Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

Tướng Đỗng Sỹ Nguyên: Thần tượng của lính Trường Sơn Trường

 Tướng Đỗng Sỹ Nguyên: Thần tượng của lính Trường Sơn Trường

Công lao và dấu ấn lớn nhất của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên chính là những năm tháng gắn bó với tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Còn với những người lính Trường Sơn, ông là thần tượng của họ.
Với 97 tuổi đời, hơn 80 năm tuổi Đảng, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Đặc biệt, công lao và dấu ấn lớn nhất của ông là những năm tháng gắn bó với tuyến đường Trường Sơn huyền thoại.
Ông là người giữ cương vị Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn dài nhất, trong thời kỳ ác liệt nhất và mang tính quyết định nhất. Gần 10 năm làm tư lệnh là quãng thời gian thể hiện đậm nét bản lĩnh, trí tuệ và tài thao lược quân sự xuất sắc của ông.
“Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”
Năm 1967, ông Đồng Sỹ Nguyên giữ cương vị Tư lệnh Đoàn 559 – Bộ đội Trường Sơn. Lúc này, phương thức vận chuyển trên tuyến đường Trường Sơn vẫn chủ yếu là gùi thồ, đơn lẻ, không đưa được vũ khí, phương tiện hạng nặng và số lượng lớn theo yêu cầu của chiến trường. Bài toán đặt ra là phải gấp rút, tăng tốc chi viện nhanh nhất, nhiều nhất cho miền Nam. Vì thế, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã mạnh dạn đề xuất phương án mới, chuyển sang vận tải cơ giới, đánh địch mà đi, mở đường mà tiến.
Theo Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Long, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự, Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã coi đường Trường Sơn là một mặt trận, là nơi tiến hành tổng hòa các hoạt động của chiến tranh, đặc biệt là hoạt động đối đầu, đánh trả với sự tàn phá của đế quốc Mỹ.
“Ông là một người chỉ huy chiến trường, một vị tư lệnh rất sâu sát với thực tế, với cơ sở. Chính vì lẽ đấy, ông đưa ra một tổng kết rất hay. Đó là, đây không phải là tuyến vận tải quân sự thuần túy như nhiều tuyến vận tải quân sự khác diễn ra trong lịch sử thế giới. Mà phải coi tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng chống Mỹ là một mặt trận. Tôi cho đó là một phát hiện rất sớm, một đúc kết rất sớm của Tư lệnh Đoàn 559. Từ đúc kết đó, mọi hoạt động chỉ đạo diễn ra trên tuyến đường Trường Sơn đều theo hướng đây là một mặt trận. Mà đã là mặt trận thì phải huy động được sức mạnh của các lực lượng. Đã là mặt trận thì phải có hai điều: Không chỉ có vận chuyển mà còn có phòng tránh, đánh trả”, Đại tá Trần Ngọc Long phân tích.
Quan điểm coi Trường Sơn là một chiến trường đã làm thay đổi trong tư duy, nhận thức của cán bộ, chiến sĩ Trường Sơn. Từ những hoạt động manh mún, nhỏ lẻ, thô sơ, chúng ta đã đầu tư, trang bị cho Trường Sơn những lực lượng, binh khí kỹ thuật hùng mạnh để chủ động đánh địch, chủ động vận chuyển. Lúc đó, Bộ đội Trường Sơn được tổ chức thành 13 binh trạm, mỗi binh trạm phụ trách từ 100 – 130km đường. Cùng với đó là 5 sư đoàn vận tải, 3 trung đoàn đường ống, 4 trung đoàn kho.
Đến giữa năm 1974, lực lượng bộ đội Trường Sơn có tất cả 8 sư đoàn binh chủng, 20 trung đoàn và tương đương trực thuộc, với hơn 100.000 cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm cho chúng ta vừa chiến đấu, vừa tổ chức vận chuyển theo yêu cầu của chiến trường.
Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Hải, Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị nhớ lại: “Từ quan điểm Trường Sơn là một chiến trường, chúng ta đã chuyển đổi từ phòng tránh một cách thụ động sang chủ động tiến công địch. Và đồng thời, với quan điểm Trường Sơn là một chiến trường, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng tăng cường lực lượng, cả bộ binh, phòng không, công binh, thông tin vận tải chiến lược và lực lượng dân quân, có những lúc lực lượng ở Trường Sơn lên tới 12 vạn người. Và với quan điểm Trường Sơn là một chiến trường, chúng ta đã chuyển đổi cách đánh, theo hướng đánh hiệp đồng binh chủng”.
Còn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Hiếu, Khoa Lịch sử Đại học Sư phạm Huế cho rằng, kết quả đó chính là sự cụ thể hóa của quan điểm coi Trường Sơn là một chiến trường của Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên.
“Ông Đồng Sỹ Nguyên cùng với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã có những nghiên cứu, mày mò để tìm ra cơ chế hoạt động của các loại vũ khí của đối phương và vô hiệu hóa các phương tiện chiến tranh hiện đại của đế quốc Mỹ. Cùng với đó, ông chỉ đạo cho các cấp trong đơn vị phải tiến hành thực nghiệm trên chiến trường bằng cách tổ chức các chuyến đi thực tế, tìm ra các thủ đoạn của đối phương cũng như trực tiếp tìm hiểu vũ khí mà đối phương sử dụng để tìm cách khắc chế”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Chí Hiếu chia sẻ.
Chiến sĩ Trường Sơn coi ông là thần tượng
Với những sáng kiến của Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên, đường Trường Sơn không còn là những con đường mòn, đơn lẻ mà phát triển thành hệ thống giao thông vận tải lớn như một trận đồ bát quái xuyên rừng rậm. Đường Trường Sơn phát triển thành 6 trục dọc theo sườn Đông và sườn Tây, 21 đường trục ngang vắt qua núi với tổng chiều dài lên tới 17.000 km. Tuyến đường huyền thoại này đã hoàn chỉnh và hiện đại đến mức đế quốc Mỹ dù đã triển khai kế hoạch ngăn chặn bằng chiến tranh điện tử, chiến tranh hóa học nhưng vẫn thất bại.
Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn, nguyên Chính ủy Trung đoàn Vận tải 515, Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhớ lại một kỷ niệm mà ông được dự hội nghị, nghe Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên giao nhiệm vụ mở đường Trường Sơn lật cánh sang phía Tây, đi qua nước bạn Lào.
“Lúc bấy giờ có hội nghị, ông nói với chúng tôi là ngày này sang năm chúng ta phải ngụy trang toàn tuyến, tức là hàng trăm, hàng nghìn cây số. Lúc đó cán bộ trung đoàn chúng tôi không biết làm thế nào để ngụy trang toàn tuyến. Sau đó mới biết là ông đã cho mở đường vòng, đường tránh. Cho nên chúng tôi nghĩ rằng, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên là vị tướng có tầm tư duy chiến lược, tư tưởng tiến công và cũng rất là táo bạo. Ông cũng là người rất gắn bó với anh em cán bộ, chiến sĩ. Nên chiến sĩ Trường Sơn chúng tôi lúc nào cũng coi ông là cây cao bóng cả, mà tuổi trẻ chúng tôi gọi là thần tượng. Mà thực tế ông là thần tượng của chúng tôi cho đến bây giờ”, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn bày tỏ.
Trong suốt những năm tháng chống Mỹ cứu nước, mặc dù phải đối mặt với 733.000 trận oanh kích bằng đủ loại máy bay của giặc Mỹ, nhưng bộ đội Trường Sơn dưới sự chỉ đạo của Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã bảo đảm vận chuyển gần 2 triệu tấn vũ khí đạn dược, lương thực, bảo đảm cơ động cho 10 lượt sư đoàn, hộ tống hơn 90 đơn vị kỹ thuật vào chiến trường.
Tuyến đường Trường Sơn huyền thoại với những công lao và dấu ấn của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã đóng góp xứng đáng cho chúng ta đi tới ngày 30/4/1975 toàn thắng, Bắc – Nam sum họp, nước nhà thống nhất./.
Trường Giang/Phát thanh Quân đội

SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY


 

Tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam - cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin đã, đang và sẽ soi đường cho dân tộc ta đi lên trong thế giới đầy biến động. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước càng đi vào chiều sâu, thì tư tưởng Hồ Chí Minh càng thể hiện rõ giá trị và sức sống trường tồn, là nền tảng tư tưởng cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Điều đó là không thể phủ nhận.

Nghĩa tình người thầy thuốc quân y

 

Đã 20 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm một thời vượt gian khó, chữa bệnh cứu người nơi biên giới huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng vẫn nguyên vẹn trong ký ức Trung tá, bác sĩ Thân Văn Hiền, nguyên bác sĩ Khoa Ngoại bụng, Bệnh viện Quân y 110 (Cục Hậu cần Quân khu 1).
“Còn nước, còn tát”
Đầu xuân Quý Mão năm 2023, biết tin bác sĩ Thân Văn Hiền (thường gọi là Thân Thiện Hiền) trở lại thăm Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 799, Quân khu 1, anh Mông Văn Chài, người dân tộc Nùng, ở xã Cô Ba, huyện Bảo Lạc băng rừng đến gặp bằng được ân nhân.
Chuyện là, năm 2003, đang công tác tại Bệnh viện Quân y 110 thì bác sĩ Hiền được điều động lên làm Bệnh xá trưởng, Bệnh xá Quân dân y Đoàn KT-QP 799. Một buổi chiều muộn tháng 2-2003, vừa ăn cơm tối xong thì bác sĩ Hiền nhận được tin: Một bệnh nhân bị chấn thương nặng, cần mổ gấp. Đó chính là anh Mông Văn Chài, nạn nhân đi trên chiếc xe ô tô lao xuống vực sâu ở xã Cô Ba, huyện Bảo Lạc. Sau nhiều tiếng đi đường rừng, Chài có mặt tại Bệnh viện huyện Bảo Lạc trong tình trạng nguy kịch. Các bác sĩ chẩn đoán, Chài bị chấn thương sọ não, tụ máu phúc mạc thành sau, đứt đôi ruột non. Tình trạng bệnh nặng vượt quá khả năng chuyên môn của bệnh viện tuyến huyện. Thế nhưng, nếu chuyển ra bệnh viện tỉnh, cách đó hơn 100km thì bệnh nhân sẽ khó mà qua khỏi.
Bác sĩ Thân Văn Hiền nhớ lại, tình thế ngàn cân treo sợi tóc, không thể khoanh tay đứng nhìn bệnh nhân đang tắt dần sự sống, cố bác sĩ Nông Ngọc Động, Giám đốc Bệnh viện huyện Bảo Lạc lúc bấy giờ hô to: “Còn nước cứ phải tát, tất cả vì bệnh nhân!”. Nghe lời hiệu triệu ấy, đội ngũ, y bác sĩ như được tiếp thêm niềm tin, sức mạnh. Các bộ phận vào vị trí đã được phân công. Kíp trưởng kíp gây mê và hồi sức là y tá Hoàng Thị Sâm. Kíp trưởng kíp phẫu thuật là bác sĩ quân y Thân Văn Hiền. Lúc ấy, gần như tất cả các y, bác sĩ trong khoa đều có mặt hồi hộp, theo dõi ca mổ.
Bệnh nhân Chài được đưa lên bàn mổ, tiến hành hồi sức chống sốc, đếm mạch, đo huyết áp, vừa lấy máu xét nghiệm, vừa tiến hành phẫu thuật. Sau nhiều giờ vật lộn với tử thần, ca mổ thành công đến bất ngờ. Đúng 10 ngày sau, Chài bình phục trong niềm vui sướng khôn xiết của người thân, gia đình, thôn bản. Cũng từ ngày đó, chàng trai Mông Văn Chài xin phép được nhận bác sĩ Hiền là cha nuôi.
Ca mổ thành công đúng dịp kỷ niệm 48 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27-2-1955 / 27-2-2003). Buổi chiều hôm ấy, bác sĩ Hiền đang chuẩn bị cho bữa cơm chiều thì bất ngờ từ ngoài cổng bệnh xá, các anh chị em của bệnh viện huyện Bảo Lạc và một số ban ngành của huyện đến chúc mừng. Các thầy cô giáo, các cháu học sinh cũng đem những bó hoa sim tím, hoa mướp vàng, hoa dong riềng đỏ tươi, có người tay xách hai giỏ lan rừng, đem tặng cho các y bác sĩ quân y. Bác sĩ Hiền nhớ lại: “Dược sĩ Diêm Tấn người quê quan họ Bắc Ninh vừa hát xong bài “Người ơi người ở đừng về” thì bỗng dưng tất cả dừng lại, hô vang cả núi rừng: Quân y đoàn 799 – Bộ đội Cụ Hồ. Quân y đoàn 799 – Bộ đội Cụ Hồ!”.
