Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

Mối nguy hại từ việc xem nhẹ một căn bệnh nặng

 

Mối nguy hại từ việc xem nhẹ một căn bệnh nặng

Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.

Tự cho mình là tốt, là hay?

CNCN có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ là nhất-hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”. CNCN hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của CNCN.

Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...

 Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN.

Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể, đồng đội và quần chúng.

Cùng với đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên.

Thực tế cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý, trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí, hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực chất và chưa đạt như mong muốn.

Cần nhớ rằng, CNCN là đặc biệt nguy hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sớm chỉ rõ CNCN là một thứ gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ người ta đi xuống dốc, nó là một thứ vi trùng rất độc đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm... Nó phá từ trong phá ra, là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống lạc hậu, nguy hiểm hơn kẻ thù bên ngoài. Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng cũng nhất quán cho rằng, CNCN là một trở ngại lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ CNCN.

Tiếp cận như vậy để thấy, CNCN-một căn bệnh hết sức nguy hại, đang diễn ra phổ biến, hậu quả và hệ lụy khó lường, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi lại hồn nhiên xem nhẹ, chưa thật sự đề cao trách nhiệm và quyết tâm chính trị trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi. Biểu hiện rõ nét nhất là sức chiến đấu của tổ chức đảng còn nhiều vấn đề đáng bàn; việc thực hành nguyên tắc tự phê bình và phê bình bị xem nhẹ, thiếu thực chất.

Việc không phải của mình!

Vì không nhận thức rõ nguồn gốc, bản chất, mức độ nguy hại của CNCN; lại tự cho rằng bản thân mình luôn cố gắng học tập, rèn luyện nên tuyệt nhiên đã trở thành người tốt, có nhân cách hoàn thiện, nhiều cán bộ, đảng viên thường sinh ra tâm lý mặc nhiên, bàng quan, vô cảm trước vấn nạn đang hiện hữu nhãn tiền. Nhiều cán bộ, đảng viên không nhận thấy trách nhiệm bản thân mà phiến diện cho rằng việc chống CNCN là việc của cấp ủy, chính quyền, của cơ quan chức năng và những người có trách nhiệm. Ở nhiều nơi, khi CNCN xuất hiện phổ biến, gây hậu quả nghiêm trọng thì mới “phất cờ” tuyên chiến, đấu tranh theo lối thụ động, vuốt đuôi.

Lại không ít cán bộ cho rằng, CNCN là bệnh của một cá nhân (cá thể) cụ thể nên rất dễ dàng nhận diện, đấu tranh, triệt tiêu được ngay... Thế nhưng, tất cả những nhận thức ấy hoặc là rơi vào sai lầm, hoặc phiến diện một chiều, hoặc mang nặng sự áp đặt chủ quan.

Nên nhớ, CNCN chỉ hình thành, tồn tại và “ký sinh” như ung nhọt trong cơ thể, nhân phẩm mỗi con người cụ thể. Do đó, chống CNCN trước hết thuộc trách nhiệm của mỗi cá nhân, giống như mỗi người phải có trách nhiệm chăm lo sức khỏe bản thân, làm cho đời sống tinh thần trở nên sạch sẽ, lành mạnh.

Để làm được điều đó, đòi hỏi qua từng ngày, từng tuần, từng việc làm, hoạt động cụ thể, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm “tự soi” lại mình để nghiêm khắc, kiên trì “tự sửa” như đánh răng, rửa mặt hằng ngày. Đừng một ai tự cho mình là hoàn hảo; đừng bất chấp thực hành những việc chỉ có lợi cho mình, lại có hại cho người khác hoặc tổ chức. Mỗi cán bộ, đảng viên cần biết cách "định vị lại", "cấu trúc lại" và thường xuyên điều chỉnh cách sống, cách làm theo hệ giá trị chuẩn mực đạo đức cách mạng. Bất cứ khi nào có chuyện khác biệt, rơi vào tình huống có vấn đề, từng người không nên cố gắng tìm những lý do bên ngoài. Thay vào đó, hãy cố gắng tìm trong bản thân xem mình làm điều đó đúng hay sai; có gây tổn hại gì đến người khác không? Có làm điều gì đó trái với luân thường, đạo lý hay không? Có tuân theo các nguyên tắc phổ quát về chân, thiện, mỹ? Một khi, mỗi cán bộ, đảng viên đều nhất quán quyết tâm tự làm mới, tự hoàn thiện bản thân bằng thực tiễn cách mạng thì chắc chắn CNCN sẽ được ngăn chặn, đẩy lùi.

Đối với tổ chức, ở mọi cấp, mọi ngành cần nhất quán quyết tâm chính trị rất cao để nhận diện, đẩy lùi CNCN trong nội bộ. Tất nhiên, nhận diện CNCN không phải chuyện giản đơn, do đó, các cấp cần có chủ trương phát huy tinh thần tự giác, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong tập thể; đồng thời phải có cơ chế để giám sát, có chế tài để xử phạt, xử lý một cách nghiêm khắc, triệt để.

Với tinh thần đó, từng cán bộ, đảng viên phải có thái độ tích cực, quyết liệt, không khoan nhượng trong nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện CNCN của đồng chí, đồng nghiệp, nhất là người đứng đầu. Việc nhận diện CNCN cần được vận hành trên cả 5 thành tố: Tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức, cán bộ; nhận diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là các khu vực liên quan đến lợi ích kinh tế, tài chính, cán bộ và chính sách; trên cả phẩm chất, năng lực cán bộ, mà trước hết là khí chất, tính cách, tư cách, lối sống, cách sống của cán bộ, đảng viên.

Bàn về giải pháp đẩy lùi CNCN, trong bài nói “Phát huy chủ nghĩa tập thể, tiếp tục chống CNCN”, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị từng quan niệm, cho rằng cuộc đấu tranh giữa CNCN và chủ nghĩa tập thể luôn diễn ra hằng ngày, hằng giờ. CNCN tuy rất nguy hiểm và ngoan cố, nhưng nó kỵ chủ nghĩa tập thể như lửa kỵ nước. Chỉ cần mỗi cán bộ, đảng viên có dũng khí đứng lên phất cao ngọn cờ chủ nghĩa tập thể, nói nhiều về chủ nghĩa tập thể, nghĩ nhiều đến chủ nghĩa tập thể, gây một phong trào làm việc nhiều cho tập thể, tổ chức đông đảo quần chúng hành động theo khẩu hiệu “ta vì mọi người, mọi người vì ta”, nhất định chúng ta sẽ thắng lợi.

