Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN TRONG THỜI ĐẠI SỐ!

     Thời gian qua, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hình thức thể hiện của tự do ngôn luận có sự biến đổi lớn. Internet, mạng xã hội trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổ chức bày tỏ quan điểm, tư tưởng, truyền bá thông tin, thể hiện quyền tự do ngôn luận. Sức lan tỏa và ảnh hưởng của nó rất mạnh mẽ và nhanh chóng, tạo được sự chú ý, quan tâm theo dõi của số đông người dân, nhất là những người có ảnh hưởng trong xã hội.
     Chỉ cần sở hữu phương tiện điện tử (điện thoại thông minh, laptop) có kết nối Internet, cá nhân có quyền tự do truyền đạt thông tin, ý kiến của mình đến người khác mọi nơi, mọi lúc. Tình trạng các hội, nhóm tiêu cực xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng gây tác động xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội nói chung. Thực tế này đang đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả cũng như đặt ra yêu cầu mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo để không trở thành nạn nhân của "thế giới ảo"./.


Yêu nước ST.

MẠNG XÃ HỘI - THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC!

     Trong đời sống xã hội hiện nay, sự phát triển của Internet, mạng xã hội đã mang lại nhiều tiện ích, chỉ trong một vài thao tác trên thiết bị số như điện thoại thông minh, máy tính bảng hay máy tính làm việc, không gian và thời gian liên kết giữa người với người được tương tác. Quá trình sử dụng mạng xã hội này cùng lúc xuất hiện những ưu điểm và khuyết điểm vì những mục đích khác nhau, vì khi tham gia các trang mạng xã hội, người dùng phải cung cấp những thông tin cơ bản về tên, tuổi, số điện thoại, email, địa chỉ… Bên cạnh đó, các phần mềm ứng dụng luôn truy cập những thông tin cơ bản trong thiết bị công nghệ cá nhân của mỗi người. Từ những thông tin này, thông qua công nghệ trí tuệ nhân tạo và những công cụ phân tích, các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội nắm được nhiều thông tin của mỗi người như tâm lý, xu hướng, nghề nghiệp, thái độ, quan điểm… Từ đó phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, thậm chí là những mục đích mờ ám.
     Vì vậy đặt ra khi sử dụng mạng xã hội cho mục đích cá nhân phải chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, không tiết lộ thông tin cá nhân và cơ quan, đơn vị như: Thông tin về cấp bậc, chức vụ, hoạt động quân sự, sơ đồ, địa chỉ đơn vị, hình ảnh mặc quân phục, hình ảnh trang thiết bị, hình ảnh hoạt động đơn vị; trường hợp sử dụng các trang mạng xã hội phục vụ tuyên truyền, đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc trên không gian mạng phải được sự cho phép, hướng dẫn của cơ quan chính trị tại các cơ quan, đơn vị. Cùng với đó, thường xuyên làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nắm và quản lý chặt chẽ việc quân nhân tham gia truy cập, kết nối sử dụng Internet và mạng xã hội, trong đó có mạng xã hội Tiktok. Khi phát hiện các vụ việc vi phạm quy định xảy ra kịp thời báo cáo cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xác minh làm rõ, xử lý theo quy định./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 01 NĂM 1946!

         “Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe”!
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh Lời căn dặn các cán bộ tuyên truyền ngày 8-1-1946: “…Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe. Ta đừng bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 137, ngày 9-1-1946; trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa ra đời, đang phải đương đầu với nhiều thách thức lớn, nhất là sự chống phá cách mạng của bọn thực dân Pháp xâm lược. Lời của Người đầu năm 1946 nhằm huấn thị cán bộ tuyên truyền phải hiểu rõ trong hoàn cảnh, nhiệm vụ nào cũng phải tôn trọng tính khách quan, chân thực, phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng, trình độ dân trí, phát huy giá trị nhân đạo truyền thống của dân tộc Việt Nam; qua đó, hình thành thái độ, phương pháp tuyên truyền phù hợp. Hơn thế, Hồ Chí Minh còn nêu lên vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác tuyên truyền là phải “tôn trọng hiện thực khách quan”, có như vậy tuyên truyền mới có nhiều người nghe, mới đạt được mục đích và kết quả tốt.
     Lời của Người năm ấy được đội ngũ cán bộ tuyên truyền từ Trung ương đến địa phương quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, góp phần
     Trong lĩnh vực quân sự, cán bộ làm công tác tuyên truyền ở các cấp được nghiên cứu, quán triệt sâu sắc lời chỉnh huấn của Bác Hồ; nắm vững đường lối kháng chiến, kiến quốc; đổi mới, sáng tạo nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền phong phú, được cán bộ chiến sĩ quân đội và toàn dân đón nhân. 
     Đến hôm nay, lời của Hồ Chí Minh đầu xuân năm ấy vẫn được đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền trong quân đội được cấp ủy, chỉ huy đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác nghiên cứu quán triệt học tập, vận dụng nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới./.
Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN CHỐNG PHÁ VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

         Trong những năm qua, vấn đề nhân quyền đã trở thành tiêu điểm trong cuộc đấu tranh tư tưởng, là mục tiêu các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp vào nội bộ các quốc gia để phục vụ mưu đồ chính trị lật đổ chế độ xã hội, trong đó có Việt Nam.
Với mục tiêu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN Việt Nam, các thế lực thù địch sử dụng nhiều phương thức chống phá ta, với mức độ ngày càng trắng trợn, thô bạo. Những năm gần đây, chúng tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo tình hình nhân quyền tại Việt Nam, đòi gắn viện trợ nhân đạo song phương, đa phương với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận…, hậu thuẫn tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án để “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ bọn phản động người Việt lưu vong chống đối hoạt động chống phá Việt Nam. Nhiều cơ quan tổ chức như: Bộ Ngoại giao, Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ, Nghị viện Châu Âu, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.
     Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, ấn phẩm của bọn phản động để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, khai thác lợi dụng các sự kiện chính trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam, thông qua các chương trình hợp tác để truyền bá mô hình lập pháp và nền dân chủ tư sản phương Tây; lợi dụng sự suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng và vi phạm pháp luật của một bộ phận cán bộ đảng viên để tuyên truyền đả kích vai trò lãnh đạo của Đảng, phá hoại niềm tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng nhằm tác động chuyển hoá nội bộ từ bên trong, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ tại Việt Nam.
     Với việc chúng ta thực hiện chính sách ngoại giao rộng mở, là bạn với tất cả các nước, các thế lực thù địch trong khi tiếp tục hoạt động “diễn biến hòa bình” trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, đã tập trung sử dụng vấn đề nhân quyền để khoét sâu những sơ hở, thiếu sót của ta trong một số lĩnh vực gắn liền với an ninh quốc gia và công tác điều tra xử lý các đối tượng vi phạp pháp luật, cụ thể: Cố tình cắt xén, cố tình diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, bọn phản động lưu vong và những phần tử bất mãn “rêu rao” rằng Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết. Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng tôn giáo và dân tộc có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.
     Trước thủ đoạn xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tinh vi, xảo quyệt, việc nhận diện và đấu tranh chống âm mưu, hoạt động lợi dụng nhân quyền xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam là vấn đề quan trọng cần thiết đòi hỏi sự tham gia của các cơ quan, ban, ngành chức năng và mỗi người dân, tạo thế trận an ninh vững chắc bảo vệ sự tồn vong, vững mạnh của chế độ ta./.
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Trong những ngày qua, sau khi Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII diễn ra, các thế lực thù địch lại điên cuồng chống phá, với những chiêu trò cũ rích nhằm xuyên tạc, bôi nhọ chế độ, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, gây hoài nghi về chế độ xã hội hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Mọi người dân cần nhận diện rõ thủ đoạn này để cảnh giác trước âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được Đảng và Nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, được kiên trì, kiên định triển khai thực hiện suốt từ năm 1930 đến nay, nhờ đó, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành chính quyền về tay nhân dân, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, rồi thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có những giọng điệu lạc lõng của các thế lực thù địch, phản động đòi Đảng ta, Nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn và đi theo con đường khác, vì họ cho rằng đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”. Họ xuyên tạc thành tựu của 35 năm đổi mới là do chủ nghĩa tư bản đầu tư vào Việt Nam, chứ không phải do vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không phải do chúng ta đã lựa chọn đúng đắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà ngày nay chúng ta đạt được thành tựu như vậy. Bên cạnh đó, sau khi mô hình đi lên chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, có không ít người cho rằng chủ nghĩa xã hội đã cáo chung, Đảng Cộng sản đã hết vai trò lịch sử, rằng nước ta kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, là đi vào vết xe đổ; họ khuyến nghị và khuyên Đảng ta là cần phải đi theo con đường khác, theo mô hình xã hội dân chủ, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nhìn lại chặng đường hơn 35 năm nay, quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ còn lâu dài, liên tục và phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách và không thể nóng vội. Với lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, con đường ấy chắc chắn sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn, đất nước sẽ phồn vinh, hạnh phúc và giàu mạnh hơn.

Ngày Lễ Giáng sinh và bức tranh tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam

Các ngày lễ Công giáo như Giáng sinh, Phục sinh đã góp phần làm phong phú thêm đời sống tâm linh và sinh hoạt văn hoá của người dân. Thông qua sinh hoạt văn hoá tâm linh cộng đồng, người dân là những người theo đạo hay không theo đạo có dịp hiểu và đoàn kết nhau hơn. Đây cũng là dịp để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, thống nhất ý chí và nguyện vọng của người dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một số tổ chức thiếu thiện chí vẫn luôn tìm mọi cách chống phá, tuyên truyền những luận điêu sai trái, cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, xuyên tạc về tình hình, đời sống tôn giáo ở nước ta hòng tạo sự hoài nghi, phá hoại khối đoàn kết tôn giáo. Những luận điệu sai trái Trong 5 năm qua (2017-2022), Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ vẫn định kỳ ra báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu. Họ cho mình quyền nhận xét, đánh giá phê phán về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam và một số quốc gia khác. Họ sử dụng thông tin tài liệu cũ hoặc không chính thống từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được nhà nước công nhận, số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để tiếp nhận thông tin sai lệch, đưa vào báo cáo đánh giá. Một số tổ chức tìm cách khuyến khích, cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Giáo hội và xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, với âm mưu muốn giáo dân chống đối chính quyền. Họ kích động với luận điệu đây là quyền con người “quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tôn giáo”; xuyên tạc Luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, coi đó là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người… Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC), “gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do; giảm can thiệp của chính quyền vào các công việc nội bộ của các nhóm tôn giáo đã được công nhận và nhấn mạnh tiến bộ về tự do tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải thiện quan hệ song phương”… Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ngày 2/12 thông báo “đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo”. Thực tiễn trả lời cho những cáo buộc Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Ở Việt Nam có những tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hoà Hảo, Cao đài…) song hành cùng các tôn giáo du nhập từ bên ngoài (Công giáo, Phật giáo, Tin lành…). Các tôn giáo luôn luôn giữ mối đoàn kết và tôn trọng niềm tin tôn giáo lẫn nhau, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hằng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa – thể thao và ngành nghề. Đến nay, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sĩ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…). Thực tế đã chứng minh, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, dù còn bộn bề công việc, ngày 3/9/1945, tại phiên họp của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận đồng bào theo đạo. Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương – giáo đoàn kết”. Ngày 14/6/1955, Người đã ký sắc lệnh 234/SL xác định “Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Các tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn”. Người từng kêu gọi các tôn giáo hãy xóa bỏ hiềm khích, kỳ thị đoàn kết cùng toàn dân lo cho nền độc lập của nước nhà và lịch sử đã chứng minh, dù trong điều kiện khó khăn của đất nước nhưng chức sắc các tôn giáo, đồng bào có đạo giáo khẳng định rõ sự gắn bó đồng hành với dân tộc. Ngày nay, ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú. Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo – một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc – tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo… được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của nhiều tôn giáo đều trở thành lễ hội chung vui của toàn dân tộc như lễ Noel, lễ hội La Vang. Đặc biệt, lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005… Bên cạnh những giá trị đạo đức, các tôn giáo còn có hệ thống những lễ hội rất phong phú. Trước đây, việc tổ chức và tham gia lễ hội là công việc nội bộ giáo hội và tín đồ trong đạo. Ngày nay, rất nhiều lễ hội tôn giáo không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà nó có sức lan toả, ảnh hưởng lớn trong cộng đồng xã hội như Lễ Giáng sinh, Phục sinh của đạo Công giáo, đạo Tin lành; Lễ Phật đản, Vu lan của Phật giáo; Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung của Hội thánh Cao đài Tây Ninh… Lễ Giáng sinh chỉ là 1 trong số 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo trong một năm ở Việt Nam. Thực tế không khí sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trong các tầng lớp nhân dân những năm qua ngày càng sôi động và có chiều hướng gia tăng. Cứ nhìn vào các lễ hội tôn giáo, các buổi lễ trọng của các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian cũng có thể nhận rõ, những sinh hoạt này không chỉ là sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng trong các cộng đồng của đồng bào có đạo mà còn đang trở thành ngày hội thu hút đông đảo người dân tham gia. Ðiều đó cho thấy Ðảng và Nhà nước đã luôn tạo mọi điều kiện để nhân dân được tự do tham gia các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Việc đa dạng các hoạt động tôn giáo là minh chứng cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã và đang được bảo đảm. Không chỉ đối với đồng bào theo đạo Công giáo, quy mô và hoạt động tôn giáo của đồng bào theo các tôn giáo khác cũng ngày càng tăng và diễn ra sôi động, đời sống tâm linh của người dân luôn được chính quyền quan tâm. Những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam mà các tổ chức thiếu thiện chí đưa ra tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Vậy tiêu chí, tiêu chuẩn của Ủy ban Tự do tôn giáo Quốc tế Mỹ là gì? Họ đại diện cho ai để phê phán, đánh giá về tự do tôn giáo của Việt Nam, khi mà các phê phán của họ chỉ là sự lạc lõng, không được chức sắc tôn giáo đồng tình? Thực tiễn đời sống tôn giáo đã chứng minh khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam; khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là củng cố niềm tin của chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chiều 15/12, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định, Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo là dựa trên những đánh giá thiếu khách quan, cũng như thông tin không chính xác về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam. Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, điều này đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo đảm tôn trọng trên thực tế. Phó phát ngôn Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền con người, bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo cho người dân đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi. Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Mỹ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở, tôn trọng lẫn nhau, đóng góp vào thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước”.

Chân tướng những kẻ giảo hoạt

Giảo hoạt theo Từ điển Tiếng Việt nghĩa là những kẻ hay dối trá, gian xảo, lừa lọc người khác một cách khó lường, xảo quyệt. Những kẻ giảo hoạt lợi dụng lá bài nhân quyền để chống phá đất nước thường có nhiều mưu mô, xảo trá để đổi trắng thay đen, đánh tráo bản chất về vấn đề, sự việc, tình hình liên quan đến nhân quyền ở Việt Nam nhằm tạo ra hình ảnh xấu xa, tiêu cực để đánh lừa dư luận, lấy cớ chống phá, gây áp lực tới Đảng, Nhà nước Việt Nam. Điển hình trong số này là Mạng lưới nhân quyền Việt Nam (VNHRN) có trụ sở ở Mỹ, tổ chức vừa trao giải thưởng nhân quyền 2022 cho Nguyễn Tường Thụy, Trần Đức Thạch và 5 đối tượng mà họ gọi là “Thành viên Liên minh Dân tộc Việt Nam tự quyết”. Tất cả những người này hiện đều đang thụ án tù giam ở Việt Nam. VNHRN coi những trường hợp này là dũng cảm “đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ bằng chính cuộc sống của họ”! Khi “vinh danh” các đối tượng phạm tội, VNHRN đã dùng những mỹ từ đánh tráo bản chất để ca ngợi như: “Nhà báo Tường Thụy từng là một cộng tác viên của Đài Á châu Tự do (RFA), bị kết án tù hồi tháng 1/2021 cùng với các thành viên khác của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, trong đó có blogger Phạm Chí Dũng của VOA. Ông Thụy, từng làm đơn ứng cử Quốc hội Việt Nam khóa 14 với tư cách đại biểu độc lập, bị kết án 11 năm tù với tội danh “sản xuất, tàng trữ, phổ biến” tài liệu chống Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, ông Thụy, 72 tuổi, luôn khẳng định mình vô tội và viết trong một bức thư gửi ra từ nhà tù rằng: “Người ta chỉ sống có một lần. Nếu cho làm lại, tôi vẫn làm như thế”! Đoạn nói về Trần Đức Thạch, VNHRN mô tả: “Trước phiên phúc thẩm hồi tháng 3 năm ngoái, ông Thạch, 70 tuổi, nói rằng ông “xác định phiên tòa này là những nốt nhạc cuối của bản hùng ca, bi tráng của cuộc đời tôi” và rằng ông “rất tự hào vì được cùng anh chị em dấn thân cho sự nghiệp dân chủ của Việt Nam”! Tương tự là những mỹ từ có cánh với đối tượng Lưu Văn Vịnh mà VNHRN gọi là “nhà hoạt động” và cho rằng “ông Vịnh và các bạn của ông đã ý thức và hy sinh tranh đấu cho lý tưởng nhân quyền này cho dù phải chuốc lấy những năm tháng tù tội”! VNHRN cũng tâng bốc cho các trò xảo trá của mình: “Dù thời gian tồn tại chưa đầy bốn tháng kể từ ngày công bố hoạt động nhưng Liên minh Dân tộc Việt Nam tự quyết đã chứng tỏ rằng quyền được tự do chọn lựa một thể chế chính trị mà mình muốn vẫn luôn là một khát vọng phổ quát của con người, đặc biệt là của người Việt Nam đang sống dưới ách độc tài chuyên chế cộng sản”! Với những mỹ từ đầy “hoa lá” và xảo trá như trên, nếu người đọc thiếu hiểu biết sẽ ngộ như đây là những “nhân vật anh hùng”, đấu tranh cho mục tiêu cao cả nào đó. Kỳ thực, tất cả đã bị đánh tráo một cách thô thiển, biến những kẻ phạm tội, làm hại đất nước thành “có công với nước”! Tháng 11/1997, một nhóm người Việt tại Mỹ tổ chức hoạt động về một “Hội nghị quốc tế” tại thành phố Santa Ana, quận Cam, bang California. Nhóm này công bố tổ chức và đến năm 2002 ra mắt chính thức ở Litte Sài Gòn (Mỹ) với tên viết tắt tiếng Anh VNHRN. Mục tiêu, cương lĩnh ghi là “khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”, “gia tăng có hiệu quả các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”. Hàng năm, VNHRN đều có báo cáo về nhân quyền và lựa chọn một số đối tượng được gọi là “hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam để “vinh danh”. Tổ chức này đã tìm mọi cách đánh bóng tên tuổi và móc nối với một số tổ chức thường xuyên có hoạt động chống phá Việt Nam như tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Nhà báo Không biên giới (RSF), Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ)… VNHRN cũng tích cực móc nối, gây dựng quan hệ với hàng chục nhóm, tổ chức người Việt ở nước ngoài như “Báo Tự do ngôn luận”, “Ủy ban Quốc tế tự do tôn giáo cho Việt Nam”, “Tiếng dân kêu cứu”, “Diễn đàn dân chủ”, “Tập hợp thanh niên dân chủ”, “Nhóm Thông luận”, “Đàn chim Việt”, “Mạng lưới Tuổi trẻ Việt Nam lên đường”, “Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ”… Trong đó, có những nhóm liên hệ chặt chẽ với Việt Tân, đã bị Bộ Công an xác định là tổ chức khủng bố. Số đối tượng được “vinh danh” năm 2022 gồm có Nguyễn Tường Thụy, Trần Đức Thạch, Lưu Văn Vịnh. Nguyễn Tường Thụy là một trong số 40 thành viên của tổ chức tự xưng Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, với vị trí Phó Chủ tịch. Nguyễn Tường Thụy dùng nhiều bút danh để đăng tải bài viết lên trang facebook cá nhân, trang của Hội Nhà báo độc lập với nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngày 5/1/2021, TAND TP Hồ Chí Minh tuyên án 11 năm tù giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Còn Trần Đức Thạch (trú tại Nghệ An) đã soạn thảo, đăng tải nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, bôi nhọ, xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhận hỗ trợ về tài chính của các cá nhân, tổ chức trong ngoài nước. Ngày 24/3/2021, Thạch bị tòa tuyên phạt 12 năm tù giam về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Lưu Văn Vịnh, trú tại quận Bình Tân (TP Hồ Chí Minh) đã có hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi đứng ra lập tổ chức phản động “Liên minh dân tộc Việt Nam” do Vịnh làm Chủ tịch. Với bảng “thành tích” chống phá nhiều năm của 3 đối tượng trên cho thấy bản chất của cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền 2022” mà VNHRN đưa ra là nhằm động cơ, mục đích gì? Gọi là “vinh danh giải thưởng” nhưng tất cả đều là những đối tượng đang thụ án trong các trại giam, hiển nhiên không thể trực tiếp đến nhận giải. Trước đó, bản danh sách cá nhân được trao giải cũng là những cái tên cộm cán trong hoạt động chống phá, bị phạt tù giam như: Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu cày), Nguyễn Chính Kết, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Phạm Thị Đoan Trang, Nguyễn Năng Tĩnh, Lê Công Định, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Đài… Thực chất của cái gọi là “giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2022” chỉ là một màn kịch cũ được soạn lại, đạo diễn làm mới cho có tính thời sự. Trong lần đại hội tháng 8/2021, VNHRN đưa ra 5 tuyên bố, trong đó cơ bản lặp lại nhiều nội dung cũ, đồng thời đưa ra thêm vấn đề có vẻ thời sự như “chống dịch COVID-19”. Không khó để nhận ra mưu đồ thực chất của VNHRN, thông qua cái gọi là “giải thưởng Nhân quyền” để tự đánh bóng tên tuổi của tổ chức, cổ xúy cho các đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam dưới danh nghĩa “nhà hoạt động nhân quyền”. Thông qua việc trao giải thưởng, VNHRN tiếp tục lôi kéo nhiều đối tượng cực đoan vào các hoạt động chống phá dưới các vỏ bọc như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà hoạt động xã hội”; đánh lừa dư luận quốc tế về đối xử thiếu nhân quyền trong tù với những “tù nhân lương tâm”, “nhà hoạt động dấn thân vì nhân quyền”… Cũng như các tổ chức AI, RSF, CPJ… mang danh nghĩa đẩy nhanh “tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” nhưng thực chất là công cụ trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch sử dụng chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cùng với đó, tổ chức theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) trước nay vẫn tự cho mình quyền “điều tra và đưa ra ánh sáng các vi phạm nhân quyền”. Tuy nhiên, căn cứ vào hoạt động của HRW thì lâu nay tổ chức này đang đi lệch tôn chỉ, mục đích ban đầu và trở thành con rối đội lốt nhân quyền phục vụ mục đích, động cơ của chính họ. Ai cũng hiểu, nếu báo cáo, đánh giá mà dựa trên nhãn quan của những tổ chức như Human Rights Watch thì bất kỳ nơi đâu cũng chỉ là màu xám xịt khi mà kẻ giảo hoạt chỉ sử dụng lá bài nhân quyền để phục vụ ý đồ chính trị của họ mà thôi. Đáng chú ý là những hoạt động, các báo cáo, giải thưởng, phúc trình… nêu trên lại nhận được sự hậu thuẫn của cơ quan ngoại giao một số nước, điển hình là Bộ Ngoại giao Mỹ, từ đó có những đánh giá sai lệch. Mới đây là việc Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo. Ngày 15/12/2022, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền con người, bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo cho người dân đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi. Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Mỹ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở, tôn trọng lẫn nhau, đóng góp vào thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước”.

CHIẾN THẮNG CỦA SỰ ĐOÀN KẾT TRONG NHỮNG THỜI KHẮC NGẶT NGHÈO!

     Kỷ niệm 44 năm Ngày Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng (7-1-1979/7-1-2023). 
     Ngày 7-1-1979 đã đi vào lịch sử của hai dân tộc Việt Nam và Campuchia khi Quân tình nguyện Việt Nam cùng quân và dân Campuchia đập tan chính sách dã man của chính quyền Khmer Đỏ do tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đứng đầu, qua đó giúp Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, từng bước hồi sinh đất nước.

Vừa tự vệ, vừa giúp bạn
     Lịch sử ghi lại rằng, tháng 4-1975, tức là ngay sau khi giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Campuchia tiếp tục rơi vào bi kịch lớn bởi chính sách diệt chủng tàn khốc của tập đoàn Pol Pot. Bằng chứng là chỉ trong 3 năm 8 tháng 20 ngày, hơn 3 triệu người dân vô tội Campuchia đã bị giết hại bởi bàn tay tàn độc của Pol Pot.
     Nhớ lại tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” khi ấy, trong bộ phim tài liệu lịch sử với tựa đề “Hành trình cứu nước”, Thủ tướng Campuchia Hun Sen từng chia sẻ rằng ông cùng với nhiều người Campuchia yêu nước xem Việt Nam là nơi duy nhất có thể giang tay giúp đỡ vì đây là nước láng giềng từng đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh với Campuchia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành độc lập.
     Không chỉ đẩy nhân dân Campuchia đến trước bờ vực diệt vong, tập đoàn Pol Pot còn tiến hành cuộc chiến tranh đẫm máu, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ Tây Nam Việt Nam. Không chấp nhận biên giới của Tổ quốc bị đe dọa, nhân dân bị Pol Pot sát hại man rợ, quân và dân Việt Nam đã đứng dậy thực hiện quyền tự vệ chính đáng và tiến hành đòn phản công quyết liệt, đập tan âm mưu xâm lược của quân Pol Pot.
     Đáp lại lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, các chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam cũng đã sang sát cánh cùng nhân dân Campuchia chiến đấu chống lại Pol Pot với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”.
     Những hy sinh xương máu đã được đền đáp khi ngày 7-1-1979, thủ đô Phnom Penh của Campuchia được giải phóng. Như Thủ tướng Hun Sen khẳng định, đại thắng ngày 7-1-1979 cũng đặt dấu chấm hết cho thời kỳ đen tối chưa từng có trong lịch sử Campuchia, mở ra một kỷ nguyên mới, nhân dân Campuchia nhận lại được quyền tự do và có cơ hội tái thiết Tổ quốc.

