Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

tăng cường xây dựng Đảng

 

Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay

(Mặt trận) - Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó xây dựng Đảng về chính trị có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Tại Đại hội XII, năm 2016, Đảng ta bổ sung xây dựng Đảng về đạo đức. Đại hội XIII, năm 2021 Đảng bổ sung xây dựng Đảng về cán bộ. Như vậy, theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay xây dựng Đảng gồm năm mặt: xây dựng Đảng về chính trị; tư tưởng; tổ chức, cán bộ và đạo đức. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cùng những chủ trương, phương hướng, giải pháp lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam về những bổ sung, phát triển này là rất cần thiết.

Quan niệm xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đạo đức cách mạng được thể hiện ở: trung với nước, hiếu với dân; thương yêu con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Đảng Cộng sản Việt Nam và đội ngũ đảng viên của Đảng là những người tiêu biểu của đạo đức cách mạng. Như vậy, có thể hiểu: Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức cách mạng, đó là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực để điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của những người cách mạng với nhau và quan hệ với xã hội, được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và những giá trị đạo đức tốt đẹp của nhân loại, được thực hiện bởi niềm tin vào lý tưởng, mục tiêu cộng sản và sức mạnh của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; bởi truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và dư luận xã hội.

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam gồm hai bộ phận chủ yếu: với tư cách là tổ chức, đó là đạo đức của toàn Đảng; với tư cách cá nhân, đó là đạo đức của đảng viên. Hai bộ phận này quan hệ mật thiết với nhau.

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện ở: Một là, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp quy luật phát triển của xã hội, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của Nhân dân, trong đó vấn đề quan trọng hàng đầu là xác định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ở hoạt động của Đảng. Hai là, Đảng lãnh đạo Nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng, đưa Nhân dân từ kiếp nô lệ thành người làm chủ đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, Nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc. Ba là, sự tiên phong, gương mẫu của đảng viên về đạo đức, lối sống, đó là đạo đức cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kể cả hy sinh tính mạng vì độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân, là lối sống trong sạch, lành mạnh của người cách mạng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức của đảng viên được thể hiện ở: Một là, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên trì phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc và của nhân loại; kết hợp tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Hai là, tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt và đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân; đấu tranh kiên quyết với những hành vi tham ô, lãng phí, quan liêu, mất dân chủ, gia trưởng, độc đoán, lộng quyền, lạm quyền, ức hiếp Nhân dân. Ba là, gắn bó mật thiết với Nhân dân luôn lấy dân làm gốc; vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân; thống nhất lời nói với việc làm; luôn tiên phong, gương mẫu trong mọi hoạt động, thực hiện “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Bốn là, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Năm là, kiên quyết đấu tranh chống các tư tưởng và hành động sai trái, phản động, trước hết là chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội, bệnh giáo điều. Sáu là, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của các tổ chức chính trị - xã hội, các quy chế quy định của cơ quan, đơn vị, các quy định ở nơi cư trú.

Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thường được hiểu là toàn bộ hoạt động của Đảng, các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên với sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức, lực lượng khác và Nhân dân, nhằm làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đạo đức, xứng đáng là người lãnh đạo, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức là một bộ phận của xây dựng Đảng là toàn bộ hoạt động của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên với sự tham gia của các tổ chức trong hệ thống chính trị và Nhân dân Việt Nam trong nâng cao đạo đức cách mạng của Đảng và của đội ngũ đảng viên, trước hết là các cấp ủy, đảng viên là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị luôn là những tấm gương mẫu mực về đạo đức, lối sống cho Nhân dân noi theo, Đảng là đạo đức, là văn minh, lãnh đạo Nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước, dân tộc Việt Nam đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Nội dung xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức

Đối với toàn Đảng: Một là, Đảng xây dựng Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng đúng đắn, khoa học, vì dân, vì nước. Hai là, Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của mình, đưa đất nước phát triển vững mạnh về mọi mặt, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân. Ba là, Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng khoa học, hoạt động hiệu lực, hiệu quả phục vụ đắc lực Nhân dân. Bốn là, Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có chất lượng tốt, trong sạch, vững mạnh, không quan liêu tham nhũng, lợi ích nhóm, lộng quyền, lạm quyền, sách nhiễu, gây phiền hà cho Nhân dân, thật sự là người phục vụ, là công bộc, “đày tớ” trung thành của Nhân dân. Năm là, xây dựng toàn Đảng là một tổ chức dân chủ; mọi đảng viên đoàn kết trên cơ sở tăng cường tự phê bình và phê bình đúng đắn, nghiêm túc; cấp trên tạo thuận lợi cho cấp dưới hoàn thành tốt nhiệm vụ; cấp dưới tôn trọng và phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Đại hội toàn quốc của Đảng và Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đảng viên thương yêu, giúp đỡ nhau trong công việc và cuộc sống. Sáu là, xây dựng và thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân và Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Đối với đảng viên: Một là, xây dựng, rèn luyện sự trung thành của đảng viên với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, sự kiên trì phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc và của nhân loại; kết hợp tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng trong hoạt động của từng đảng viên. Hai là, tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là việc tự học, tự rèn; đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với các suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ba là, luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, là tấm gương về đạo đức, lối sống để Nhân dân noi theo; giữ gìn và phát triển sự đoàn kết trong các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và Nhân dân địa phương. Bốn là, rèn luyện, nâng cao ý thức tổ chức, kỷ luật, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy chế, quy định của cơ quan, đơn vị, kỷ luật của các tổ chức chính trị - xã hội mà đảng viên tham gia và quy định của nơi cư trú. Năm là, rèn luyện, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh kiên quyết, hiệu quả với tư tưởng, quan điểm và hoạt động sai trái để bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Vai trò của xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức

Một là, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức là một mặt rất quan trọng trong xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, là người lãnh đạo, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) của Đảng khẳng định và nhấn mạnh: “phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ba mặt ấy gắn liền với nhau, quyết định lẫn nhau. Xây dựng Đảng về tư tưởng và tổ chức phải kết hợp chặt chẽ với nhau, phải xuất phát từ đường lối và nhiệm vụ chính trị, đồng thời bảo đảm cho đường lối và nhiệm vụ chính trị được xác định đúng, được thấu suốt và thực hiện đúng”1. Hai là, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức góp phần rất quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức, là văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ba là, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức là nhân tố rất quan trọng trong giữ vững và nâng cao uy tín chính trị của Đảng trong Nhân dân Việt Nam và quốc tế; giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Bốn là, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức là yếu tố trực tiếp bảo đảm thắng lợi việc xây dựng, nâng cao đạo đức cách mạng và lối sống trong sạch, lành mạnh trong Nhân dân Việt Nam.

Giải pháp tăng cường xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức hiện nay

Những nội dung cơ bản của xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức luôn được Đảng quan tâm ngay từ khi ra đời (năm 1930) và được bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện trong suốt quá trình xây dựng Đảng và Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhờ đó, Đảng ngày càng vững mạnh, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đến Đại hội XII (năm 2016) Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức bổ sung vào văn kiện của mình vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức với tư cách là một mặt của xây dựng Đảng. Đại hội XIII của Đảng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng, gồm năm mặt: xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, các mặt này quan hệ mật thiết với nhau, trong đó xây dựng Đảng về chính trị có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

Từ Đại hội XII những nội dung của xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức được Đảng nâng lên tầm cao mới, với tư cách là một trong các mặt xây dựng Đảng, có vai trò, tác dụng to lớn và đạt kết quả quan trọng trong việc củng cố, phát triển đạo đức cách mạng của Đảng và đội ngũ đảng viên. Đây là một trong những nhân tố quyết định để công cuộc đổi mới ở Việt Nam đạt thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các tổ chức đảng đề cao, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực”2. Đặc biệt, “Công tác xây dựng Đảng về đạo đức đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”3. Điều này đã góp phần rất quan trọng để đất nước Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay4.

Bên cạnh đó, Đảng cũng đã chỉ ra những hạn chế của xây dựng Đảng về đạo đức: “Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và Nhân dân. Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ...”5.

Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp tập trung xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay, gồm:

Một là, kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Để tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, những năm gần đây Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt hai nghị quyết chuyên về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: Nghị quyết 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” (năm 2012) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ (năm 2016), trong đó xác định rõ các nhóm giải pháp trọng yếu. Để tập trung xây dựng Đảng về đạo đức trong những năm tới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh cần kiên trì, kiên quyết thực hiện hiệu quả hai nghị quyết này. Tập trung vào những giải pháp chủ yếu sau:

+ Thực hiện hai nghị quyết nêu trên, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

+ Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ; cấp ủy cấp trên chủ động gợi ý kiểm điểm đối với những tập thể và cá nhân ở những nơi có vấn đề phức tạp, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi trọng kiểm tra việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm.

Hai là, nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Thực hiện tốt công việc này sẽ tạo cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình. Từ đó, họ luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ.

Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên đạt hiệu quả là yếu tố rất quan trọng để nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên.

Kịp thời biểu dương những điển hình tiên tiến, những tấm gương sáng về đạo đức, lối sống; đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện lệch lạc và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm đạo đức, lối sống.

Ba là, thực hiện tốt các quy định của Đảng Cộng sản Việt Nam về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, sau khi bổ sung xây dựng Đảng về đạo đức với tư cách là một mặt của xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25/10/2018 “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm chỉnh đạt kết quả quy định này, người đứng đầu các cấp, cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu.

Làm cho việc nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên luôn thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”6, "muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu”7, “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”8. Trong bối cảnh hiện nay phải đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Việc tự giác nêu gương để khẳng định vai trò lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu "trên trước, dưới sau", "đảng viên đi trước, làng nước theo sau". Lãnh đạo chủ chốt các cấp phải thể hiện tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể; luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, toàn diện, công tâm, công khai, minh bạch, chính xác, chống cục bộ địa phương, bè phái trong công tác cán bộ. Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, mẫu mực về nhân cách, lối sống; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành; không tham nhũng, không bị chi phối bởi lợi ích nhóm, không để người nhà, người thân lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh"9.

Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của báo chí và Nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Bộ Chính trị khóa XIII chỉ rõ: "Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, phát hiện từ sớm, kịp thời ngăn chặn vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, thực chất. Phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và Nhân dân đối với cán bộ, đảng viên trong thực hiện quy định nêu gương. Xử lý kiên quyết, nghiêm minh các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên vi phạm. Khen thưởng, biểu dương, động viên kịp thời những mô hình hay, các điển hình tiên tiến, tấm gương tiêu biểu"10.

Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng và đề cao vai trò của pháp luật của Nhà nước với việc giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Năm là, thực hiện có hiệu quả việc giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân Việt Nam đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt.

 

QUAN NIỆM VÀ HÀNH XỬ LỢI ÍCH CỦA CÁC “NƯỚC LỚN” 

Nước lớn (cường quốc) là khái niệm dùng để chỉ những quốc gia có diện tích rộng, dân số đông và có nguồn lực phát triển vượt trội so với nhiều nước khác. Đó là nước có tiềm lực, sức mạnh và ảnh hưởng vượt trội về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và văn hóa, có khả năng tạo ảnh hưởng, chi phối và định hình chính sách và hành vi của các quốc gia khác trên thế giới cũng như chi phối sự vận động của hệ thống quan hệ quốc tế, của các xu thế quốc tế và việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Trong thập niên gần đây các nước lớn có nhiều điều chỉnh quan trọng theo hướng đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ. Lợi ích quốc gia - dân tộc là yếu tố cơ bản nhất quyết định thái độ và quan hệ giữa các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0. Do đó, trong chiến lược của mình, các nước nói chung, các nước lớn nói riêng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu.

Trong mối quan hệ lợi ích, các nước lớn thường bỏ qua hoặc xem nhẹ lợi ích của các nước nhỏ. Khi mâu thuẫn, xung đột, tranh chấp xảy ra thì các nước lớn thường gây sức ép, buộc nước nhỏ phải thuận theo mình, bất chấp luật pháp quốc tế cũng như lợi ích chính đáng, hợp pháp của các nước nhỏ.

Ở góc độ quyền lực, cạnh tranh giữa các nước lớn vẫn rất gay gắt khốc liệt nhưng không dẫn đến chiến tranh quy mô lớn chiến tranh thế giới. Khi độ gay gắt của mâu thuẫn giữa các nước lớn đến "đỉnh điểm”, thì họ chuyển sang thỏa hiệp với nhau để bảo vệ lợi ích của quốc gia, phe nhóm, tập đoàn, hoặc đẩy mâu thuẫn xung đột sang nước thứ ba hay khu vực khác, biến những nơi này thành địa bàn giao chiến, “thể hiện" về sức mạnh của vũ khí, công nghệ mới…(xung đột quân sự giữa Nga và Ucraine đang diễn ra từ ngày 24/02/ 2022 đến nay là một ví dụ).

Một đặc điểm nổi bật của thế giới trong giai đoạn hiện nay là các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn trở thành nhân tố có vai trò quan trọng đến sự phát triển thế giới. Như vậy, với vị trí, vị thế của nước ta hiện nay, nhận diện sâu sắc khái niệm “nước lớn” trên bản đồ thế giới, trong các mối quan hệ đối ngoại ở môi trường toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là hoạt động hết sức quan trọng và cần thiết.

 ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU "QUÂN ĐỘI KHÔNG CẦN THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI"


Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta.


Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".  


Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu quân đội từ gốc


Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.


Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.


Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.


Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.


Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!).


 Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. 


Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam


Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.


Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2). Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.


Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.


Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.


Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.


Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(4). Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(5).


Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.


Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.


QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".


QĐND

Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Cần có cách tiếp cận mới.

  - Trong gần ba thập niên qua, Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Mặc dù vậy, kim ngạch xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm cuối, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, phụ tùng và vật liệu nhập khẩu. Trong thời gian tới, cần có cách tiếp cận mới đối với khu vực này để hướng tới mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững.

Hiện trạng công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam thời gian qua

Trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam hiện nay, các mặt hàng nguyên liệu và các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ chiếm tỷ trọng cao và ít thay đổi trong suốt giai đoạn vừa qua. Việc phụ thuộc lớn vào linh kiện và phụ tùng nhập khẩu đã làm cho giá trị gia tăng tạo ra trong nước của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thấp hơn so với các quốc gia trong khu vực. Công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam chỉ đóng góp khoảng 16% GDP so với mức 26% của Thái Lan, 36% của Trung Quốc. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển dịch cơ cấu, tăng tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP, nâng cao giá trị gia tăng trong nước và sức cạnh tranh của ngành công nghiệp.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm dây truyền sản xuất tại nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy của Tập đoàn Thaco ở Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam _Ảnh: Tư liệu

Công nghiệp hỗ trợ không phải là một ngành cụ thể được phân loại trong hệ thống ngành kinh tế. Do vậy, phạm vi của công nghiệp hỗ trợ được xác định rất khác nhau, tùy thuộc vào khái niệm và mục đích sử dụng của các nhà hoạch định chính sách. Phạm vi được xác định càng cụ thể thì việc hoạch định chính sách càng trở nên dễ dàng hơn và các chính sách đó cũng minh bạch và có tính khả thi cao hơn. Khái niệm và phạm vi của công nghiệp hỗ trợ được hiểu khác nhau ở các nước khác nhau. Trong khi Nhật Bản, Thái Lan xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ chỉ là các doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện cho các ngành ô-tô, xe máy, điện tử(1) thì ở Việt Nam, công nghiệp hỗ trợ lần đầu tiên được định nghĩa cụ thể tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg, ngày 24-2-2011, của Thủ tướng Chính phủ, “Về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ”, là “các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. Sau đó, Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, ngày 3-11-2015, của Chính phủ, “Về phát triển công nghiệp hỗ trợ”, định nghĩa công nghiệp hỗ trợ là “các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh”. Với định nghĩa này, xét trong tổng thể ngành công nghiệp từ thượng nguồn đến hạ nguồn, công nghiệp hỗ trợ chính là các ngành thượng nguồn và trung nguồn, cung cấp đầu vào để sản xuất sản phẩm cuối cùng ở khu vực hạ nguồn. Như vậy, công nghiệp hỗ trợ chính là một phần quan trọng trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị. Nước nào có công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển mới có thể tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và chuyển dịch nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, gia tăng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP.

Tuy nhiên, nếu chỉ xét đến các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, công nghiệp hỗ trợ bao gồm một số nguyên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện - là đầu vào cho các sản phẩm hạ nguồn thuộc các ngành dệt may, da giầy, điện tử, ô-tô, cơ khí và công nghiệp công nghệ cao. Đây là căn cứ để xác định các mã ngành kinh tế tương ứng với phạm vi công nghiệp hỗ trợ trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg, ngày 6-7-2018.

Với cách xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ như vậy, số liệu khảo sát của Tổng cục Thống kê (năm 2018) cho thấy, cả nước có gần 5.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, cung cấp nguyên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng trong các ngành ô-tô, điện tử, cơ khí, dệt may, da giầy. Về vị trí địa lý, các doanh nghiệp tập trung phần lớn tại đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Về lĩnh vực hoạt động, ngành cơ khí và dệt may, da giày có số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhiều hơn so với các ngành khác. Xét về quy mô, 88% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa (có 300 lao động trở xuống). Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phân theo ngành, vùng, thành phần kinh tế và quy mô lao động được tổng hợp trong các bảng 1, 2, 3.

Cũng theo khảo sát của Tổng cục Thống kê, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chưa áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, hay những công cụ quản lý sản xuất thông dụng. Chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp có chứng nhận ISO 9000 (quản lý chất lượng), 9% doanh nghiệp có chứng nhận ISO 14000 (quản lý môi trường), cũng khoảng hơn 20% doanh nghiệp cho biết có thực hiện 5S tại doanh nghiệp. Trong khi các công cụ khác, như Lean, 6 sigma, hay TQM, TPM, số doanh nghiệp áp dụng chỉ khoảng từ 1% - 2%.
Về trình độ công nghệ, khoảng trên 30% doanh nghiệp cho biết hiện vẫn đang sử dụng hoàn toàn thiết bị điều khiển thủ công, trên 50% có sử dụng thiết bị bán tự động, chỉ hơn 10% doanh nghiệp có sử dụng thiết bị tự động hóa và chưa đến 10% doanh nghiệp có sử dụng rô-bốt trong dây chuyền sản xuất. Điều này cho thấy, năng lực của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn khá thấp cả về năng lực quản lý sản xuất và trình độ công nghệ.

Kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa (88%), thiếu thông tin thị trường và cơ hội tiếp cận khách hàng. Xét theo chuỗi giá trị, tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động ở các phân khúc mang lại giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị khá thấp, chỉ có khoảng 19% doanh nghiệp dệt may, da giầy và 33% doanh nghiệp điện tử có thực hiện công đoạn thiết kế trong quá trình sản xuất. Tỷ lệ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tiếp cận được các ưu đãi, hỗ trợ từ các chương trình của Nhà nước vẫn còn khá thấp (17%), điều này cho thấy độ bao phủ của các chính sách, chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước còn hạn chế. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có thể là do các chương trình, chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ mới được triển khai vài năm trở lại đây, hoạt động tuyên truyền về chính sách, chương trình này còn hạn chế khiến nhiều doanh nghiệp chưa biết đến những chương trình, chính sách này.

Điểm đáng chú ý từ khảo sát đó là mặc dù các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đều thừa nhận không có thế mạnh về khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường, khả năng nghiên cứu phát triển sản phẩm, tầm nhìn chiến lược sản xuất và hệ thống quản lý doanh nghiệp...; các doanh nghiệp cũng xác định khó khăn đối với sự phát triển là tiếp cận khách hàng, thông tin thị trường và nguồn nhân lực,... nhưng khi được hỏi mong muốn của doanh nghiệp về các giải pháp hỗ trợ, phần lớn doanh nghiệp muốn được hỗ trợ về thuế, thủ tục hành chính, vốn, mà không phải là những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, điểm yếu mà doanh nghiệp đã xác định trước đó. Đây chính là thách thức không nhỏ trong quá trình thiết kế và triển khai các chính sách phát triển công nghiệp bởi sự khác biệt này.

Chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và cơ cấu công nghiệp của Việt Nam

Khái niệm chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị

Chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị thường được sử dụng thay thế cho nhau, nhưng thực tế hai khái niệm này không tương đương nhau. Trong khi chuỗi cung ứng chỉ bao gồm các liên kết đầu vào - đầu ra của các hoạt động sản xuất tạo ra chuỗi các sản phẩm thì chuỗi giá trị có phạm vi lớn hơn, bao gồm các hoạt động làm gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng và các dịch vụ bổ sung, bao gồm nghiên cứu và phát triển, thiết kế, marketing, logistics, hỗ trợ khách hàng...

Hình 1 chỉ ra sự khác biệt giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng dựa trên thực tế là chuỗi cung ứng tập trung vào chuyển đổi vật lý và vận chuyển nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng, trong khi chuỗi giá trị tập trung vào các hoạt động làm tăng giá trị kinh tế cho sản phẩm ở từng giai đoạn nhưng không nhất thiết phải liên quan đến sản xuất hoặc logistics.

Đối chiếu định nghĩa, phạm vi công nghiệp hỗ trợ đã nêu ở trên với khái niệm chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị có thể thấy, định nghĩa và phạm vi công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam đang được giới hạn trong khái niệm chuỗi cung ứng, do đó, các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ cũng chỉ giới hạn đối với các hoạt động sản xuất trong chuỗi cung ứng. Trong khi đó, để tăng giá trị gia tăng trong nước, ngoài các hoạt động trong chuỗi cung ứng, còn có thể mở rộng ra nhiều hoạt động khác trong chuỗi giá trị, như các hoạt động thiết kế, nghiên cứu phát triển... nhưng hiện nay, những hoạt động này nằm ngoài phạm vi hỗ trợ của các chương trình, chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho công nghiệp hỗ trợ.

Tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị

Sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ là phụ tùng, linh kiện, nguyên liệu, vật liệu, là hàng hóa trung gian, đầu vào cho hoạt động sản xuất sản phẩm cuối cùng. Do vậy, bất kỳ sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nào cũng đều được lắp ráp vào một sản phẩm cuối cùng, bất kỳ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nào cũng đều phải tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của một hay một vài doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng thông qua những hình thức khác nhau, có thể trở thành nhà cung ứng cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong nước, hoặc xuất khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ở nước ngoài. Việc trở thành nhà cung cấp cho doanh nghiệp nào (nội địa, có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI, hay xuất khẩu) phụ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Khảo sát của Tổng cục Thống kê cho thấy, 75% doanh nghiệp cung cấp hoàn toàn cho thị trường trong nước (trong đó cung cấp cho FDI chiếm khoảng 5%) và khoảng 8% doanh nghiệp cung cấp hoàn toàn cho thị trường xuất khẩu, 17% doanh nghiệp còn lại vừa cung cấp cho thị trường trong nước, vừa xuất khẩu. Như vậy, có thể nói khoảng 30% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Trong ngành dệt may, da giầy, 64% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 3% cung cấp cho doanh nghiệp FDI), 9% xuất khẩu và 27% cung cấp cho cả hai thị trường; trong ngành cao-su, nhựa, hóa chất, số doanh nghiệp cung cấp cho trường trong nước chiếm 52% và hoàn toàn cho xuất khẩu là 4%, 44% còn lại cung cấp cho cả hai thị trường; điện tử có 44% doanh nghiệp cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 22% cung cấp hoàn toàn cho FDI), 16% cung cấp cho thị trường xuất khẩu và 40% số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của ngành cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Ngành cơ khí, ô-tô, 83% doanh nghiệp hoàn toàn cung cấp cho thị trường nội địa, chỉ có 3% doanh nghiệp có doanh thu hoàn toàn từ xuất khẩu và 14% doanh nghiệp có doanh thu từ cả hai thị trường.   

Một gian hàng tại Triển lãm Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 8 và Triển lãm quốc tế công nghệ chế tạo phụ tùng công nghiệp tại Việt Nam năm 2019_Ảnh: TTXVN

Thị trường thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ gồm: Hàn Quốc (25%), Nhật Bản (18,5%), Trung Quốc (14,5%) và Đài Loan (Trung Quốc) (8,9%). Xét theo từng ngành, với dệt may, da giày, thị trường xuất khẩu có nhiều doanh nghiệp tham gia là Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản; với cao-su, nhựa, hóa chất, số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu khá thấp (chưa đến 50%), thị trường xuất khẩu chính là Hàn Quốc và Nhật Bản; với ngành điện tử, Hàn Quốc và Nhật Bản là 2 thị trường chủ yếu, có đến 141 doanh nghiệp xuất khẩu sang Hàn Quốc và 53 doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản; thị trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí, ô-tô cũng chính là những thị trường truyền thống nêu trên, với thứ tự lần lượt là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc.

Để tính toán giá trị một nước tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã xây dựng phương pháp đo lường giá trị gia tăng trong thương mại xác định mức độ tham gia liên kết ngược (đo bằng giá trị gia tăng của nước ngoài trong xuất khẩu) và liên kết xuôi (đo bằng giá trị gia tăng trong nước trong xuất khẩu) trong chuỗi giá trị toàn cầu của một ngành/một quốc gia. Số liệu cập nhật đến năm 2016 cho thấy, giá trị gia tăng trong nước (liên kết xuôi) mặc dù tăng về giá trị tuyệt đối, nhưng ngày càng giảm về tỷ trọng; trong khi giá trị gia tăng nước ngoài (liên kết ngược), ngày càng tăng. Điều này cho thấy, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có hàm lượng nhập khẩu từ nước ngoài mỗi năm một tăng, có nghĩa là xuất khẩu của Việt Nam đang phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào nhập khẩu đầu vào từ nước ngoài, hay nói cách khác, tỷ trọng giá trị gia tăng của Việt Nam đóng góp vào chuỗi giá trị toàn cầu có xu hướng giảm dần trong thời gian vừa qua (Hình 2)(2).

Chỉ khi công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển, các doanh nghiệp trong nước mới có thể tăng tỷ trọng thu mua phụ tùng, linh kiện và nguyên liệu trong nước, khi đó Việt Nam mới có thể cải thiện được giá trị đóng góp và nâng cao vị thế của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Chuyển đổi cơ cấu công nghiệp Việt Nam

Số liệu thống kê trong giai đoạn vừa qua cho thấy, công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với mức đóng góp trong GDP đã tăng từ 12,9% năm 2010 lên 16,7% năm 2020. Nội ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng đang có sự dịch chuyển cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghệ cao cả về giá trị gia tăng và về kim ngạch xuất khẩu. Nếu năm 2010, giá trị gia tăng ngành chế biến, chế tạo chủ yếu cấu thành từ các ngành khai thác tài nguyên, thâm dụng lao động, như chế biến thực phẩm, dầu khí, dệt may, da giầy thì đến năm 2017, ngành điện tử đã vươn lên đứng đầu, với tỷ trọng đóng góp trong giá trị gia tăng ngành chế biến, chế tạo (MVA) là 25%. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam cũng có sự chuyển biến tích cực, với mức đóng góp của các mặt hàng chế biến, chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ dưới 80% năm 2010 lên 87% năm 2020, trong đó, nội ngành chế biến, chế tạo chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành điện tử, với tỷ trọng tăng từ 12% năm 2010 lên 43% năm 2020. Kết quả này gắn liền với sự bùng nổ về đầu tư trong lĩnh vực điện tử sau khi Việt Nam gia nhập WTO và tham gia đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do.

Xét về mức độ ảnh hưởng của các ngành công nghiệp Việt Nam đến thị trường toàn cầu cũng có thể cho biết vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị và cơ cấu của ngành xét trên tổng thể thị trường toàn cầu. Số liệu thống kê về xuất, nhập khẩu cho thấy, Việt Nam có vị thế khá lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu ngành da giầy, với thị phần gia tăng mạnh mẽ từ 4,1% năm 2010 lên 10,4% năm 2020. Vì có vị thế quan trọng như vậy, nên khi dịch bệnh xảy ra, các doanh nghiệp da giày tại Việt Nam phải tạm thời đóng cửa, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chuỗi giá trị toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam đã định vị được vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu của các ngành nội thất, may mặc, điện tử, với thị phần toàn cầu của Việt Nam trong các ngành này đang ngày càng được cải thiện.

Dây chuyền may áo sơ mi xuất khẩu tại nhà máy của Tổng Công ty cổ phần May Nhà Bè _Ảnh: TTXVN

Phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm thúc đẩy tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và cơ cấu lại công nghiệp

Những phân tích trên đây cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển công nghiệp hỗ trợ để có thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu và thúc đẩy quá trình cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cũng gợi ý một số giải pháp cần thực hiện để giải quyết một số bất cập hiện nay.

Thứ nhất, cần có cách tiếp cận công nghiệp hỗ trợ theo chuỗi giá trị, mở rộng phạm vi của công nghiệp hỗ trợ bao gồm các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì cách tiếp cận theo chuỗi cung ứng như hiện nay dẫn đến các chương trình ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước không đến được với các hoạt động mang lại giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp.

Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác truyền thông để các doanh nghiệp có thông tin và tiếp cận dễ dàng hơn với các chương trình ưu đãi, hỗ trợ của Chính phủ, từ đó, dần dần thay đổi nhận thức và đồng hành cùng các mục tiêu chung của đất nước. Bên cạnh đó, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả các dịch vụ công cũng là một trong những giải pháp cần thiết đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.

Thứ ba, để có thể nâng cao năng lực doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững, cần hoàn thiện hệ thống pháp lý và thể chế hóa các biện pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp công nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai hiệu quả các giải pháp mang tính cốt lõi về kết nối kinh doanh, thông tin thị trường, hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý, phát triển thị trường, phát triển nguồn nhân lực... Những giải pháp này cần được triển khai đồng bộ với công tác truyền thông, thay đổi và nâng cao nhận thức của các bên liên quan và cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nhằm hướng đến các mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững, qua đó, giúp doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thực sự chuyển mình, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể phát triển, vươn ra thế giới./.

Dân chủ ở Việt Nam được thực hiện tốt hơn trong thực tiễn

 


 Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước.

 Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết sử lý các hành vi vi phạm pháp luật.

Ví dụ: Trong bảo vệ quyền con người (bảo đảm đời sống của nhân dân: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 được triển khai mạnh mẽ, chuyển từ cách tiếp cận đơn chiều sang đa chiều, tập trung vào các nhóm, hộ nghèo nhất. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn đa chiều của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020, bình quân giai đoạn 2016-2020 giảm trên 1,4%/năm. Kết cấu hạ tầng thiết yếu ở các huyện nghèo, xã nghèo, vùng đồng bào DTTS được tang cường. Đời sống người dân không ngừng được cải thiện; tạo sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

 Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp ủy đảng, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. (Ví dụ hiện nay người đứng đầu có thể bị bãi nhiệm thông qua dư luận, ý kiến của nhân dân, thông qua bỏ phiếu tín nhiệm, thông qua đánh giá hằng năm. Hiện nay người đứng đầu không thể có hết nhiệm kỳ mới nghỉ mà có thể bãi miễn bất cứ lúc nào. Đó là chúng ta nhờ phát huy dân chủ

Phương châm dân chủ theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng


Với phương châm: Đoàn kết - dân chủ - kỷ cương - sáng tạo- phát triển, Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”

Thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa trên tất cả các lĩnh vực, trên Hiến pháp; các Luật; và các văn bản dưới luật. Điều 6, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ các hình thức thực hiện dân chủ: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Hiến pháp năm 2013 dành riêng chương II với 36 điều (từ điều 14 đến điều 49) quy định cụ thể về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. 

Dân chủ là động lực thúc đẩy sự phát triển của hệ thống chính trị

 


  Việc mở rộng dân chủ XHCN nhằm phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong việc xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HTCT.

 Dân chủ là điều kiện để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực trong HTCT, chống quan liêu cửa quyền, độc đoán, tham nhũng trong HTCT. (Khi phát huy được dân chủ của nhân dân; đội ngũ cán bộ sẽ được nhân dân lựa chọn, tin tưởng, sẽ có đội ngũ cán bộ, công chức tốt. Ví dụ hiện nay chúng ta đang thử nghiệm mô hình: Dân tin, Đảng cử ở một số địa phương, đã đạt được kết quả rất tốt, đã tìm ra được nhiều cán bộ tốt, gương mẫu, tốt về phẩm chất và năng lực. Dân tin, Đảng cử là như thế nào. Đó là nhân dân phát hiện cán bộ. Căn cứ vào sự phát hiện cán bộ của Đảng, cùng với sự tín nhiệm của nhân dân, lúc đó cấp ủy mới đưa vào danh sách nguồn cán bộ)

Như vậy, muốn xây dựng, phát huy dân chủ, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính trị

Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu: Nỗ lực vì mục tiêu chung của cộng đồng quốc tế.

 - Hiện nay, biến đổi khí hậu được xem là thách thức nghiêm trọng đối với nhân loại trong thế kỷ XXI với những tác động tiêu cực, đe dọa sự tồn vong của các hệ sinh thái và cuộc sống của con người. Đây là vấn đề toàn cầu đòi hỏi nỗ lực ứng phó của từng quốc gia cũng như sự hợp tác chặt chẽ của cộng đồng quốc tế. Trong những năm qua, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu và đã có nhiều nỗ lực ứng phó tích cực.

Biến đổi khí hậu - thách thức lớn đối với sự tồn vong của nhân loại

Biến đổi khí hậu có tác động lớn đến môi trường sống cũng như sinh kế của con người, do đó trở thành thách thức nghiêm trọng đối với sự tồn vong của nhân loại. Các lĩnh vực, khu vực chính bị tác động của biến đổi khí hậu bao gồm: tài nguyên nước ngọt, hệ sinh thái, sản xuất lương thực và lâm nghiệp, vùng ven biển và vùng đất thấp, công nghiệp và khu cư dân, sức khỏe con người…

Cháy rừng ở California năm 2020_Ảnh: AP

Những thay đổi trong điều kiện khí hậu và lượng khí carbon - dioxide tăng nhanh làm suy giảm nguồn tài nguyên nước ngọt, các khu vực bị ảnh hưởng bởi hạn hán kéo dài. Nhiều hệ sinh thái lớn được dự báo sẽ không thể chống chịu được các biến động khi nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên quá 3°C. Sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và suy giảm do thiếu nước ngọt và các điều kiện khí hậu thay đổi tác động đến cây trồng. Nhiều khu vực ven biển và vùng đất thấp trên thế giới bị chìm dần khi nước biển dâng và sẽ biến mất trong tương lai không xa. Nhiều ngành công nghiệp, kết cấu hạ tầng, các khu dân cư sẽ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, nhất là ở vùng ven biển, ven sông, những vùng dễ bị tác động bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan, các khu vực có nền kinh tế phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, chẳng hạn như các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản, ngành sử dụng nhiều nước ngọt, ngành du lịch... Sức khỏe con người cũng sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do các hiện tượng nắng nóng, lũ lụt và các dịch bệnh phát sinh. Tất cả các yếu tố trên sẽ dẫn đến thiệt hại trực tiếp về kinh tế, như mùa màng thất bát, giá cả thực phẩm và nhiên liệu tăng, lợi nhuận từ các ngành du lịch và công nghiệp giảm sút đáng kể. Chiến tranh, xung đột cũng có thể sẽ bắt nguồn từ các khó khăn này.