KIÊN TRÌ LẤY CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM KIM CHỈ NAM CHO MỌI HÀNH ĐỘNG Các thế lực thù địch không ngừng ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta nhằm làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, cơ bản, và xuyên suốt. Các thế lực thù địch không ngừng công kích, xuyên tạc quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Bóp méo, hạ thấp, phủ nhận thành quả đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên nhiều lĩnh vực. Chống đối về văn hóa, vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là chủ đề dễ tạo nên sự quan tâm của dư luận; chúng thường gieo rắc tư tưởng sùng bái lối sống, văn hóa phương Tây, tạo nên xu hướng văn hóa - văn nghệ cực đoan, phản động; xúc phạm những giá trị văn hóa truyền thống. Các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận quần chúng thực hiện các hành vi chống đối chính quyền; tìm cách khoét sâu vào những yếu kém, sơ hở, của ta để bóp méo, xuyên tạc, tạo ra sự hoài nghi, trong nhân dân ta. Chống đối về chính trị, chúng thường xuyên công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng đối lập, đòi bỏ điều 4. Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do không đem lại kết quả. Trong thời gian gần đây chúng thường tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Từ đó tác động làm tha hóa từng cán bộ, đảng viên, nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại từ bên trong, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chống đối về ngoại giao, tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam; xuyên tạc đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam… Nhận diện là việc làm thường xuyên liên tục, không ngơi nghỉ; nhưng phải đi đôi với không ngừng đấu tranh bằng tổng thể các biện pháp: Trước hết. Phải kiên trì lấy Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”. Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Người, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh” Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi là kim chỉ nam cho mọi hành động. Tiếp theo: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là nhiệm vụ hàng đầu, việc làm thường xuyên liên tục, không một phút nghỉ ngơi Công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được những kết quả tích cực. Lực lượng 47 được thành lập, cùng với cơ quan thường trực, tích cực tham gia đấu tranh hiệu quả, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trước âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, nham hiểm, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là vấn đề đòi hỏi tính bền vững, lâu dài, có tổ chức chặt chẽ. Một là, chủ động phát hiện sớm hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. làm cơ sở đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vậy, ngoài hình thức đấu tranh truyền thống, cần bổ sung những hình thức đấu tranh mới, như: đấu tranh trực tiếp, trực diện trên không gian mạng, thông qua các phương tiện truyền thông xã hội; vận động đoàn thể nhân dân cùng tham gia. Hai là, tiếp tục tuyên truyền, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào cuộc sống hàng ngày ở nước ta. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời luận giải những vấn đề lý luận mới, khó, còn nhiều ý kiến khác nhau, tạo sự đồng thuận trong nhận thức xã hội. Bằng các hình thức tuyên truyền phù hợp gần với đời sống Nhân dân. Ba là, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, trở thành thiết thực với cuộc sống. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin nghĩa là phải nắm vững bản chất khoa học và cách mạng, vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta, để những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin có thêm sức sống mới, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc đến với mọi miền Tổ quốc./.
GIỮ VỮNG VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU CỦA DÂN TỘC Giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc, lý tưởng, cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ là vấn đề cần thiết trong mọi thời đại; hiểu lịch sử để yêu Tổ quốc hơn; yêu quê hương để tiếp bước cha anh xây dựng đất nước; để ngọn lửa không bao giờ phai nhạt Thực trạng mặt trái của nền kinh tế thị trường đang đặt ra nhiều thách thức đối với vấn đề trên, đồng thời mặt bằng nhận thức về lịch sử truyền thống dân tộc, tưởngcách mạng, đạo đức, lối sống trong xã hội hiện nay có nhiều mặt hạn chế, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Chúng ta cần phát huy mọi nguồn lực vận dụng linh hoạt sáng tạo nhiều giải pháp để làm tốt công tác giáo dục lịch sử truyền thống dân tộc. Thực tế thấy rằng một bộ phận học sinh, sinh viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, chạy theo lối sống thực dụng, vọng ngoại; một số ít dao động, tin theo những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cổ suý cho chủ nghĩa tư bản, hoài nghi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; việc dạy học lịch sử theo truyền thống có nhiều điểm chưa phù hợp, khô cứng chưa thu hút được học sinh, sinh viên tham gia. Để việc giáo dục đó trở nên lôi cuốn, có ý nghĩa thiết thực, cần thực hiện theo một số giải pháp sau: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục Làm tốt công tác giáo dục cho các thế hệ trẻ để ngọn lửa không bao giờ phai nhạt Công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho học sinh, sinh viên trong thời gian qua bên cạnh những mặt tích cựu vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao, một số hoạt động còn mang nặng tính hình thức, chưa theo kịp sự phát triển. Để công tác giáo dục truyền thống lý tưởng cách mạng cho học sinh, sinh viên tiếp tục được phát huy hiệu quả, cần phải tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, đó là: thu hút học sinh, sinh viên tham gia hơn nữa như: Giáo dục trực tuyến, xây dựng video, giáo dục truyền thống bằng việc sân khấu hóa, trải nghiệm thực tiễn tại các địa điểm di tích lịch sử, các cuộc thi tìm hiểu truyền thống quê hương, đất nước; tổ chức các hoạt động về nguồn, đến với địa danh lịch sử, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc, tôn tạo di tích lịch sử, di tích văn hóa để giáo dục truyền thống cho thanh thiếu nhi. Tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị trong đoàn viên, thanh niên gắn với các dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng của đất nước bằng nhiều hình thức phong phú như: Diễn đàn, tọa đàm, ngày hội học sinh sinh viên, liên hoan tuyên truyền ca khúc cách mạng, xem phim lịch sử, triển lãm, sử dụng mạng xã hội tuyên truyền... để bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, cho thế hệ trẻ. Tích cực khích lệ động viên học sinh, sinh viên thông qua các gương người tốt việc tốt. Tổ chức tuyên dương khen thưởng, lan toả rộng rãi kịp thời những gương học sinh, sinh viên có hành động đẹp, ý nghĩa; chú trọng nhân rộng những cách làm mới, sáng tạo để học sinh, sinh viên trên cả nước noi theo. Từ tự hào truyền thống là cơ sở để nêu cao lòng yêu nước, tự hào truyền thống quê hương, là động lực để cùng đoàn kết, không ngừng nỗ lực, góp phần xây dựng quê hương, đất nước; phát huy tinh thần “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” . Tích cực tổ chức hoạt động phong trào, Đặc biệt, kinh nghiệm trong đại dịch Covid-19, cùng thế giới chung tay phòng chống dịch, trong nước sinh viên là một lực lượng quan trọng, đóng góp các phần việc ý nghĩa, thiết thực, vận động trao tặng các nhu yếu phẩm, thực phẩm phục vụ bà con tại các khu cách ly, bằng nhiều hình thức tuyên truyền về phòng dịch, sáng tác các ấn phẩm văn hóa nghệ thuật để cổ động các lực lượng tham gia phòng, chống dịch; thông qua được tham gia tích cực vào các hoạt động tình nguyện vì an sinh xã hội, vì cuộc sống cộng đồng, từ giáo dục truyền thống cách mạng sẽ bồi đắp, hun đúc trong tâm hồn các em những lý tưởng sống, tình yêu thương nhân loại, đồng bào và thể hiện nó thông qua nhiều hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ người dân có hoàn cảnh khó khăn, phát động, quyên góp trao tặng các phần quà giúp đỡ các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thương binh liệt sỹ, mẹ Việt Nam anh hùng; tham gia vào các phần việc hỗ trợ người dân giằng chéo nhà cửa, dọn dẹp sân vườn, khắc phục hậu quả lũ lụt… .

Nhân rộng điển hình tiên tiến, chống chủ nghĩa cá nhân

 

Nhân rộng điển hình tiên tiến, chống chủ nghĩa cá nhân

“...Kịp thời phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến (ĐHTT), gương người tốt, việc tốt...” là một trong những quan điểm được Quân ủy Trung ương xác định tại Nghị quyết số 847-NQ/QUTW. Phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng, nhân rộng ĐHTT, gương người tốt, việc tốt không những làm cho giá trị, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lan tỏa, thấm sâu vào đời sống cán bộ, chiến sĩ mà còn là giải pháp thiết thực, hiệu quả để chống chủ nghĩa cá nhân ở các cơ quan, đơn vị hiện nay.

Chú trọng bồi dưỡng, xây dựng ĐHTT

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng ĐHTT, gương người tốt, việc tốt. Bác từng căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và “Người tốt, việc tốt nhiều lắm, ở đâu cũng có. Ngành, giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có”; “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”. Vì vậy, "lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Ðảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới". Để khích lệ, nhân rộng ĐHTT, gương người tốt, việc tốt, Bác thường xuyên quan tâm đến những việc nhỏ, việc bình thường nhưng ích nước, lợi dân. Người nói: “Đối với anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua được Đảng và Nhà nước khen thưởng thì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành cân nhắc, xét duyệt. Còn với người tốt làm những việc tốt, thì việc khen thưởng có thể đơn giản hơn. Nếu Trung ương cho phép Bác làm, thì Bác nghe báo cáo, đọc báo và chỉ cần điều tra một chút cho đúng sự thật, là Bác có thể thưởng huy hiệu”. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua các giai đoạn xây dựng, chiến đấu và phát triển, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội đã triển khai thực hiện có hiệu quả công tác thi đua-khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước. Từ Phong trào thi đua “Giết giặc lập công” thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thi đua “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” đến Phong trào Thi đua Quyết thắng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã có hàng vạn đơn vị anh hùng, đơn vị quyết thắng, cùng các anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua... làm cho phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trở thành một biểu tượng sáng đẹp của dân tộc. Đặc biệt, Phong trào Thi đua Quyết thắng hiện nay đang được cấp ủy, chỉ huy các cấp tổ chức thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức phong phú, có chiều sâu và sức lan tỏa rộng. Gắn kết chặt chẽ giữa thi đua thường xuyên với các đợt thi đua cao điểm, đột kích, các phong trào, các cuộc vận động của các cấp, các ngành, tạo thành phong trào hành động cách mạng sôi nổi, rộng khắp trong toàn quân. Càng khó khăn, gian khó phong trào thi đua càng được phát huy, khơi dậy mạnh mẽ phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ trong từng tập thể, cá nhân. Đại dịch Covid-19 một lần nữa như “lửa thử vàng”. Trước khó khăn, gian nguy của hàng vạn đồng bào, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phát động phong trào thi đua đặc biệt với chủ đề “Quân đội cùng cả nước chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19”; những tấm gương cán bộ, chiến sĩ quân đội quên mình trên tuyến đầu chống dịch, tự giác nhận việc khó, việc nguy hiểm để nhân dân có cuộc sống bình yên, hạnh phúc đã chạm đến trái tim của mọi người dân.

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW xác định: Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân phải gắn với thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” và các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động của các cấp, các ngành và địa phương; “...Kịp thời phát hiện, nhân rộng các ĐHTT, gương người tốt, việc tốt...”.

Thực chất, ĐHTT, gương người tốt, việc tốt là biểu hiện cao nhất, sinh động nhất phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Càng phát hiện, nhân rộng được nhiều điển hình, gương người tốt, việc tốt thì phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ càng lan tỏa, tạo hiệu ứng sâu rộng, lôi cuốn, cổ vũ để cái tốt ngày càng sinh sôi nảy nở, phát triển, hòa quyện với thực tiễn hoạt động của cán bộ, chiến sĩ; làm cho chủ nghĩa cá nhân không còn “đất” tồn tại trong quân đội.

Lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

ĐHTT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của phong trào thi đua và lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, song vẫn còn những đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến việc phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình, gương người tốt, việc tốt..., làm cho phong trào thi đua mất sức sống, thiếu động lực và đi vào lối mòn, hình thức. Nguyên nhân là do vai trò lãnh đạo, tổ chức thực hiện của cấp ủy, chỉ huy chưa được phát huy; phương pháp, hình thức phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng ĐHTT còn cứng nhắc và có biểu hiện hạ thấp tiêu chí nên điển hình chưa thực sự rõ nét, tính thuyết phục, sức lan tỏa hạn chế.   

Phát hiện ĐHTT là việc làm hết sức công phu, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải đi sâu, đi sát phong trào thi đua, tìm hiểu kỹ kinh nghiệm, thành tích của từng tập thể, cá nhân; phải thông qua phong trào thi đua thực hiện những việc khó, việc mới để phát hiện và tạo điều kiện cho điển hình sớm xuất hiện. Để có cơ sở phát hiện, lựa chọn điển hình, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc rằng: ĐHTT là những tập thể, cá nhân có ý chí quyết tâm cao, có hành động tích cực, có thành tích tiêu biểu, sáng kiến hay, kinh nghiệm tốt trên một mặt hoặc nhiều mặt, có thể nêu gương cho mọi người và đơn vị học tập, áp dụng, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua phát triển mạnh mẽ hơn. Trong đó, cơ sở và tiêu chí được đặt lên hàng đầu là trách nhiệm chính trị và động cơ phấn đấu. Cũng có thể chọn điển hình về một mặt, một lĩnh vực mà đơn vị đang cần nhân rộng... Mặt khác, điển hình phải được rèn luyện, kiểm nghiệm trong thực tiễn và được soi chiếu với 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ theo Nghị quyết 847, nhằm loại bỏ tình trạng "hiện tượng đánh lừa bản chất"; những kẻ cơ hội hoặc bè phái, cục bộ trong lựa chọn...

Phát hiện ĐHTT phải căn cứ vào những cá nhân, tập thể có khả năng hoàn thành sớm, hoàn thành tốt các chỉ tiêu thi đua, hoặc một mặt nổi trội so với cá nhân, tập thể khác trong đơn vị thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ: Trực sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, hoạt động phong trào văn hóa-văn nghệ, thể dục-thể thao và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất khác... Do đó, trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chính trị phải thường xuyên yêu cầu cấp dưới, cán bộ chủ trì, các tổ, ban, hội đồng thi đua bám sát thực tiễn với phương châm “cơ quan bám đơn vị, cán bộ bám thao trường”. Tiến hành chấm điểm, nhận xét và thông báo thi đua chặt chẽ, làm cơ sở phát hiện, đánh giá, nhận xét đúng thực trạng, khả năng phát triển của từng tổ chức, từng con người cụ thể trong thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu thi đua, trên cơ sở đó tìm ra ĐHTT. Việc bồi dưỡng, xây dựng ĐHTT có ý nghĩa quyết định đến phát huy, lan tỏa phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Cấp ủy, chỉ huy các cấp phải căn cứ vào đặc điểm, nhiệm vụ và những mặt tích cực của điển hình để xác định nội dung bồi dưỡng phù hợp, có hiệu quả đối với từng tập thể, cá nhân. Nội dung bồi dưỡng có thể toàn diện hoặc một mặt. Song, chủ yếu tập trung vào bồi dưỡng động cơ, thái độ, ý thức trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong thực hiện nhiệm vụ; bồi dưỡng những kinh nghiệm, những cách làm hay để ĐHTT khắc phục khó khăn, phấn đấu, rèn luyện, trở thành điển hình toàn diện hơn, xứng đáng với sự tôn vinh của tập thể.

Nhân rộng, phát huy tác dụng của ĐHTT là một yêu cầu trong tổ chức phong trào thi đua, là nghệ thuật lấy phong trào chỉ đạo phong trào. Nhân rộng ĐHTT cần tiến hành đồng bộ các biện pháp như: Sử dụng các thiết chế văn hóa, hoạt động văn hóa, văn nghệ, diễn đàn, tọa đàm để tuyên truyền, phổ biến sâu rộng những kết quả, thành tích, kinh nghiệm, cách làm hay của điển hình. Tổ chức phát động Phong trào “Học tập, làm theo, đuổi kịp và đuổi vượt các ĐHTT” trong toàn đơn vị để động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ học tập, làm theo. Hằng tháng, quý, năm và kết thúc một phong trào, một đợt thi đua, cấp ủy, chỉ huy các cấp đánh giá kết quả lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng, nhân rộng ĐHTT một cách nghiêm túc, thực chất. Tôn vinh, khen thưởng bằng những chính sách, phần thưởng tương xứng nhằm khích lệ và tạo hiệu ứng, dư luận tích cực trong đơn vị...

Phát hiện, bồi dưỡng, xây dựng, nhân rộng ĐHTT là trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng và cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, trước hết là của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp; là một trong những biện pháp để thực hiện thắng lợi Nghị quyết 847; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, giao phó.

NHỮNG CON NGƯỜI VIẾT NÊN LỊCH SỬ!

 

Tướng Marcel Bigeard - Cựu bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Pháp viết về những người lính Cụ Hồ trong chiến tranh vệ quốc:
“Tôi đã thấy họ khởi đầu từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta”
Họ đã trở nên vĩ đại và bất diệt, bởi những người lính xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước sẽ không ai nghĩ rằng họ sẽ chiến đấu chỉ để sau này, mỗi tháng họ được nhận vài ba trăm nghìn tiền trợ cấp và vài cái giấy khen ố vàng, thậm chí, có những thương binh, liệt sĩ, đến nay cũng chẳng có trợ cấp và ghi công gì, nhưng trên hết họ chiến đấu vì đất nước, vì gia đình và vì dân tộc, chỉ vậy thôi.
Những con người đã viết lên lịch sử và giá trị của những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, mọi thế hệ hôm nay và mai sau phải biết ơn và trân trọng. "Đừng chết" vì thay đổi giá trị của nó!
NGĂN CHẶN TÌNH TRẠNG SUY THOÁI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, trước hết là những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng. Ngay từ tháng 10/1947, hai năm sau khi giành được chính quyền, Người đã yêu cầu cán bộ, đảng viên sửa đổi lối làm việc, chỉ rõ phải đấu tranh với những hiện tượng thờ ơ trước những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái: “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ”. Người phê phán những đảng viên dao động, thiếu lý tưởng cách mạng: “Nếu chỉ có công tác thực tế, mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt. Như thế, chỉ là người sự vụ chủ nghĩa tầm thường”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”. Người kiên quyết chống những nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Người nói: “Trong Đảng ta hiện nay còn có nhiều người chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập”. “Có một số đồng chí không chịu nghiên cứu kinh nghiệm thực tế của cách mạng Việt Nam. Họ không hiểu rằng: Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh. Vì vậy, họ chỉ học thuộc ít câu của Mác-Lênin, để lòe người ta. Lại có một số đồng chí khác chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng”. Người kiên quyết chống những biểu hiện không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác: “Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm”. Trong tự phê bình, phê bình, Người kiên quyết chỉ ra và đấu tranh với những biểu hiện không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyến điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật: “Thái độ của một số khá đông cán bộ là: Đối với người khác thì phê bình đứng đắn, nhưng tự phê bình thì quá “ôn hòa”. Các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tự phê bình, không vui lòng tiếp thu phê bình-nhất là phê bình từ dưới lên, không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình… Nói tóm lại: Đối với người khác thì các đồng chí ấy rất “mác xít”, nhưng đối với bản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do”. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh: “Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh báo qua loa cho xong chuyện. Thậm chí còn có nơi che đậy cho nhau, tha thứ lẫn nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm đoàn thể. Thi hành kỷ luật như vậy làm cho các đồng chí không những không biết sữa lỗi mình mà còn khinh thường kỷ luật. Tai hại hơn nữa nếu kỷ luật của đoàn thể lỏng lẻo, những phần tử phản động sẽ có cơ hội chui vào hàng ngũ ta để phá hoại đoàn thể ta”. Người lấy ví dụ: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người… Thấy cái xấu của người mà không phê bình là một khuyết điểm rất to. Không phê bình, tức là để cho cái xấu của người ta phát triển”. “Nói về từng người, nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình”! Người cũng chỉ ra nhiều biểu hiện lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”. “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn nghiêm trang, đúng mực. Phải vạch rõ vì sao có khuyết điểm ấy, nó sẽ có kết quả xấu thế nào, dùng phương pháp gì để sửa chữa. Thuốc phải nhằm đúng bệnh. Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mặt không nói, xoi mói sau lưng”. Hồ Chí Minh chỉ ra và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác: “Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái”. Người phê phán những biểu hiện duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác: “Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết”. “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai”. Người chỉ ra: “Trong Đảng ta có một số không ít đồng chí mắc bệnh công thần, cho rằng mình đã tham gia cách mạng lâu năm mà tự kiêu, tự mãn. Hoạt động cách mạng lâu năm là tốt, nhưng phải khiêm tốn học tập để tiến bộ mãi”. Kiên quyết chống những biểu hiện tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác, mà Hồ Chí Minh gọi là: “Bệnh hiếu danh - Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Nhưng người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực”. Người yêu cầu: “Phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần, óc địa vị. Nó đẻ ra nhiều cái xấu như xích mích, kèn cựa giữa cán bộ và giữa đảng viên, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau. Bệnh cá nhân còn dẫn đến tệ bảo thủ, quan liêu, tham ô, lãng phí, sợ khó, sợ khổ, thấy khó khăn thì đâm ra tiêu cực, bi quan”, từ đó dẫn đến những biểu hiện chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh. “Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình”. Những biểu hiện chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình Người gọi là “Bệnh cận thị - Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ”. Người đấu tranh với những biểu hiện tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích và gọi đó là: “Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”. Người phê bình thẳng thắn: “Có những đồng chí còn giữ thói “một người làm nên cả họ được nhờ”, đem bà con bằng hữu vào chức này việc kia, làm được, không được mặc kệ. Hỏng việc đã có đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”.
Học Bác phong cách nêu gương Nêu gương vừa là trách nhiệm, cũng là bổn phận của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Gắn bó mật thiết với nhân dân - phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ Nội dung nêu gương và gương mẫu trong lời nói-việc làm cũng là một trong 5 đặc trưng cơ bản phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời, mẫu mực về sự nêu gương. Tấm gương đạo đức của Người đã đạt tới sự nhất quán, chặt chẽ giữa lời nói và việc làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức, giữa việc công và đời tư; hướng mọi người đến với những giá trị chân, thiện, mỹ trong cuộc sống. Khi mở đầu bài viết: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Bác khẳng định: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây vừa là lời nhắc nhở, vừa là sự chỉ bảo ân cần của Người đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự nêu gương trong công việc, trong đạo đức, lối sống, tác phong hằng ngày. Học Bác phong cách nêu gương Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 3, Sư đoàn 324, Quân khu 4 giúp dân xã Thọ Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa di dời tài sản đến nơi an toàn. Ảnh:Tạp chí Quốc phòng Toàn dân. Nêu gương không chỉ hô hào khẩu hiệu, không chỉ nói suông mà phải luôn thực hiện “nói đi đôi với làm”. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác là sự thống nhất trọn vẹn giữa nhận thức và hành động, giữa lời nói và việc làm. Khi nước nhà vừa giành được độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa, đem gạo đó để cứu dân nghèo và Người nêu gương “tôi xin thực hành trước” rất nghiêm túc... Những hành động, việc làm của Bác thật bình dị ấm áp, nhưng lại có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, có sức thuyết phục cao về nêu gương cho các thế hệ cán bộ, đảng viên học tập, noi theo. Thực tiễn qua các cuộc kháng chiến và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, đã có nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ quân đội học tập phong cách nêu gương của Người, chấp nhận hy sinh, gian khổ để mang lại bình yên cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Đặc biệt, trong những trận bão lũ lịch sử tại miền Trung xảy ra vào tháng 10 và tháng 11-2020 ở các địa phương như: Rào Trăng (Thừa Thiên Huế), Trà Leng, Phước Sơn (Quảng Nam), những nơi đó đã in đậm dấu chân của những người lính Cụ Hồ. Cán bộ, chiến sĩ đã không quản mưa lũ, bão bùng, các anh vẫn đi để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng là bảo vệ tính mạng của nhân dân... Hay thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát, người chiến sĩ lại đương đầu trên mặt trận “chống giặc” mới. Họ bất chấp hiểm nguy đến tính mạng, bám trụ các điểm chốt nơi rừng thiêng, nước độc để canh giữ biên cương không cho dịch tràn vào; họ lại nhường doanh trại cho nhân dân cách ly tập trung; đó là những hình ảnh cao đẹp của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Trong những năm qua, học tập và làm theo phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã có nhiều sự chuyển biến rõ nét. Rất nhiều cán bộ, đảng viên là những tấm gương điển hình trong nhiều lĩnh vực công tác; phát huy tốt phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, thực hiện nhiều nhiệm vụ khó khăn, gian khổ trong điều kiện nguy hiểm đến tính mạng như: Tìm kiếm-cứu hộ cứu nạn, gìn giữ hòa bình, phòng chống dịch Covid-19... được biểu dương, tôn vinh là điển hình tiên tiến. Họ chính là những tấm gương sống tiêu biểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; tinh thần và ý chí của họ như hoa mùa xuân, làm cho cái thiện, cái đẹp được gieo mầm, nảy nở, lấn át, đẩy lùi cái ác, cái xấu xa. Học tập và làm theo phong cách nêu gương của Bác Hồ đã thôi thúc mỗi cán bộ, đảng viên khắc phục mọi khó khăn trong công tác, vươn lên trở thành tấm gương sáng về trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và gương mẫu trong từng lời nói và hành động. Thế nhưng cũng phải thẳng thắn thừa nhận một thực tế rằng, việc thực hiện nêu gương ở một số cơ quan, đơn vị vẫn chưa phát huy được hiệu quả; vẫn còn một số cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, áp đặt cá nhân, dẫn đến mất dân chủ trong tập thể. Đáng nói hơn, vẫn còn số ít cán bộ thiếu gương mẫu trong lời nói và việc làm, đề cao lối sống vật chất, sùng bái đồng tiền, quên tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quân đội; trực tiếp hoặc tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực, giờ phải trả giá đắt cho những việc làm trái quy định pháp luật của mình. Để học tập phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đạt hiệu quả thiết thực, mỗi cán bộ, đảng viên trong toàn quân cần gương mẫu nêu gương trước tập thể, “nói đi đôi với làm” theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, theo đúng chuẩn mực đạo đức người quân nhân cách mạng, xây dựng uy tín trong tập thể quân nhân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải lấy hiệu quả công việc làm thước đo năng lực, phẩm chất, trình độ. Thường xuyên sâu sát, cụ thể, tỉ mỉ, nói ít làm nhiều và đạt hiệu quả cao trong công việc, đó chính là sứ mệnh lịch sử thiêng liêng cao cả của mỗi người đảng viên chân chính. Để cán bộ, đảng viên thực hành nêu gương, nhất là cán bộ chủ trì ở các cơ quan, đơn vị, mỗi đồng chí phải thể hiện bằng việc hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được giao; phải gương mẫu trong lời nói, hành động; giữ nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội. Phải thương yêu đồng chí, kính trọng nhân dân, sống có nghĩa tình; tuyệt đối không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, sa vào chủ nghĩa cá nhân... Có thể khẳng định, thực hiện phong cách nêu gương, đó chính là mệnh lệnh không lời đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, phong cách nêu gương sẽ mang lại hiệu quả khi và chỉ khi việc nêu gương của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thực chất, “nói đi đôi với làm”; đây chính là động lực to lớn để lan tỏa văn hóa nêu gương sâu rộng trong cơ quan, đơn vị.

Nhận diện rõ để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân

 

Nhận diện rõ để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân

Nhằm quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, Lữ đoàn 45 (Binh chủng Pháo binh) tổ chức Tọa đàm “Cán bộ, đoàn viên, thanh niên Lữ đoàn 45 phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”.

Các ý kiến tại tọa đàm cho rằng, thời gian qua, tuổi trẻ Binh chủng Pháo binh và Lữ đoàn 45 luôn ra sức thi đua, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với những việc làm thiết thực, hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ vẫn còn số ít cán bộ, đoàn viên, thanh niên ý thức tự giác chưa cao trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, còn biểu hiện như ngại va chạm, làm việc cầm chừng, thiếu ý thức trách nhiệm với tập thể... Điều đó ảnh hưởng đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị trung tâm của đơn vị cũng như phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

Các đại biểu tập trung phân tích biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; qua đó nhận thức rõ trách nhiệm của từng cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.

Theo Thiếu tá Trần Hữu Mạnh, Chính trị viên Tiểu đoàn 5, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân như tác động của mặt trái cơ chế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch; đời sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và hậu phương quân đội còn gặp nhiều khó khăn; một số quân nhân sa vào các tệ nạn xã hội, lôi kéo đồng đội cùng tham gia... Anh Mạnh nêu giải pháp quan trọng là việc nêu gương của người cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ trì, kết hợp với công tác giáo dục, tuyên truyền thường xuyên ở đơn vị; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Là cán bộ thực hiện “bốn cùng” với bộ đội, Trung úy Vũ Minh Trí, Trung đội trưởng Trung đội Chỉ huy, Đại đội 805, Tiểu đoàn 2, hiến kế một số giải pháp trong đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là mở rộng dân chủ trong đơn vị, thực hiện linh hoạt trong quản lý bộ đội. Trong quá trình chỉ huy, người cán bộ phải phát huy được dân chủ, trí tuệ tập thể để nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ; linh hoạt trong quản lý bộ đội, bảo đảm hợp tình hợp lý, hài hòa giữa cấp trên và cấp dưới, tránh rập khuôn máy móc.

Ghi nhận những ý kiến tâm huyết tại tọa đàm, Đại tá Lê Đức Hòe, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Lữ đoàn 45 nhấn mạnh: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch trong lòng mỗi người. Nó gặm nhấm, làm “hư hỏng” chính bản thân mỗi người, cản trở quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự vấn, thật thà tự kiểm điểm, tự phê bình hằng ngày, trước, trong và sau khi thực hiện nhiệm vụ”.  

Để phát huy phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lãnh đạo lữ đoàn lưu ý mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên nhận thức rõ tính chất nguy hiểm và tác hại khi vướng vào chủ nghĩa cá nhân; nghiên cứu kỹ, nắm chắc các đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương đã nêu rõ. Bên cạnh đó, thường xuyên thực hiện hiệu quả việc tự phê bình và phê bình để giúp bản thân, đồng chí, đồng đội nhận ra những khuyết điểm, biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cùng khắc phục để tiến bộ, trưởng thành.