Lẽ phải đã được
thừa nhận
     Theo đề nghị của Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia, 10 năm sau đó, Quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục ở lại cùng lực lượng vũ trang Campuchia truy quét tàn quân Pol Pot, củng cố chính quyền cách mạng, giúp xây dựng, phục hồi kinh tế Campuchia từ đống đổ nát mà chế độ diệt chủng để lại. Cũng từ đây, lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, đủ khả năng tự lực bảo vệ đất nước. Đến cuối tháng 6-1989, theo thỏa thuận giữa hai bên, Việt Nam rút hết Quân tình nguyện về nước, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế.
     “Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này, có đất nước nào đã giúp nhân dân Campuchia, đặc biệt là giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn cản sự quay lại của chúng? Câu trả lời chính là nhân dân và quân đội Việt Nam”-lời nói đó của Thủ tướng Hun Sen chính là sự ghi nhận đối với những hy sinh xương máu của các chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam.
     Gần 40 năm sau khi chế độ diệt chủng Pol Pot bị lật đổ, ngày 16-11-2018, Tòa án xét xử tội ác chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia (ECCC) đã ra phán quyết các cựu thủ lĩnh của Pol Pot phạm tội ác diệt chủng chống lại nhân loại. Bản án chung thân dành cho hai cựu lãnh đạo Khmer Đỏ là Nuon Chea và Khieu Samphan chính là cái giá phải trả cho những tội ác mà chúng gây ra đối với nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia trong giai đoạn 1975-1979. Ngay sau khi phán quyết của ECCC được đưa ra, một số hãng truyền thông và chuyên gia quốc tế cũng cho rằng, phán quyết này khẳng định tính chính nghĩa của Việt Nam khi đưa quân sang giúp cách mạng Campuchia.
     Hơn 4 thập kỷ đã trôi qua, ngày 7-1 hằng năm, nhân dân Việt Nam và Campuchia luôn dành tình cảm đặc biệt để tri ân những người đã ngã xuống trong cuộc chiến chống chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. Đó là động lực để hai nước tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện dựa trên nguyên tắc hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau.
     Đến nay, chiến thắng ấy cũng vẫn được nhắc đến như một minh chứng sống động cho tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa hai nước láng giềng Việt Nam-Campuchia trong những thời khắc ngặt nghèo nhất./.
Ảnh: Người dân tỉnh Ratanakiri (Campuchia) đón chào Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang Campuchia năm 1979.
Yêu nước ST.

TRUYỀN THÔNG BẨN ĐANG CỐ GẮNG ĐỔ TỘI HẾT VÀO NHÀ THẦU, CÔNG NHÂN VÀ BẢO VỆ!

         Có lẽ rất nhiều người trong chúng ta cảm thấy rung động khi chứng kiến những nỗ lực giải cứu bé Hạo Nam, một trường hợp tai nạn chưa từng có tiền lệ và đầy xúc động cũng như ám ảnh trong những ngày vừa qua. 
     Nhưng, có nhiều nhà báo, dân cư mạng bắt đầu lợi dụng câu chuyện thương tâm của bé Hạo Nam, đổ hoàn toàn trách nhiệm sang phía nhà thầu, các công nhân và các bảo vệ công trường nơi em gặp tai nạn. Nhiều tờ báo, trang mạng còn cố gắng phân tích và yêu cầu bỏ tù, tạm giam những người liên quan nhưng lại lược bỏ những chi tiết quan trọng như các bé đã được bảo vệ cảnh báo và đuổi ra khỏi công trường trước đó nhưng sau đó đã lẻn vào công trình trong lúc các công nhân nghỉ trưa, công trình đã có dây căng và biển cấm vào, các bé lẻn vào công trình ở khe kẽ góc khuất không ai phát hiện ra được….
     Việc đưa thiếu thông tin, lợi dụng sự thương xót của cộng đồng mạng, lợi dụng mâu thuẫn giàu - nghèo để kiếm tương tác trong trường hợp này là một việc thô bỉ và không thể chấp nhận được.
     Đúng là nhà thầu và những người liên quan phải trách nhiệm, điều này sẽ được làm rõ, nhưng phải đưa tin, phân tích một cách trung thực, khách quan. Thương bé không phải bằng cách bỏ qua, xóa đi những sai lầm, đổ hoàn toàn trách nhiệm lên những người khác. Ngược lại, phía nhà thầu, công nhân, bảo vệ cũng không hề có ý định che giấu, họ đã gọi cứu nạn đến, hỗ trợ trong quá trình cứu bé, sẵn sàng cung cấp thông tin liên quan, không thoái thác trách nhiệm, chấp nhận chịu thiệt hại.
     Chúng ta thương bé thật, nhưng tình thương thì cũng cần có lý trí. Chúng ta đồng cảm với gia đình bé, nhưng cũng cần phân tích rõ ràng để các bố, mẹ, gia đình khác quản lý con em thật tốt, đừng vô tâm và bỏ mặc con trẻ, hãy có trách nhiệm với các bé và tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra. Chúng ta thông cảm vì cái nghèo, nhưng không thể vì cái nghèo để lờ đi những việc làm sai được.
     Các bạn cần phải biết rằng, không ai muốn tai nạn diễn ra vì mạng người là quý giá, tiến độ công trình cũng là cần câu cơm của rất nhiều người. Không ai muốn mất con, cũng chẳng ai muốn có một vụ tai nạn thiệt mạng ở công trình mà mình đang làm việc. Công trình sẽ bị đình chỉ nhiều ngày, thậm chí là nhiều tháng để phục vụ công tác đo đếm, điều tra… Sẽ có nhiều người bị mất việc thậm chí là mất trắng tài sản, thiệt hại tài sản là rất lớn lao.
     Không phải chỉ gia đình bé Hạo Nam coi như không có Tết mà còn rất nhiều người khác nữa, đó có thể là những công nhân, bảo vệ, nhà thầu công trình và gia đình của họ nữa./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 07 THÁNG 01 NĂM 1946!

         “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành”.
     Trong Bài nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, Bác Hồ đã chỉ rõ: “…Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm”.
     Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Bài nói được đăng trên Báo Cứu quốc, số 136, ngày 08 tháng 01 năm 1946 cách đây tròn 77 năm, trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.
     Lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: Nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng.
     Hiện tại, lời năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nhà trường quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào giáo dục-đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan quân đội vừa "hồng", vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới./.

Yêu nước ST.

"CÁI TÔI" MỘT BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN PHƯƠNG TÂY!

     Đề cao cái tôi là tốt hay xấu? Tốt cũng có và xấu cũng có bạn ạ. Vì chúng ta là những người theo chủ nghĩa duy vật biện chứng nên luôn nhận ra, bất cứ cái gì cũng có hai mặt. Vậy tôi xin góp vài nhời để các bạn rộng đường dư luận. Tôi xin nói mặt tốt của “cái tôi” trước.
     Mặt tốt của “cái tôi” trong cuộc sống ở phương tây là phát huy cao độ khả năng của một con người, của một quốc gia. Nhờ có khai thác khả năng con người ở mức cao mà xã hội phát triển nhanh hơn. Tính tự lập của mỗi người phát triển hơn.
     Nhưng khi “cái tôi” đã phát triển tới mức nào đó thì đôi lúc con người và xã hội đó trở nên ích kỷ, giả dối và lừa lọc.
     Nếu bạn muốn tìm ví dụ về việc đề cao “cái tôi”, xin hãy nhìn sang phương tây. Ở đó “chủ nghĩa cá nhân” (nói nôm na là “cái tôi”) là dòng chủ đạo đã phát triển từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Bây giờ bạn bảo đa số những người dân sống ở các nước phương tây hãy dẹp bỏ chủ nghĩa cá nhân đi thì chẳng khác nào “hái sao trên trời”.
     Các bạn cứ quan sát một gia đình người dân phương tây mà coi. Con cái đến tuổi trưởng thành thì phải tự lập, cha mẹ coi như hết trách nhiệm. Cha mẹ già yếu thì xin mời vào nhà dưỡng lão, con cái hết trách nhiệm. Có lẽ vì thế mà người phương tây dễ dàng xa gia đình, xa nơi chôn nhau cắt rốn hơn người phương đông.
     Đó là nói về gia đình, một “xã hội thu nhỏ”, chứ nói rộng ra một quốc gia thì “cái tôi” cử nổi lên ngồn ngộn như đỉnh núi Everest hay đỉnh Alpe. Điển hình cho việc đề cao “cái tôi”, thứ “chủ nghĩa cá nhân”, đó là chính quyền Mỹ (tôi không dám nói cả nhân dân Mỹ), thực chất là thứ chủ nghĩa này đã kết thành hàng trăm năm rồi, dù chính quyền thuộc thế hệ nào cũng cùng chung những cách hành xử với thế giới.
     Sau chiến tranh thế giới lần thứ II (WW2), có quốc gia nào đi gây ra nhiều cuộc chiến tranh ra nước ngoài như những chính quyền Mỹ? Để làm gì? Để thỏa mãn nhu cầu làm giàu cho nước mình, cho những tập đoàn tư bản, nhất là tập đoàn sản xuất vũ khí. 
     Tạm thời chúng ta bỏ qua cuộc đối đầu giữa các quốc gia đại diện cho các hệ tư tưởng khác nhau, mà ta đi ngay vào cuộc chiến có tính thời sự cao hiện nay, giữa Nga và Ukriane mà thực chất là giữa Nga và NATO. Tại sao có cuộc xung đột đó? Vì NATO mà đứng đầu là Mỹ, không muốn thấy một nước Nga hùng cường. Đó là vì “cái tôi” của Mỹ quá lớn.
     Mỹ muốn kìm chế Nga song lại phải dùng đám tay sai Ukraine. Mỹ muốn những xác chết không phải là người Mỹ mà là người Ukraine. Viết đến đây chúng ta lại nhớ đến chiến lược “thay màu da cho xác chết” mà Mỹ đã áp dụng ở miền Nam Việt Nam, khi đó Mỹ đã thấy khả năng không thể giành chiến thắng, Mỹ phải dùng người Việt để chết thay, nhiều người vì thế mà cho rằng cuộc chiến tranh xâm lược là “nội chiến”. Ngày nay Mỹ cũng áp dụng chiến lược đó ở Ukraine. Chính quyền Mỹ sợ dân chúng Mỹ nổi loạn như khi Mỹ tiến hành cuộc chiến ở Việt Nam, còn vũ khí và tiền bạc thì Mỹ không thiếu. Chiến tranh càng kéo dài Mỹ càng giàu lên. Đó cũng là biểu hiện “cái tôi” của Mỹ.
     Biểu hiện đặc trưng “cái tôi” của chính quyền Mỹ là câu “Nước Mỹ trên hết” của ông cựu Tổng thống Donald Trump. Ngày nay ông đương kim Tổng thống Joe Biden muốn xóa bỏ cái “đặc trưng” đó để mong xóa bỏ ảnh hưởng của phe Cộng hòa, song cứ nhìn cái cách ông điều hành cuộc chiến tại Ukraine và cách đối xử với các đồng minh châu Âu thì bản chất của các chính sách ấy vẫn là “Nước Mỹ trên hết”.
     Bẩn thỉu nhất trong việc đề cao “cái tôi” của Mỹ chính là các hành động của Mỹ đối với các bạn bè đồng minh của mình, như các nước EU và G7. Mỹ không quan tâm đến đời sống của người dân của EU và G7, miễn là Mỹ bán được nhiều vũ khí, miễn là Mỹ bán được khí đốt giá cao, miễn là Mỹ kéo các nhà công nghiệp của châu Âu chạy sang Mỹ để các nước EU trở thành các quốc gia “phi công nghiệp”. Tất cả phải phụ thuộc vào Mỹ. Mỹ sẽ trở thành ông chủ của châu Âu. “Cái tôi” lần này của Mỹ mới lớn và mới vô nhân tính nhất.
     Trái ngược với lối sống phương tây là lối sống “mình vì mọi người, mọi người vì mình” của phương đông. Cuốn phim “Ba chàng ngự lâm” của Pháp khi được công chiếu, chắc hẳn là một ý tưởng mới lạ đối với người dân phương tây, còn đối với người dân phương đông chắc đã quen.
     Người dân phương đông rất coi trọng gia đình, rất kính trọng và biết cách chăm sóc người già, người phương đông ít coi trọng sinh nhật mà lại rất coi trọng ngày giỗ của người quá cố. Vì sao lại thế? Vì chúng ta luôn đặt câu hỏi cho mình, như “công sinh thành thuộc về ai?”, “tại sao ta phải biết ơn những người thân đã qua đời?”. Chính vì thế mà chỉ có Việt Nam ta mới có gần một trăm bốn mươi ngàn “Mẹ Việt Nam anh hùng” và ở địa phương nào cũng có “Nghĩa trang Liệt sĩ’. Trong khi ở nước Mỹ giàu có, gần 60 ngàn lính Mỹ hy sinh ở Việt Nam cũng chỉ có tên trên một bức tường bằng đá lạnh lẽo.
     Mỗi khi có giặc đến nhà, thì hầu hết người dân Việt chúng ta gạt “cái tôi” sang một bên, xung phong ra tiền tuyến để “đền nợ nước, trả thù nhà”. Hỏi có người dân nước nào làm được thế?
     Hôm nay tôi đọc một tin gây xúc động, đó là 4 người con trai của một bà mẹ ở Thanh Hóa đã chung tiền xây 4 ngôi biệt thự chung quanh nơi mẹ ở để được sống cùng mẹ mãi mãi. Đó là một thí dụ điển hình về việc không nghĩ đến “cái tôi” của bản thân mình.
     Cho nên cũng là “cái tôi”, song người phương tây coi đó là “kim chỉ nam” cho mọi hành động, trong khi người phương đông là nghĩ cách đem “cái tôi” ra phục vụ cộng đồng. Xin đừng ai quên, “Mọi người vì mình, mình vì mọi người”, ai mà cuộc sống ích kỷ, hẹp hòi thì sẽ có quả báo.
     Nói thì nói vậy, chứ “cái tôi” luôn hiện hữu, nhất là đối với những kẻ coi thường luật pháp. Chúng phạm pháp vì chúng đề cao “cái tôi” quá mức. Những kẻ đó chỉ có thể dùng pháp luật để trị.
Vậy nhé!./.
Yêu nước ST.

Theo dấu chân Người ngày 7-1-1946

Ngày 7-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Chính phủ để nghe báo cáo của các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Canh nông sau chuyến kinh lý tại Ninh Bình và Thanh Hóa, Nghệ An và bàn việc động viên nhân dân cả nước hướng về và chi viện cho Nam bộ. Khi bàn về vấn đề chi viện cho Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cần phải thống nhất quân đội ngay để có thể tiếp viện cho Nam Bộ”.

Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ khai giảng Trường Cán bộ Tự vệ Hồ Chí Minh. Trước 75 học viên của khóa cán bộ đầu tiên được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, Bác căn dặn: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Phân tích yếu tố tinh thần, Bác Hồ đưa ra một nguyên lý sáng suốt: “Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm” .

Ngày 7-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp nêu rõ lập trường rất mềm mỏng: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này; hoà bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc. Dân tộc Việt Nam đang chờ đợi cử chỉ đó”.

Nửa thập kỷ sau đó đó diễn ra một cao trào từ phong trào Đồng Khởi đến cuộc đương đầu chống “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ mà đỉnh cao là hai chiến thắng vang dội từ Ấp Bắc (1963) đến Bình Gió (cuối 1964). Với bút danh “Chiến Sĩ”, Bác viết bài đăng báo Nhân dân ngày 7-1-1965 với tiêu đề “Điện Biên Phủ nhỏ và Nhịp cầu vàng”. Bài báo một mặt vinh danh hai trận thắng trên là “Điện Biên Phủ nhỏ” nhưng để đi đến thắng lợi hoàn toàn còn cần bắc một “Nhịp cầu vàng” để nước Mỹ rút lui khỏi cuộc chiến tranh mà không bị mất mặt.

Thực tiễn cho thấy, sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân (1968), Mỹ đẫ phải bước vào bàn đàm phán tại Pari và 5 năm sau đó (1973) “Nhịp cầu vàng” đó tạo cơ hội cho Mỹ “rút lui mà khỏi mất mặt”... Để rồi không đầy hai năm sau (1975), miền Nam hoàn toàn giải phóng...

- Theo QĐND-

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2023

PHÁT HUY NỀN TẢNG CHÂN LÝ LỊCH SỬ NGÀY 07/01/1979!

     Cách đây 44 năm, ngày 7.1.1979 đã đi vào lịch sử như mốc son của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, tình hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Campuchia. Nhờ sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot và bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, hòa hợp dân tộc và phát triển.    

Cuộc đấu tranh cao cả được lịch sử khắc ghi
Trong chiều dài lịch sử, Việt Nam và Campuchia luôn đoàn kết bên nhau chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Tuy nhiên, sau khi lên nắm quyền lãnh đạo Campuchia tháng 4.1975, tập đoàn Pol Pot đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam đồng thời, thực hiện chính sách diệt chủng tàn bạo đối với nhân dân Campuchia.

Đáp lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia và xuất phát từ truyền thống đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc, sau khi thực hiện quyền tự vệ chính đáng, chặn đứng hành động gây chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam của tập đoàn phản động Pol Pot; Việt Nam đã kề vai, sát cánh cùng với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia tiến hành nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh và đến ngày 7.1.1979 đã hoàn toàn giải phóng thủ đô Phnom Penh.

Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại, đưa Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Trong thông điệp chúc mừng kỷ niệm 44 năm Ngày thành lập Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia, Thủ tướng Samdech Techo Hun Sen từng khẳng định: “Đại thắng 7.1.1979 đã chấm dứt thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Campuchia, mở ra một kỷ nguyên mới. Nhân dân Campuchia chúng ta đã giành lại quyền tự do và cơ hội tái thiết tổ quốc của chúng ta. Mọi người dân đều hiểu rõ rằng nếu không có sự ra đời của Mặt trận 2.12 và chiến thắng ngày 7.1, chúng ta không có ngày hôm nay, đó là chân lý lịch sử".

Năm 2022, tại lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Thủ tướng Hun Sen sang Việt Nam tìm kiếm sự trợ giúp của quân tình nguyện Việt Nam để giải phóng Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ ra, hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, đưa đất nước Campuchia hồi sinh, thể hiện sự hợp tác và đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc, góp phần vun đắp cho quan hệ hữu nghị truyền thống quý báu Campuchia - Việt Nam.

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, đây là cuộc đấu tranh cao cả, trong đó các chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam, đã kề vai sát cánh với những người con anh hùng của đất nước Campuchia để đánh đổ chế độ diệt chủng, hồi sinh Campuchia, vun đắp cho tình đoàn kết, gắn bó, hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, khẳng định chính nghĩa và đóng góp vào những lý tưởng cao đẹp của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. 

Cũng tại buổi lễ, Thủ tướng Hun Sen khẳng định "lịch sử cũng khắc ghi về hành động của quân đội Việt Nam để cứu người dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot”. Nhà lãnh đạo Campuchia đồng thời nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam thể hiện tinh thần hữu nghị trong sáng, tốt đẹp giữa hai nước, nhân dân hai nước. Tôi tin tưởng mối quan hệ này sẽ mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững".

Mốc son đoàn kết
quốc tế trong sáng
         Ông Mak Chan Narith - quan chức Bộ Quan hệ với Quốc hội, Thượng viện và Thanh tra Campuchia - từng chia sẻ: "Bản thân tôi cũng như mọi người dân Campuchia luôn ghi nhớ công lao và sự anh dũng cao cả mà quân đội tình nguyện Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã dành cho dân tộc chúng tôi, giúp chúng tôi đi lên từ bàn tay trắng, để có sự phát triển như ngày hôm nay". 

Theo ông Trần Văn Thông - nguyên tham tán chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia - thực tiễn đã chứng minh với thắng lợi lịch sử ngày 7.1, nhân dân Campuchia đã khép lại trang sử đen tối của những hố chôn tập thể và những cánh đồng chết, thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc và mở ra kỷ nguyên độc lập, hòa bình, tự do và phát triển cho đất nước Campuchia; đồng thời hồi sinh tình hữu nghị Campuchia - Việt Nam, mở ra thời kỳ mới cho quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Campuchia phát triển gắn bó, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau.

Ông Nguyễn Văn Triệu - Phó Chủ tịch Thường trực Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia Thành phố Hồ Chí Minh từng nhận định, ngày 7.1.1979 đã đi vào lịch sử như là mốc son của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung; của tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, đưa đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, bước vào một kỷ nguyên mới: Độc lập, tự do, hồi sinh, đồng thời mở ra một trang mới trong quan hệ láng giềng giữa hai nước.

Trong khi đó, Tổng lãnh sự Campuchia tại Thành phố Hồ Chí Minh Sok Dareth khẳng định, ngày 7.1.1979 không chỉ là bước ngoặt lịch sử khép lại trang sử của thời kỳ đen tối dưới chế độ diệt chủng Pol Pot mà còn mở ra kỷ nguyên mới, thắp sáng hy vọng mới, sự sống mới, hòa bình, ổn định phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập của Campuchia vào khu vực và thế giới. Người Campuchia mãi mãi tri ân và ghi nhớ công lao quý báu của Việt Nam, luôn nhớ rằng ngày 7.1 là ngày sinh lần thứ hai của họ. Đây là chân lý của lịch sử mà không ai có thể xuyên tạc, vu khống hay lãng quên được.

Viết tiếp chặng đường phát triển
     Ngày nay, quan hệ hữu nghị Việt Nam và Campuchia tiếp tục được tiếp thêm sức mạnh từ những truyền thống vốn có từ lâu đời trong lịch sử. Quan hệ Việt Nam - Campuchia đã và đang được củng cố và phát triển vững chắc theo phương châm láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.

Những năm qua, quan hệ Việt Nam - Campuchia phát triển tốt đẹp trên nhiều mặt. Năm 2022, hai nước có nhiều hoạt động trao đổi đoàn cấp cao: Chuyến thăm chính thức Campuchia của Thủ tướng Phạm Minh Chính và ngay sau đó là chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tới Campuchia cùng trong tháng 11.2022; Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thăm chính thức Campuchia tháng 10.2022...

Nhìn lại chặng đường 44 năm qua, chúng ta tự hào và vui mừng nhận thấy quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia luôn được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp đang tiếp tục không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước./.



Yêu nước ST.

THI NHÂN VÀ ĐẠO TẶC!

     Đêm trăng vằng vặc, thi nhân hạnh phúc thả hồn tìm thi hứng. Đạo tặc lại cảm thấy thật xui xẻo vì không có cơ hội trộm cắp tài sản.
     Cùng một hiện thực khách quan nhưng hai đối tượng có hai góc nhìn khác nhau, dẫn đến thái độ, quan điểm đối lập nhau. Trên mặt trận tư tưởng văn hóa, không ít người đang bị các thế lực xấu dẫn dụ bằng góc nhìn, tư duy của đạo tặc...

Thông điệp “ru ngủ” và thông tin “tầm gửi”
     Gần đây, nhiều tài khoản trên các nền tảng mạng xã hội Facebook, YouTube... chia sẻ video của một du học sinh Việt Nam ở nước ngoài nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và tâm tư của một bộ phận người Việt Nam ở hải ngoại. Sản phẩm này được làm từ năm 2020, nhân kỷ niệm 45 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thời gian này, nó được nhiều người sử dụng, chia sẻ lại như một cách để họ lan tỏa thông điệp của một bộ phận trí thức trẻ có cơ hội đi du học nước ngoài đối với tình hình đất nước, tương lai dân tộc.
     Theo dõi thì thấy, chủ nhân của tài khoản có video trên mạng xã hội là người có kiến thức, năng động, có kỹ năng diễn đạt bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Tiếc rằng, chỉ với một góc nhìn hẹp thông qua lăng kính của người nước ngoài, cô đã vội bày tỏ thái độ đồng tình với quan điểm về chiến tranh của những kẻ đã từng đem quân đến xâm lược Tổ quốc mình. Cô khuyên các bạn trẻ, có cơ hội hãy đi du học để được mở mang, khám phá và hãy nhìn nhận đất nước mình qua lăng kính của người khác để đánh giá lịch sử một cách đúng đắn và trọn vẹn hơn...
     Trên không gian mạng hiện nay, xuất hiện rất nhiều những sản phẩm truyền thông dạng như vậy. Thực trạng này cho thấy, các thế lực thù địch đã và đang có sự điều chỉnh, thay đổi mạnh mẽ về phương thức, thủ đoạn chống phá. Cùng với việc sử dụng những thành phần bất hảo, phản bội Tổ quốc ra mặt chống đối Đảng, Nhà nước bằng kiểu tấn công, đả kích, xuyên tạc công khai, trực tiếp trên không gian mạng, họ đã hướng đến ngày càng nhiều hơn việc sử dụng những trí thức trẻ, du học sinh có tư tưởng cực đoan như một công cụ tinh vi.
     Với cách lập ngôn tự sự, bằng lối diễn đạt nhẹ nhàng kiểu “ru ngủ”, những “phát thanh viên” trẻ tuổi này dẫn dụ người nghe bằng sự cài cắm thông tin rất khôn khéo, tinh vi. Họ luôn miệng nói rằng, mình không quan tâm đến chính trị. Rằng, mình nói lên vấn đề chỉ là bày tỏ một góc nhìn, một quan điểm cá nhân để mọi người cùng suy ngẫm. Kết luận thế nào là quyền của mỗi người... Nhưng thực chất thì đó là một kiểu “diễn biến hòa bình” tinh vi.
     Cách truyền thông kiểu “nửa nạc nửa mỡ” này là một chiêu bài dân túy, một phương thức biến thể của “cách mạng màu” được các thế lực thù địch áp dụng để chống phá Việt Nam trên không gian mạng. Biểu hiện của nó là hình thức tuyên truyền “mật ngọt chết ruồi”, “mưa dầm thấm lâu”... Sự thay đổi, điều chỉnh phương thức của họ xuất phát từ thực tế là, kiểu tung tin giả, dựng chuyện nói xấu, xuyên tạc sự thật, công kích trực diện... đã tỏ ra không còn tác dụng.
     Hằng ngày hằng giờ không gian mạng ngập những thứ “rác” thông tin độc hại do họ tung ra, đại đa số công chúng đã không dễ bị mắc lừa. Để có thể truyền tải thông điệp phản động, họ thay đổi chiến thuật, sử dụng phương thức “vu hồi”. Cùng với những chiến dịch, sản phẩm truyền thông kiểu “ru ngủ” như trên, còn có kiểu tầm gửi thông tin. Một số đối tượng từng công khai chống phá, đã thay đổi thái độ, quay sang phát ngôn ủng hộ Đảng, Nhà nước.
     Tuy nhiên, trong các sản phẩm truyền thông của họ, sự cài cắm những tư tưởng chống phá vẫn khá rõ. Trong một bài nói, bài viết, họ cài cắm một vài ý, một vài dòng, thậm chí chỉ một vài câu chứa thông điệp ám chỉ, kích động, thù địch. Kiểu ký sinh thông tin độc hại dạng này rất nguy hiểm. Nó như cây tầm gửi. Ban đầu chỉ là một mầm nhỏ, dần dần nó sẽ hút dưỡng chất của cây chủ để sinh sôi, thực hiện mưu đồ soán ngôi, lật đổ. Chúng ta cần vạch rõ, nhận diện rõ để giúp công chúng có kỹ năng phân biệt thật giả, trắng đen giữa mớ thông tin vàng thau lẫn lộn.

Từ góc nhìn đến thái độ
     Có thể thấy phương thức, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu, các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, bài bản. Tuy nhiên, bằng thái độ khách quan, bình tĩnh, sáng suốt, chúng ta không khó để nhận diện đúng bản chất của vấn đề. Bởi, những mưu đồ đen tối, dù có che đậy, ngụy trang tinh vi đến đâu, tự bản thân nó cũng sẽ lòi ra cái “đuôi cáo” giấu trong bộ lông sặc sỡ. Trên không gian mạng, những sản phẩm tuyên truyền của họ được ngụy trang dưới những thuật ngữ gọi là “sự thật”, “chính kiến”, “góc nhìn”, “suy nghĩ”, “chuyện riêng”... không khó để nhận ra những nội dung, thông điệp được họ cài cắm trong những câu chuyện, dòng trạng thái, cuộc trao đổi...
     Đó có thể là video trên trang cá nhân của một du học sinh có tư tưởng cực đoan, buổi Livestream của một người tự xưng là “học giả”, “nhà nghiên cứu”... Đáng chú ý là, trước khi thực hiện các nội dung tuyên truyền, chủ của các tài khoản mạng xã hội ấy thường tạo dựng lòng tin, gây thiện cảm với người khác bằng cách khéo léo giới thiệu nhân thân của mình.
     Chẳng hạn, bản thân từng là học sinh giỏi, sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, từng được giáo dục chu đáo, từng tự hào về Đảng... Nhưng khi ra nước ngoài, được học tập, được tiếp xúc, mở mang tầm hiểu biết thì sự thật lại không như những gì được giáo dục, học tập khi ở nhà...
     Điều đáng nói là những sản phẩm truyền thông ấy thu hút sự tương tác của khá nhiều người, nhất là giới trẻ, cả trong nước và du học sinh, kiều bào. Không ít người bày tỏ thái độ yêu thích, ủng hộ, hưởng ứng. Họ dễ tin vào thứ “mật ngọt chết ruồi” ấy bởi nhiều người bị kéo vào góc nhìn do đối tượng đã bố trí sẵn. Từ việc tương tác, hưởng ứng thông điệp cực đoan, một số người quay lưng thể hiện thái độ “thất vọng” với Đảng, Nhà nước; phủ nhận thành quả cách mạng của cha ông, cổ súy tư tưởng hướng ngoại.
     Để nhận diện rõ phương thức chống phá tinh vi của các thế lực thù địch thông qua các sản phẩm truyền thông như đã nêu trên, công chúng không gian mạng cần xác định, lựa chọn góc nhìn đúng đắn. Hiện thực khách quan chỉ có một. Bày tỏ thái độ như thế nào, phụ thuộc vào góc nhìn của bạn. Không ai phản đối việc các bạn trẻ khi ra nước ngoài học tập, làm việc, có đam mê nghiên cứu, học hỏi, lắng nghe dư luận bạn bè quốc tế đánh giá về đất nước mình, dân tộc mình, tiên tổ, ông cha mình, kể cả quan điểm của những cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam.
     Tuy nhiên, tất cả đều là những góc nhìn tham chiếu. Để đánh giá hiện thực, cần một cái nhìn tổng thể dựa trên thế giới quan, phương pháp luận khoa học.
     Khi bạn bị kẻ xấu dẫn dụ vào góc nhìn thiên lệch, võ đoán, cực đoan theo ý đồ của họ, lịch sử dân tộc và hiện thực đất nước tất yếu sẽ bị bóp méo, phiến diện. Câu chuyện dân gian về thi nhân và đạo tặc nhắc nhở chúng ta rằng, khi mình có góc nhìn đúng đắn, sẽ có thái độ tích cực. Có thái độ tích cực mới tạo ra năng lượng tích cực để có hành động vì chân lý, lẽ phải, biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.
     Đánh giá về lịch sử đất nước, về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mà lại nhìn qua lăng kính của kẻ từng đi xâm lược Tổ quốc mình rồi coi đó là “hiện thực khách quan”, kêu gọi Đảng, Nhà nước phải thay đổi chủ trương, đường lối... thì đó là cách làm phản khoa học, phi thực tế. Hành trang, điều kiện để thúc đẩy hòa hợp dân tộc là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai tươi đẹp để chung tay xây dựng đất nước phồn vinh. Lấy cớ hòa hợp dân tộc để “tẩy sử”, “lật sử” là hành vi của đạo tặc, cần phải đấu tranh lên án và loại bỏ.
     Đường lối, chủ trương, phương châm đối ngoại, quan hệ quốc tế của Việt Nam là chọn chính nghĩa và lẽ phải, không chọn bên. Là những công dân, những trí thức trẻ ra nước ngoài học tập, làm việc, điều tuyệt vời nhất các bạn trẻ cần làm đó là hãy chứng minh, chứng tỏ mỗi công dân là một “sứ giả” của văn hóa dân tộc, của vị thế quốc gia.
     Diện mạo đất nước cũng như đêm trăng sáng. Đó là hiện thực khách quan. Vì lý do gì mà bạn không đứng ở vị trí của thi nhân, lại để kẻ xấu lôi kéo làm đạo tặc?
Yêu nước ST.

 

Đấu tranh, ngăn chặn các tà đạo ở nước ta hiện nay

 

Tà đạo là đạo giáo chuyên dùng bùa phép mê hoặc người; đường lối sai quấy không chính đáng. Ở Việt Nam, những năm qua, tà đạo thường xuất hiện và phát triển mạnh ở vùng nông thôn, vùng sâu xa, nhất là địa bàn Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc.  Các tổ chức này đã thu hút được một số lượng người tin theo, trong đó có tà đạo đã lôi kéo hàng nghìn người tham gia, sinh hoạt tại nhiều địa phương, như: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn, Pháp Luân Công và đặc biệt gần đây là tà đạo Hội Thánh đức Chúa. Việc tuyên truyền, phát triển tà đạo đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, gây tâm lý bức xúc, hoang mang trong một bộ phận quần chúng và tín đồ các tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm phức tạp tình hình ANCT-TTATXH tại địa phương.

          Hoạt động của các tà đạo chủ yếu nhằm thực hành các hoạt động mê tín dị đoan, thực hành tín ngưỡng phản khoa học, phi đạo đức và văn hóa nhằm thu lợi bất chính, như yêu cầu người tin theo phải đóng góp tiền của, công sức xây dựng mới hay tu sửa nơi thờ tự, phục vụ hoạt động duy trì và phát triển tổ chức của các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Riêng đối với một số tà đạo như: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn… các đối tượng cầm đầu, cốt cán thu hút, lôi kéo người tham gia tổ chức nhằm chống phá chính quyền, cản trở việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, xâm phạm ANCT-TTATXH tại địa phương.

Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn các tà đạo ở nước ta hiện nay, đòi hỏi các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, đặc biệt là quản lý và định hướng các sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng theo thuần phong mỹ tục của dân tộc và phù hợp với luật pháp.T ăng cường xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh cho mọi người dân nhằm tạo “sức đề kháng”, “miễn dịch” mạnh mẽ trước hoạt động của các tà đạo.  Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Chủ động triển khai nắm tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lôi kéo, thu hút người tham gia các hội nhóm tà đạo để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các hoạt động tụ họp nhóm hoặc có hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo không được cơ quan chức năng cho phép để vận động quần chúng giải tán, đồng thời cô lập, răn đe những kẻ cầm đầu, cốt cán trong hội nhóm tà đạo. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH tại địa phương. 

 

Chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng –

 mưu đồ không thay đổi của các thế lực thù địch


Mặc dù thế giới đương đại trong nửa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những biến đổi sâu sắc, song chủ nghĩa Mác – Lê-nin với bản chất cách mạng và khoa học vẫn là một cơ sở lý luận quan trọng hàng đầu hướng dẫn nhận thức và cải tạo thế giới. Lý tưởng về một chủ nghĩa cộng sản đem lại công bằng, hạnh phúc, không còn áp bức, búc lột vẫn là ước mơ, hoài bảo của hàng triệu con người trên toàn cầu. Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh được ra đời từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước, trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cả trước đây và hiện nay. Trên tinh thần đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đó lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Như vậy, sự lựa chọn nền tảng tư tưởng của Đảng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, mà mang tính khách quan, khoa học.

Thực tế lãnh đạo đất nước hơn 85 năm qua đó cho thấy, nhờ kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển, giành những thắng lợi to lớn. Những thắng lợi đó đó đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đó trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rói, vị thế đất nước ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là chưa có tiền lệ, có nhiều khó khăn phức tạp. Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta không tránh khỏi những khuyết điểm, thậm chí sai lầm. Đó cũng là điều bình thường của một Đảng cầm quyền. Vấn đề quan trọng là Đảng ta không bảo thủ, trì trệ; đó kịp thời tự kiểm điểm một cách nghiêm túc để nhận ra và kiên quyết sửa chữa, khắc phục. Thế nhưng, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, với mục tiêu chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trước hết là tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng đó lợi dụng và thổi phồng những hạn chế đó, rồi xuyên tạc, quy chụp nguyên nhân là do chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, cứ trong các dịp Đảng ta tiến hành đại hội thì sự chống phá của các thế lực thự địch càng ráo riết hơn, quyết liệt hơn. Lần này cũng vậy, mục đích của chúng là không thay đổi, song thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cũng ra sức xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng: Hồ Chí Minh là người theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm phương tiện để thực hiện tư tưởng của mình nhờ đó tạo ra những sai lầm lịch sử. Chúng cũng tìm mọi cách để bôi nhọ, xuyên tạc nhân cách đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất chấp việc Người là hiện thân của nhân văn, biểu tượng về nhân cách, luôn ở trong con tim, khối óc của nhân dân Việt Nam và thế giới và những đóng góp xứng đáng của Người vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Dù các thế lực thù địch có nói gỡ đi chăng nữa, thực tiễn luôn là thước đo chuẩn xác nhất để kiểm chứng sự đúng - sai học thuyết, đường lối lónh đạo của các chính đảng. Những thành tựu rất đáng tự hào, khởi đầu từ Cách mạng Tháng Tám trong 70 năm qua, nhất là 30 năm đổi mới của cách mạng Việt Nam là minh chứng hùng hồn, không ai có thể xuyên tạc, bác bỏ được vai trũ của Đảng Cộng sản Việt Nam và nền tảng tư tưởng của Đảng.

Góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng

Dưới sự lónh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Ban Bí thư và Bộ Chính trị, sự hướng dẫn của các cơ quan chức năng, sự lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị, cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng đó được tiến hành rộng khắp trên các lĩnh vực, đạt được kết quả quan trọng. Hầu hết cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân đều có nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xó hội, tin tưởng vào cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh được giữ vững, khẳng định địa vị thống trị trong đời sống chính trị - tinh thần ở nước ta, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Mặc dù vậy, hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có mặt chưa cao; một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân cũn bị ảnh hưởng bởi những quan điểm sai trái, thù địch, dẫn đến hoài nghi, thiếu tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Trước tình hình đó, để tăng cường sự thống nhất tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, tạo đồng thuận xã hội, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, chuẩn bị thấu đáo, chất lượng, hiệu quả cho Đại hội XIII sắp tới, chúng ta cần quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị một cách hiệu quả nhất, hướng tới chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vững tin vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi tư tưởng đó thông suốt, niềm tin có cơ sở khoa học vững chắc, trở thành chất keo đặc biệt gắn kết quan hệ giữa Đảng với nhân dân, đưa tới thống nhất về hành động, làm cho cả dân tộc đồng cùng, chung sức, tạo thành lực lượng vật chất vô cùng to lớn, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Để thực hiện được, trước hết các cấp ủy đảng cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò quản lý, điều hành của chính quyền, vai trò tham mưu của cơ quan các cấp đối với công tác đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch. Tập trung xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xác định mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng đúng đắn, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lãnh đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật, các quy chế quản lý thông tin, báo chí, xuất bản, cơ chế cung cấp thông tin, phát ngôn. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác tổ chức, cán bộ; phũng, chống nội giỏn, bảo vệ bớ mật Quốc gia. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy các cấp trong phát hiện, xử lý những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển húa”, cơ hội chính trị; giải quyết triệt để các vấn đề nảy sinh, phũng ngừa, ngăn chặn sự can thiệp, móc nối của các thế lực thù địch.

Hai là, tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chớnh trị, tư tưởng, “sức tự đề kháng” cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân. Để làm được điều đó, cần chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chớnh trị trong hệ thống cỏc nhà trường. Tăng cường giáo dục những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng, phát triển của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng những giá trị văn hóa truyền thống, bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tinh thần yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đồng thời, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đầy đủ, sâu sắc về đối tượng, âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay. Từ đó, định hướng dư luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch.

Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, góp phần làm rừ, bổ sung và hoàn thiện nền tảng tư tưởng; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục nghiên cứu khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Quan tâm nghiên cứu để dự báo sớm tình hình thế giới, khu vực và trong nước; dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xu hướng vận động của nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,… để xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đấu tranh cho phù hợp, hiệu quả.

Bốn là, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng, đa dạng hóa các hỡnh thức đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế, quy chế phối hợp giữa các ban, bộ, ngành của Trung ương, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương để phát hiện kịp thời, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Duy trì, thực hiện tốt chế độ giao ban phản ánh tình hình, trao đổi thông tin, thống nhất biện pháp phối hợp đấu tranh; không để chúng lợi dụng những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước để xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, kết hợp tuyên truyền, giáo dục với các biện pháp tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát; giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí chủ động, kịp thời thông tin làm rừ sự thật, định hướng tư tưởng, dư luận cho nhân dân. Xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, chương trỡnh, tăng thời lượng đăng tải các tin, bài đấu tranh trên các ấn phẩm, phương tiện truyền thông.

Năm là, chỳ trọng xây dựng lực lượng nũng cốt, chuyên sâu trong đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Đó là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ xó hội chủ nghĩa. Chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm đấu tranh; bảo đảm cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở cỏc viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, cơ quan, đơn vị ở Trung ương và các địa phương, đội ngũ phóng viên, biên tập viên các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản - lực lượng nũng cốt, tiên phong trong đấu tranh bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng. Chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin, không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá.

Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các cấp, các ngành, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hũa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, Nhà nước, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hũa bình, ổn định để phát triển đất nước.