN đang phát triển mạnh mẽ, phủ nhận vai trò và sứ mệnh lịch sử của GCCN đã và đang được các điều kiện khách quan quy định một cách tất yếu.

2. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư góp phần nâng cao khả năng thống nhất, đoàn kết của giai cấp công nhân

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã khẳng định: “sự phát triển của công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn”(20). Sự phát triển của các cuộc CMCN, trong đó có CMCN lần thứ tư đã và đang minh chứng cho tính đúng đắn của luận điểm này.

Thứ nhất, tính thống nhất trước hết được dựa trên cơ sở của sự liên kết ngày càng mạnh mẽ trong quá trình lao động. Thực vậy, khi lao động theo phương thức công nghiệp với đặc trưng là tính chất xã hội hoá ngày càng phát triển thì sự phân công lao động cũng ngày càng sâu sắc, từ đó càng tăng cường sự liên kết trong quy trình lao động: giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác. Điều này đã được thể hiện rất rõ qua các cuộc CMCN trước đây. Trên cơ sở những thành tựu trước đó, việc hợp tác kinh tế càng được phát triển mạnh mẽ với sự hình thành và phát triển của các tập đoàn xuyên quốc gia, làm thay đổi bản chất của phân công lao động quốc tế từ chiều dọc sang chiều ngang: lao động của các quốc gia có thể tham gia vào các công đoạn sản xuất một sản phẩm cụ thể của bất cứ tập đoàn kinh tế nào, tức là tham gia vào chuỗi giá trị với một hoạt động cụ thể. Từ đó, việc sản xuất và trao đổi theo các chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVCs) đã trở thành phổ biến trong liên kết quốc tế, cùng với đó là các hình thức liên kết phong phú khác như mạng sản xuất, xuất khẩu lao động tại chỗ, làm việc theo nhóm chuyên gia...

Trên nền tảng đó, CMCN lần thứ tư càng phát huy, kết nối toàn cầu trong sản xuất và dịch vụ. Báo cáo Phát triển chuỗi giá trị toàn cầu năm 2019 của WTO và WEF cho rằng: Ở lĩnh vực nào mà sự ứng dụng công nghệ và trí thức càng cao thì càng phát triển phức tạp chuỗi giá trị toàn cầu(21). Theo đó, chuỗi cung ứng toàn cầu lúc này chuyển thành chuỗi cung ứng 4.0, với việc tổ chức lại các chuỗi cung ứng từ việc thiết kế, lập kế hoạch, sản xuất, phân phối, tiêu thụ, vận chuyển... bằng việc sử dụng thành tựu về công nghệ của 4.0 (IoT, big data, in 3D, robot, cảm biến thông minh, IA, điện toán đám mây...); từ đó, cũng tác động trực tiếp đến phân công và liên kết GCCN toàn cầu.

Thứ hai, tính thống nhất từ một số tác động tiêu cực của CMCN lần thứ tư. Một trong những tác động tiêu cực đó là sự bất bình đẳng xã hội. Đó là khoảng cách thu nhập trong công nhân và bất bình đẳng về giới ngày càng gia tăng trong cuộc cách mạng này. Trong cuốn “The Fourth Industrial Revolution” (năm 2016), tác giả Klaus Schwab - Chủ tịch điều hành Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) nhận định: “Với sự phát triển của CMCN lần thứ tư, nhiều ngành nghề mới xuất hiện..., có thể làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng tách biệt với các phân đoạn tay nghề thấp/lương thấp và tay nghề cao/lương cao..., sẽ dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng và căng thẳng xã hội, trừ khi chúng ta chuẩn bị cho những thay đổi này từ ngày hôm nay”(22). Hơn nữa, để thích nghi với những thay đổi của công nghệ, công nhân luôn phải nỗ lực về sức lực, thời gian, không có sự cân bằng giữa lao động và các hoạt động tái tạo sức lao động, có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực về tâm lý (hiện tượng “karoshi” ở Nhật Bản).

Như vậy, liên kết ngày càng mạnh mẽ từ tính xã hội hoá ngày càng cao trong lực lượng sản xuất, cùng với những bất ổn xã hội và sự bóc lột từ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo nên bởi CMCN như những điều kiện khách quan tiếp tục quy định và củng cố tính thống nhất, tính chiến đấu của GCCN trong bối cảnh mới. Cũng vì lẽ đó, hiện nay chúng ta đang chứng kiến những hành động mạnh mẽ có tính chất chiến đấu của công nhân, lao động ở một số nước tư bản nhằm chống lại sự bất bình đẳng xã hội (Cuộc “đình công nữ quyền” của 5 triệu công nhân ở Tây Ban Nha năm 2018; biểu tình của công nhân ở Pháp, Anh, Đức đòi quyền bình đẳng và phúc lợi xã hội...) cho thấy các phương thức tổ chức và đấu tranh truyền thống của giai cấp công nhân sẽ phát triển trở lại, ở những hình thức mới và cấp độ cao hơn(23). Mặc dù đây chưa phải là biểu hiện của tính thống nhất cao nhất - khi giai cấp nhận thức được về lợi ích cùng chung ý thức hệ, “ý thức về điều kiện giải phóng” bởi vai trò của các tổ chức cách mạng chưa thực sự mạnh mẽ để tập hợp công nhân, nhưng đây cũng là những dấu hiệu của “một cuộc đấu tranh phía trước”.

Tính thống nhất (về lợi ích kinh tế và chính trị) là nền tảng cho tinh thần đoàn kết của GCCN ở nhiều cấp độ. Vì vậy, những tác động của CMCN lần thứ tư một lần nữa khẳng định luận điểm của C.Mác: “Sự tiến bộ của công nghiệp mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên”(24). Những điều kiện khách quan từ cuộc cách mạng đó cùng với những nỗ lực của các đảng cộng sản; phong trào công nhân; phong trào đấu tranh vì dân chủ, tiến bộ, hoà bình; các mục tiêu và hành động của quốc tế phát triển vì con người, vì mục tiêu phát triển bền vững, thống nhất với mục tiêu đấu tranh của giai cấp công nhân... đã, đang và sẽ là những cộng lực thống nhất, tạo nên sức mạnh đoàn kết tổng hợp. Điều này đã góp phần phủ nhận luận điệu cho rằng “những người vô sản trên thế giới ngày càng bị phân tán”(25) nhằm phủ định sức mạnh thống nhất, đoàn kết của GCCN.

Ở các nước phát triển theo con đường XHCN, GCCN “là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản...; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”(26); “Công nhân sản xuất là lực lượng chủ thể phát huy tác dụng duy trì, chống đỡ trong GCCN, là lực lượng trung kiên sáng tạo ra của cải của xã hội, là lực lượng cốt cán sáng tạo ra động cơ phát triển, là lực lượng hữu sinh thực thi chiến lược xây dựng cường quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời đại mới”(27). CMCN lần thứ tư là một điều kiện khách quan, mang lại những thuận lợi cho quá trình phát triển GCCN về lượng và chất, góp phần tăng thêm sức mạnh cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN trong bối cảnh mới.

Nhìn một cách tổng thể, sự tác động của CMCN lần thứ tư đến GCCN như một bức tranh biện chứng ở nhiều tầng nấc giữa các yếu tố tham gia quá trình sản xuất, nổi bật là giữa người lao động và công cụ lao động. CMCN lần thứ tư là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến bản chất vốn luôn “động” của công cụ lao động hiện đại, làm biến đổi chủ thể lao động một cách biện chứng dưới nhiều khía cạnh. Đó là xu hướng vừa tăng lên về số lượng ở những ngành nghề, công việc mới, vừa giảm về số lượng công nhân ở những ngành, công việc bị máy móc thay thế, nhưng xu hướng tăng lên là chủ đạo và tăng về lao động trí óc, công nhân tri thức. Xu hướng này tiếp tục chứng minh cho một logic lịch sử: Logic của các cuộc CMCN là một quá trình liên tục giải phóng con người thoát khỏi “nỗi cực nhọc cổ truyền của lao động” đã được chứng minh rất rõ qua ba cuộc CMCN trước đó. Sự biện chứng còn thể hiện ở chỗ, CMCN lần thứ tư vừa thúc đẩy tính liên kết, tập trung, vừa tạo ra sự phân hoá tầng lớp trong giai cấp và xu hướng tập trung là chủ đạo, sự phân hóa chỉ là biểu hiện tạm thời và càng làm tăng thêm tính thống nhất.

Bởi vậy, thực tiễn luôn đòi hỏi sự nhìn nhận biện chứng về GCCN, thấy được những biến đổi đều xoay quanh trục bản chất tiến bộ, cách mạng đã được định hình. Từ đó cũng thấy rằng, những quan điểm phủ nhận vai trò, sứ mệnh của GCCN trong bối cảnh phát triển của công nghệ mới chỉ là những cái nhìn bề nổi, hình thức, hiện tượng, đòi hỏi mỗi quốc gia, tổ chức có nhận thức và chính sách phù hợp với bản chất và xu thế khách quan. Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về những tác động của CMCN lần thứ tư đến GCCN không chỉ góp phần bảo vệ quan điểm của lý luận Mác - Lênin, chống lại những luận điệu sai trái, mà còn là cơ sở lý luận vận dụng vào phát triển GCCN, trong đó, có GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới. Theo đó, để xây dựng GCCN Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã một lần nữa đặt ra yêu cầu “nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(28), góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021- 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

 _Nguồn: LLCT_

(1) Cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam: Hàm ý đối với thị trường lao động, https://www.ilo.org.

(2) Xem Nguyễn An Ninh: Thực hiện nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, https://www.tapchicongsan.org.vn.

(3) Xem Nguyễn An Ninh: Những nhận thức mới về giai cấp công nhân hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn.

(4) Xem ILO: World Employment and Social Outlook Trends 2020, executive summart, p.3.

(5), (6) Xem McKinsey Global Institute: Jobs lost, jobs gained: Workforce transition in a time of automation, p.4, p.5.

(7) Xem World Economic Forum: The Future of Jobs 2018, p.8.

(8) Alvin Toffler: Làn sóng thứ ba, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2002, tr.159.

(9),(18) Nguyễn Quốc Phẩm: Phê phán sự phủ nhận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1-2008, tr. 49,49.

(10), (20), (24) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.611, 607, 613.

(11) World Economic Forum: The Future of Jobs Report 2018, p.12.

(12) World Economic Forum: Globalization 4.0 Shaping a New Global Architecture in the Age of the Fourth Industrial Revolution.

(13) JÓZSEFHAJDÚ: Colours of the collar in the labour market, page.264, http://acta.bibl.u-szeged.hu.

(14) Anna Bagieska: Modeling knowlede workers cometences, p.55.

(15) https://www.forbes.com.

(16), (17), (27) Xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Các học giả Trung Quốc bàn về giai cấp công nhân Trung Quốc thời đại mới, Hà Nội, 2020, tr.26, 28, 352.

(19) C.Mác và Ph.Ănghen: Toàn tập, t.26, P.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.196.

(21) Xem WTO: Global value chain development Report 2019, p.1.

(22) Klaus Schwab: The Fourth Industrial Revolution.

(23) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Một số nghiên cứu về giai cấp công nhân trên thế giới hiện nay, Hà Nội, tr. 28

(25) C.Wright Mills: The Power Elite.

(26) ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa X Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 (28) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.166.

 

 

 

Trọng dụng người tài trong kỷ nguyên số

 Phát hiện sớm, chọn đúng người tài; thật sự trọng dụng người tài; tạo môi trường thuận lợi để người tài phát huy sáng tạo; biết dùng người tài đúng lúc, đúng việc, đúng chỗ; có chính sách đãi ngộ xứng đáng... là một phần của khâu đột phá trong công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.

Thế giới đang thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo chính xác về tất cả các mặt trong đời sống xã hội; từ kinh tế, chính trị đến việc tổ chức, cung cách quản lý và điều hành xã hội đều chịu sự tác động mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là những thành tựu trong chuyển đổi số (Digital Transformation) và trí tuệ nhân tạo (AI) chắc chắn sẽ làm cho cơ cấu xã hội biến đổi, làm cho các tổ chức chính quyền nhà nước ở các cấp nhỏ gọn, thông minh hơn, công việc được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn. Nói cách khác, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo không những làm thay đổi cung cách tổ chức, điều hành và quản trị xã hội mà còn làm thay đổi cả cách suy nghĩ, ứng xử, lối tư duy của con người...

Bên cạnh những thành tựu to lớn, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo cũng có thể dẫn đến tình trạng mất/thiếu việc làm đối với những người lao động có trình độ học vấn - nghề nghiệp thấp hoặc không theo kịp sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Bởi vậy, nếu chậm trễ trong cuộc cách mạng mới này thì các nước đang phát triển và kém phát triển sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn so với các nước phát triển; cơ hội để đuổi kịp các nước phát triển sẽ càng trở nên mong manh; sự bất bình đẳng giữa các quốc gia cũng vì vậy mà càng gia tăng, khó khắc phục.

Trong bối cảnh đó, đứng trước nhiều thách thức, bất lợi và những biến động khó lường, dù “đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”(1) nhưng nếu Việt Nam muốn rút ngắn được khoảng cách với các nước phát triển, để “đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(2) thì nhất định Đảng và Nhà nước phải tìm ra, xác định “đúng và trúng” đồng thời giải quyết tốt các khâu đột phá chiến lược.

Nhất quán với Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định 3 khâu đột phá chiến lược: 1) Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 2) Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội.

Đối với nước ta, trong điều kiện hiện nay, cả 3 đột phá đó đều rất cần thiết, rất cấp bách và rất quan trọng. Song, theo chúng tôi, điều cấp bách nhất hiện nay, cũng là “điểm nghẽn” cần chú tâm tháo gỡ trước nhất chính là vấn đề thiếu người tài trong khoa học, công nghệ, tổ chức, kinh doanh và quản lý xã hội. Bởi vậy, khâu đột phá phải được tính đến là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng một cách thật hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao, trong đó có tầng lớp trí thức tinh hoa của dân tộc. Về cơ bản, cho đến nay “chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển”(3) của đất nước. Bởi vậy, Đảng ta xác định, việc phát triển toàn diện con người Việt Nam phải “trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”(4).

Nói cách khác, muốn đất nước đạt được các mục tiêu phát triển đã đề ra thì Đảng và Nhà nước phải khẩn trương, tích cực tìm kiếm, phát hiện sớm người tài, chọn đúng người tài; phải thật sự trọng dụng người tài; tạo môi trường thuận lợi để người tài sáng tạo, phát minh; phải biết dùng người tài đúng lúc, đúng việc, đúng chỗ; phải có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với người tài nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ cho các lĩnh vực sáng tạo khoa học, phát minh công nghệ, điều hành, quản lý và tổ chức xã hội. Đây cũng chính là một phần của khâu đột phá trong công tác tổ chức, công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.

Thế hệ hôm nay cần phải học và thực hành cho được bài học mà cha ông ta đã nói, đã viết, đã làm được cách đây nhiều thế kỷ: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước kém và suy, cho nên các đấng Thánh đế Minh vương không ai không chăm lo việc gây dựng nhân tài, bồi đắp nguyên khí”(5).

Kế tục truyền thống dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, kháng chiến và xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng việc tập hợp, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài. Người khẳng định, “kiến thiết cần có nhân tài”; “cách mạng cũng cần có lực lượng của trí thức (chúng ta quen gọi là lao động trí óc)”; “trong xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang”... Đối với Hồ Chí Minh, trong mọi việc “phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”(6). Người xác định, “để xây dựng nước nhà, chúng ta càng ngày càng cần nhiều trí thức tốt”, do vậy,  “Đảng và Chính phủ vừa phải giúp đỡ cho thế hệ trí thức ngày nay càng ngày càng tiến bộ, vừa phải ra sức đào tạo thêm trí thức mới” - những trí thức “chính tâm và thân dân”(7). Nhờ thống nhất giữa nói và làm trong việc trọng dụng người tài, nên Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều trí thức tài ba ở tất cả các lĩnh vực ngay từ những ngày đầu lập nước. Những cán bộ tài năng đó đều được “thử lửa” trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đều tuyệt đối trung thành với Tổ quốc; từ các cương vị được giao, họ đã tận tụy tham gia kháng chiến, chế tạo vũ khí phục vụ chiến đấu, sản xuất thuốc men phục vụ sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân và tích cực đóng góp công sức, trí tuệ vào sự nghiệp xây dựng đất nước…

Đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội XII, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội XIII khẳng định, việc “phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”(8); trong Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 cũng khẳng định “phát triển con người toàn diện”, đồng thời “tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài”(9).

Mặc dù trong nhiều nhiệm kỳ kể từ Đại hội XII trở về trước, Đảng ta đã xác định chú trọng việc bồi dưỡng và trọng dụng người tài trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực khoa học và công nghệ, song tiếc rằng, trong thực tế, yêu cầu trọng dụng người tài chưa trở thành quốc sách hay chiến lược quốc gia. Chúng ta vẫn còn “thiếu cơ chế, chính sách tuyển chọn và trọng dụng nhân tài”(10); “thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm cả ở khu vực nhà nước và khu vực tư nhân”(11).

 Trong suốt một thời gian dài, trong các văn kiện chính thức mới chỉ nói trọng dụng nhân tài mà chưa đưa ra những quy định cụ thể để vận dụng vào thực tiễn. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII đã thẳng thắn nhìn nhận: “Cơ chế và chính sách cán bộ trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nặng về hành chính hóa, chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy tính sáng tạo, thu hút nhân tài”(12).

Trên bình diện quốc gia, đã đến lúc Đảng và Nhà nước cần quyết liệt, mạnh mẽ hơn trong triển khai, thực thiện chiến lược, chính sách, quốc sách về tìm và chọn người tài; trong đó quan tâm hơn nữa đến “trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng”(13). Đồng thời, “phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp, nhân lực quản lý xã hội và tố chức cuộc sống, chăm sóc con người”(14). Muốn vậy, trước hết cần xác định rõ tiêu chuẩn người tài là gì; ai hay cơ quan nào là người chịu trách nhiệm giới thiệu và lựa chọn; cách thức lựa chọn ra sao; điều kiện hay môi trường làm việc, chế độ bồi dưỡng, đãi ngộ người tài như thế nào. v.v.. Những vấn đề này chưa có quy định mang tính thể chế. Bởi vậy, Đại hội XIII của Đảng đặt ra nhiệm vụ phải “đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”(15). Theo đó, các cơ quan có trách nhiệm cần biến chủ trương quan trọng này của Đảng thành hiện thực của cuộc sống nhằm thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên công nghệ số.


Như chúng ta biết, hai tháng sau khi nước nhà giành được độc lập, ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”(16). Đồng thời, Người chỉ thị cho các địa phương báo cáo cho Chính phủ về người tài ở địa phương mình. Một năm sau, ngày 20/11/1946, Người lại viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân.... Muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết…”(17). Đó là việc làm cần kíp khi nước nhà mới giành được độc lập.

So với những ngày mới thành lập nước, đất nước ta hiện nay chắc chắn có nhiều người tài hơn và cũng cần nhiều người tài hơn ở tất cả các lĩnh vực - từ tổ chức, quản lý và quản trị quốc gia và xã hội; phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, ngoại giao, quốc phòng cho đến các lĩnh vực như văn hóa, nghệ thuật, v.v.. Những nhân tài thuộc các lĩnh vực này chính là tầng lớp tinh hoa của dân tộc.

Làm sao để có thể phát hiện ra những người tài? Theo Hồ Chí Minh, “muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo… bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài”(18). Như vậy, việc phát hiện người tài là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nhà nước và các tổ chức xã hội, đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi công dân. Ngày nay, chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi để các địa phương, ngành, cá nhân phát hiện và giới thiệu người tài cho Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Khi người tài có đóng góp quan trọng cho đất nước thuộc bất cứ lĩnh vực nào thì người giới thiệu cũng cần được khen thưởng xứng đáng.

Phát hiện, giới thiệu hay tuyển chọn được người tài mới chỉ là bước đầu. Vấn đề tiếp theo là phải tạo điều kiện, môi trường làm việc như thế nào và sử dụng ra sao để người tài có thể đóng góp tối đa khả năng của mình cho đất nước. Không nên nghĩ rằng người tài “ném” vào lĩnh vực hoạt động nào cũng được; càng không nên nghĩ rằng, đã là người tài thì làm được mọi việc. Điều này cũng tương tự như quan niệm cho rằng: đã là cán bộ có “cấp bậc, phẩm hàm” thì phân công làm việc gì cũng được, phụ trách lĩnh vực nào cũng được, kể cả trái ngành nghề. Ở đây cần trở lại với những chỉ dạy của Hồ Chí Minh: “phải dùng người đúng chỗ, đúng việc”; “phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc”; sử dụng cán bộ đừng nên “thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao…”(19). Tổ chức nào giao công việc không phù hợp với năng lực chuyên môn, trái sở trường của cán bộ, của người tài, thì không chỉ là sự lãng phí tài năng mà tai hại hơn còn có thể còn làm thui chột năng lực, phẩm chất tài năng của họ.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo, bố trí công việc và “đối đãi đúng mực” với người tài để không chỉ phát huy được không khí dân chủ mà quan trọng hơn là khích lệ lòng tự trọng, phát huy nhiệt tình, “giải phóng năng lượng”, nhiệt tâm cống hiến vì danh dự… có ý nghĩa rất quan trọng. Đặc biệt, đối với các cơ quan của Đảng và của Nhà nước hiện nay, khi sử dụng người tài ngoài Đảng cần quan tâm hơn đến cách “ứng xử và hành xử” để họ thấy thật sự được tôn trọng, thật sự được trọng dụng; người lãnh đạo, quản lý là đảng viên cần hết sức tránh và “phải tẩy sạch các bệnh kiêu ngạo, hẹp hòi”(20)  đối với người ngoài Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Trong điều kiện và tình hình hiện nay, việc thu hút và trọng dụng người tài ngoài Đảng cần được xem là nhiệm vụ quan trọng và phải trở thành chủ trương, chính sách nhất quán nhằm tăng cường sức mạnh đất nước, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tóm lại, trước những thành tựu, thuận lợi đan xen khó khăn, thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng và Nhà nước ta đang chú trọng tiếp thu và thực hành bài học trọng dụng người tài để đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc; tránh tụt hậu xa hơn. Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài thể hiện trong trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng là một trong 5 quan điểm chỉ đạo cần được quán triệt trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. Cụ thể là “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc (…) bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(21); thiết thực cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng lần thứ XIII: “tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(22)./.

Nguồn: TG

(1) (2) (4) (8) (9) (12) (13) (14) (15) (21) (22) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.104, 112, 65, 65, 115, 83, 167, 231, 231, 110, 160.

(3) (10) (11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.II, tr.70, 75, 76.

(5) Bia Tiến sỹ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tại Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội, do Thân Nhân Trung soạn. Bản dịch trong Tuyển tập Văn bia Hà Nội, Nxb. Khoa học xã hội, 1978, dịch hơi khác như sau: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Vì vậy các đáng Thánh đế Minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sỹ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sỹ không biết thế nào là cùng”. Còn Văn bia Tiến sỹ do Đỗ Nhuận soạn thì viết: “Sự nghiệp trị nước lớn lao của Đế vương không gì cần kíp hơn nhân tài, điển chương chế độ đầy đủ của nhà nước tất phải chở ở bậc hậu Thánh. Bởi vì trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc, chế tác mà không dựa vào hậu Thánh thì đều chỉ là cẩu thả tạm bợ mà thôi, sao có thể đạt tới chính trị phong hoá phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ”.

(6) (18) (19) (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.5, tr.313, 281, 314, 316.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.10, tr.376, 378.

(16) (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.4, tr.114, 504.