Đối với Việt Nam, theo Báo cáo “Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Tác động và thích ứng”, với kịch bản nhiệt độ tăng lên và nước biển dâng thêm 1m, Việt Nam sẽ có thể bị mất 5% diện tích đất liền tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Cũng theo nghiên cứu này, khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên 1,5ºC và 2ºC thì thiệt hại trực tiếp đối với GDP của Việt Nam sẽ tương ứng là 4,5% và 6,7%. Mực nước biển dâng cũng dẫn tới sự sụt giảm diện tích trồng lúa gạo, như mực nước biển dâng là 60cm có thể dẫn đến sự sụt giảm diện tích trồng lúa lên tới hơn 50% tại một số địa phương của Việt Nam, đe dọa an ninh lương thực của đất nước. Biến đổi khí hậu thực sự là một thách thức to lớn, nghiêm trọng đối với cộng đồng quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng.

Nỗ lực của cộng đồng quốc tế

Những thách thức trên chính là lý do trong những thập niên gần đây, cộng đồng quốc tế ngày càng nhận thức rõ hơn và đã có nhiều nỗ lực để ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngay từ thập niên 70 của thế kỷ XX, các nghiên cứu của Bộ Năng lượng Mỹ đã đưa ra những cảnh báo ban đầu về sự nóng lên toàn cầu. Năm 1979, Hội nghị khí hậu thế giới lần đầu tiên đã xem biến đổi khí hậu là vấn đề nghiêm trọng và kêu gọi các chính phủ nhận rõ và ngăn chặn biến đổi khí hậu do con người gây ra. Các sự kiện trong những năm tiếp theo, như: Năm 1987 được ghi nhận là năm nóng nhất; năm 1991, núi lửa phun trào ở Philippines… khiến cộng đồng quốc tế ngày càng chú ý hơn đến vấn đề biến đổi khí hậu. Năm 1992, tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio de Janeiro, 154 quốc gia đã ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, cam kết ngăn ngừa sự nóng lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính và đặt ra mục tiêu trước năm 2000 phải giảm khí thải của các nước công nghiệp phát triển trở về mức năm 1990. Tiếp đó, kể từ năm 1995, Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP) lần lượt được tổ chức hằng năm, đến nay đã diễn ra 26 hội nghị, trong đó đáng chú ý có những hội nghị quan trọng như COP3 (Kyoto, Nhật Bản năm 1997) đã thông qua Nghị định thư Kyoto, đưa ra các cam kết cao hơn về giảm khí thải nhà kính; COP21 (Paris, Pháp năm 2015) thông qua Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu thay thế Nghị định thư Kyoto, tiếp tục đưa ra các cam kết và hành động cao hơn nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.

Sau một năm bị trì hoãn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, tại Hội nghị mới nhất COP26 (tháng 11-2021 tại Glasgow, Anh), 197 quốc gia tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đã thông qua Hiệp ước khí hậu Glasgow, khẳng định quyết tâm theo đuổi các nỗ lực để đạt mục tiêu kiềm chế nhiệt độ toàn cầu tăng ở mức 1,5 độ C; đồng thời, lần đầu tiên kêu gọi thế giới giảm dần điện, than, không sử dụng công nghệ thu giữ carbon và trợ cấp nhiên liệu hóa thạch không hiệu quả. Tại COP26, thế giới cũng chứng kiến nhiều cam kết mạnh mẽ: 137 quốc gia nhất trí hành động để ngăn chặn việc phá rừng cũng như xói mòn đất vào năm 2030; gần 90 quốc gia cam kết cắt giảm 30% lượng phát thải khí methane gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030 so với mức năm 2020; hơn 20 quốc gia cam kết đến năm 2035 toàn bộ các ô tô và xe tải được sử dụng sẽ là xe không khí thải; hơn 40 quốc gia cam kết dần loại bỏ điện than; một loạt quốc gia sẽ đặt ra thời hạn chấm dứt sử dụng dầu mỏ và khí đốt, đồng thời ngừng cấp giấy phép thăm dò mới; Mỹ và Trung Quốc - hai quốc gia phát thải lớn nhất thế giới - cũng ra tuyên bố chung cam kết sẽ xây dựng các chiến lược dài hạn nhằm đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0. COP26 cũng chứng kiến cam kết của 450 tổ chức tài chính, quản lý tổng số tài sản trị giá 130 nghìn tỷ USD, tương đương 40% tài sản tư nhân toàn cầu trong việc sử dụng vốn đầu tư hỗ trợ công nghệ sạch như năng lượng tái tạo và ngừng tài trợ cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) bên lề Hội nghị COP26 tại Scotland, Vương quốc Anh_Ảnh: TTXVN

Kết quả của Hội nghị COP26 là tích cực, song vẫn còn nhiều khó khăn và nhiều việc phải làm. Trước hết, việc đạt được Hiệp ước khí hậu Glasgow là kết quả của một sự thỏa hiệp khó khăn giữa các nước khi hội nghị phải kéo dài thêm một ngày mới có thể đạt được thỏa thuận. Hơn nữa, mặc dù nhiều quốc gia đã nhất trí với các cam kết toàn cầu nhằm tránh những tác động của biến đổi khí hậu, song trên thực tế, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vẫn tiếp tục tăng. Việc thực hiện các cam kết hiện cũng hoàn toàn phụ thuộc vào hành động thực tế của các nước, song chưa có một cơ chế nào để giám sát, kiểm tra việc này. Cuối cùng, biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, một khi các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn còn chưa đạt được nhận thức chung trong vấn đề này thì cộng đồng quốc tế sẽ khó có thể đi tới hành động chung. Mới đây nhất, một dự thảo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề biến đổi khí hậu đã bị phủ quyết là minh chứng rõ nhất cho thấy sự khác biệt về quan điểm của các nước trong vấn đề biến đổi khí hậu.  

Sự tham gia tích cực, cam kết mạnh mẽ và trách nhiệm cao của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Nhận thức được mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã sớm tham gia các cơ chế, thỏa thuận liên quan, như Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto, Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, đã ban hành nhiều nghị quyết, chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch… liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3-6-2013, Hội nghị Trung ương khóa XI, “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” đã nêu một số quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu, đó là:

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển khoa học - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội.

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất, liên ngành, liên vùng. Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản. Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm, trọng điểm; có bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh nghiệm quốc tế.

Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại trong thế kỷ XXI. Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững. Phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm.

Tài nguyên là tài sản quốc gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước. Tài nguyên phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ; khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh tài nguyên. Chú trọng phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế.

Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.

Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng về chủ động ứng phó biến đổi khí hậu gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển bền vững, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng. Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên đề cập tới nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu trong Hiến pháp. Quốc hội các khóa gần đây cũng đã thông qua nhiều luật liên quan, như Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013… Kể từ năm 2007 đến năm 2017, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 109 văn bản, trong đó có 2 nghị quyết, 23 nghị định, 82 quyết định và 2 chỉ thị về lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó có Quyết định 2053/QĐ-TTg, ngày 28-10-2016, “Về việc ban hành kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về khí hậu”; Nghị quyết số 120/NQ-CP, ngày 17-11-2017, “Về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu”… Các bộ, ban, ngành, địa phương cũng đã cụ thể hóa, triển khai nhiều chương trình hành động nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách và thực hiện công tác ứng phó với biến đổi khí hậu theo chức năng, nhiệm vụ, địa bàn quản lý. Như vậy, nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, của mỗi cơ quan, ban, ngành, địa phương về ứng phó với biến đổi khí hậu đang ngày càng được nâng cao.

Tại Hội nghị COP26, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu đã tham gia hội nghị, đạt kết quả thành công tốt đẹp. Việt Nam đưa ra cam kết xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính để đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Sự tham gia tích cực của Việt Nam tại Hội nghị COP26 và cam kết mạnh mẽ ứng phó với biến đổi khí hậu đã nhận được sự hoan nghênh của cộng đồng quốc tế, thể hiện tầm nhìn của Chính phủ Việt Nam về định hướng phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn mới gắn với các cam kết ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm cao của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, cùng đóng góp vào các mục tiêu chung của nhân loại, phù hợp xu thế phát triển chung của thế giới.

Tuy nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là đối với các nước đang phát triển, có nguồn lực hạn chế là vấn đề khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nỗ lực của quốc gia cũng như sự trợ giúp hiệu quả của cộng đồng quốc tế. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thách thức lớn nhất của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay là việc huy động và duy trì sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, với quyết tâm kiên định thực hiện lộ trình, các cam kết đã đề ra. Bên cạnh đó, là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng gặp những khó khăn nhất định về tài chính khi nguồn lực trong nước còn phải dành để đầu tư cho các lĩnh vực cấp thiết khác; khó khăn trong việc tìm kiếm, tiếp cận các nguồn lực tài chính bên ngoài. Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của Việt Nam còn nhiều hạn chế; nguồn nhân lực trong nước phần lớn còn gặp khó khăn trong việc nghiên cứu cũng như vận hành các công nghệ, quy trình sản xuất tiên tiến phục vụ ứng phó với biến đổi khí hậu. Do đó, trong thời gian tới, để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, thực hiện đúng các cam kết đã đưa ra, cần tập trung vào làm tốt một số nhóm giải pháp:  

Một làvề công tác tuyên truyền, cần tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vấn đề biến đổi khí hậu, hình thành quyết tâm và hành động mạnh mẽ trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Mỗi cấp, mỗi ngành, địa phương cần có sự quan tâm chỉ đạo, tích cực lồng ghép vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình, kế hoạch cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ, địa bàn quản lý để thực hiện tốt, vừa góp phần phát triển kinh tế - xã hội, vừa hướng tới các mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu. Chẳng hạn, cần tăng cường hơn nữa các nội dung về biến đổi khí hậu trong chương trình học ở các cấp, thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu ở các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, qua đó tạo sự chuyển biến trong nhận thức, hành động, nhất là của giới trẻ đối với vấn đề này.

Đoàn viên, thanh niên tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu_Nguồn: baochinhphu.vn

Hai làvề công tác hoạch định và thực thi chính sách, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ cần rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến ứng phó biến đổi khí hậu, ưu tiên sớm ban hành nghị định về giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ozone; ban hành danh mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê phát thải khí nhà kính; xây dựng và triển khai đề án phát triển thị trường carbon. Việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu cần theo hướng đồng bộ với chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, tái cấu trúc nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Ngoài ra, ứng phó với biến đổi khí hậu vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài, phức tạp và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, địa phương, vì thế các cấp, các ngành, địa phương, nhất là các ngành như năng lượng, giao thông, công nghiệp, nông lâm nghiệp, thủy sản, du lịch, tài nguyên và môi trường, các địa phương có địa hình thấp, vùng đồng bằng ven biển… cần tích cực tham vấn, trao đổi, phối hợp trong hoạch định và thực thi chính sách, từ đó đề ra chính sách đúng đắn và thực thi chính sách hiệu quả nhất. 

Ba làvề công tác hợp tác quốc tế, Việt Nam cần tích cực, chủ động tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường hợp tác, học tập kinh nghiệm của các nước trong các vấn đề cụ thể, như ứng phó với nước biển dâng; vấn đề quy hoạch, tái cấu trúc nền kinh tế và các ngành sản xuất hướng tới giảm phát khí thải; vấn đề phát triển thị trường mua bán khí thải carbon mà một số nước đã thực hiện. Tăng cường hợp tác chia sẻ, sử dụng các dữ liệu quan trắc môi trường, tài nguyên nước sông Hồng, sông Mekong với các quốc gia liên quan. Đặc biệt, cần tích cực tham gia các diễn đàn, hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu, tăng cường hợp tác trong các khuôn khổ song phương và đa phương, qua đó tranh thủ các nguồn lực quốc tế để phục vụ công tác ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, thực hiện đúng các cam kết quốc tế không chỉ bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước, mà còn là đóng góp của Việt Nam đối với sự phát triển chung của nhân loại, vì cuộc sống tốt đẹp của chúng ta và các thế hệ mai sau./.

Hệ thống chính trị là phương tiện để xây dựng, hoàn thiện chế độ dân chủxã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

 


HTCT không có mục đích tự thân mà mục đích sâu xa, quan trọng nhất của nó là hướng vào xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ và vai trò làm chủ thực sự của người dân. Mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị đều hướng vào mục tiêu bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Điều đó thực thể hiện cụ thể:

 HTCT xây dựng, ban hành quan điểm, đường lối, pháp luật về dân chủ; HTCT lãnh đạo, tổ chức thực hiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; HTCT là người đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân; Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua 2 hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ đại diện là hình thức Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hệ thống chính trị, tức là thông qua vai trò quản lý xã hội của Nhà nước, thông qua sự lãnh đạo của Đảng và thông qua các tổ chức chính trị - xã hội.

Như vậy, HTCT nước ta chính là công cụ, phương tiện để thực thi dân chủ. Đổi mới HTCT thực chất là nhằm mục đích hoàn thiện nền dân chủ, làm cho quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện đầy đủ trên mọi mặt của đời sống xã hội.

