Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU "QUÂN ĐỘI KHÔNG CẦN THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI"


Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta.
Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".
Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu quân đội từ gốc
Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.
Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.
Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.
Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!).
Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.
Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2). Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.
Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.
Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.
Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.
Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(4). Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(5).
Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.
Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.
QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 07/6


“Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội), ngày 07 tháng 6 năm 1960. Đây là thời kỳ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng. Cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thử thách và rất khốc liệt. Trước tình hình đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tập hợp được đông đảo lực lượng cách mạng phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết nước nhà và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai lợi ích của Đảng ta trước quốc dân đồng bào, thể hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự là đội tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Thấm nhuần lời dạy của Bác, lớp lớp cán bộ, đảng viên của Đảng đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu ngày càng cao lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này, đến thắng lợi khác.
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, điện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời khẳng định trên của Bác đã trở thành một trong những nội dung cơ bản về công tác xây dựng Đảng, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để Đảng ta tự đổi mới, tự chỉnh đốn làm trong sạch chính mình, có đủ năng lực đảm đương vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng bộ Quân đội và toàn quân luôn mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, có chuyển biến quan trọng về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

BAO GIỜ BÁC LẤY VỢ???

 "Các chú hỏi bao giờ Bác lấy vợ, phải không? Có hỏi thì có trả lời nhé: Không lâu nữa đâu! Bao giờ dân ta toàn thắng, Bắc – Nam sum họp một nhà!"

Và khi luật sư Phan Anh đề nghị Hồ Chí Minh lập gia đình để có người săn sóc, Cụ trả lời: "Ông bảo thế tôi không phải là con người à? Tôi sống như mọi người mà. Có phải thần, thánh gì đâu. Nhưng ông thấy đấy: việc nước bề bộn như vậy!"
Ông Cả Khiêm có hỏi Bác Hồ: “Tôi muốn hỏi riêng chú, việc gia đình riêng của chú ra sao?”. Bác thong thả trả lời: “Cảm ơn anh, em chưa bao giờ dám nghĩ đến việc này. Đến nay thì “đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi”. Bác cười vui nói tiếp: “Mình không phải người tu hành, nhưng vì việc nước phải quên việc nhà”.
Bác và cụ Huỳnh thật sự như hai người bạn tri kỷ, cùng tâm sự và thường xuyên thăm nom nhau. Mỗi khi có món gì ngon, Bác cũng mời cụ Huỳnh cùng thưởng thức: khi lọ tương Nam Đàn, lúc chai mắm tép Thái Bình. Trong một buổi tâm tình, cụ Huỳnh nhắc khéo chuyện riêng của Bác bằng hai câu thơ:
Năm mươi sáu tuổi vẫn chưa già
Cụ ông thấy, cụ bà không?
Trong mấy tháng ở Pháp, Bác thường gửi điện thăm hỏi tình hình ở nhà và sức khỏe cụ Huỳnh. Trong một bức điện riêng, Bác đã trả lời câu hỏi mà cụ đưa ra bằng bài thơ sau:
Nghĩ chẳng ra thơ để trả lời
Nhớ ơn cụ lắm cụ Huỳnh ơi
Non sông một mối chung nhau gánh
Độc lập xong rồi cưới vợ thôi”…


TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN GIẢI QUYẾT NẠN HOA KIỀU

 Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khoảng 4% dân số Việt Nam là người gốc Hoa, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc. Ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường miền Nam Việt Nam.


Vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn, Với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng uy thế kinh tế của Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình, vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản. Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc.

Năm 1978, người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài và coi người Hoa kiều là một tổ chức bí mật hoạt động ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Để chấm dứt tình trạng này, Tổng bí thư Lê Duẩn đưa ra biện pháp cứng rắn là quốc hữu hóa tài sản của người Hoa. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Đến năm 1982, người Hoa ở Việt Nam đã lũ lượt rời bỏ Việt Nam vượt biên qua đường biển, đường bộ để đến nước thứ ba.

Đến năm 1989, số người gốc Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000. Người gốc Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa của họ đã mất đi phần lớn. Việt Nam là một ngoại lệ hiếm hoi so với những nước Đông Nam Á khác: người gốc Hoa đã gần như bị đồng hóa bởi người Việt Nam, họ cũng không còn gắn kết thành một cộng đồng tự trị như trước. Mặc dù đám đông người Việt có thể phản đối hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù gia đình thương gia gốc Hoa (trong khi ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa có sức ảnh hưởng rất mạnh: vào cuối thế kỷ 20, người gốc Hoa sở hữu hơn 80% thị trường chứng khoán Thái Lan, 62% ở Malaysia, 50% ở Philippines, trên 70% tổng số tài sản công ty tại Indonesia, và các nước sở tại đều không thể đồng hóa được họ Ở Thái Lan thì người gốc Hoa thậm chí còn chiếm một tỉ lệ đáng kể trong Chính phủ.


BÀI HỌC CỦA BÁC VỀ QUÝ TRỌNG THỜI GIAN

 Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ là 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người vẫn chưa đến. Tôi khuyên anh em phải làm việc cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm”.Cũng về giờ giấc, trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí sĩ quan cấp tướng đến làm việc với Bác chậm 15 phút, tất nhiên là có lý do: Mưa to, suối lũ, ngựa không qua được. 

Bác bảo: 

- Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan không chuẩn bị đủ phương án, nên chú không giành được chủ động”.

Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. 

Bác hỏi: 

- Chú đến muộn mấy phút?

- Thưa Bác, chậm mất 10 phút ạ!

- Chú tính thế không đúng, 10 phút của chú phải nhân với 500 người đợi ở đây.

Năm 1953, Bác quyết định đến thăm lớp chỉnh huấn của anh em trí thức, lúc đó đang bước vào cuộc đấu tranh tư tưởng gay go. Sắp đến giờ lên đường bỗng trời đổ mưa xối xả. Các đồng chí làm việc bên cạnh Bác đề nghị cho hoãn đến một buổi khác. Có đồng chí còn đề nghị tập trung lớp học ở một địa điểm gần nơi ở của Bác… Nhưng bác không đồng ý: 

- Đã hẹn thì phải đến, đến cho đúng giờ, đợi trời tạnh thì đến bao giờ? Thà chỉ mình bác và vài chú nữa chịu ướt còn hơn để cả lớp phải chờ uổng công!.

Thế là Bác lên đường đến thăm lớp chỉnh huấn đúng lịch trình trong tiếng reo hò sung sướng của các học viên…Bác Hồ của chúng ta quý thời gian của mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời Bác không để bất cứ ai đợi mình. Sự quý trọng thời gian của Bác thực sự là tấm gương sáng để chúng ta học tập.

Bài học kinh nghiệm

Quỹ thời gian của con người là có hạn. Người ta có thể làm lại một cái nhà, một con đường,… nhưng không thể lấy lại được một tích tắc thời gian đã mất đi. Chính vì lẽ đó mà thời gian còn quý hơn vàng, bạc. Tiết kiệm thời gian là tiết kiệm thông minh và văn minh nhất. Mỗi người đều có thể tiết kiệm được thời gian của mình. Tuy nhiên, để thực hiện điều đó chúng ta cần phải làm việc phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết; làm việc ngăn nắp, gọn gàng; thầy cô chuẩn bị bài chu đáo trước khi lên lớp, lên lớp đúng giờ, sử dụng hiệu quả giờ học; cán bộ cần chuẩn bị nội dung tốt trước khi tiến hành tổ chức hội họp, tiếp dân,... Đó chính là tiết kiệm thời gian của mình và của mọi người.

NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ - NGƯỜI LÍNH VỚI TINH THẦN CHẾT KHÔNG RỜI TRẬN ĐỊA - "DI CHÚC CHIẾN SĨ"!


(Quyết tâm thư trong trận công đồn diệt viện Phò Trạch - Thừa Thiên trong kháng chiến chống Pháp)


Nếu tôi chết

Xin các đồng chí đừng đưa tôi đi đâu hết cả

Hãy chôn tôi nơi chính tôi đã ngã !

Dù đồng xanh hay giữa núi đồi

Dù bãi lầy, trảng cát xương rồng gai

Hay ngay bên rệ đường tôi nằm phục kích

Mà không ngày nào đinh giầy và xích xe tăng địch

Không xéo giày lên phần mộ của tôi

Dù thế đi nữa, các đồng chí ơi

Cũng đừng đưa tôi đi đâu hết cả

Hãy chôn tôi nơi chính tôi đã ngã !

Để mát dạ những người đã khuất

Người ta thường trồng cây đẹp rủ bóng lên nghĩa trang

Nhưng quanh mộ tôi

Xin đừng trồng bạch đàn, liễu biếc hay thùy dương

Hãy trồng cho tôi một nghìn mũi chông nhọn hoắt

Mỗi mũi chông đều nhớ tẩm thứ thuốc độc mạnh nhất !

Viếng mộ tôi, xin đừng đốt hương

Hãy đốt cho tôi ngọn lửa đốt đồn

Khắp cả quê hương đều ngó thấy

Soi sáng hết những nơi nào máu nhân dân đang chảy

Nếu phần mộ tôi là vị trí tốt để đánh mìn

Xin các đồng chí đừng do dự gì hết cả

Hãy đào mộ tôi lên!

Quẳng xác tôi đi!

Và thay vào đó cho tôi một trăm cân thuốc nổ!

Xin các đồng chí đừng đưa tôi đi đâu hết cả

Hãy chôn tôi nơi chính tôi đã ngã!

 

St

 5 lần gặp Bác Hồ là 5 bài học về đạo đức người cán bộ, đảng viên

May mắn trong cuộc đời của đồng chí Lê Đình Bộ (sinh năm 1931) nguyên Bí thư Đảng ủy xã Văn Phú, huyện Thường Tín, TP Hà Nội là đã có đến 5 lần được gặp Bác Hồ. Mỗi lần gặp là một bài học sâu sắc về đạo đức cách mạng, đạo đức người cán bộ, đảng viên Bác căn dặn với toàn Đảng mà đồng chí luôn khắc cốt ghi tâm từ thời còn công tác đến nay khi đã nghỉ hưu hơn 40 năm.

Đồng chí Lê Đình Bộ sinh ra trong một gia đình bần nông đông anh em. Đến năm 1945 khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đồng chí đã biết đến Đảng, biết đến Bác Hồ. Những năm 1948-1950, vùng đồng bằng sông Hồng bị thực dân Pháp tạm chiếm, chúng nhiều lần càn quét bắt thanh niên gia nhập đội quân tay sai. Vì không muốn gia nhập đội quân đánh thuê cho thực dân Pháp, đồng chí đã mưu trí trốn dưới thùng trấu, lặn xuống sông, ẩn mình trên cây cổ thụ... Khi miền Bắc giải phóng, đồng chí bắt đầu tham gia công tác tại địa phương, được cử đi học lý luận chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc khu vực 1 lớp ngắn hạn 8 tháng ở Hải Dương. Đến năm 1960, đồng chí giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã rồi Bí thư Đảng ủy xã Văn Phú hơn chục năm liền.

Lần đầu tiên đồng chí Bộ gặp Bác Hồ là vào ngày 12-1-1958 tại xã Tả Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Trì) khi Bác về tát nước chống hạn cùng nông dân. Đi cùng Bác còn có đồng chí Vũ Quý, Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông. “Bác khi đến thăm bất cứ nơi nào thường không báo trước nên ai cũng rất bất ngờ, khi đó tôi được báo đến dự tập huấn về nông nghiệp. Bác xuất hiện với bộ quần áo tối màu giản dị, đi dép cao su, xắn quần. Bao năm bôn ba nước ngoài rồi kháng chiến ở Việt Bắc, nhiều khi nghĩ Bác chưa từng làm nông tát nước, nhưng khi thấy Bác cùng một đồng chí khác tát gầu dai ai nấy cũng bất ngờ. Thấy anh cán bộ tát yếu, sợ nước bắn vào quần áo, Bác giật dây mạnh làm anh cán bộ liêu xiêu. Bác bảo: “Chú tát thế thì làm sao lấy được nước, chú phải hiểu được người dân vất vả như nào để làm ra hạt thóc thì mới có thể làm một người cán bộ tốt được”, đồng chí Bộ xúc động kể lại.

Lần thứ 2 đồng chí Bộ gặp Bác là tại Hội trường C500 Hà Đông (nay là Học viện An ninh nhân dân) năm 1960 trong buổi Bác về nói chuyện với cán bộ, thanh niên. Bác vẫn xuất hiện với bộ quần áo cũ, dép cao su và chẳng ai biết trước Bác đến. Bác hỏi chuyện các chị em nữ đã có gia đình, rằng con nhỏ thì cho đi học lớp nào, ai trông. Một chị trả lời: “Thưa Bác, con nhỏ nên cháu vừa tự trông vừa sản xuất và chưa cho đi học lớp nào”. “Vậy tại sao cháu làm được như thế?” - Bác nói. Chị trả lời: “Thưa Bác, cháu chỉ có lòng yêu thương và nhiệt tình của người mẹ, cố gắng nuôi con bằng tất cả những gì mình đang có thôi ạ”. Bác khen, rồi nói tiếp: “Người cán bộ, đảng viên cũng vậy, làm việc phục vụ nhân dân trước tiên phải có lòng nhiệt tình, tận tụy, khó đến đâu học hỏi đến đó, sai đến đâu rút kinh nghiệm đến đó. Còn người cán bộ mà ngại khó, ngại khổ, không dám làm thì không xứng đáng là cán bộ của dân”, đồng chí Bộ kể lại.

Lần thứ 3 đồng chí Lê Đình Bộ gặp Bác là tại xã Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức ngày 7-10-1961, khi Bác về giảng Nghị quyết 10 về phát triển nông thôn, Hội nghị lần thứ 5 (khóa III) của Trung ương Đảng. Hội trường hàng trăm người đều là bí thư các xã, huyện. Bác nói chuyện liền 3 tiếng đồng hồ không uống chút nước nào, thậm chí đến khi kết thúc, địa phương mời Bác ở lại ăn cơm vì cũng đã đến giờ trưa nhưng Bác từ chối vì công việc còn nhiều phải về giải quyết gấp.

Lần thứ 4 đồng chí Bộ gặp Bác là tại xã Quyết Tiến (nay là xã Nghiêm Xuyên, huyện Thường Tín) trong lần Bác về động viên cán bộ, nhân dân chống hạn ngày 30-1-1963. Năm đó, tỉnh Hà Đông hạn nặng, Bác cùng đồng chí Nguyễn Chí Thanh phụ trách nông nghiệp cùng về và có buổi nói chuyện gần 3 tiếng đồng hồ trước sự có mặt của hơn 1 vạn cán bộ, nhân dân. Trước tình hình hạn, Bác động viên rằng: “Bây giờ chống hạn là công việc quan trọng nhất của toàn Đảng, toàn dân trong tỉnh, chống hạn cũng phải như chống giặc, bởi vì giặc nó đốt, nó phá, còn hạn nó không đốt không phá, nhưng kết quả là dân không có ăn, dân đói. Vì vậy, phải hết sức cố gắng, phải đồng tâm hiệp lực chống cho kỳ được”. Bác coi nhiệm vụ chống hạn ở miền Bắc như chiến đấu ở miền Nam với tinh thần: “Đồng ruộng là chiến trường, gầu guồng là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ”.

Không chỉ động viên nhân dân chống hạn, Bác còn gợi ý cách làm cụ thể đó là đào giếng lấy nước ngầm và tăng cường tát nước từ sông Nhuệ vào. Thanh niên trai tráng khi đó đặt quyết tâm phải đào được 30m đất mỗi ngày, chỉ trong thời gian ngắn trước vụ chiêm, xã Quyết Tiến đã đào được gần 300 giếng khơi và cử người sang các xã lân cận giúp đỡ chống hạn. Để cổ vũ nhân dân, Bác hứa sẽ tặng nhân dân bức trướng có thêu chữ “Hà Đông anh dũng tuyệt vời, vắt đất ra nước thay trời làm mưa”, sau 1 tháng chống hạn thu được kết quả tốt, Bác đổi bức trướng thành “Hà Đông anh dũng tuyệt vời, chống hạn phòng lụt nào ai sánh bằng”.

Đồng chí Bộ gặp Bác Hồ lần thứ 5 tại Bệnh xá Vân Đình (nay là Bệnh viện Đa khoa Vân Đình) vào ngày 20-4-1963 khi Bác về thăm bệnh xá. Cũng như những lần khác, các bí thư xã trong tỉnh Hà Đông được triệu tập đến tập huấn công tác y tế, không hề ai biết trước Bác đến, nên khi thấy Bác, tất cả mọi người đứng dậy vỗ tay rào rào, nét mặt rạng ngời, cảm xúc như vỡ òa. Đi cùng Bác còn có đồng chí Tố Hữu. Tại đây, Bác đã căn dặn cán bộ Ngành Y rằng: “Trong công tác phục vụ phải luôn coi trọng cả 2 mặt vật chất và tinh thần, coi người bệnh như ruột thịt, có thức ăn ngon, có thuốc hay, có thái độ phục vụ tốt”. Bác nói: “Phải biết tuyên truyền cho người bệnh, người nhà bệnh nhân và những người xung quanh biết cách vệ sinh phòng bệnh”.

Với đồng chí Lê Đình Bộ thì những lời căn dặn từ cách ăn mặc giản dị, gần dân, lối sống tiết kiệm, không quan liêu, đặt mình vào nỗi khổ của dân mà lắng nghe dân, phục vụ dân của Bác là những căn dặn sâu sắc để trở thành người cán bộ liêm chính, chí công vô tư. Bởi thế vận dụng vào trong công tác tại địa phương, đồng chí luôn phát huy tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, mạnh dạn đổi mới tư duy, không bảo thủ trì trệ. Điều mà đồng chí nói học được ở Bác rõ nét nhất chính là đạo đức cách mạng và lối sống giản dị. Bao nhiêu năm qua, đồng chí vẫn giữ phong cách ăn mặc giản dị, thong dong trên chiếc xe đạp đã gắn bó hơn 40 năm đi đến thăm hỏi các gia đình thương binh, hộ nghèo khó. Đồng chí còn học được Bác tinh thần làm việc và học tập suốt đời, tuy năm nay đã 90 tuổi nhưng hằng ngày đồng chí vẫn cặm cụi ghi chép lại “sử làng” trong một cuốn sổ, sáng tác thơ về làng. Cấp ủy, chính quyền xã Văn Phú kính trọng đồng chí và thường đến tham khảo ý kiến về các chủ trương, quyết sách.

Suốt cuộc đời gắn bó với công tác đảng - chính quyền tại địa phương, đồng chí Lê Đình Bộ là cán bộ gương mẫu, dám nghĩ dám làm. Ngay cả sau khi đã về hưu đồng chí còn làm nhiều việc có ý nghĩa, “lá lành đùm lá rách” như cắt tặng 40m2 đất ở cho người hàng xóm có hoàn cảnh khó khăn, vận động nhân dân xây dựng nông thôn mới. Để ghi nhận công lao đóng góp của đồng chí Lê Đình Bộ, Nhà nước đã tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba (đối với người ở hậu phương), Hội Nông dân TP. Hà Nội tặng Giấy khen vì có thành tích trong xây dựng phong trào “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” năm 2015. Nhìn nụ cười trẻ trung, sức khỏe dẻo dai, tinh thần lạc quan không ai nghĩ đồng chí đã bước sang tuổi 90 mà vẫn còn giúp ích cho đời.

Giải pháp về tổ chức thi hành pháp luật trong quản lý đất đai

 


Từ thực trạng vi phạm phát luật trong công tác quản lý đấy đai cần có một số giải pháp sau:

Cần nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức tham mưu, giúp việc cho ủy ban nhân dân, trước hết và chủ yếu là cấp xã, phường, thị trấn về công tác quản lý đất đai. Đây là giải pháp căn bản, quan trọng vì đất đai thuộc trách nhiệm quản lý trực tiếp của chính quyền cấp xã, mọi thủ tục hành chính về đất đai đều bắt đầu từ cấp xã, giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, trước hết cũng bắt đầu từ cấp xã và thực tế cũng cho thấy vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai trước hết và chủ yếu là ở cấp xã. Nếu năng lực của đội ngũ công chức địa chính được nâng lên thì công tác thống kê, đăng ký đất đai sẽ tốt hơn, hồ sơ địa chính sẽ đầy đủ và chuẩn hơn. Khi đó, sẽ hạn chế được sai sót trong việc xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất; xác định ranh giới, diện tích, loại đất; hạn chế sai sót khi thu hồi đất, khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hạn chế sai sót khi lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ,… Điều đó đồng nghĩa với việc tranh chấp, khiếu kiện về đất đai sẽ ngày càng giảm.

Triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp để xử lý dứt điểm các dự án chậm tiện độ và tăng cường sự công khai, minh bạch trong việc giao đất, cho thuê đất. Về mặt pháp luật, cần tiếp tục xây dựng các chế tài xử lý thật mạnh đối với các dự án chậm tiến độ, đảm bảo khi chủ đầu tư khi đã nhận dự án mà không đủ năng lực thực hiện thì phải hoàn trả đất cho Nhà nước hoặc làm thủ tục chuyển cho chủ đầu tư khác có đủ năng lực, đảm bảo triển khai có hiệu quả các dự án. Bên cạnh đó, cần hoàn chỉnh cơ chế nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các dự án đầu tư, cần cụ thể hóa các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư tham gia đấu giá đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất, hoàn thiện các quy định cụ thể về quy trình tiếp cận đất đai của dự án đầu tư, khi nào thì đấu giá đất và khi nào thì đấu thầu dự án có sử dụng đất đảm bảo nguyên tắc 05 công khai khi đấu giá đất và đấu thầu dự án, như: Công khai các thông tin về quyền sử dụng đất được đấu giá, dự án có quyền sử dụng đất được đấu thầu, thông tin về thời gian, địa điểm, thủ tục đấu giá, đấu thầu…; Công khai các thông tin chính về năng lực của những ứng viên tham gia đấu giá, đấu thầu; tiêu chí đấu giá, đấu thầu cũng như nguyên nhân lựa chọn người trúng đấu giá, đấu thầu cụ thể; Công khai việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có) liên quan đến kết quả đấu giá, đấu thầu; Công khai vi phạm cũng như việc xử lý trách nhiệm của những người tham gia đấu giá, đấu thầu; cơ quan, tổ chức tổ chức đấu giá, đấu thầu cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cá nhân trong công tác quản lý liên quan đến việc đấu giá, đấu thầu cụ thể.

Tăng cường đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia đảm bảo tính liên thông, hiệu quả. Triển khai xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai Quốc gia là chủ trương hoàn toàn đúng và cần thiết, góp phần tạo sự minh bạch, tránh rủi ro về mặt pháp lý, giúp các giao dịch về đất đai trở nên minh bạch, các cơ quan nhà nước thuận tiện trong công tác quản lý và các nhà đầu tư yên tâm trong việc đầu tư NTM./.

 

Thực trạng tình hình vi phạm pháp luật đất đai trong thời gian qua

 


Theo tổng kết của ngành Tòa án tính từ khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực (ngày 01/7/2014) đến ngày 31/12/2021, các Tòa án trong cả nước đã thụ lý 187.743 vụ án liên quan đến đất đai, trong đó tranh chấp đất đai xảy ra nhiều nhất là trong lĩnh vực dân sự với 161.187 vụ, sau đó là hành chính với 26.443 vụ và hình sự là 113 vụ.

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về đất đai trong lĩnh vực dân sự diễn ra đất đa dạng, như: tranh chấp về ranh giới, tranh chấp quyền sử dụng đất, chia thừa kế, tranh chấp hợp đồng góp vốn, hợp đồng hợp tác kinh doanh… Đây là nguyên nhân dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc.

Đối với các vụ hành chính, các khiếu kiện hành chính về đất đai chiếm số lượng nhiều nhất và có tính chất phức tạp nhất, chiếm trên 70% số vụ án Tòa án thụ lý, giải quyết; tập trung chủ yếu ở 07 nhóm khiếu kiện: (1) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến việc giao đất, cho thuê đất; đấu giá quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đăng ký biến động đất đai; chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong thực hiện quyền của người sử dụng đất; (2) Khiếu kiện liên quan đến việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (3) Khiếu kiện liên quan đến việc thu hồi đất; (4) Khiếu kiện về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; (5) Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính về đất đai; (6) Khiếu kiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai; (7) Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai.

Các vi phạm trong quản lý đất đai xảy ra chủ yếu ở 03 nhóm vấn đề sau:

(1) Vi phạm trong công tác khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. Tình trạng một thửa đất, một khu đất được thể hiện trên nhiều loại bản đồ, nhiều tờ bản đồ với thông tin về số thửa, diện tích, loại đất khác nhau là rất phổ biến.

(2) Vi phạm trong quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Tình trạng có dự án thì điều chỉnh quy hoạch hoặc điều chỉnh quy hoạch để hợp pháp hóa việc thu hồi đất xảy ra tại một số địa phương.

(3) Vi phạm trong công tác đăng ký đất đai, cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Đây là nhóm vấn đề còn nhiều tồn tại, hạn chế và là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng khiếu kiện nhiều và ngày càng tăng.

Các khiếu kiện liên quan đến đất đai tập trung chủ yếu ở khiếu kiện về thu hồi, bồi thường; đăng ký, cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất NTM./.

 

ĐỪNG CỐ LẬT SỬ VÀ TẨY TRẮNG CHO NGUYỄN ÁNH (VUA GIA LONG) VÌ TỘI LỚN THÌ RÕ RÀNG CÒN CÔNG THẾ NÀO?... HAY LÀ CÓ CÔNG CƯỚP NGÔI?

“Bảo Đại là cháu Gia Long
Là con Khải Định, là dòng Việt gian
Gia Long cõng rắn cắn gà
Giầy mả ông bà, Bảo Đại rước voi
Ai ơi phải nhớ mấy lời
Đừng cho kẻ hại giống nòi mọc lên”
     Đấy là mấy câu ca dao các cụ xưa để lại răn dạy con cháu đời sau rất rõ ràng cụ thể về dòng giống Việt gian nhà Nguyễn.

Còn các vùng đất như Trấn Ninh, Trấn Tịnh, Trấn Bình, Trấn Biên (bản đồ) là những vùng mà Vua Lê Thánh Tông đã mất công chinh chiến, thu phục, thần phục, mở mang bờ cõi và thuộc về Đại Việt 300 năm cho đến khi Gia Long tức Nguyễn Phúc Ánh thấy được giá bán cho hàng xóm dù đã lên ngôi Vua.

Vậy nên kẻ nào bảo Nguyễn  Ánh là vua thống nhất đất nước thì nên phong thêm niên hiệu ông tổ phân lô, bán nền cho nó hợp với nghề nghiệp.

Lịch sử Việt Nam chỉ có vua đi mở rộng bờ cõi chứ trần đời duy có Nguyễn Ánh là đi cắt bớt đất cho đỡ to mà thôi.

TÁC GIẢ BÀI NÀY XIN CÓ ĐÔI LỜI CÙNG ĐỘC GIẢ
Thứ nhất, ai đã đưa rước quân Xiêm vào nước ta? 

Thứ hai, ai đã mang gạo cho quân Thanh, gián tiếp hỗ trợ cho 29 vạn quân Thanh xâm lược nước ta? Trong khi quân Thanh là ngoại xâm từ xa đến, bên ngoài thì lấy cớ phò Lê, bên trong thì muốn thôn tính nước ta, là một người muốn đúng đầu quốc gia mà lại đi ủng hộ ngoại xâm công khai? Tức là đề cao thù hằn cá nhân lên trên hơn lợi ích dân tộc. Trong Đệ nhất kỷ - Quyển V - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế - Đại Nam thực lục có ghi rõ việc Nguyễn Ánh cử Phan Văn Trọng và Lâm Đề đem 50 vạn cân gạo giúp lương cho quân. 

Thứ ba, ai đã xin cầu viện từ Pháp đem quân đánh Tây Sơn, xâm phạm trực tiếp bờ cõi Việt Nam? Ai đã “khởi xướng” ra Hiệp ước Versailles (1787) đồng ý cắt lãnh thổ nước ta (Đà Nẵng, một số tài liệu ghi Hội An và Côn Lôn) cho Pháp nếu Pháp đưa quân đội, vũ khí đến trợ giúp? Và rồi, chính cái hiệp ước này là cái cớ để Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam vào năm 1858. 

Thứ tư, trong cuốn “The smaller dragon; a political history of Vietnam” của nhà sử học, chính trị Joseph Buttinger tiết lộ rằng Nguyễn Ánh từng cầu viện cả Tây Ban Nha, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh và kèm theo lời hứa hẹn sẽ “phân lô tặng nền” nếu giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn… Nhưng các lời cầu viện “không được hồi đáp” vì phần lớn các nước này đều đã phân chia xong thuộc địa ở Đông Nam Á và Nam Á và họ cũng ái ngại quân Tây Sơn. Vì bấy giờ, quân Tây Sơn là quá mạnh ở thời điểm đó ở mặt bằng chung khu vực.

Không một vị vua chúa phong kiến nào của Việt Nam có thành tích “nhờ vả” nhiều như vua Gia Long. Có một số người nhận định rằng tuy Nguyễn Ánh kí các hiệp ước cắt đất nhưng thực tế chưa mất miếng đất nào nên không thể định tội. Vậy thì nên xóa bỏ các tội âm mưu phản quốc đi nhỉ, vì mới chỉ là âm mưu thôi chứ đã gây ra hậu quả gì đâu, đúng không?

Thứ năm, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, các quan đại thần triều đình KHÔNG phải là người Việt chính gốc mà là những người Tây “mắt xanh mũi lớn” như Dayot, Chaigneau, Vannier… Chính những quan Tây dưới thời Gia Long này đã đặt nền móng cho việc Pháp xâm lược Việt Nam sau này và gây ra khủng hoảng tư tưởng, chính trị của triều đình nhà Nguyễn từ đó về sau. 

Hậu duệ của quan Vannier còn tham gia quân đội Pháp, đàn áp nhân dân Nam Kỳ trong Chiến dịch Nam Kỳ (1858 - 1862). Hãy thử nghĩ xem, nếu trong Quốc hội hiện nay có nhiều người không phải là người Việt là người Trung Quốc, người Pháp, người Nhật Bản, các bạn sẽ nghĩ như thế nào?

Thứ sáu, ai đã cắt Trấn Ninh cho Vạn Tượng? Ai đã đạp đổ thành tựu của các đời vua Lê? Ai đã xóa đi vùng đất có trong bản đồ Việt Nam hơn 300 năm? Trong khi vua Quang Trung sai Trần Quang Diệu đi thu hồi và dẹp loạn ở Trấn Ninh, khôi phục chủ quyền nước ta tại đây. Thì chính sử Nguyễn ghi rằng: “Trấn Ninh vốn là bờ cõi cũ của ta, xưa đức Tiên đế đem cho Vạn Tượng”, tức là lãnh thổ Việt Nam bị mất đi không phải do chiến tranh, không phải do bị đe dọa, mà chỉ đơn giản “thích là cắt”, cắt để trả công vì đã đưa quân gây chiến với chính nhân dân, đồng bào của mình. Danh sách “phân lô tặng nền” còn bao gồm Trấn Biên, Trấn Định, Trấn Tĩnh…. Nguyên dải đất miền Trung vốn khá “mập mạp” mà bây giờ mỏng manh đi nhiều.

Thứ bảy, Nguyễn Ánh có công thống nhất và kết thúc các cuộc chiến? Nói cho đúng và đầy đủ phải là người có công đặt nền móng thống nhất là vua Quang Trung khi phá tan Trịnh - Nguyễn phân tranh, sau đó chính vua Quang Trung đánh bại ngoại xâm hai lần (Xiêm và Thanh), thu hồi Trấn Ninh làm loạn,  Vua Quang Trung đã cưới công chúa Lê Ngọc Hân dòng Hoàng tộc, danh chính lên ngôi vua thống nhất giang sơn đã được nhà Thanh công nhận.

 Còn Nguyễn Ánh trước đó năm lần bẩy lượt rước giặc Xiêm, rồi Pháp sẵn sàng cắt đất trả công cho giặc, thẳng tay đàn áp nhân dân nếu không không có anh em Nguyễn Huệ, sau này là Hoàng Đế Quang Trung thì nhân ta thời đó còn lầm than cơ cực thế nào dưới bàn tay cai trị tàn ác của Nguyễn Ánh, thực tế Nguyễn Ánh dùng mọi mưu hèn kế bẩn giành giật giang sơn chỉ để phục vụ cho cái mục đích ngồi lên đầu thiên hạ, hưởng vinh hoa phú quý, bóc lột nhân dân, cứ nhìn vào những cung điện, đền đài nguy nga, lăng tẩm cầu kỳ xa hoa mà nhà Nguyễn để lại trong thời gian cai trị đủ thấy mức độ nô dịch, thuế khóa nhân dân ta thời đó phải chịu thế nào, phục dịch triều đình, còn cống nạp phục dịch quan sai Pháp, một cổ mấy tròng, khổ nào bằng.

Nguyễn ánh có thể lên ngôi lập lên nhà Nguyễn thực tế có khác nào thảo khấu cướp ngôi, vốn nhà Nguyễn không phải dòng giống Hoàng tộc, chỉ dựa vào lợi dụng lúc Vua Quang Trung mất sớm, Quang Toản còn nhỏ, nhà Tây Sơn lục đục suy yếu, cướp ngôi của của con trai Hoàng đế Quang Trung là Quang Toản, đánh bại cướp lại giang sơn nhà Tây Sơn đã thống nhất mà lập lên nhà Nguyễn.

Nguyễn Ánh khi làm tôi thần nhà Lê đã bất chung với các Vua Lê, rước giặc vào hòng cướp ngôi vua Lê, bị đánh bại chạy ra nước ngoài cầu cứu ngoại bang...Sau cướp được ngôi của nhà Tây Sơn mà lên ngôi, vì vậy nói Nguyễn Ánh là dòng đại Việt gian không hề sai.

Nguyễn Ánh cũng không phải là người có công lớn nhất trong khai khẩn Nam Bộ. Việc này là công lao của các đời chúa Nguyễn, mà các chúa Nguyễn vào Nam là theo lệnh vua Lê, nếu vó công thì phải là của vương triều nhà Lê, dù lúc đó có mục ruỗng, các chúa Nguyễn khi vào Nam vốn là tôi thần thừa lệnh vua, phục vụ triều đình, thay triều đình quản lý, đốc thúc dân phu khai khẩn, mở mang thêm mở cõi.

Còn Nguyễn Ánh là hậu duệ của các chúa Nguyễn nên tiếp tục kế thừa công việc các chúa Nguyễn đời trước, công của các chúa Nguyễn đến đâu chưa biết. Nhưng, nếu thừa hưởng công lao thì cũng phải chịu tội vì các chúa Nguyễn là những kẻ tôi thần bất chung với Vua, bất nghĩa với dân, có tội đã chia tách đất nước, đưa nhân dân vào nghịch cảnh chiến tranh mấy trăm năm… Hay công thì nhận vội, còn tội thì lấp liếm? 

Vua Gia Long có tội thì rõ ràng nhưng có công thì được bao nhiêu - điều này thì..., nhưng liệu những cái công đó là gì? đến mức chúng bỏ qua hoàn toàn cái tội không? Có thể bỏ qua những lần vua Gia Long cầu viện ngoại xâm xâm phạm bờ cõi nước ta hay không? Có thể bỏ qua những lần ông ta cắt đất cho nước ngoài hay không? Có thể bỏ qua những việc ông ta làm đã đặt nền móng cho một nhà Nguyễn thối nát, sẵn sàng dâng đất cho nước ngoài hay không?
Nguyễn Ái Quốc từng viết rằng:
"...rước Tây vào nhà
Khác gì cõng rắn cắn gà
Rước voi giày mả, thiệt là ng* si”./.
Yêu nước ST.

Trên dưới đồng lòng phòng chống tham nhũng, tiêu cực

 


Từ thực tế gần 10 năm sau khi cơ cấu lại tổ chức, nhiệm vụ và chức năng của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, công tác này đã đạt rất nhiều kết quả, góp phần củng cố niềm tin của người dân với Đảng và Nhà nước. Đồng thời, Đảng đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm hay, có giá trị phổ biến. Mặc dù tình trạng tham nhũng, tiêu cực về cơ bản được đẩy lùi nhưng thời gian gần đây một số vụ việc về tham nhũng, tiêu cực có chiều hướng phức tạp, liên kết, liên minh và hoạt động rất tinh vi. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đặt câu hỏi “vì sao chống tham nhũng mạnh mẽ như thế, xử lý nghiêm nhiều hành vi, vi phạm mạnh như thế, nhưng tham nhũng tiêu cực vẫn cứ trơ”. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực đã gây ra nhiều nhức nhối, là u nhọt trong xã hội, lan rộng đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và không ít các địa phương.

Việc cần kịp thời thành lập Ban Chỉ đạo Phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh là nhiệm vụ thiết thực để hòa vào “bản giao hưởng” chung dưới sự chỉ đạo của vị “nhạc trưởng” là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng theo tinh thần “tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. Do đó, Hội nghị Trung ương 5 Khóa XIII lần này thảo luận, xem xét và thông qua Đề án thành lập Ban chỉ đạo về phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh là đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng cũng như phù hợp với nguyện vọng của đông đảo người dân Việt Nam NTM./.

Những khó khăn, thách thức về kinh tế xã hội phải đối mặt

 

 Cùng với những thành tựu của nền kinh tế tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 Chính phủ cũng nhận định những khó khăn, thách thức phải đối mặt là: Ổn định kinh tế vĩ mô còn gặp nhiều thách thức; các cân đối lớn, các thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và bất động sản tiềm ẩn nhiều rủi ro; nợ xấu có xu hướng tăng; giá cả đầu vào tăng; hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn; giải ngân vốn đầu tư công chưa được cải thiện; một số ngành, lĩnh vực gặp nhiều khó khăn như chăn nuôi, khai thác thủy sản; thiên tai, lũ lụt diễn biến phức tạp, xuất hiện sớm gây hậu quả nghiêm trọng; xuất hiện một số dịch bệnh mới, đời sống một bộ phận người dân gặp nhiều khó khăn; an ninh, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp...

Về nguyên nhân, Thủ tướng cho rằng có nguyên nhân khách quan là tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, khó lường; dịch COVID-19 diễn biến phức tạp; tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai... Nguyên nhân chủ quan là do người đứng đầu của một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quyết liệt, chủ động giải quyết công việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.

Chỉ đạo các nhiệm vụ thời gian tới, trong bối cảnh thách thức và thuận lợi đan xen, nhưng khó khăn, thử thách vẫn nhiều hơn, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, để hoàn thành đạt và vượt các mục tiêu vụ đã đề ra, các cấp, các ngành, các địa phương cần quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn, thực hiện quyết liệt, hiệu quả hơn các nhiệm vụ, giải pháp, đồng thời bám sát tình hình, xử lý kịp thời, hiệu quả những vấn đề phát sinh.

Nắm chắc tình hình, tiếp tục kiểm soát tốt dịch COVID-19; tập trung đẩy mạnh thực hiện chiến dịch tiêm vaccine, nhất là cho trẻ em. Hướng dẫn áp dụng 5K phù hợp với tình hình mới.

Tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; rà soát, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nhất là về quy hoạch, đầu tư công, thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển KTXH, 03 Chương trình mục tiêu quốc gia.

Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; tiết giảm tối đa chi thường xuyên, đặc biệt chi sự nghiệp có tính chất đầu tư. Điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa chủ động, linh hoạt.

Phát huy hiệu quả hoạt động của các Tổ công tác để đẩy mạnh thực hiện các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển KTXH; trong đó: (i) hướng dẫn thực hiện cơ chế đặc thù về chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc Chương trình; (ii) phân cấp cho UBND cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản thực hiện các dự án, dự án thành phần đầu tư các đoạn tuyến đường bộ cao tốc theo hình thức đầu tư công thuộc Chương trình. Thúc đẩy triển khai 03 Chương trình mục tiêu quốc gia.

Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, tăng trưởng xanh, thích ứng biến đổi khí hậu. Đánh giá lại thực trạng tình hình công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; xây dựng chương trình với các mục tiêu, giải pháp phù hợp để cổ phần hóa đạt hiệu quả.

Thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; chuẩn bị tốt các hoạt động tri ân ngày Thương binh liệt sĩ 27/7. Tập trung triển khai các chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động; đẩy nhanh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân. Giải quyết kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động gặp khó khăn do dịch bệnh. Chủ động theo dõi và có biện pháp phòng ngừa đối với các dịch bệnh theo mùa (sốt xuất huyết, sốt rét, tay chân miệng...) và các dịch bệnh mới phát sinh.

Tổ chức tốt Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2022, bảo đảm an toàn, nghiêm túc, chất lượng. Tổ chức Hội nghị sơ kết tự chủ đại học và việc thực hiện các quy định pháp luật về tự chủ đại học để làm căn cứ sửa đổi, bổ sung quy định liên quan. Xây dựng lộ trình điều chỉnh học phí phù hợp; đánh giá đầy đủ tác động của việc tăng học phí, giá sách giáo khoa tới học sinh, sinh viên, hộ gia đình thu nhập thấp, có hoàn cảnh khó khăn để hỗ trợ kịp thời.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là trong các lĩnh vực dễ xảy ra tiêu cực (đất đai, tài chính, ngân hàng, chứng khoán...). 

Nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin truyền thông, nhất là những vấn đề tác động đến số đông hộ gia đình và người dân (như lĩnh vực giáo dục, y tế, tài chính...) tạo đồng thuận xã hội; đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu, độc, sai sự thật.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng lưu ý các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội cũng như chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường quan hệ với các đối tác, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc NTM./.

 

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội

 Công tác tư tưởng là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, quyết định sinh mệnh của Đảng và sự thành bại của cách mạng. Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần thống nhất về tư tưởng và hành động cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, luôn là lực lượng trung thành, tin cậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân.
Thường xuyên yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác này. Người chỉ rõ: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(1). Ngược lại: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”; như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”(2). Vì vậy, “Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”(3).

Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm đó, Đảng ta luôn chú trọng công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng qua các giai đoạn cách mạng, nhằm khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần trong giải quyết các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Thông qua công tác tư tưởng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua từng thời kỳ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, làm cho họ giác ngộ về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, hình thành niềm tin, lý tưởng, lẽ sống, nguyên tắc đạo đức, tình cảm cách mạng. Đồng thời, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách; cổ vũ, động viên tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân, củng cố niềm tin, đề cao trách nhiệm cá nhân, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của mỗi người dân, tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy sự ổn định và phát triển đất nước.

Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận công tác tư tưởng của Đảng, một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, luôn giữ vai trò quan trọng nhằm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Thấm nhuần quan điểm của Đảng, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn xác định công tác tư tưởng phải đi trước một bước, thể hiện vai trò tiên phong, giáo dục, định hướng nhận thức và hành động cho cán bộ, chiến sĩ; được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng. Tư tưởng thông thì dù khó khăn, gian khổ đến đâu bộ đội cũng quyết tâm vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao. 

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội, các quy định của đơn vị và yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng; đấu tranh ngăn chặn tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, hình thành ý thức, văn hóa pháp luật, làm cho cán bộ, chiến sĩ tự giác ghép mình vào khuôn khổ, chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp, rèn luyện tư thế, tác phong quân nhân, không vi phạm

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm công tác tư tưởng phải đi trước một bước; ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng và đạt được kết quả khá toàn diện. Hầu hết cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp có nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng; có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác này, với những chủ trương, giải pháp thiết thực, khả thi, hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt, thời điểm dễ nảy sinh tư tưởng. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, chủ động, thường xuyên, thông qua nhiều tổ chức, lực lượng, kênh thông tin để nắm chắc tình hình đơn vị, diễn biến tư tưởng của bộ đội, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh ngay từ cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định trên các lĩnh vực công tác, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở; kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa giáo dục thuyết phục, cảm hóa với biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật nghiêm minh; mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, trao đổi, đáp ứng tâm tư, yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ.

Đội ngũ cán bộ các cấp sâu sát đơn vị, cơ sở, nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những trăn trở, suy tư của bộ đội để có biện pháp giáo dục, động viên, thuyết phục phù hợp; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, không để đột biến về tư tưởng xảy ra. Tích cực đưa bộ đội tham gia hoạt động thực tiễn, phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, gia đình và địa phương cùng làm công tác tư tưởng,... Thực tiễn chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào cấp ủy, chỉ huy quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ thì nơi đó nội bộ đơn vị ổn định, mọi người “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, yêu thương, chia sẻ trách nhiệm, trên dưới một lòng, yên tâm xây dựng Quân đội; tỷ lệ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội giảm, không có các vụ việc nghiêm trọng, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới rất cao và toàn diện. Quân đội vừa đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa tích cực tham gia trên tuyến đầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ nhân dân; đồng thời, tích cực thực hiện điều chỉnh, tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh. Trong khi đó, những yếu tố tiêu cực ngoài xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ tác động, chi phối đến tình hình tư tưởng trong Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chia rẽ tình đoàn kết quân - dân. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, bảo đảm trong bất kỳ tình huống nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn vững vàng về tư tưởng, chuẩn mực về hành động, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới”; những quan điểm mới về công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; bám sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng quản lý, cấp ủy các cấp đưa nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng vào nghị quyết nhiệm kỳ, hằng năm, nghị quyết chuyên đề và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết khâu yếu, mặt yếu, không để xảy ra đột biến về tư tưởng. Đồng thời, phân công các cấp ủy viên phụ trách, sâu sát cơ sở, thường xuyên báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy về tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, trực tiếp là cơ quan tuyên huấn các cấp trong tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tiến hành công tác tư tưởng theo các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, cán bộ, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu cả trong lời nói và hành động. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên bám nắm cơ sở, sâu sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề bộ đội quan tâm, không để những bức xúc xảy ra, tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn; “xây” đi liền với “chống”, giáo dục đi liền với các biện pháp hành chính. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thoái thác nhiệm vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện công tác lãnh đạo tư tưởng trong các cơ quan, đơn vị.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Trước sự tác động mạnh mẽ của mặt trái nền kinh tế thị trường, truyền thông xã hội và sự tuyên truyền, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tình hình nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, thực trạng về công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, chú ý định hướng tư tưởng, dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực; phân tích, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính bản chất, quy luật, hệ thống để bộ đội hiểu rõ đúng sai; tích cực cổ vũ cái đúng, đấu tranh với cái sai, chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, làm cho hệ tư tưởng chủ đạo từng bước thẩm thấu, thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Thông qua giáo dục, định hướng tư tưởng hình thành cho cán bộ, chiến sĩ niềm tin, thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận định, đánh giá các vấn đề của cuộc sống xã hội, môi trường Quân đội. Từ đó, tự giác ghép mình vào khuôn khổ, tự xử lý những bức xúc cá nhân theo chiều hướng tích cực, hòa mình với tập thể, chấp hành nghiêm các chế độ quy định, không để những vụ việc đáng tiếc xảy ra. 

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Xuất phát từ đối tượng quản lý, giáo dục, lãnh đạo công tác tư tưởng phong phú, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực của môi trường Quân đội, nên đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý kỷ luật phải được tiến hành hết sức khoa học, bài bản, chặt chẽ, đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, theo đúng quy trình các bước, phù hợp với đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ của từng lực lượng. Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng phải toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới đối tượng đặc thù nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là cán bộ, chiến sĩ toàn quân thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, trên dưới một lòng, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, chia ngọt sẻ bùi, phát huy sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới tư duy, hình thức, biện pháp lãnh đạo tư tưởng, quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội theo hướng thiết thực, hiệu quả; bám sát phương châm “4 không”, “3 có”, “3 nên”(4) và 5 khâu tiến hành công tác tư tưởng: Dự báo, quản lý, định hướng, đấu tranh và xử lý tư tưởng nảy sinh. Thực hiện hiệu quả Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; thông báo kịp thời, có chọn lọc các vụ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội, trên cơ sở đó định hướng tư tưởng, rút kinh nghiệm cho bộ đội. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính, lấy giáo dục, thuyết phục phòng ngừa vi phạm là chính.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, nên muốn có một con người tốt phải tạo ra môi trường, hoàn cảnh tiêu biểu về lối sống có văn hóa, kỷ cương, thân thiện, cùng nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung. Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, các cuộc vận động trong toàn quân, trọng tâm là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, bằng nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến nhận thức, hành động của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội để bộ đội yên tâm công tác, gắn bó, tâm huyết với môi trường Quân đội.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

 Công tác tư tưởng là công tác của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trực tiếp là của bí thư cấp ủy. Thực tiễn chỉ ra rằng, đồng chí bí thư cấp ủy nào nắm chắc chức trách, nhiệm vụ, vai trò, có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng khoa học, phù hợp, biết phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác này thì hiệu quả sẽ cao hơn, tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị ổn định, không có đột biến xảy ra và ngược lại công tác tư tưởng sẽ không đạt như mong muốn. Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp thông qua việc xác định chủ trương, biện pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tính khả thi cao; “xây” đi liền với “chống”; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình, địa phương để làm công tác tư tưởng; thường xuyên bám sát cơ sở, bộ đội để điều chỉnh cách thức lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở tăng cường bám nắm bộ đội, sâu sát với quần chúng để nắm tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc trong cuộc sống để động viên, giải quyết kịp thời, không để đột biến xảy ra. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện công khai, công bằng trên mọi lĩnh vực hoạt động; đề cao trách nhiệm của các quân nhân, hội viên, đoàn viên trong xây dựng đơn vị, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nên công tác lãnh đạo tư tưởng trong quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho cán bộ, chiến sĩ cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đúc rút ra những kinh nghiệm hay, mô hình tiêu biểu tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ.  

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung hết sức quan trọng, quyết định kết quả xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, các cấp cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác này để quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống

KTXH tháng 5 năm 2020 tiếp tục khởi sắc và phục hồi mạnh mẽ

 


Thông tin về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2022 sáng cùng ngày (4/6), dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, các thành viên Chính phủ thống nhất nhận định, tiếp nối đà phục hồi và phát triển của những tháng đầu năm, tình hình KTXH tháng 5 tiếp tục khởi sắc, cho thấy khí thế phục hồi mạnh mẽ trên các lĩnh vực; cả ba khu vực đều tăng trưởng. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát trong bối cảnh chịu nhiều sức ép. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 tăng 0,38% so với tháng 4, bình quân 5 tháng tăng 2,25% so với cùng kỳ (cao hơn mức tăng của năm 2021 nhưng thấp hơn mức tăng giai đoạn 2017-2020); thị trường tài chính, tiền tệ cơ bản ổn định; các cân đối lớn, an ninh lương thực, năng lượng được bảo đảm.

Thu đủ chi: Thu NSNN ước đạt 57,1% dự toán, tăng 18,7% cho thấy sự cố gắng của chúng ta trong bối cảnh lạm phát, lãi suất, giá dầu và nhiều hàng hóa thiết yếu trên thế giới gia tăng. Xuất đủ nhập. Xuất khẩu 5 tháng tăng 16,3%, nhập khẩu tăng 14,9%, xuất siêu khoảng 516 triệu USD. Làm đủ ăn; an ninh lương thực được bảo đảm; sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tháng 5 ổn định và có phần tăng trưởng; thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản, lâm sản, thủy sản được khơi thông, mở rộng. An ninh năng lượng được bảo đảm; cung ứng đủ điện cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của người dân, doanh nghiệp. Cung ứng lao động cơ bản đáp ứng nhu cầu. Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 4,4% so cùng kỳ.

- Khởi sự doanh nghiệp tiếp tục nở rộ; trong 5 tháng có gần 100.000  DN thành lập mới và quay trở lại thị trường, gấp 1,4 lần số doanh nghiệp rút rui.  

- Công tác an sinh xã hội được quan tâm; bảo đảm an sinh xã hội cho hàng chục triệu người. Gói hỗ trợ của Chính phủ đạt trên 81 nghìn tỷ đồng cho gần 729.000 lượt người sử dụng lao động và gần 50 triệu lượt người lao động và các đối tượng khác (theo Nghị quyết 68, 126, 116; Quyết định 23, 28). Các hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa nghệ thuật từng bước trở lại bình thường. Đặc biệt, SEA Games 31 được tổ chức chu đáo, an toàn, thành công trên nhiều mặt, đoàn Việt Nam dẫn đầu các nước và phá kỷ lục về số lượng huy chương vàng.

- Trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quốc phòng, an ninh được giữ vững; các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế diễn ra sôi động, hiệu quả với nhiều đề xuất phù hợp, thể hiện chính kiến của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế.

- Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh. Các cơ quan vào cuộc tích cực, tăng cường xử lý các vụ án về thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản. Cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được đẩy mạnh; cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được kết nối và ứng dụng hiệu quả.

- Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá tích cực về: dự báo tăng trưởng kinh tế; Chỉ số phục hồi COVID-19; chỉ số năng lực phát triển của ngành du lịch; xếp hạng tín nhiệm quốc gia; về chỉ số thu hút đầu tư; chỉ số hài lòng đối với các dịch vụ công...

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, những kết quả đạt được trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm là rất đáng mừng, tạo niềm tin và nền tảng để tiếp tục phục hồi nhanh, phát triển bền vững KTXH. Có được kết quả này là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; sự giám sát, đồng hành của Quốc hội; sự điều hành quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp; sự đồng tình, ủng hộ và tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế NTM ./.

 

 

Việt Nam đang có vị trí rất tốt, tương lai tươi sáng

 


Ông Yoshiki Takeuchi, Phó Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đánh giá nhờ các chính sách quản lý dịch bệnh rất linh hoạt, Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới đã duy trì được tăng trưởng dương năm 2020. 

Năm 2021, do biến chủng mới Delta lây lan rất nhanh, Việt Nam đã buộc phải áp dụng các biện hành chính nghiêm khắc và sau đó chuyển hướng kịp thời về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, nhờ chương trình tiêm chủng hết sức hiệu quả và thành công.

Nhắc tới những rủi ro của kinh tế Việt Nam do tác động từ tình hình thế giới, trong khi độ mở của nền kinh tế Việt Nam rất lớn, ông Yoshiki Takeuchi khẳng định OECD sẽ tích cực hỗ trợ Việt Nam quản trị các rủi ro này.

Đánh giá Việt Nam đang tích cực và cơ bản thực hiện hiệu quả các khuyến nghị quản lý rủi ro của OECD, Phó Tổng Thư ký OECD đề cập một số vấn đề như cải cách doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy hơn nữa sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng chính sách… để Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng kiên cường và bền vững hơn nữa trong thời gian tới. 

Ông Andrew Jeffries, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định Việt Nam đang có vị trí rất tốt, tương lai tươi sáng, với các chiến lược, mục tiêu, chính sách tốt đã có và việc thực thi là vấn đề mấu chốt. 

Trong đó, Giám đốc ADB tại Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì nợ công ở mức quản lý được và chính sách tài khóa phù hợp để đề phòng các bất trắc có thể xảy ra NTM./.