Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

VỀ QUAN HỆ ĐẢNG VỚI DÂN Đề cập về quan hệ Đảng với dân, trong bài phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khóa XIII của Đảng chiều ngày 10-5-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Phát huy thật tốt dân chủ trong Đảng và trong xã hội; tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên”. Ngay hôm sau (ngày 11-5-2022), RFA đã đăng tải ý kiến của một người với danh nghĩa cựu chiến binh có tên là Nguyễn Khắc Toàn (NKT) cho rằng: “Đây là những lời nói sáo rỗng, giáo điều bao năm qua mà người dân trong nước đã học thuộc rồi”. Nếu NKT nói như vậy thì tôi - với tư cách là một cựu chiến binh - muốn trao đổi với NKT mấy lời. Hiện nay, có một số người có thiên kiến là hễ ai nói điều gì đó nhiều lần thì bị cho là sáo rỗng, giáo điều. Thiết nghĩ vấn đề không phải là nói nhiều lần hay ít lần mà là điều đó có cần nói hay không. Việc Tổng Bí thư nói về quan hệ Đảng với dân là điều thuộc về bản chất của Đảng, gắn liền với sự tồn tại và sự phát triển của Đảng, là điều không chỉ rất cần nói, mà còn là điều phải nói thường xuyên. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói như trên là có căn cứ về quan điểm cũng như về thực tiễn. Về quan điểm, quan hệ Đảng với dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của Đảng. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam họp tại Hương Cảng, Trung Quốc (tháng 2-1930) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản chủ trì đã thông qua các văn kiện của Đảng do chính Người khởi thảo. Chánh cương vắn tắt của Đảng có đoạn nói về mục đích của Đảng: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”. Sách lược vắn tắt của Đảng nói nhiệm vụ xây dựng lực lượng của Đảng để thực hiện mục đích nói trên như sau: “Đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp mình; đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp; đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam thì phải lợi dụng, làm cho họ đứng trung lập”. Như vậy, ngay từ khi thành lập, Đảng đã xác định mục đích của Đảng là vì dân và lực lượng cách mạng là dân. Các văn kiện tại Hội nghị nói trên đã đặt nền móng cho các đại hội tiếp theo của Đảng. Luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú khởi thảo được thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời cũng họp tại Hương Cảng (tháng 10-1930) khẳng định: “Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc và đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân”. Về lực lượng thì “vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh”, đồng thời “Đảng phải thu phục được đông đảo quần chúng lao động”. Báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội lần thứ hai của Đảng (tháng 2-1951) họp ở Tuyên Quang chỉ rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, trừ diệt bọn phản quốc, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Báo cáo cũng nêu rõ: “Lực lượng cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản dân tộc”. Đại hội lần thứ ba của Đảng (tháng 9-1960) tại Hà Nội diễn ra trong bối cảnh đất nước bị chia cắt thành hai miền theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Báo cáo chính trị do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn trình bày tại Đại hội đã khẳng định: “Nhiệm vụ cách mạng của cả nước là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh”. Về lực lượng thực hiện nhiệm vụ chung đó, ở miền Bắc là: “Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân”, ở miền Nam là: “Phát triển lực lượng cách mạng của quần chúng làm cơ sở”. Đại hội lần thứ tư của Đảng (tháng 12-1976) tại Hà Nội diễn ra trong bối cảnh nước nhà thống nhất, cả nước thực hiện nhiệm vụ chung: “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong ước của Hồ Chí Minh. Báo cáo chính trị tại Đại hội do Tổng Bí thư Lê Duẩn trình bày đã đề ra nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là: “Xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”. Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam liên hệ chặt chẽ với quần chúng, không ngừng chăm lo xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi khả năng sáng tạo của giai cấp công nhân và nhân dân lao động”. Các đại hội từ Đại hội V cho đến Đại hội XIII đều tiếp tục khẳng định mục đích của Đảng là vì dân và coi quan hệ của Đảng với dân là một bộ phận hợp thành đường lối của Đảng. Trong Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định một trong những bài học kinh nghiệm quý báu: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Có thể khẳng định rằng, bài học kinh nghiệm nói trên đã kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm của các Đại hội Đảng trước đó, là một trong những nhân tố bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Về thực tiễn, bên cạnh những thắng lợi to lớn, trong quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng cũng nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm, thiếu sót của mình, trong đó có một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm tổn hại đến quan hệ giữa Đảng và dân. Ngay trong Điều 8 Điều lệ tóm tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930) quy định: “Những người không chịu hoạt động hoặc hành động không chính đáng làm mất thanh danh và uy tín của Đảng” sẽ bị “đuổi ra khỏi Đảng”. Sau khi Hồ Chủ tịch chuyển bức thư của nhà thơ Đoàn Phú Tứ, đại biểu Quốc hội khóa 1 tố cáo sai phạm của Trần Dụ Châu, ngày 5 - 9 - 1950, tại thị xã Thái Nguyên, Tòa án binh tối cao mở phiên toà đặc biệt xử Đại tá Trần Dụ Châu - Giám đốc Nha Quân nhu - với án tử hình do can tội ăn cắp công quỹ và sống sa đọa. Bản án đã nhanh chóng được báo cáo lên Hồ Chủ tịch. Người đã bác đơn xin giảm án và cho rằng: “Nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo”. Tại phiên họp Hội đồng Chính phủ tháng 11 - 1950, Hồ Chủ tịch đã nhắc nhở: “Nếu cán bộ biết thương dân, tiếc của dân thì không xảy ra việc đáng tiếc”. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng của Đảng, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên bằng các hình thức khác nhau; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Thực tế này cho thấy, Đảng phải thường xuyên sàng lọc đội ngũ của mình và phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Những điều Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói tại Hội nghị Trung ương 5 vừa qua là sự thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa Đảng và nhân dân, phản ánh quan điểm nhất quán của Đảng về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua khảo nghiệm và vì thế những điều đó khác hoàn toàn với nhận định sai lầm, mang tính phá hoại, chống đối Đảng và nhân dân Việt Nam của NKT./. Nguồn sưu tầm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét