Trọng dụng người tài trong kỷ nguyên số
Thế giới đang thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo chính xác về tất cả các mặt trong đời sống xã hội; từ kinh tế, chính trị đến việc tổ chức, cung cách quản lý và điều hành xã hội đều chịu sự tác động mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.
Cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là những thành tựu trong chuyển đổi
số (Digital Transformation) và trí tuệ nhân tạo (AI) chắc chắn sẽ làm cho cơ
cấu xã hội biến đổi, làm cho các tổ chức chính quyền nhà nước ở các cấp nhỏ
gọn, thông minh hơn, công việc được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn. Nói
cách khác, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo không những làm thay đổi cung cách
tổ chức, điều hành và quản trị xã hội mà còn làm thay đổi cả cách suy nghĩ, ứng
xử, lối tư duy của con người...
Bên cạnh
những thành tựu to lớn, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo cũng có thể dẫn đến
tình trạng mất/thiếu việc làm đối với những người lao động có trình độ học vấn
- nghề nghiệp thấp hoặc không theo kịp sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và
công nghệ. Bởi vậy, nếu chậm trễ trong cuộc cách mạng mới này thì các nước đang
phát triển và kém phát triển sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn so với các nước phát
triển; cơ hội để đuổi kịp các nước phát triển sẽ càng trở nên mong manh; sự bất
bình đẳng giữa các quốc gia cũng vì vậy mà càng gia tăng, khó khắc phục.
Trong
bối cảnh đó, đứng trước nhiều thách thức, bất lợi và những biến động khó lường,
dù “đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày
nay”(1) nhưng nếu Việt Nam muốn rút ngắn được khoảng cách với các nước phát
triển, để “đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: trở thành nước phát triển,
thu nhập cao”(2) thì nhất định Đảng và Nhà nước phải tìm ra, xác định “đúng và trúng”
đồng thời giải quyết tốt các khâu đột phá chiến lược.
Nhất
quán với Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định 3 khâu
đột phá chiến lược: 1) Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 2) Phát triển nguồn nhân
lực, nhất
là nguồn nhân lực chất lượng cao; 3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội.
Đối với
nước ta, trong điều kiện hiện nay, cả 3 đột phá đó đều rất cần thiết, rất cấp
bách và rất quan trọng. Song, theo chúng tôi, điều cấp bách nhất hiện nay, cũng
là “điểm nghẽn” cần chú tâm tháo gỡ trước nhất chính là vấn đề thiếu người tài trong khoa học, công nghệ, tổ chức, kinh
doanh và quản lý xã hội. Bởi vậy, khâu đột phá phải được tính đến là đào tạo,
bồi dưỡng, sử dụng một cách thật hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất
lượng cao, trong
đó có tầng lớp trí thức tinh hoa của dân tộc. Về cơ bản, cho đến nay “chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển”(3) của đất nước. Bởi vậy, Đảng ta xác định, việc phát triển toàn diện
con người Việt Nam phải “trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội”(4).
Nói
cách khác, muốn đất nước đạt được các mục tiêu phát triển đã đề ra thì Đảng và
Nhà nước phải khẩn trương, tích cực tìm kiếm, phát hiện sớm người tài, chọn
đúng người tài; phải thật sự trọng dụng người tài; tạo môi trường thuận lợi để
người tài sáng tạo, phát minh; phải biết dùng người tài đúng lúc, đúng việc,
đúng chỗ; phải có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với người tài nhằm tạo ra
động lực mạnh mẽ cho các lĩnh vực sáng tạo khoa học, phát minh công nghệ, điều
hành, quản lý và tổ chức xã hội. Đây cũng chính là một phần của khâu đột phá
trong công tác tổ chức, công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa theo
hướng hiện đại.
Thế hệ
hôm nay cần phải học và thực hành cho được bài học mà cha ông ta đã nói, đã
viết, đã làm được cách đây nhiều thế kỷ: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia,
nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước kém và
suy, cho nên các đấng Thánh đế Minh vương không ai không chăm lo việc gây dựng
nhân tài, bồi đắp nguyên khí”(5).
Kế tục
truyền thống dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, kháng chiến và xây
dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng việc tập hợp, bồi dưỡng và
trọng dụng nhân tài. Người khẳng định, “kiến thiết cần có nhân tài”; “cách mạng
cũng cần có lực lượng của trí thức (chúng ta quen gọi là lao động trí óc)”;
“trong xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và
vẻ vang”... Đối với Hồ Chí Minh, trong mọi việc “phải trọng nhân tài, trọng cán
bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”(6). Người xác
định, “để xây dựng nước nhà, chúng ta càng ngày càng cần nhiều trí thức tốt”,
do vậy, “Đảng và Chính phủ vừa phải giúp đỡ cho thế hệ trí thức ngày nay
càng ngày càng tiến bộ, vừa phải ra sức đào tạo thêm trí thức mới” - những trí
thức “chính tâm và thân dân”(7). Nhờ thống nhất giữa nói và làm trong việc
trọng dụng người tài, nên Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều trí thức tài ba ở
tất cả các lĩnh vực ngay từ những ngày đầu lập nước. Những cán bộ tài năng đó
đều được “thử lửa” trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đều
tuyệt đối trung thành với Tổ quốc; từ các cương vị được giao, họ đã tận tụy
tham gia kháng chiến, chế tạo vũ khí phục vụ chiến đấu, sản xuất thuốc men phục
vụ sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân và tích cực đóng góp công sức, trí tuệ
vào sự nghiệp xây dựng đất nước…
Đánh
giá kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội XII, Báo cáo chính trị của Ban chấp
hành Trung ương tại Đại hội XIII khẳng định, việc “phát triển toàn diện con
người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội”(8); trong Định hướng phát triển đất nước giai đoạn
2021-2030 cũng
khẳng định “phát triển con người toàn diện”, đồng thời “tạo đột phá trong đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao và trọng dụng nhân tài”(9).
Mặc dù
trong nhiều nhiệm kỳ kể từ Đại hội XII trở về trước, Đảng ta đã xác định chú
trọng việc bồi dưỡng và trọng dụng người tài trong các lĩnh vực khác nhau,
trong đó có lĩnh vực khoa học và công nghệ, song tiếc rằng, trong thực tế, yêu
cầu trọng dụng người tài chưa trở thành quốc sách hay chiến lược quốc gia. Chúng ta vẫn còn “thiếu cơ chế, chính
sách tuyển chọn và trọng dụng nhân tài”(10); “thiếu cơ chế, chính sách khuyến
khích người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm cả ở khu vực
nhà nước và khu vực tư nhân”(11).
Trên
bình diện quốc gia, đã đến lúc Đảng và Nhà nước cần quyết liệt, mạnh mẽ hơn
trong triển khai, thực thiện chiến lược, chính sách, quốc sách về tìm và chọn
người tài; trong đó quan tâm hơn nữa đến “trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với
nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở
trong nước và nước ngoài, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có
khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng”(13).
Đồng thời, “phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng
đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực
quản lý, quản trị doanh nghiệp, nhân lực quản lý xã hội và tố chức cuộc sống,
chăm sóc con người”(14). Muốn vậy, trước hết cần xác định rõ tiêu chuẩn người tài là gì; ai hay cơ quan nào
là người chịu trách nhiệm giới thiệu và lựa chọn; cách thức lựa chọn ra sao;
điều kiện hay môi trường làm việc, chế độ bồi dưỡng, đãi ngộ người tài như thế
nào. v.v.. Những vấn đề này chưa có quy định mang tính thể chế. Bởi vậy, Đại
hội XIII của Đảng đặt ra nhiệm vụ phải “đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng,
trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo”(15). Theo đó, các cơ quan có trách nhiệm cần biến chủ trương
quan trọng này của Đảng thành hiện thực của cuộc sống nhằm thúc đẩy sự phát
triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên công nghệ số.
Như
chúng ta biết, hai tháng sau khi nước nhà giành được độc lập, ngày 14/11/1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù
chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng
thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”(16). Đồng thời, Người
chỉ thị cho các địa phương báo cáo cho Chính phủ về người tài ở địa phương
mình. Một năm sau, ngày 20/11/1946, Người lại viết: “Trong số 20 triệu đồng bào
chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không
khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân.... Muốn sửa đổi điều đó và
trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có
người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo
ngay cho Chính phủ biết…”(17). Đó là việc làm cần kíp khi nước nhà mới giành
được độc lập.
So với
những ngày mới thành lập nước, đất nước ta hiện nay chắc chắn có nhiều người
tài hơn và cũng cần nhiều người tài hơn ở tất cả các lĩnh vực - từ tổ chức,
quản lý và quản trị quốc gia và xã hội; phát triển kinh tế, khoa học, công
nghệ, giáo dục, ngoại giao, quốc phòng cho đến các lĩnh vực như văn hóa, nghệ
thuật, v.v.. Những nhân tài thuộc các lĩnh vực này chính là tầng lớp tinh hoa của
dân tộc.
Làm sao
để có thể phát hiện ra những người tài? Theo Hồ Chí Minh, “muốn tránh khỏi sự
hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo… bắt buộc cán bộ
trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài”(18). Như vậy,
việc phát hiện người tài là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nhà nước và
các tổ chức xã hội, đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi công dân. Ngày nay,
chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi để các địa phương, ngành, cá nhân phát
hiện và giới thiệu người tài cho Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Khi người tài có
đóng góp quan trọng cho đất nước thuộc bất cứ lĩnh vực nào thì người giới thiệu
cũng cần được khen thưởng xứng đáng.
Phát
hiện, giới thiệu hay tuyển chọn được người tài mới chỉ là bước đầu. Vấn đề tiếp
theo là phải tạo điều kiện, môi trường làm việc như thế nào và sử dụng ra sao
để người tài có thể đóng góp tối đa khả năng của mình cho đất nước. Không nên
nghĩ rằng người tài “ném” vào lĩnh vực hoạt động nào cũng được; càng không nên
nghĩ rằng, đã là người tài thì làm được mọi việc. Điều này cũng tương tự như
quan niệm cho rằng: đã là cán bộ có “cấp bậc, phẩm hàm” thì phân công làm việc
gì cũng được, phụ trách lĩnh vực nào cũng được, kể cả trái ngành nghề. Ở đây
cần trở lại với những chỉ dạy của Hồ Chí Minh: “phải dùng người đúng chỗ, đúng
việc”; “phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng
tài của họ, cũng không được việc”; sử dụng cán bộ đừng nên “thợ rèn thì bảo đi
đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao…”(19). Tổ chức nào giao công việc không phù
hợp với năng lực chuyên môn, trái sở trường của cán bộ, của người tài, thì
không chỉ là sự lãng phí tài năng mà tai hại hơn còn có thể còn làm thui chột
năng lực, phẩm chất tài năng của họ.
Việc
lãnh đạo, chỉ đạo, bố trí công việc và “đối đãi đúng mực” với người tài để
không chỉ phát huy được không khí dân chủ mà quan trọng hơn là khích lệ lòng tự
trọng, phát huy nhiệt tình, “giải phóng năng lượng”, nhiệt tâm cống hiến vì
danh dự… có ý nghĩa rất quan trọng. Đặc biệt, đối với các cơ quan của Đảng và
của Nhà nước hiện nay, khi sử dụng người tài ngoài Đảng cần quan tâm hơn đến cách “ứng xử và
hành xử” để họ thấy thật sự được tôn trọng, thật sự được trọng dụng; người lãnh
đạo, quản lý là đảng viên cần hết sức tránh và “phải tẩy sạch các bệnh kiêu
ngạo, hẹp hòi”(20) đối với người ngoài Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
căn dặn. Trong điều kiện và tình hình hiện nay, việc thu hút và trọng
dụng người tài ngoài Đảng cần được xem là nhiệm vụ quan trọng và phải trở
thành chủ trương, chính sách nhất quán nhằm tăng cường sức mạnh đất nước, củng
cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tóm
lại, trước những thành tựu, thuận lợi đan xen khó khăn, thách thức của cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng và Nhà nước ta đang chú trọng tiếp thu
và thực hành bài học trọng dụng người tài để đưa đất nước tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc; tránh tụt hậu xa hơn. Vấn đề phát hiện, bồi dưỡng,
trọng dụng nhân tài thể
hiện trong trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng là một trong 5 quan điểm
chỉ đạo cần được quán triệt trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. Cụ thể là
“khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc (…) bồi
dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân
tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là
những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho
phát triển nhanh và bền vững đất nước”(21); thiết thực cụ thể hóa các quan điểm
chỉ đạo của Đại hội Đảng lần thứ XIII: “tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách,
nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(22)./.
Nguồn: TG
(1) (2) (4) (8) (9) (12) (13) (14) (15)
(21) (22) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H,
2021, t.I, tr.104, 112, 65, 65, 115, 83, 167, 231, 231, 110, 160.
(3) (10) (11) Đảng Cộng sản Việt
Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII, Sđd, t.II, tr.70, 75, 76.
(5) Bia Tiến sỹ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu
Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tại Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội, do Thân Nhân Trung
soạn. Bản dịch trong Tuyển tập Văn bia Hà Nội, Nxb.
Khoa học xã hội, 1978, dịch hơi khác như sau: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia,
nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu
rồi xuống thấp. Vì vậy các đáng Thánh đế Minh vương chẳng ai không lấy việc bồi
dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sỹ
quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý chuộng kẻ sỹ không biết thế
nào là cùng”. Còn Văn bia Tiến sỹ do
Đỗ Nhuận soạn thì viết: “Sự nghiệp trị nước lớn lao của Đế vương không gì cần
kíp hơn nhân tài, điển chương chế độ đầy đủ của nhà nước tất phải chở ở bậc hậu
Thánh. Bởi vì trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc, chế tác mà không dựa vào
hậu Thánh thì đều chỉ là cẩu thả tạm bợ mà thôi, sao có thể đạt tới chính trị
phong hoá phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ”.
(6) (18) (19) (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.5,
tr.313, 281, 314, 316.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.10, tr.376, 378.
(16) (17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.4, tr.114, 504.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét