Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG CỦA VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC
Cảnh giác với cái gọi là “nhân danh nhân dân” của các thế lực chống phá
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 6/6
Vận dụng phong cách lắng nghe dân, học hỏi dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào công tác dân vận và đấu tranh chống các biểu hiện mị dân, “theo đuôi quần chúng” hiện nay
Lắng nghe dân - một yêu cầu bắt buộc đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhưng trên thực tế, không phải người cán bộ nào cũng làm được cái việc tưởng chừng như rất đơn giản ấy. Biểu hiện của việc không lắng nghe dân chính là căn bệnh “duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu lắng nghe, tiếp thu ý kiến của người khác”, là “quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”(11). Một khi người cán bộ đã không biết lắng nghe dân thì đương nhiên sẽ không thể học hỏi dân; do đó, tầm nhìn của họ sẽ bị hạn chế bởi thiên kiến cá nhân. Điều đó hết sức nguy hiểm cho công tác lãnh đạo của Đảng, cho nên bài học mà Đảng đã rút ra và đặc biệt nhấn mạnh trong tiến trình đổi mới chính là quán triệt quan điểm “dân là gốc” và “đổi mới phải dựa vào dân”.
Niềm tin, sự ủng hộ của nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng, bởi “tài dân, sức dân, của dân” khi ở dạng tiềm năng, muốn chuyển hóa thành sức mạnh vật chất vô song trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì Đảng phải làm tốt công tác dân vận. Tuy nhiên, nếu Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định “công tác dân vận còn nhiều mặt hạn chế” thì Văn kiện Đại hội XIII của Đảng vẫn chỉ rõ “công tác dân vận có nơi, có lúc còn hạn chế”; tức là trên thực tế, công tác dân vận vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, cần phải tiếp tục được cải thiện. Trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện nay, những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong cách lắng nghe, học hỏi quần chúng nhưng “không theo đuôi quần chúng” gợi mở một số giải pháp chủ yếu cho công tác dân vận và đấu tranh chống các biểu hiện mị dân, “theo đuôi quần chúng” trong giai đoạn hiện nay; cụ thể như sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác dân vận và trách nhiệm thực hiện công tác dân vận của toàn bộ hệ thống chính trị.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận. Đó là sai lầm rất to, rất có hại”(12). Đến nay, những chỉ dẫn của Người về công tác dân vận vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Do đó, Đảng phải ra sức tuyên truyền để toàn thể cán bộ, đảng viên thực hiện tốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả những ai tiếp xúc với nhân dân đều phải làm công tác dân vận. Mỗi cán bộ phải nhận thức rõ rằng, trước khi trở thành cán bộ, họ cũng đều là dân và sẽ đều “hoàn dân”, nên khi tiếp xúc, đối thoại với nhân dân thì phải “đặt mình” vào vị trí, hoàn cảnh của người dân để tìm được tiếng nói chung.
Thứ hai, Đảng và Nhà nước phải nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách và luật hóa những quy định về lắng nghe ý kiến của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, “chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi”, trong đó bao gồm cả thắng lợi của công tác dân vận. Ngược lại, nếu đường lối, chính sách chưa đủ “độ chín”, còn thiếu chuẩn xác thì nhân tâm sẽ xao động, công tác dân vận sẽ gặp phải nhiều khó khăn. Để có chính sách đúng thì cán bộ, đảng viên nhất thiết phải nghe dân nói và muốn làm tốt công việc này thì cần phải luật hóa những quy định về việc lắng nghe, tiếp thu và phản hồi ý kiến của nhân dân. Trên thực tế, các địa phương cũng đã ban hành và thực hiện quy chế tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền. Trong nhà nước pháp quyền, mọi người phải hành động theo pháp luật thì việc luật hóa vấn đề tiếp dân, lắng nghe dân, phản hồi ý kiến của nhân dân là việc làm cần thiết.
Thứ ba, công tác dân vận phải hướng mạnh về cơ sở, mềm dẻo, linh động, nắm vững đối tượng và kiên trì trong thực hiện.
Coi gần dân là phẩm chất hàng đầu của người cán bộ nên Chủ tịch Hồ Chí Minh từng “đề nghị các vị Bộ trưởng nên luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi ở bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ”(13). Ngày nay, trong thời đại công nghệ thông tin, cán bộ rất dễ trở nên quan liêu bởi có thể chỉ cần ngồi trong phòng để nghe báo cáo, phổ biến nghị quyết và điều hành công việc bằng hình thức trực tuyến. Tuy nhiên, chẳng “công nghệ” nào phản ánh hết được ý dân, hiểu được lòng dân nếu cán bộ không sâu sát cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng yêu cầu cán bộ khi đi cơ sở thì “phải thật thà nhúng tay vào việc” chứ không sa vào các nghi thức rườm rà; phải tiếp xúc trực tiếp với người dân chứ không chỉ gặp gỡ lãnh đạo. Với mỗi đối tượng cụ thể, cán bộ làm công tác dân vận phải có cách tiếp cận, giải thích và vận động khác nhau sao cho thật phù hợp, hiệu quả. Thực tế cho thấy, cán bộ dân vận thường chú ý vận động những người tích cực để làm lực lượng xung kích trong mọi công việc, phong trào. Điều này không sai, nhưng như thế là chưa đủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc phải chú trọng vận động cả những phần tử “chậm tiến”, tập trung vào những nơi phong trào còn yếu. Lý lẽ của Người rất đơn giản: Nếu quần chúng tốt cả rồi, phong trào nơi nào cũng mạnh rồi thì cần gì phải dân vận nữa? Để thuyết phục được thành phần chậm tiến thì cán bộ dân vận “phải biết nhẫn nại. Nói với người nghe một lần người ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần... Về đức tính này, phải học theo những người đi truyền giáo”(14).
Thứ tư, phải chú trọng dân vận bằng phương pháp nêu gương.
Người cán bộ, đảng viên phải gương mẫu từ việc lớn đến việc nhỏ; phải ý thức rằng, mỗi hành vi sai trái trong việc công lẫn việc tư đều là hành động phản tuyên truyền, đều làm vô hiệu hóa công tác dân vận của Đảng. Muốn làm tốt công tác dân vận thì trước hết, phải làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; bên cạnh đó, cũng cần phải có cơ chế, chế tài để cán bộ không rơi vào căn bệnh “hứa suông”. Thêm nữa, không chỉ sự “quan cách” mà ngay cả cách sống cách biệt và sự hưởng thụ chênh lệch của một bộ phận cán bộ, đảng viên so với quần chúng cũng tạo ra “bức tường vô hình” ngăn cách giữa Đảng và nhân dân. Vì thế, việc thực hành “cần, kiệm, liêm, chính” và sự chan hòa, chân thành của đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng góp phần quan trọng vào thành công của công tác dân vận. Uy quyền có thể làm người ta sợ chứ không thể làm người ta tin yêu và muốn nhân dân tin yêu thì cán bộ “phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.
Thứ năm, cán bộ dân vận phải rèn luyện kỹ năng “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng yêu cầu cán bộ dân vận nói riêng, đội ngũ cán bộ cách mạng nói chung, phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Đặt “óc nghĩ” lên hàng đầu, Người muốn khẳng định, công tác dân vận là một khoa học - khoa học về tâm lý con người, là nghệ thuật - nghệ thuật tiếp cận và vận động con người. Vì thế, cán bộ dân vận phải có trí tuệ, có kỹ năng lắng nghe, nắm bắt, đúc kết ý nguyện chính đáng của quần chúng nhân dân để tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong xây dựng chủ trương, chính sách phù hợp với lòng dân. Họ cũng phải học cách nói của quần chúng, nghĩa là ngắn gọn, sinh động, dễ hiểu để vận động quần chúng nhân dân có hiệu quả. Dù có hiểu biết “Thiên kinh vạn quyển”, nói hay đến đâu mà nhân dân không hiểu thì công tác dân vận vẫn thất bại. Để được nhân dân tin tưởng và làm theo thì người làm công tác dân vận phải có uy tín, phải thực hành phương châm “nói đi đôi với làm”, “nói ít, làm nhiều”.
Thứ sáu, phải kiên quyết chống các hình thức mị dân, “theo đuôi quần chúng”.
Bản chất của “mị dân” là lừa mị, dối trá, phỉnh nịnh, nhằm giành được lòng tin và sự ủng hộ nhất thời của nhân dân để phục vụ cho các mưu đồ xấu. Ở Việt Nam hiện nay, các hình thức “mị dân” đã xuất hiện từ các lực lượng chống phá chế độ và cả ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Các lực lượng thù địch thường nhân danh “quyền con người” để “ru ngủ”, lôi kéo, kích động quần chúng đưa ra những đòi hỏi “tự do, dân chủ” không giới hạn, thiếu tính khả thi; lợi dụng “lòng yêu nước” của nhân dân để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối hòa bình và hợp tác của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tìm mọi cách khuếch trương những hạn chế, khuyết điểm, khó khăn trong đời sống đất nước, nhất là những sai phạm của một số cán bộ trong bộ máy công quyền để kích động quần chúng nhân dân phản ứng, gây rối, làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Mục đích của chúng không phải là “vì dân”, mà là chống phá Đảng, Nhà nước và cuộc sống bình yên của nhân dân.
Giọng điệu “mị dân” còn xuất hiện ở một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất, cơ hội chính trị. Biểu hiện “mị dân” của nhóm người này cũng rất đa dạng; trước hết và phổ biến nhất là việc tách rời giữa lời nói và hành động. Những cán bộ này luôn tỏ ra gần dân, lắng nghe dân, đồng cảm với nhân dân, nhưng hành động thì ngược lại, trái với lợi ích căn bản của quần chúng nhân dân. Đặc điểm chung của những cán bộ này là sự “tiền hậu bất nhất”, khi “nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác, nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc nghỉ hưu”(15). Họ nói “bừa”, dùng những từ “lộng ngôn” nhằm thu hút sự chú ý của nhân dân, giải tỏa sự bức xúc nhất thời của nhân dân nhưng không chịu bất cứ trách nhiệm gì về điều đã nói. Biểu hiện thứ hai của những cán bộ “mị dân” là “nói lời hay nhưng không làm việc tốt”. Họ dùng những lời hay, ý đẹp, đưa ra “những lời thề gây bão” để “đánh bóng” tên tuổi cá nhân, tỏ ra mình là người “đức cao, vọng trọng”, là “người của nhân dân”, nhưng hành vi của họ lại hoàn toàn đối lập với những gì họ đã tuyên bố. Điển hình cho biểu hiện này là việc có cán bộ là người có chức, có quyền đã từng viết sách về chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhưng kết cục lại là người tham gia vào vụ án tham ô, hối lộ nghìn tỷ. Biểu hiện thứ ba của “mị dân” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là “hùa” theo ý nguyện trước mắt và lợi ích cục bộ của một bộ phận dân chúng mà có những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Biểu hiện thứ tư của “mị dân” là đưa ra những tuyên bố “gây sốc” về việc sẽ nhanh chóng giải quyết những hạn chế, bức xúc trong xã hội đi đôi với “ve vuốt”, ca ngợi, phỉnh nịnh dân, coi việc gì dân làm cũng hay, lời nào của dân cũng đúng nhằm tranh thủ, lợi dụng sự ủng hộ của nhân dân hòng tiến thân trên con đường danh lợi cá nhân. Ở đây, vừa là biểu hiện mị dân, vừa là “theo đuôi quần chúng”. Hiện tượng này thường xuất hiện trước những kỳ đại hội Đảng hay bầu cử các cơ quan dân cử. “Mị dân” còn là, khi mắc sai phạm thì tỏ vẻ nhận lỗi rất thành khẩn, thậm chí còn “tự xỉ vả” mình để “xả van phẫn nộ” của nhân dân, nhưng sau đó không thực tâm sửa chữa khuyết điểm. Những kẻ mị dân cũng thường tỏ ra “dễ dãi, bao dung” trước những sai phạm của người khác, nhưng về thực chất là để né tránh, không gây mất lòng người khác, đi ngược lại chủ trương và quyết tâm đấu tranh chống tiêu cực của Đảng và Nhà nước...
Chính vì vậy, khi phát biểu tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào ngày 16-8-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở cán bộ tuyệt đối không “mị dân, tiếp xúc với dân một cách hình thức, càng không “theo đuôi” quần chúng”(16). Trước sự manh nha của các biểu hiện mang màu sắc dân túy và sự phát tác của các hiện tượng mị dân, công tác dân vận phải góp phần “lật tẩy” những biểu hiện và tác hại của các luận điệu mị dân, “theo đuôi quần chúng”, để quần chúng nhân dân nhận rõ “chân tướng” và “tẩy chay” những cán bộ rắp tâm “mị dân” nhằm vụ lợi, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ, gây ảnh hưởng xấu tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Sự khác biệt giữa phong cách lắng nghe, học hỏi nhân dân với các biểu hiện “theo đuôi quần chúng”
Lịch sử ở bất cứ đâu và thời đại nào cũng đều khẳng định chân lý: Nếu chính quyền biết lắng nghe dân để “an dân” thì quốc gia yên bình, thịnh trị; và ngược lại, nếu chính quyền xa dân, khinh miệt dân, o ép dân thì quốc gia ấy sẽ suy vong. Là người xây dựng chế độ dân chủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi lắng nghe dân, học hỏi dân là nguyên tắc nhận thức và hành động tiên quyết của người cán bộ, đảng viên.
Để đội ngũ cán bộ, đảng viên quyết tâm thực hành nguyên tắc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận giải sự cần thiết phải lắng nghe dân bằng việc phân tích đặc điểm của các thiết chế chính trị ở Việt Nam. Về phía Đảng, Người nhấn mạnh, Đảng ta từ nhân dân mà ra và vì nhân dân mà phấn đấu. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã mang trong mình yếu tố dân tộc và “bắt rễ” sâu trong lòng dân tộc. Khi Đảng cầm quyền thì không có nghĩa là có quyền “sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng”, phụng sự nhân dân. Muốn phụng sự cho tốt thì tất yếu phải lắng nghe để biết rõ, hiểu sâu ý nguyện của nhân dân. Về phía Nhà nước, thì “nước ta là nước dân chủ”; trong Nhà nước đó, dân là chủ và có quyền làm chủ, còn đội ngũ cán bộ, đảng viên là “công bộc” của nhân dân và phải có trách nhiệm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân để phục vụ cho tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra kết luận: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”
Người cũng chỉ ra lợi ích của việc lắng nghe nhân dân: Khi lắng nghe nhân dân thì Đảng mới có khả năng đề ra được chủ trương, đường lối, chính sách hợp lòng dân. Đảng lãnh đạo trước hết bằng việc đề ra chủ trương, đường lối, nhưng chủ trương, đường lối ấy không thể được hoạch định một cách chủ quan, võ đoán, mà phải nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích hợp pháp và chính đáng của nhân dân. Nói cách khác, chủ trương, đường lối phải được “chưng cất” từ ý dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải lắng nghe nhân dân còn là bởi “tai mắt” của nhân dân rất nhiều; nhân dân “biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết”. Ngay trong công tác cán bộ - nhiệm vụ then chốt, công việc “gốc” của Đảng, muốn biết cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu thì cách tốt nhất là hỏi dân. Do đó, phải lắng nghe dân chúng, “dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng”(2). Người nhấn mạnh, cán bộ muốn phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm thì “điều quan trọng nhất là để cho dân nói”; cán bộ muốn hoàn thành tốt công việc thì “việc gì cũng bàn với dân, dân sẽ có ý kiến hay”. Từ tầm quan trọng của việc lắng nghe dân, Người đúc kết: “Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng”(3). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “lắng nghe dân” là một phẩm chất căn cốt của đạo đức cách mạng và là đặc điểm trọng yếu trong phong cách làm việc của người cán bộ.
Với tinh thần “xây đi đôi với chống”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo một loạt căn bệnh đã cản trở người cán bộ lắng nghe nhân dân, như thói kiêu ngạo, quan liêu, công thần. Người nhấn mạnh, muốn rèn luyện phong cách gần gũi quần chúng và lắng nghe nhân dân thì phải luôn đề phòng các căn bệnh nguy hiểm đó; muốn nghe được ý kiến của nhân dân thì người cán bộ phải thực sự cầu thị, “phải khéo khơi cho họ nói” và “nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”. Những điều dân nói đúng thì cán bộ nhất thiết phải làm theo; còn với những điều chưa đúng thì qua đó, cán bộ cũng biết được dân chúng nghĩ gì để có cách giải thích cho họ hiểu, để có thể tuyên truyền, vận động, lãnh đạo phù hợp và có hiệu quả. Những cảnh báo của Người vẫn còn vẹn nguyên giá trị thời sự trong bối cảnh Đảng ta đang tăng cường, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.
Rất tin tưởng quần chúng nhân dân nên Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ không chỉ biết lắng nghe, mà còn phải học hỏi quần chúng nhân dân. Theo Người, sự nghiệp cách mạng luôn mang tính sáng tạo nên tri thức, kinh nghiệm không bao giờ đủ; cán bộ muốn tiến bộ mãi, muốn hoàn thành nhiệm vụ thì phải không ngừng học tập. Họ phải vừa học trong sách vở, vừa học trong công tác; nhưng quan trọng nhất là, “học hỏi quần chúng”. Lý do là bởi dân chúng rất đông đảo, “rất khôn khéo”, “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Người khẳng định: “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân”(4).
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Muốn “học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó”(5), bởi nếu tỏ ra chiếu lệ, hờ hững thì nhân dân sẽ không tin cán bộ; nếu có biết họ cũng không nói hoặc có nói cũng không nói hết; như thế, việc học hỏi quần chúng nhân dân sẽ mất đi ý nghĩa và tác dụng trọn vẹn. Bên cạnh đó, Người kịch liệt phê bình những cán bộ cho “dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi” nên khinh miệt ý kiến của nhân dân, “không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng”. Người căn dặn, “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng”(6). Việc học hỏi quần chúng nhân dân một cách khiêm tốn, cầu thị không chỉ giúp người cán bộ thành công trong công việc; mà qua đó, còn có được lòng dân, vì thực tế chứng minh rằng, quần chúng nhân dân không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh phân biệt rất rõ sự khác biệt giữa việc lắng nghe, học hỏi quần chúng với “theo đuôi”, “a dua” theo quần chúng. Người giải thích, “dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”(7). Do vậy, cho dù phần đông nhân dân đều rất tốt, biết “điều hay, lẽ phải” và hết lòng tin yêu Đảng, nhưng vẫn có một bộ phận dân chúng, do trình độ hạn chế, ít hiểu biết về pháp luật, lại có phần “nhẹ dạ” nên có thể bị một số đối tượng phản động lôi kéo, kích động, làm nảy sinh trong họ những suy nghĩ chưa đúng, những đòi hỏi và hành động cực đoan, quá khích. Vì thế, Người nhấn mạnh, cán bộ phải biết lắng nghe dân, nhưng “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”, mà phải có sự so sánh, phân tích kỹ lưỡng các ý kiến khác nhau của quần chúng nhân dân để “chọn lấy ý kiến đúng” và chuyển hóa thành chủ trương, đường lối phù hợp. Nếu người cán bộ không có bản lĩnh và khả năng phân tích để nhận biết cái gì nhân dân làm là đúng, cái gì dân nói là hay, thì sẽ rơi vào tình trạng “đẽo cày giữa đường”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”(8) một cách dễ dãi, hời hợt, mà phải có bản lĩnh, sự quyết đoán để phân tích rõ đúng - sai; từ đó, giác ngộ, vận động, cảm hóa quần chúng nhân dân, nhất là bộ phận quần chúng nhân dân còn có nhận thức sai lệch, để họ sống và làm việc theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Trước những mong muốn, đòi hỏi không chính đáng của quần chúng nhân dân thì cán bộ phải kiên trì thuyết phục để họ hiểu rằng: Lợi ích tạm thời và lợi ích riêng phải phục tùng lợi ích lâu dài và lợi ích chung; lợi ích địa phương phải phục tùng lợi ích quốc gia - dân tộc... “Không theo đuôi quần chúng” có nghĩa là, cán bộ phải thực hiện sứ mệnh, vai trò lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng hành động một cách “tự giác”, có tổ chức, có kỷ luật không để mặc họ hành động tự phát. “Không theo đuôi quần chúng” còn có nghĩa là, cán bộ phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mình trong mọi lĩnh vực. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải kiên định mà không cứng nhắc, bản lĩnh mà không liều lĩnh, quyết đoán mà không độc đoán, mềm dẻo mà không yếu đuối, lắng nghe mà không “ba phải”...
Trong mọi hoàn cảnh, gặp gỡ nhân dân, “nghe dân nói”, “nói dân nghe” luôn là phong cách độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 3-9-1945, mặc dù phải giải quyết vô số công việc của một chính quyền non trẻ, Người đã tuyên bố: “Từ năm nay, tôi sẽ rất vui lòng tiếp chuyện các đại biểu của các đoàn thể”(9). Có thể ai đó đến với nhân dân chỉ để “làm màu”, vì thế họ “gần dân” về khoảng cách mà vẫn “xa dân” về suy nghĩ, tình cảm, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với nhân dân như đến với những người ruột thịt; ở đó, mọi nghi lễ, khoảng cách dường như bị xóa bỏ, chỉ đọng lại sự đồng cảm sâu sắc. Cuối đời, Người đúc kết: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”(10). Người hiến dâng trọn đời vì nước, vì dân, đặc biệt khi ai đó mắc sai lầm thì Người có cách giáo dục, phê bình vô cùng tinh tế mà thấm thía. Với cách làm việc “từ quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, luôn vui cái vui của nhân dân, đau nỗi đau của nhân dân, thực sự trọng dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa “Ý Đảng” với “Lòng Dân” - cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
NHIỀU LOẠI HÌNH CHỦ THỂ QUỐC TẾ CÙNG
NHAU TẠO THÀNH – LÀ MỘT TRONG NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CỤC DIỆN THẾ GIỚI HIỆN NAY
Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng trở thành xu hướng vận động tất yếu của mọi quốc gia và vùng lãnh thổ. Song, lựa chọn một loại hình để tham gia hội nhập quốc tế phù hợp với khả năng nội tại của từng quốc gia là quan trọng, cần thiết. Đối với Việt Nam hiện nay lại càng quan trọng hơn bao giờ hết, muốn vậy cần thiết phải nhận diện loại hình chủ thể quốc tế đang hiện hữu hiện nay.
Trước hết, đó là 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đang thực
hiện vai trò, vị trí của mình trong đời sống quốc tế nhờ vào nguyên tắc bình đẳng
"mỗi nước, một phiếu bầu” tại diễn đàn lớn nhất toàn cầu hiện nay. Các nước
Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5) Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp,
nhóm các nước công nghiệp như triển (67) gồm Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Italia, Nhật Bản,
Canada); nhóm các nước có nền kinh tế mới nổi (BRICS) gồm Brazil, Nga, Trung Quốc,
Nam Phi, nhóm 20 nước mới nổi (G20)...đương nhiên là những chủ thể quan trọng
hàng đầu.
Loại hình chủ thể thứ hai bao gồm các lực lượng quốc tế phong phú, đa dạng gồm:
các tổ chức quốc tế liên chính phủ; tổ chức quốc tế phi chính phủ, các phong
trào chính trị, xã hội cầu, các tập đoàn đa quốc gia, xuyên quốc gia, các thực
thể xuyên quốc gia khác.
Các
tổ chức quốc tế liên chính phủ được thành lập từ các quốc gia có chủ quyền, gọi
tắt là các nước thành viên. Tổ chức quốc tế liên chính phủ lớn nhất là Liên hợp
quốc, thành lập năm 1945 với mục đích là duy trì hòa bình và an ninh trên thế
giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác
quốc tế giữa các muốc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết
của các dân tộc.
Ngoài
ra, thế giới còn một hệ thống các tổ chức quốc tế liên chính phủ phong phú, đa
dạng được phân loại theo lĩnh vực, theo quy mô, theo ngành nghề. Cho đến nay,
Việt Nam là thành viên của từ tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức
phi chính phủ trên thế giới.
Phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam
Thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nếu như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đặt “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”(4) thì Đại hội XIII của Đảng xác định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(5).
Theo đó, phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái thù địch, xuyên tạc, vu khống, phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, cần thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng dân chủ, nhân quyền; từ đó đổi mới nội dung, phương pháp đấu tranh, thực hiện nguyên tắc trong đấu tranh có đối thoại, trong đối thoại có đấu tranh; đa dạng hóa các hình thức đấu tranh nhưng không nên mở rộng, mà phải áp sát trực diện vào vấn đề cần phải đấu tranh, đối tượng đấu tranh, nhằm chủ động, tích cực nhận diện, phê phán, phản bác, ngăn chặn từ xa; xử lý công khai, minh bạch bằng pháp luật, trước hết đối với những người cầm đầu, phù hợp với các quan hệ, nguồn lực liên quan trực tiếp đến vấn đề đấu tranh và đối tượng đấu tranh nhằm kiên quyết làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn sử dụng dân chủ, nhân quyền như một công cụ chống phá chế độ chính trị - xã hội để góp phần làm sáng tỏ và thực hiện, phát huy nền dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Để hoàn thành nhiệm vụ đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm chỉ đạo của Đảng về quyền con người. Thường xuyên nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch trên lĩnh vực quyền con người để đề xuất giải pháp phù hợp.
Thứ hai, tích cực, chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đồng thời, chủ động, tích cực tham gia và đóng góp trực tiếp vào việc định hình giá trị cũng như luật pháp về vấn đề quyền con người trong quan hệ quốc tế.
Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh có hiệu quả trên lĩnh vực quyền con người. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp, công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Căn cứ vào nghị quyết và hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần xác định rõ nội dung, biện pháp, yêu cầu cụ thể trong nhiệm vụ phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phù hợp với từng giai đoạn, tình hình tại địa phương, cơ sở. Nâng cao cảnh giác cách mạng để mỗi cán bộ, đảng viên tự phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho mình và giúp đỡ những người xung quanh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp trong phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quyền con người trong cả hệ thống chính trị. Các bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương tiếp tục xây dựng, thực hiện kế hoạch giải quyết tốt các “điểm nóng” phức tạp, kéo dài, theo của Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20-7-2010, của Ban Bí thư khóa X,“Về công tác nhân quyền trong tình hình mới”, đặc biệt liên quan đến các vấn đề đất đai, tôn giáo, dân tộc,.... Chú ý trong xử lý các vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân chủ, nhân quyền, phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập, phân hóa số ngoan cố chống đối. Phân biệt rõ mâu thuẫn địch - ta và mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân để lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp, không làm phức tạp thêm tình hình, tạo sơ hở cho địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.
Thứ năm, tiếp tục nâng cao năng lực của đội ngũ chuyên môn, chuyên trách (tư tưởng, lý luận, thông tin, truyền thông, văn hóa, ngoại giao, an ninh chính trị, bảo vệ chính trị nội bộ); xây dựng cơ sở dữ liệu chủ động công bố trên cổng thông tin điện tử bằng tiếng Việt và tiếng Anh về thành tựu trong bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và tư liệu về quyền con người bị xâm hại do hành động của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch gây ra đối với nhân dân Việt Nam để đấu tranh có hiệu quả về quyền con người.
Thứ sáu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội, thông tin đối ngoại về thành tựu bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân qua hơn 35 năm đổi mới. Phát huy hiệu quả vai trò của báo chí, truyền thông trong bảo vệ, đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người, thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước(6).
Thứ bảy, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá, gây mất ổn định chính trị - xã hội tại Việt Nam. Đồng thời, chủ động công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng cả ở trong nước và quốc tế.
Thứ tám, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực quyền con người. Đồng thời, chú ý lắng nghe dư luận nhân dân, tiếp nhận ý kiến giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội để nâng cao hiệu quả đấu tranh. Coi trọng phát hiện các yếu tố tích cực, điển hình tiên tiến, những cán bộ, đảng viên, chức sắc tôn giáo, già làng, người có uy tín tiêu biểu để tuyên dương, rút ra những bài học, kinh nghiệm. Tiếp tục xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn thù địch trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới./.
Chủ động phê phán, đập tan các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở nước ta
Trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá, vu cáo, phủ nhận thành quả dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, để tăng cường phản bác một cách hệ thống, có lý lẽ cả về lý luận và thực tiễn, cần tập trung thực hiện một số công việc sau:
Một là, xem xét, nhận diện, đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện âm mưu, thủ đoạn và xác định rõ bản chất của các luận điệu xuyên tạc, nền tảng, mục tiêu, phương thức, chủ trương, công cụ chống phá của các thế lực thù địch(1).
Về mặt bản chất, các luận điệu đó phản ánh cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị - pháp lý giữa giá trị tư tưởng XHCN và tư sản trên lĩnh vực dân chủ và nhân quyền. Đây là đặc điểm có tính bản chất chi phối trong cuộc đấu tranh này, không chỉ hiện hữu ở những đối tượng phân định rõ thành chiến tuyến địch - ta, mà còn nằm ngay trong nhận thức của mỗi người và mỗi tổ chức. Vì thế, các tầng lớp nhân dân, trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên đều là chủ thể đấu tranh với các thế lực thù địch trên lĩnh vực này. Trong phương thức đối thoại, đấu tranh cần coi trọng biện pháp tư tưởng chính trị, như tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức, tích cực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và coi trọng cách thức kết hợp đối thoại với đấu tranh và ngược lại.
Về nền tảng tư tưởng: Là hệ tư tưởng tư sản với nội dung cơ bản là quan niệm một cách phiến diện, có khi tuyệt đối hóa quyền cá nhân và các quyền dân sự, chính trị đến mức đồng nhất chúng với quyền con người nói chung; coi nhẹ quyền của tập thể, của dân tộc và chủ quyền quốc gia; coi nhẹ tính bình đẳng của các chủ thể quyền và các nội dung quyền, nhất là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa vốn chiếm vị trí cơ bản và là yêu cầu có tính bức thiết đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Về mặt chính trị, đây là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc về văn hóa, coi tư tưởng nhân quyền phương Tây mang tính phổ quát toàn nhân loại, thậm chí cao hơn chủ quyền quốc gia.
Về mục tiêu và phương thức hoạt động: Tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận - thực tiễn về dân chủ, nhân quyền để chống phá nền tảng tư tưởng XHCN ở Việt Nam. Tiến hành các hoạt động chống phá thực tiễn bảo đảm dân chủ, nhân quyền trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, dân tộc, thông tin, báo chí, truyền thông, giáo dục - đào tạo, văn hóa - nghệ thuật, tư pháp,... kể cả hợp tác quốc tế, nhằm thúc đẩy sự chệch hướng XHCN của công cuộc đổi mới ở nước ta. Tuyên truyền, ca ngợi các giá trị của nhân quyền tư sản nhằm kích động, cổ vũ việc phân hóa, chuyển hóa tư tưởng chính trị XHCN đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” sang tư tưởng nhân quyền tư sản - mà hiện nay thường được gọi là “giá trị phương Tây” - trước tiên trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Tạo dựng “ngọn cờ” về dân chủ, nhân quyền thông qua việc tuyên truyền, ca ngợi, trao giải thưởng cho nhiều nhân vật chống đối nhằm kích động hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong, ngoài nước và tìm cách xác lập cơ chế “đa nguyên, đa đảng” trong thực tế ở nước ta.
Về chủ trương chống phá: Lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm khâu đột phá; lấy mua chuộc kinh tế làm mũi nhọn; lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ; dùng ngoại giao, đầu tư kinh tế để hỗ trợ, hậu thuẫn.
Về công cụ chống phá: Các thế lực thù địch sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là in-tơ-nét, xuất bản, báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam để xuyên tạc, kích động về tư tưởng, chính trị. Họ lợi dụng một số sai sót trong hoạt động quản lý của Nhà nước để xuyên tạc, kích động khiếu kiện, biểu tình trái phép. Họ tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm nhưng tác hại lâu dài thực sự rất thâm độc. Các thế lực thù địch dùng chiêu bài “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, suy thoái về tư tưởng, chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chẳng hạn, tổ chức khủng bố “Việt Tân”, “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “Cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Hà Lan”, “Liên hội người Việt tỵ nạn tại Đức”,... với sự phụ họa của một số cơ quan báo chí nước ngoài tập trung công kích, xuyên tạc cái gọi là: Nhân quyền gắn với xã hội tư sản, còn quyền con người là quyền tập thể gắn với CNXH.
Hai là, vạch rõ tính hạn chế và mâu thuẫn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.
Thực tế cho thấy, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở trong nước thường nhại lại những luận điệu của một số tổ chức quốc tế và một số nước phương Tây. Các luận điệu đó, như “Phúc trình Toàn cầu 2021” của HRW có hạn chế lớn là dựa trên những thông tin được thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén rời rạc, nghiên cứu không sâu nên phiến diện và xuyên tạc. Tính vô lý và mâu thuẫn của các luận điệu này là xuất phát từ ý thức hệ chính trị phương Tây, “coi nhân quyền cao hơn chủ quyền” và bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự nước ngoài không thiện chí với Việt Nam và theo cơ chế thị trường, nên chúng mang màu sắc chính trị thực dụng, vụ lợi, nhiều khi chống đối công khai, trắng trợn và quyết liệt. Vì thế, chúng dễ gây ra phản ứng tiêu cực trong dư luận Việt Nam và cả thế giới.
Ba là, các luận điệu từ phía các tổ chức quốc tế và một số nước phương Tây xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng điều ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác.
Cụ thể là vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác theo Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Nghị quyết số 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng như trong nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Theo Nghị quyết số 2625: Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác. Can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó - đều là vi phạm luật pháp quốc tế(2).
Mâu thuẫn nội tại của các luận điệu đó là nhân danh nhân quyền phổ quát nhưng lại không tuân theo nguyên tắc điều chỉnh của luật nhân quyền quốc tế đối với chủ quyền quốc gia và trách nhiệm quốc gia. Chẳng hạn, theo Điều 1 của hai công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như theo “Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc” (năm 1970) như: Tôn trọng chủ quyền quốc gia về lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại; sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia; bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc; không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình; các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;....
Xuất phát từ những nguyên tắc đó, Nhà nước Việt Nam, trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cũng luôn và không ngừng hành xử như vậy trong quan hệ quốc tế cả quan hệ song phương và đa phương.
Một yêu cầu pháp lý cơ bản của các nguyên tắc này của Liên hợp quốc là các nước, các tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và toàn vẹn chính trị của một quốc gia. Thế nhưng, chẳng hạn trong bản “Phúc trình nhân quyền năm 2021”, HRW vẫn cáo buộc vô căn cứ về cái gọi là “Việt Nam lo sợ dân chủ, truyền thông độc lập và các quyền tự do”. Thực tế qua những phiên tòa xét xử công khai đối với Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy hay Phạm Chí Thành, Trần Đức Thạch thì họ đều là những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật cụ thể và việc cơ quan chức năng thi hành lệnh khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử công khai là việc làm cần thiết của một quốc gia có chủ quyền, nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm của họ gây ra đối với xã hội. Tại tòa án, những người này đều thừa nhận các kết luận của hội đồng xét xử về những tội danh của mình. Vậy mà tổ chức này vẫn tiếp tục bao che, dung túng cho những kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, sử dụng mạng xã hội vi phạm an ninh con người, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, cổ xúy tuyên truyền cho những hành động chống phá đất nước và con người Việt Nam.
Nhiều luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam nhất mực xuất phát từ lăng kính ý thức hệ chính trị phương Tây để cho rằng, “những vụ bắt xử lý nói trên là để bảo đảm Đại hội Đảng lần thứ XIII diễn ra suôn sẻ và không bị các tiếng nói bất đồng chống đối” thì chúng tự mâu thuẫn với nguyên tắc pháp quyền mà họ rao giảng. Tại Việt Nam, để thực thi công lý, không phải đợi đến thời gian gần Đại hội Đảng, mà bất kỳ ai vi phạm pháp luật hình sự, có hoạt động chống phá đất nước, đều bị cơ quan bảo vệ pháp luật truy tố, điều tra, xét xử công khai, nghiêm minh tại tòa án theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
Bốn là, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền không phản ánh đúng thực tế khách quan về tình hình nhân quyền của Việt Nam.
Nguyên nhân cơ bản của hạn chế và mâu thuẫn trong các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là nhân danh nhân quyền phổ quát toàn cầu với cách tiếp cận mang đẫm màu sắc ý thức hệ chính trị của phương Tây cùng hành động thực dụng và động cơ chống đối công cuộc đổi mới ở nước ta. Trái với những luận điệu cáo buộc ngụy biện, trơ trẽn đó, thực tế Việt Nam đã và đang chứng thực sinh động sự tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy dân chủ, nhân quyền trong điều kiện tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Trong năm 2020, 2021 ngay trong khi đại dịch COVID-19 hoành hành trên thế giới và ở Việt Nam, hàng loạt chính sách an ninh con người, an sinh xã hội được Chính phủ Việt Nam ban hành nhằm bảo đảm an ninh lương thực và ổn định cuộc sống tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Chẳng hạn như gói hỗ trợ 26.000 tỷ đồng(3) là giải pháp cấp bách, kịp thời, không chỉ giảm thiểu tối đa tác động của đại dịch COVID-19 đối với quyền sống, quyền được chăm sóc y tế và mưu sinh của người dân, mà còn một lần nữa khẳng định mạnh mẽ tinh thần “đặt lợi ích của người dân lên trên hết”. Trong hoàn cảnh khó khăn của dịch bệnh và thiên tai, những chính sách hỗ trợ trực tiếp, kịp thời đối với người dân là nền tảng để bảo vệ các quyền con người, đồng thời cho thấy nỗ lực và quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền.
Đồng thời, Việt Nam chủ động, tích cực đóng góp vào việc tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới và được cộng đồng thế giới ghi nhận, ví dụ: Thông qua mức độ tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao những lần Việt Nam ứng cử và trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến với sự tham dự của đại diện AICHR, các nước thành viên ASEAN và Ban Thư ký ASEAN, diễn ra vào cuối tháng 11-2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 là đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác AICHR trong thời gian tới.
Việt Nam không chỉ quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế, như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác trong AICHR, trong đó đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch (COVID-19) được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao, mà còn tham gia đóng góp tích cực vào định hình các chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người, đặc biệt quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, trong đó Việt Nam đã cùng với Phi-líp-pin và Băng-la-đét trực tiếp soạn thảo Nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền về biến đổi khí hậu và quyền con người đã được chính thức thông qua vào tháng 7-2019 tại trụ sở Liên hợp quốc ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ.
Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025.