Sáng ngời y, đức
Bác sĩ Hiền trăn trở, những năm đầu thập niên 2000 ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, người dân bị kẻ xấu phao tin đồn nhảm nên có một số người chưa tin vào các bác sĩ. Mỗi khi ốm đau, họ thường đón thầy mo về cúng con ma rừng, tế thần chứ không đến bệnh viện. Người chết để lâu trong nhà, thường đốt đuốc đem đi chôn về ban đêm. Trong điều kiện đường sá hiểm trở, không biết tiếng đồng bào nhưng các thầy thuốc quân y vẫn bám bản, bám dân, vừa khám chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí vừa tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước. Bộ đội còn bắt tay chỉ cách làm kinh tế từ trồng lúa nước, trồng rừng quế, rừng hồi, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh.
Bác sĩ Hiền cho biết: “Huyện Bảo Lạc, lúc ấy là điểm nóng về bệnh sốt rét và sốt xuất huyết. Bộ đội Đoàn KT-QP 799 đã thành lập các tổ, đội vận động bà con làm chuồng trại, di chuyển động vật nuôi ra khỏi nhà sàn; đi ngủ phải mắc màn. Với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, lại được bộ đội và các cấp chính quyền cầm tay chỉ việc nên dân bản dần tin và làm theo”.
Nghĩa tình người thầy thuốc quân yCác thầy thuốc Bệnh xá Quân dân y Đoàn KT-QP 799 cùng với lãnh đạo Cục Kinh tế năm 2003.
Ngày đó, Bệnh viện huyện Bảo Lạc không chỉ thiếu về cơ sở vật chất, trang thiết bị mà thiếu cả đội ngũ y, bác sĩ tuyến huyện và cơ sở, đặc biệt là bác sĩ mổ ngoại khoa. Bệnh nhân phải mổ thì ra bệnh viện tỉnh cách 150km đường rừng, nhiều bệnh nhân không qua khỏi trên đường đi viện. Vì thế, ngoài làm nhiệm vụ thường xuyên phối hợp với bác sĩ huyện khám chữa bệnh cho bà con, bác sĩ Hiền còn có nhiệm vụ bồi dưỡng, đào tạo cho các bác sĩ huyện có khả năng phẫu thuật các ca mổ thông thường đến phức tạp. Mới đầu bác sĩ Hiền hướng dẫn những ca phẫu thuật đơn giản như: Bướu cổ, các u lành tính và triệt sản… Đối với những ca khó, phức tạp, bác sĩ Hiền yêu cầu các y bác sĩ đứng mổ cùng. Bác sĩ Hiền cũng yêu cầu phải thực hành phẫu thuật trên động vật nhiều lần. Sau khoảng nửa năm bồi dưỡng, có bác sĩ đã có thể độc lập đứng mổ đối với các ca đơn giản. Trong đó có bác sĩ Lý Văn Chuyên, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đã trở thành một phẫu thuật viên giỏi, là cán bộ y tế có nhiều đóng góp trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn.
Những việc làm và tấm lòng nhân nghĩa của bác sĩ Hiền nơi biên giới huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng được nhân dân trân trọng và thêm tin yêu người thầy thuốc quân y. Năm 2004, bác sĩ Hiền trở lại công tác tại Khoa Ngoại bụng, Bệnh viện Quân y 110. Nhưng không may, trong một lần trên đường về nhà, anh bất ngờ gặp tai nạn, khiến anh bị tàn tật suốt đời. Hai tay của anh bị tê liệt, hai chân không thể đi lại bình thường. Nhưng bằng nghị lực của người lính quân y, cộng với nguồn động viên từ người vợ đảm, bác sĩ Hiền từng ngày vẫn sống lạc quan, vượt qua bệnh tật.
Bài, ảnh: HƯƠNG QUẾ
Có thể là hình ảnh về 10 người và mọi người đang đứng
Tất cả cảm xúc:
3

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU “CHỌN BÊN”

 

          

          Với phương châm, sách lược đúng đắn và những hành động ngoại giao linh hoạt, đất nước ta luôn giữ được hòa bình, ổn định, luôn khẳng định được uy tín, vị thế của đất nước cả trong khu vực và trên thế giới.

NỮ ANH HÙNG TÀI GIỎI, XINH ĐẸP

 

Nữ anh hùng Trần Thị Lý sinh ra trong một gia đình nghèo bên dòng sông Lũy, một nhánh của con sông Nhật Lệ, phía nam Cầu Dài, đó là làng Phú Thượng, Phú Hải, Đồng Hới.
Là một người lanh lợi, hoạt bát, có ý thức tập thể cao nên chị được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho Đảng ủy, Xã đội. Năm 1964, chị được kết nạp Đảng lúc tròn 19 tuổi. Tháng 2 năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc đã chọn thị xã Đồng Hới làm điểm đánh mở đầu. Phú Hải là một trong những điểm nóng chiến sự. Lúc này, chị Trần Thị Lý được sung vào lực lượng dân quân, làm chiến sĩ phòng không nam Cầu Dài, thị xã Đồng Hới.
Chị Trần Thị Lý trong những cuộc chiến đấu đánh trả máy bay thù đã tỏ rõ bản lĩnh chiến đấu xuất sắc. Chị đã chạy từ trận địa phòng không này sang trận địa phòng không khác để truyền mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên chuyển về, đồng thời dùng súng trường K44 bắn trả máy bay Mỹ rất kiên cường. Chị đào hầm sập, cứu đồng đội, đồng bào bị bom Mỹ vùi lấp.
Đặc biệt trong ngày 4-4 - 1965, đế quốc Mỹ đã huy động hàng trăm lượt máy bay đến ném bom Cầu Dài, triệt hạ thị xã Đồng Hới, chị Trần Thị Lý đã dũng cảm mưu trí chèo đò chở Bí thư Đảng ủy xã Lê Viết Thuật vượt sông để chỉ đạo dân quân, nhân dân chiến đấu, rồi trở lại trận địa an toàn. Trong một lần bị bom vùi, chị đã kịp thời bình tĩnh cởi áo ngoài khoác lên đầu súng để đất đá khỏi vào làm chẹt nòng. Sau đó, chị đã bươn mình ra, tiếp tục nổ súng bắn vào kẻ thù.
Với những thành tích xuất sắc đó, chị đã được Quốc hội tuyên dương anh hùng vào ngày 1-1-1967. Cũng trong năm đó chị được chuyển sang quân đội, làm chính trị viên phó Thị đội Đồng Hới. Từ năm 1967, chị được cử đi học Trường văn hóa Quân khu, sau đó được cử đi học tiếp tại Học viện chính trị Quân sự của Bộ Quốc phòng. Năm 1978 , chị đảm nhiệm chức Phó đội trưởng đội công tác thuộc đoàn 871,
Từ 1985 chị được điều về giữ chức Phó rồi Giám đốc, Phó Bí thư chi bộ khách sạn Bạch Đằng của Quân khu 5 ở Đà Nẵng. Chị là Đại biểu Quốc hội khóa IV, V và VI. Chị từng là Ủy viên Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chị đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác.
Anh hùng Trần Thị Lý là người giàu tình cảm với mảnh đất minh sinh ra và lớn lên. Sau này, khi làm Giám đốc khách sạn Bạch Đằng, hễ có các con cháu quê hương Phú Hải vào học hay công tác tại Đà Nẵng, nếu gặp khó khăn, chị đã tìm cách giúp đỡ, động viên để các cháu an tâm học tập và công tác. Nhiều lần về thăm quê chị đều đến thăm và tặng quà cho Đảng ủy, UBND và các đoàn thể trong phường. Chị đã giúp Hội Người cao tuổi địa phương sắm một cỗ xe tang, đóng góp cho quỹ xây dựng nhà văn hóa, trạm y tế phường và giúp đỡ những hộ nghèo hoặc gặp khó khăn.
Chị đã được vinh dự 3 lần gặp Bác Hồ và được Bác trực tiếp chỉ giáo. Lần thứ nhất là lần cùng đoàn Quảng Bình được ưu tiên gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau ngày Đại hội liên hoan chiến sĩ anh hùng thi đua toàn quốc (1-1-1967). Gần cuối buổi, Bác Hồ bảo chị Lý hát bài "Quảng Bình quê ta ơi" của nhạc sĩ Hoàng Vân cho Bác nghe. Quá cảm động và lúng túng nên chưa thực hiện được ngay thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng "cứu nguy" cho chị và bảo: "Cháu Lý hãy "cầm càng" cho tất cả đoàn cùng hát". Thế là anh hùng Trần Thị Lý đã đứng dậy và bắt nhịp cho toàn đoàn Quảng Bình hát vang bài hát mà Bác và Thủ tướng yêu thích.
Lần thứ hai, chị gặp và được Bác Hồ chỉ giáo là ngày trước lúc lên đường sang Cu Ba tham dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới. Khi Bác hỏi: "Cháu đã chuẩn bị những gì sang thăm và tham quan ở Cu Ba?", chị Lý đã thuật lại chuyện các chú lãnh đạo cho may áo dài, sắm giày cao gót nhưng sử dụng còn lúng túng lắm. Bác liền bào: "Cháu sang Cu Ba lần này để báo cáo thành tích kinh nghiệm chiến đấu của mình và học tập kinh nghiệm của nhiều người khác chứ đâu có phải đi du lịch mà sắm các thứ ấy. Để Bác nói chú Song Hào chuẩn bị bộ đồ bộ đội và dép cao su cho cháu". Và chị Trần Thị Lý đã mặc trang phục như thế trong suốt thời kỳ ở Cu Ba.
Lần thứ 3, chị Trần Thị Lý vinh dự được gặp Bác và ăn cơm buổi trưa với Người trước một ngày sang tham quan Liên Xô, nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười Nga. Bữa cơm đó, ngoài chị Lý còn có nữ anh hùng Nguyễn Thị Kim Huế và dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Hồng Sơn vừa ở miền Nam ra. Bác gắp nhiều thịt gà cho vào bát các anh hùng và dũng sĩ và giục các cháu ăn nhanh. Khi xới cơm cho Bác, cảm động quá, chị Lý làm rơi ra mâm mấy hạt cơm, Bác nhặt bỏ vào bát mình và nói: "Hạt cơm là hạt ngọc của trời, bỏ đi là lãng phí". Câu nói đó có ý nghĩa giáo dục mang tính thời sự không những lúc đó mà cả đến ngày nay đối với chúng ta về thái độ tiết kiệm, tránh lãng phí và quý trọng sản phẩm do nông dân làm ra.
Về đời tư, chị gặp tướng anh hùng Nguyễn Chơn (sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) và hai người yêu nhau. Hai người được tướng Trần Hoài Ân, Cục trưởng Cục Cán bộ Bộ Quốc phòng mai mối, lại được Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cha nuôi tinh thần của chị Trần Thị Lý tán thưởng. Đám cưới đời sống mới của họ đã được tiến hành tại hội trường Đoàn 871 của Tổng cục Chính trị ngày 31-7-1977. Chú rể lúc đó ở tuổi 48, cô dâu ở tuổi 34.
Đồng chí Võ Chí Công, thủ trưởng cũ của tướng Nguyễn Chơn đứng ra làm chủ hôn. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bận việc không đến dự được đã gửi tặng đôi tân hôn 1 chai rượu và 2 cây bút máy, chai rượu để mời khách ngày vui của hai người. Hai cây bút máy là lời gián tiếp dặn dò: Vợ chồng chỉ nên sinh 2 con. Quả vậy vợ chồng của hai anh hùng Chơn - Lý chỉ sinh được 2 cháu gái. Các cô nay đã có gia thất và làm việc trong cơ quan Nhà nước, một người ở Hà Nội, một người ở Đà Nẵng.
Thiếu tá Trần Thanh Hương (em ruột anh hùng Trần Thị Lý đang nghỉ hưu ở khu dân cư số 8, phường Đồng Sơn, TP. Đồng Hới) đã cho tôi biết một chi tiết vô cùng cảm động. Chị Trần Thị Lý bị đau đường ruột, điều trị khắp các bệnh viện trong nước không đỡ nên đã sang Trung Quốc điều trị. Nhưng bệnh tình vẫn ít thuyên giảm. Sau đó đơn vị đã đưa chị về điều trị tại bệnh viện Quân y 17 Quân khu 5. Biết mình sẽ không qua nổi, chị xin bệnh viện về nhà nghỉ một đêm. Đêm đó chị đã dặn dò chồng, con, em và các cháu nhiều điều và ngủ một đêm rất ngon lành trong ngôi nhà ấm cúng của mình trước khi sáng mai phải trở lại bệnh viện. Ít hôm sau chị đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7-5-2000.
Anh hùng Trần Thị Lý là một trong 3 khuôn mặt nữ anh hùng bên sông Nhật Lệ trong những ngày đánh Mỹ. Đó là những người đã góp phần làm sáng danh lịch sử quê hương Đồng Hới anh hùng.
(Tư liệu bài viết lấy từ cuốn "Nữ anh hùng quê hương Đồng Hới" do Đại tá, nhà thơ Lê Anh Dũng Chủ biên, NXB QĐND ấn hành năm 2009 và lời kể của ông Trần Thanh Hương, em ruột anh hùng Trần Thị Lý)
St
Có thể là hình ảnh đen trắng về một hoặc nhiều người
Tất cả cảm xúc:
3

Thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa


Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa là mũi đột phá nhm gây chia rẽ, suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.