Khẳng định giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với bạn bè quốc tế


Phát huy truyền thống "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua" của Quân đội nhân dân Việt Nam, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam tham gia sứ mệnh Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (LHQ) không chỉ góp phần khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Bộ đội Cụ Hồ mà còn giới thiệu những giá trị của phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ với thế giới...
“Cảm ơn các bạn vì đã ở đây!”, “Các bạn hãy hứa sẽ quay trở lại”... là những câu nói đầy tình cảm mà những đồng nghiệp quốc tế tại Phái bộ Nam Sudan và người dân bản địa dành cho các bác sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, những người họ đã coi như “điểm tựa tinh thần” quan trọng ở vùng đất nghèo đói và xung đột.
Các thê đội Bệnh viện dã chiến (BVDC) cấp 2 của Việt Nam không chỉ chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh với chất lượng cao cho đội ngũ nhân viên LHQ và người dân bản địa mà còn tích cực thực hiện những hoạt động trao đổi chuyên môn, huấn luyện kỹ năng y tế, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ cho các bệnh viện địa phương và các bệnh viện tại địa bàn.
Đặc biệt, BVDC 2.3 của Việt Nam đã áp dụng nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân phù hợp với điều kiện dã chiến, có những kỹ thuật lần đầu tiên thực hiện ở Nam Sudan được các chỉ huy quân y phái bộ đánh giá cao. BVDC 2.2 và BVDC 2.3 của Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò là đơn vị trên tuyến đầu ngăn chặn dịch Covid-19 tại địa bàn.
Bà Hiroko Hirahara, Trưởng căn cứ Bentiu của Phái bộ Nam Sudan cho biết đã nhận được những phản hồi tích cực về những gì BVDC Việt Nam làm được. Bà đánh giá cao sự cống hiến, tận tâm và chuyên nghiệp của các y, bác sĩ mũ nồi xanh Việt Nam. Còn Đại tá Waleed Elazizy-Trưởng quân y Phái bộ khẳng định, các nhân viên LHQ ở đây đều cảm thấy an toàn và thoải mái khi tới BVDC Việt Nam điều trị.
Trong điều kiện khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, điều kiện an ninh bất ổn... các chiến sĩ quân y mũ nồi xanh Việt Nam không chỉ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn mà còn tích cực, chủ động tham gia những hoạt động từ thiện, nhân đạo giúp cải thiện phần nào đời sống của người dân bản địa.
Vừa trở về từ Nam Sudan sau khi kết thúc nhiệm kỳ một năm tham gia sứ mệnh quốc tế, Thượng úy Tống Vân Anh, nữ bác sĩ duy nhất của BVDC 2.3 chia sẻ rất nhiều kỷ niệm, nhưng chị nhớ nhất những lần tham gia hỗ trợ người dân bản địa; những lần rời căn cứ tới các trường học hay trại tị nạn để tặng quà, dạy các em nhỏ vẽ tranh, trồng cây cải thiện môi trường và vui chơi cùng các em. Gặp những hình ảnh “chạm tới trái tim” của người dân nghèo Nam Sudan, cũng như các đồng nghiệp của mình, nữ bác sĩ Tống Vân Anh mong muốn làm được nhiều hơn những gì có thể để giúp đỡ họ.
Theo Trung tá Trịnh Mỹ Hòa, Giám đốc BVDC 2.3, trong những ngày cuối cùng trước khi rời địa bàn Bentiu để về nước sau khi hoàn thành nhiệm vụ, BVDC 2.3 đã kịp hoàn thành chương trình từ thiện, nhân đạo cuối cùng trong chuỗi 12 hoạt động quân dân kết hợp (CIMIC) với mong muốn góp phần nhỏ bé để người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn. 20 bộ bàn ghế trao tặng các em học sinh Trường Tiểu học Liech là món quà vô cùng ý nghĩa và thiết thực được làm từ các thanh gỗ đóng thùng hàng BVDC Việt Nam trao tặng các em học sinh nghèo. Những chiếc khẩu trang, đồ dùng học tập hay các món đồ chơi tự chế chứa đựng tình cảm của các y, bác sĩ mũ nồi xanh ở BVDC Việt Nam đã mang lại niềm vui cho các em.
Bác sĩ Vân Anh xúc động kể rằng, chị và các đồng nghiệp đã được các em học sinh Nam Sudan vẽ tặng bức tranh chân dung đơn sơ kèm dòng chữ “Doctor Angel-bác sĩ thiên thần”. Trước đó, BVDC 2.3 đã trồng hơn 100 cây xanh với hy vọng cải thiện môi trường khắc nghiệt ở địa bàn Bentiu.
Vườn ươm cây giống của bệnh viện chính là nơi chứa đựng rất nhiều tâm huyết và tình cảm của các y, bác sĩ mũ nồi xanh Việt Nam đối với mảnh đất, con người Bentiu, nơi họ đã có một năm gắn bó. Từ vườn ươm này, nhiều loại cây đã được trồng tại địa bàn trong các hoạt động trồng cây tại căn cứ, tặng cây giống cho các đơn vị bạn và trường học mà BVDC 2.3 thực hiện thường xuyên, với hy vọng mang tới nhiều màu xanh và sự sống cho mảnh đất khô cằn Bentiu.
Khuôn viên xanh tốt của BVDC Việt Nam, những vườn hoa rực rỡ, vườn rau tăng gia, giàn bí, giàn mướp sai trĩu của BVDC cấp 2 Việt Nam đã trở thành nguồn cảm hứng cho các đơn vị bạn. Một số đơn vị bạn đã tới tham khảo và học hỏi mô hình của BVDC Việt Nam để về xây dựng khuôn viên xanh-sạch-đẹp ở đơn vị mình. Với các loại hạt rau giống mang từ Việt Nam, những đôi bàn tay cần cù đã chinh phục thành công mảnh đất cằn cỗi để trồng được nhiều loại rau xanh khác nhau không chỉ bảo đảm rau xanh cải thiện đời sống cán bộ, nhân viên bệnh viện mà còn đủ để mang tặng các đơn vị bạn. Trong điều kiện khó khăn, tinh thần tự lực tự cường, cần cù, chịu khó của Bộ đội Cụ Hồ đã thực sự tỏa sáng, khiến bạn bè quốc tế yêu mến và nể phục.
Các thê đội BVDC cấp 2 của Việt Nam nối tiếp nhau không chỉ tiếp tục khẳng định uy tín và trình độ chuyên môn mà còn chủ động thực hiện nhiều hoạt động CIMIC, được sự hoan nghênh của các cơ quan phái bộ. Qua đó, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam không chỉ phát huy các phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, ghi những dấu ấn đậm nét trong lòng bạn bè quốc tế mà còn góp phần lan tỏa tinh thần nhân văn của người lính mũ nồi xanh luôn được LHQ khuyến khích.
Chuẩn tướng Dhananjay Joshi, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng LHQ tại Nam Sudan đã hoan nghênh BVDC 2.3 mặc dù rất bận rộn với công việc chuyên môn vẫn nỗ lực tham gia các hoạt động CIMIC ý nghĩa như tư vấn HIV/AIDS, hỗ trợ Bệnh viện Bentiu, chia sẻ thuốc men và trang thiết bị cho các cơ quan chức năng địa phương... Các bác sĩ quân y mũ nồi xanh Việt Nam đã hướng dẫn người dân, nhất là phụ nữ bản địa biết cách tự chăm sóc sức khỏe cho mình trong điều kiện y tế thiếu thốn ở địa phương.
Nhiệm vụ chính là chăm sóc sức khỏe cho nhân viên LHQ tại địa bàn, nhưng các bệnh viện dã chiến Việt Nam không từ chối bất kỳ ca bệnh nào là dân thường Nam Sudan khi họ cần tới sự giúp đỡ với sự cho phép của cơ quan y tế phái bộ. Các hoạt động giúp đỡ người dân được thực hiện ngày càng nhiều hơn, với những hình thức phong phú hơn và được kế thừa, tiếp nối, phát huy từ BVDC 2.1 cho đến BVDC 2.4 hiện nay.
Thực thi sứ mệnh quốc tế cao cả, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò “sứ giả”, giới thiệu rộng rãi tới các nước và bạn bè quốc tế hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đầy bản lĩnh, trí tuệ và giàu lòng nhân ái.
CHÚNG TA CÓ "E DÈ" TRƯỚC BIỂU TƯỢNG CỦA CHẾ ĐỘ VNCH? BBC Tiếng Việt cho rằng Việt Nam "e dè" trước các biểu tượng cũ thuộc chế độ VNCH. Không, chúng tôi chẳng "e dè" mà muốn quên đi một "sự xấu hổ" của quá khứ, một chế độ tay sai của ngoại bang. Những con người theo chế độ ấy từng mang dòng máu Việt nhưng lại cầm súng giết hại đồng bào, thậm chí tra tấn một cách giã man nhưng vẫn cười hả hê, sung sướng. Những kẻ cõng rắn, cắn gà nhà, nghe theo sự sắp đặt của Mỹ rắp tâm chia cắt đất nước. Vậy, biểu tượng của chế độ ấy có đáng khinh hay không? Các biểu tượng 3 que đó không đại diện cho Việt Nam, càng không thể hiện cho ý chí, nguyện vọng hay niềm tự hào của Việt Nam, việc cấm nó không xuất hiện cũng là điều rất hiển nhiên để tiến đến sự thống nhất, hòa hợp dưới một biểu tượng chung là lá Cờ đỏ sao vàng 5 cánh. Tóm lại, người dân Việt Nam chẳng phải sợ hay e dè trước biểu tượng của chế độ cũ, mà là chúng ta đang cố gắng xóa đi những "vết nhơ bẩn" mà đáng lẽ ra nó không nên tồn tại.
VỀ QUAN HỆ ĐẢNG VỚI DÂN Đề cập về quan hệ Đảng với dân, trong bài phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khóa XIII của Đảng chiều ngày 10-5-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Phát huy thật tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội; tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên”. Ngay hôm sau (ngày 11-5-2022), RFA đã đăng tải ý kiến của một người với danh nghĩa cựu chiến binh có tên là Nguyễn Khắc Toàn (NKT) cho rằng: “Đây là những lời nói sáo rỗng, giáo điều bao năm qua mà người dân trong nước đã học thuộc rồi”. Nếu NKT nói như vậy thì tôi - với tư cách là một cựu chiến binh - muốn trao đổi với NKT mấy lời. Hiện nay, có một số người có thiên kiến là hễ ai nói điều gì đó nhiều lần thì bị cho là sáo rỗng, giáo điều. Thiết nghĩ vấn đề không phải là nói nhiều lần hay ít lần mà là điều đó có cần nói hay không. Việc Tổng Bí thư nói về quan hệ Đảng với dân là điều thuộc về bản chất của Đảng, gắn liền với sự tồn tại và sự phát triển của Đảng, là điều không chỉ rất cần nói, mà còn là điều phải nói thường xuyên. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói như trên là có căn cứ về quan điểm cũng như về thực tiễn. Về quan điểm, quan hệ Đảng với dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của Đảng. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam họp tại Hương Cảng, Trung Quốc (tháng 2-1930) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản chủ trì đã thông qua các văn kiện của Đảng do chính Người khởi thảo. Chánh cương vắn tắt của Đảng có đoạn nói về mục đích của Đảng: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”. Sách lược vắn tắt của Đảng nói nhiệm vụ xây dựng lực lượng của Đảng để thực hiện mục đích nói trên như sau: “Đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp mình; đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp; đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam thì phải lợi dụng, làm cho họ đứng trung lập”. Như vậy, ngay từ khi thành lập, Đảng đã xác định mục đích của Đảng là vì dân và lực lượng cách mạng là dân. Các văn kiện tại Hội nghị nói trên đã đặt nền móng cho các đại hội tiếp theo của Đảng. Luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú khởi thảo được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời cũng họp tại Hương Cảng (tháng 10-1930) khẳng định: “Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc và đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân”. Về lực lượng thì “vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh”, đồng thời “Đảng phải thu phục được đông đảo quần chúng lao động”. Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội lần thứ hai của Đảng (tháng 2-1951) họp ở Tuyên Quang chỉ rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, trừ diệt bọn phản quốc, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Báo cáo cũng nêu rõ: “Lực lượng cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản dân tộc”. Đại hội lần thứ ba của Đảng (tháng 9-1960) tại Hà Nội diễn ra trong bối cảnh đất nước bị chia cắt thành hai miền theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Báo cáo chính trị do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn trình bày tại Đại hội đã khẳng định: “Nhiệm vụ cách mạng của cả nước là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh”. Về lực lượng thực hiện nhiệm vụ chung đó, ở miền Bắc là: “Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân”, ở miền Nam là: “Phát triển lực lượng cách mạng của quần chúng làm cơ sở”. Đại hội lần thứ tư của Đảng (tháng 12-1976) tại Hà Nội diễn ra trong bối cảnh nước nhà thống nhất, cả nước thực hiện nhiệm vụ chung: “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong ước của Hồ Chí Minh. Báo cáo chính trị tại Đại hội do Tổng Bí thư Lê Duẩn trình bày đã đề ra nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là: “Xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”. Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam liên hệ chặt chẽ với quần chúng, không ngừng chăm lo xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi khả năng sáng tạo của giai cấp công nhân và nhân dân lao động”. Các đại hội từ Đại hội V cho đến Đại hội XIII đều tiếp tục khẳng định mục đích của Đảng là vì dân và coi quan hệ của Đảng với dân là một bộ phận hợp thành đường lối của Đảng. Trong Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định một trong những bài học kinh nghiệm quý báu: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Có thể khẳng định rằng, bài học kinh nghiệm nói trên đã kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm của các Đại hội Đảng trước đó, là một trong những nhân tố bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Về thực tiễn, bên cạnh những thắng lợi to lớn, trong quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng cũng nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm, thiếu sót của mình, trong đó có một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm tổn hại đến quan hệ giữa Đảng và dân. Ngay trong Điều 8 Điều lệ tóm tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930) quy định: “Những người không chịu hoạt động hoặc hành động không chính đáng làm mất thanh danh và uy tín của Đảng” sẽ bị “đuổi ra khỏi Đảng”. Sau khi Hồ Chủ tịch chuyển bức thư của nhà thơ Đoàn Phú Tứ, đại biểu Quốc hội khóa 1 tố cáo sai phạm của Trần Dụ Châu, ngày 5 - 9 - 1950, tại thị xã Thái Nguyên, Tòa án binh tối cao mở phiên toà đặc biệt xử Đại tá Trần Dụ Châu - Giám đốc Nha Quân nhu - với án tử hình do can tội ăn cắp công quỹ và sống sa đọa. Bản án đã nhanh chóng được báo cáo lên Hồ Chủ tịch. Người đã bác đơn xin giảm án và cho rằng: “Nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo”. Tại phiên họp Hội đồng Chính phủ tháng 11 - 1950, Hồ Chủ tịch đã nhắc nhở: “Nếu cán bộ biết thương dân, tiếc của dân thì không xảy ra việc đáng tiếc”. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng của Đảng, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên bằng các hình thức khác nhau; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Thực tế này cho thấy, Đảng phải thường xuyên sàng lọc đội ngũ của mình và phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Những điều Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói tại Hội nghị Trung ương 5 vừa qua là sự thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa Đảng và nhân dân, phản ánh quan điểm nhất quán của Đảng về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua khảo nghiệm và vì thế những điều đó khác hoàn toàn với nhận định sai lầm, mang tính phá hoại, chống đối Đảng và nhân dân Việt Nam của NKT./. Nguồn sưu tầm

Khẳng định giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với bạn bè quốc tế

Khẳng định giá trị phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với bạn bè quốc tế

Phát huy truyền thống "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua" của Quân đội nhân dân Việt Nam, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam tham gia sứ mệnh Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (LHQ) không chỉ góp phần khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Bộ đội Cụ Hồ mà còn giới thiệu những giá trị của phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ với thế giới...

“Cảm ơn các bạn vì đã ở đây!”, “Các bạn hãy hứa sẽ quay trở lại”... là những câu nói đầy tình cảm mà những đồng nghiệp quốc tế tại Phái bộ Nam Sudan và người dân bản địa dành cho các bác sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, những người họ đã coi như “điểm tựa tinh thần” quan trọng ở vùng đất nghèo đói và xung đột.

Các thê đội Bệnh viện dã chiến (BVDC) cấp 2 của Việt Nam không chỉ chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh với chất lượng cao cho đội ngũ nhân viên LHQ và người dân bản địa mà còn tích cực thực hiện những hoạt động trao đổi chuyên môn, huấn luyện kỹ năng y tế, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ cho các bệnh viện địa phương và các bệnh viện tại địa bàn.

Đặc biệt, BVDC 2.3 của Việt Nam đã áp dụng nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân phù hợp với điều kiện dã chiến, có những kỹ thuật lần đầu tiên thực hiện ở Nam Sudan được các chỉ huy quân y phái bộ đánh giá cao. BVDC 2.2 và BVDC 2.3 của Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò là đơn vị trên tuyến đầu ngăn chặn dịch Covid-19 tại địa bàn.

Bà Hiroko Hirahara, Trưởng căn cứ Bentiu của Phái bộ Nam Sudan cho biết đã nhận được những phản hồi tích cực về những gì BVDC Việt Nam làm được. Bà đánh giá cao sự cống hiến, tận tâm và chuyên nghiệp của các y, bác sĩ mũ nồi xanh Việt Nam. Còn Đại tá Waleed Elazizy-Trưởng quân y Phái bộ khẳng định, các nhân viên LHQ ở đây đều cảm thấy an toàn và thoải mái khi tới BVDC Việt Nam điều trị. 

Trong điều kiện khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, điều kiện an ninh bất ổn... các chiến sĩ quân y mũ nồi xanh Việt Nam không chỉ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn mà còn tích cực, chủ động tham gia những hoạt động từ thiện, nhân đạo giúp cải thiện phần nào đời sống của người dân bản địa.

Vừa trở về từ Nam Sudan sau khi kết thúc nhiệm kỳ một năm tham gia sứ mệnh quốc tế, Thượng úy Tống Vân Anh, nữ bác sĩ duy nhất của BVDC 2.3 chia sẻ rất nhiều kỷ niệm, nhưng chị nhớ nhất những lần tham gia hỗ trợ người dân bản địa; những lần rời căn cứ tới các trường học hay trại tị nạn để tặng quà, dạy các em nhỏ vẽ tranh, trồng cây cải thiện môi trường và vui chơi cùng các em. Gặp những hình ảnh “chạm tới trái tim” của người dân nghèo Nam Sudan, cũng như các đồng nghiệp của mình, nữ bác sĩ Tống Vân Anh mong muốn làm được nhiều hơn những gì có thể để giúp đỡ họ.

Theo Trung tá Trịnh Mỹ Hòa, Giám đốc BVDC 2.3, trong những ngày cuối cùng trước khi rời địa bàn Bentiu để về nước sau khi hoàn thành nhiệm vụ, BVDC 2.3 đã kịp hoàn thành chương trình từ thiện, nhân đạo cuối cùng trong chuỗi 12 hoạt động quân dân kết hợp (CIMIC) với mong muốn góp phần nhỏ bé để người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn. 20 bộ bàn ghế trao tặng các em học sinh Trường Tiểu học Liech là món quà vô cùng ý nghĩa và thiết thực được làm từ các thanh gỗ đóng thùng hàng BVDC Việt Nam trao tặng các em học sinh nghèo. Những chiếc khẩu trang, đồ dùng học tập hay các món đồ chơi tự chế chứa đựng tình cảm của các y, bác sĩ mũ nồi xanh ở BVDC Việt Nam đã mang lại niềm vui cho các em.

Bác sĩ Vân Anh xúc động kể rằng, chị và các đồng nghiệp đã được các em học sinh Nam Sudan vẽ tặng bức tranh chân dung đơn sơ kèm dòng chữ “Doctor Angel-bác sĩ thiên thần”. Trước đó, BVDC 2.3 đã trồng hơn 100 cây xanh với hy vọng cải thiện môi trường khắc nghiệt ở địa bàn Bentiu.

Vườn ươm cây giống của bệnh viện chính là nơi chứa đựng rất nhiều tâm huyết và tình cảm của các y, bác sĩ mũ nồi xanh Việt Nam đối với mảnh đất, con người Bentiu, nơi họ đã có một năm gắn bó. Từ vườn ươm này, nhiều loại cây đã được trồng tại địa bàn trong các hoạt động trồng cây tại căn cứ, tặng cây giống cho các đơn vị bạn và trường học mà BVDC 2.3 thực hiện thường xuyên, với hy vọng mang tới nhiều màu xanh và sự sống cho mảnh đất khô cằn Bentiu. 

Khuôn viên xanh tốt của BVDC Việt Nam, những vườn hoa rực rỡ, vườn rau tăng gia, giàn bí, giàn mướp sai trĩu của BVDC cấp 2 Việt Nam đã trở thành nguồn cảm hứng cho các đơn vị bạn. Một số đơn vị bạn đã tới tham khảo và học hỏi mô hình của BVDC Việt Nam để về xây dựng khuôn viên xanh-sạch-đẹp ở đơn vị mình. Với các loại hạt rau giống mang từ Việt Nam, những đôi bàn tay cần cù đã chinh phục thành công mảnh đất cằn cỗi để trồng được nhiều loại rau xanh khác nhau không chỉ bảo đảm rau xanh cải thiện đời sống cán bộ, nhân viên bệnh viện mà còn đủ để mang tặng các đơn vị bạn. Trong điều kiện khó khăn, tinh thần tự lực tự cường, cần cù, chịu khó của Bộ đội Cụ Hồ đã thực sự tỏa sáng, khiến bạn bè quốc tế yêu mến và nể phục. 

Các thê đội BVDC cấp 2 của Việt Nam nối tiếp nhau không chỉ tiếp tục khẳng định uy tín và trình độ chuyên môn mà còn chủ động thực hiện nhiều hoạt động CIMIC, được sự hoan nghênh của các cơ quan phái bộ. Qua đó, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam không chỉ phát huy các phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, ghi những dấu ấn đậm nét trong lòng bạn bè quốc tế mà còn góp phần lan tỏa tinh thần nhân văn của người lính mũ nồi xanh luôn được LHQ khuyến khích.

Chuẩn tướng Dhananjay Joshi, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng LHQ tại Nam Sudan đã hoan nghênh BVDC 2.3 mặc dù rất bận rộn với công việc chuyên môn vẫn nỗ lực tham gia các hoạt động CIMIC ý nghĩa như tư vấn HIV/AIDS, hỗ trợ Bệnh viện Bentiu, chia sẻ thuốc men và trang thiết bị cho các cơ quan chức năng địa phương... Các bác sĩ quân y mũ nồi xanh Việt Nam đã hướng dẫn người dân, nhất là phụ nữ bản địa biết cách tự chăm sóc sức khỏe cho mình trong điều kiện y tế thiếu thốn ở địa phương.

Nhiệm vụ chính là chăm sóc sức khỏe cho nhân viên LHQ tại địa bàn, nhưng các bệnh viện dã chiến Việt Nam không từ chối bất kỳ ca bệnh nào là dân thường Nam Sudan khi họ cần tới sự giúp đỡ với sự cho phép của cơ quan y tế phái bộ. Các hoạt động giúp đỡ người dân được thực hiện ngày càng nhiều hơn, với những hình thức phong phú hơn và được kế thừa, tiếp nối, phát huy từ BVDC 2.1 cho đến BVDC 2.4 hiện nay. 

Thực thi sứ mệnh quốc tế cao cả, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò “sứ giả”, giới thiệu rộng rãi tới các nước và bạn bè quốc tế hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đầy bản lĩnh, trí tuệ và giàu lòng nhân á