Bản chất hệ thống chính trị nước ta hiện nay

 


Hệ thống chính trị nước ta hiện nay mang bản chất GCCN; các tổ chức trong hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động theo lập trường, quan điểm, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của GCCN. Điều đó quy định chức năng, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. (Bản chất giai cấp công nhân: nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; văn hóa truyền thống và tinh hoa văn hóa thế giới; đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước…; Mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều nhằm bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Cụ thể là, Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thiết lập sự thống trị của đa số nhân dân với thiểu số bóc lột. Các tổ chức chính trị - xã hội đều có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên; Hệ thống chính trị ở nước ta là hệ thống chính trị nhất nguyên, không có đối kháng. Bản chất đó dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, về sự thống nhất giữa những lợi ích căn bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc.

 

Hệ thống chính trị chính là cơ chế thực thi thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội.

 


   Là thiết chế (công cụ) cơ bản để nhân dân ta thực hiện quyền dân chủ, quyền làm chủ của mình, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị là một hệ thống các thiết chế và thể chế để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do nhân dân giao phó và uỷ quyền. Do đó, toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Nhân dân ta thực hiện quyền lực của mình chủ yếu thông qua phương thức lãnh đạo của Đảng và chuyên chế xã hội của Nhà nước. Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, dư­ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài Nhà nước, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị thông qua tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và thông qua tư cách cá nhân công dân, cử tri tham gia vào việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước. Hệ thống chính trị nước ta hoạt động theo cơ chế: Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân lao động làm chủ.

Nắm vững khái niệm hệ thống chính trị để nhà nước ta thực hiện tốt hơn về dân chủ XHCN

 


Hệ thống chính trị của một quốc gia là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, có mối quan hệ với nhau, vận hành theo một cơ chế nhất định, bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền trong quan hệ với các giai cấp và các nhóm xã hội khác. Cuốn “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội XII” định nghĩa: Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm hệ thống các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện và tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị.Hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức, các thiết chế với tư cách là chủ thể của các quyết định chính trị (Cấu trúc của hệ thống chính trị nói chung bao gồm: nhà nước, các đảng phái chính trị hợp pháp và các tổ chức chính trị - xã hội). Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội (Đoàn TNCS Hồ Chí Mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam). Trong hệ thống chính trị nước ta Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội, là hạt nhân của hệ thống chính trị. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là trụ cột của hệ thống chính trị - bao gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp (Tòa án và Viện Kiểm sát nhân dân) và chính quyền các địa phương. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.

Tính ưu việt trong bản chất của chế độ dân chủ ở nước ta

 


Lịch sử nhân loại có dân chủ chủ nô với nhà nước chiếm hữu nô lệ, dân chủ tư sản với nhà nước tư sản và dân chủ XHCN. Chế độ dân chủ ở nước ta hiện nay là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân. Biểu hiện: Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị. Đại hội XIII: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi công dân bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ. Trong chế độ dân chủ XHCN ở nước ta, quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, quyền hạn và trách nhiệm của mọi công dân gắn bó chặt chẽ với nhau, bảo đảm cho công bằng xã hội và bình đẳng của công dân trước pháp luật. Vị trí, vai trò của nhân dân được pháp luật thừa nhận và đảm bảo trên thực tế. Cụ thể là: Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Điều 3: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Phương thức thực hiện dân chủ của nhà nước ta: Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.

Quyền dân chủ của nhân dân được thể hiện trong những vấn đề cốt lõi

 


 Nhân dân có quyền tham chính và hưởng quyền lợi công bằng khi xã hội tạo ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như:Quyền được tham gia xây dựng và thực hiện chế độ chính trị tiến bộ (chế độ xã hội chủ nghĩa.Quyền được sở hữu tư liệu sản xuất của chung và tự do thực hiện quyền phát triển kinh tế theo khuôn khổ của pháp luật.Quyền được sống tự do, mưu cầu hạnh phúc, được xây dựng và hưởng thụ giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp, tiến bộ (được bảo đảm tốt các quyền con người). Bất cứ chế độ dân chủ nào cũng được xác lập dựa trên 3 bộ phận: Thể chế dân chủ: hệ thống văn bản pháp luật quy định việc xây dựng và hoạt động của bộ máy nhà nước theo những nguyên tắc dân chủ;Thiết chế dân chủ: Bộ máy nhà nước và các tổ chức CT - XH được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc mang tính dân chủ để thực thi dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.Các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tạo thành những cơ sở cần thiết để thiết lập và thực thi dân chủ: trình độ dân trí, ý thức dân chủ của công dân, truyền thống dân chủ của quốc gia, dân tộc.

Trong chế độ dân chủ, nhà nước thừa nhận và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. (dân chủ XHCN)

 


Trong chế độ dân chủ, mọi quyền lực chính trị đều thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua nhà nước. Nhà nước ban hành pháp luật trong đó quy định quyền, nghĩa vụ của công dân; tổ chức ra các tổ chức thiết chế để bảo đảm quyền làm chủ của công dân.

V.I.Lênin quan niệm: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”. Do vậy, dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức, một hình thái nhà nước, trong đót thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân. Mức độ, phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trình độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ.

Nắm vững khái niệm chế độ dân chủ để thực hiện dân chủ ở Việt nam tốt hơn

 


Dân chủ là một kiểu (hình thức) nhà nước để duy trì, bảo vệ quyền thống trị của giai cấp cầm quyền trên cơ sở thừa nhận, tôn trọng và thực hiện những quyền tự do, dân chủ nhất định.

Chế độ dân chủ là một hình thức tổ chức xã hội, chế độ chính trị - xã hội, một kiểu nhà nước; là khái niệm để phân biệt giữa chế độ dân chủ và chế độ quân chủ.

V.I.Lênin đã chỉ rõ không có “dân chủ nói chung”, “dân chủ phi giai cấp”. Tính chất giai cấp của phạm trù dân chủ là tiêu chí để phân biệt bản chất khác nhau của các nền dân chủ. Như chúng ta đã biết, đến nay, loài người đã trải qua các chế độ dân chủ như: Dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và dân chủ XHCN. Sự khác nhau của các chế độ dân chủ là ở chỗ: bảo vệ lợi ích của giai cấp nào? Dân là ai? thiểu số hay đa số? quyền làm chủ trên thực tế đến đâu? Theo thực tiễn trải qua, chế độ dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản đều bảo vệ cho giai cấp cầm quyền; còn dân chủ XHCN là chế độ bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Dân chủ được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, với những nghĩa khác nhau

 


Thứ nhất, dân chủ với tư cách là quyền con người, quyền công dân. Theo đó, dân chủ là quyền làm chủ, sự bình đẳng của con người, của công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. V.I.Lênin: “Dân chủ là sự thống trị của đa số”. Hồ Chí Minh nói: “dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ” tức là nói đến địa vị, vai trò của nhân dân trong xã hội. Dân chủ đối lập với sự độc tài, chuyên chế trong xã hội.

Thứ hai, dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị hay tổ chức xã hội cụ thể, trong đó xác định và thực hiện quyền bình đẳng của mọi thành viên.

Thứ ba, dân chủ với tư cách là một chế độ chính trị - xã hội. Theo đó, chỉ khi xã hội xuất hiện nhà nước thì chế độ dân chủ mới ra đời.