Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022

Sự khác biệt giữa phong cách lắng nghe, học hỏi nhân dân với các biểu hiện “theo đuôi quần chúng”

 Lịch sử ở bất cứ đâu và thời đại nào cũng đều khẳng định chân lý: Nếu chính quyền biết lắng nghe dân để “an dân” thì quốc gia yên bình, thịnh trị; và ngược lại, nếu chính quyền xa dân, khinh miệt dân, o ép dân thì quốc gia ấy sẽ suy vong. Là người xây dựng chế độ dân chủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi lắng nghe dân, học hỏi dân là nguyên tắc nhận thức và hành động tiên quyết của người cán bộ, đảng viên.

Để đội ngũ cán bộ, đảng viên quyết tâm thực hành nguyên tắc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận giải sự cần thiết phải lắng nghe dân bằng việc phân tích đặc điểm của các thiết chế chính trị ở Việt Nam. Về phía Đảng, Người nhấn mạnh, Đảng ta từ nhân dân mà ra và vì nhân dân mà phấn đấu. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã mang trong mình yếu tố dân tộc và “bắt rễ” sâu trong lòng dân tộc. Khi Đảng cầm quyền thì không có nghĩa là có quyền “sai khiến quần chúng mà phải làm đày tớ cho quần chúng”, phụng sự nhân dân. Muốn phụng sự cho tốt thì tất yếu phải lắng nghe để biết rõ, hiểu sâu ý nguyện của nhân dân. Về phía Nhà nước, thì “nước ta là nước dân chủ”; trong Nhà nước đó, dân là chủ và có quyền làm chủ, còn đội ngũ cán bộ, đảng viên là “công bộc” của nhân dân và phải có trách nhiệm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân để phục vụ cho tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra kết luận: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”

Người cũng chỉ ra lợi ích của việc lắng nghe nhân dân: Khi lắng nghe nhân dân thì Đảng mới có khả năng đề ra được chủ trương, đường lối, chính sách hợp lòng dân. Đảng lãnh đạo trước hết bằng việc đề ra chủ trương, đường lối, nhưng chủ trương, đường lối ấy không thể được hoạch định một cách chủ quan, võ đoán, mà phải nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích hợp pháp và chính đáng của nhân dân. Nói cách khác, chủ trương, đường lối phải được “chưng cất” từ ý dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải lắng nghe nhân dân còn là bởi “tai mắt” của nhân dân rất nhiều; nhân dân “biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết”. Ngay trong công tác cán bộ - nhiệm vụ then chốt, công việc “gốc” của Đảng, muốn biết cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu thì cách tốt nhất là hỏi dân. Do đó, phải lắng nghe dân chúng, “dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng”(2). Người nhấn mạnh, cán bộ muốn phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm thì “điều quan trọng nhất là để cho dân nói”; cán bộ muốn hoàn thành tốt công việc thì “việc gì cũng bàn với dân, dân sẽ có ý kiến hay”. Từ tầm quan trọng của việc lắng nghe dân, Người đúc kết: “Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng”(3). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “lắng nghe dân” là một phẩm chất căn cốt của đạo đức cách mạng và là đặc điểm trọng yếu trong phong cách làm việc của người cán bộ. 

Với tinh thần “xây đi đôi với chống”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo một loạt căn bệnh đã cản trở người cán bộ lắng nghe nhân dân, như thói kiêu ngạo, quan liêu, công thần. Người nhấn mạnh, muốn rèn luyện phong cách gần gũi quần chúng và lắng nghe nhân dân thì phải luôn đề phòng các căn bệnh nguy hiểm đó; muốn nghe được ý kiến của nhân dân thì người cán bộ phải thực sự cầu thị, “phải khéo khơi cho họ nói” và “nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”. Những điều dân nói đúng thì cán bộ nhất thiết phải làm theo; còn với những điều chưa đúng thì qua đó, cán bộ cũng biết được dân chúng nghĩ gì để có cách giải thích cho họ hiểu, để có thể tuyên truyền, vận động, lãnh đạo phù hợp và có hiệu quả. Những cảnh báo của Người vẫn còn vẹn nguyên giá trị thời sự trong bối cảnh Đảng ta đang tăng cường, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới.

Rất tin tưởng quần chúng nhân dân nên Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ không chỉ biết lắng nghe, mà còn phải học hỏi quần chúng nhân dân. Theo Người, sự nghiệp cách mạng luôn mang tính sáng tạo nên tri thức, kinh nghiệm không bao giờ đủ; cán bộ muốn tiến bộ mãi, muốn hoàn thành nhiệm vụ thì phải không ngừng học tập. Họ phải vừa học trong sách vở, vừa học trong công tác; nhưng quan trọng nhất là, “học hỏi quần chúng”. Lý do là bởi dân chúng rất đông đảo, “rất khôn khéo”, “biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Người khẳng định: “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Muốn “học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó”(5), bởi nếu tỏ ra chiếu lệ, hờ hững thì nhân dân sẽ không tin cán bộ; nếu có biết họ cũng không nói hoặc có nói cũng không nói hết; như thế, việc học hỏi quần chúng nhân dân sẽ mất đi ý nghĩa và tác dụng trọn vẹn. Bên cạnh đó, Người kịch liệt phê bình những cán bộ cho “dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi” nên khinh miệt ý kiến của nhân dân, “không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng”. Người căn dặn, “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng”(6). Việc học hỏi quần chúng nhân dân một cách khiêm tốn, cầu thị không chỉ giúp người cán bộ thành công trong công việc; mà qua đó, còn có được lòng dân, vì thực tế chứng minh rằng, quần chúng nhân dân không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phân biệt rất rõ sự khác biệt giữa việc lắng nghe, học hỏi quần chúng với “theo đuôi”, “a dua” theo quần chúng. Người giải thích, “dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu”(7). Do vậy, cho dù phần đông nhân dân đều rất tốt, biết “điều hay, lẽ phải” và hết lòng tin yêu Đảng, nhưng vẫn có một bộ phận dân chúng, do trình độ hạn chế, ít hiểu biết về pháp luật, lại có phần “nhẹ dạ” nên có thể bị một số đối tượng phản động lôi kéo, kích động, làm nảy sinh trong họ những suy nghĩ chưa đúng, những đòi hỏi và hành động cực đoan, quá khích. Vì thế, Người nhấn mạnh, cán bộ phải biết lắng nghe dân, nhưng “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”, mà phải có sự so sánh, phân tích kỹ lưỡng các ý kiến khác nhau của quần chúng nhân dân để “chọn lấy ý kiến đúng” và chuyển hóa thành chủ trương, đường lối phù hợp. Nếu người cán bộ không có bản lĩnh và khả năng phân tích để nhận biết cái gì nhân dân làm là đúng, cái gì dân nói là hay, thì sẽ rơi vào tình trạng “đẽo cày giữa đường”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng(8) một cách dễ dãi, hời hợt, mà phải có bản lĩnh, sự quyết đoán để phân tích rõ đúng - sai; từ đó, giác ngộ, vận động, cảm hóa quần chúng nhân dân, nhất là bộ phận quần chúng nhân dân còn có nhận thức sai lệch, để họ sống và làm việc theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Trước những mong muốn, đòi hỏi không chính đáng của quần chúng nhân dân thì cán bộ phải kiên trì thuyết phục để họ hiểu rằng: Lợi ích tạm thời và lợi ích riêng phải phục tùng lợi ích lâu dài và lợi ích chung; lợi ích địa phương phải phục tùng lợi ích quốc gia - dân tộc... “Không theo đuôi quần chúng” có nghĩa là, cán bộ phải thực hiện sứ mệnh, vai trò lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng hành động một cách “tự giác”, có tổ chức, có kỷ luật không để mặc họ hành động tự phát. “Không theo đuôi quần chúng” còn có nghĩa là, cán bộ phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mình trong mọi lĩnh vực. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải kiên định mà không cứng nhắc, bản lĩnh mà không liều lĩnh, quyết đoán mà không độc đoán, mềm dẻo mà không yếu đuối, lắng nghe mà không “ba phải”...

Trong mọi hoàn cảnh, gặp gỡ nhân dân, “nghe dân nói”, “nói dân nghe” luôn là phong cách độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 3-9-1945, mặc dù phải giải quyết vô số công việc của một chính quyền non trẻ, Người đã tuyên bố: “Từ năm nay, tôi sẽ rất vui lòng tiếp chuyện các đại biểu của các đoàn thể”(9). Có thể ai đó đến với nhân dân chỉ để “làm màu”, vì thế họ “gần dân” về khoảng cách mà vẫn “xa dân” về suy nghĩ, tình cảm, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với nhân dân như đến với những người ruột thịt; ở đó, mọi nghi lễ, khoảng cách dường như bị xóa bỏ, chỉ đọng lại sự đồng cảm sâu sắc. Cuối đời, Người đúc kết: “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”(10). Người hiến dâng trọn đời vì nước, vì dân, đặc biệt khi ai đó mắc sai lầm thì Người có cách giáo dục, phê bình vô cùng tinh tế mà thấm thía. Với cách làm việc “từ quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, luôn vui cái vui của nhân dân, đau nỗi đau của nhân dân, thực sự trọng dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa “Ý Đảng” với “Lòng Dân” - cội nguồn thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét