Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

CHUNG TAY XÂY DỰNG THẾ VỮNG BIÊN CƯƠNG


“Xây dựng nền biên phòng toàn dân (BPTD) và thế trận BPTD vững mạnh, ổn định lâu dài trong nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và thế trận QPTD gắn với nền an ninh nhân dân (ANND) và thế trận ANND vững chắc” là chủ trương được xác định tại Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia (BGQG) và cụ thể hóa trong Luật Biên phòng Việt Nam.
Nhân dịp kỷ niệm 64 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng (BĐBP), 34 năm Ngày BPTD, Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP chia sẻ với Báo Quân đội nhân dân về việc phát huy sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ BGQG.
Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, vì sao Đảng, Nhà nước ta quyết định lấy Ngày truyền thống của BĐBP (3-3 hằng năm) đồng thời là Ngày BPTD?
Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn: Việc thống nhất Ngày truyền thống của BĐBP cũng là Ngày BPTD có ý nghĩa rất sâu sắc, là vấn đề có tính chiến lược lâu dài, qua đó khẳng định sức mạnh bảo vệ biên giới là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và chúng ta phải xây dựng lực lượng bảo vệ BGQG toàn dân vững mạnh, rộng khắp, nhân dân là chủ thể, lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) làm nòng cốt, BĐBP là lực lượng chuyên trách. Trách nhiệm xây dựng nền BPTD và thế trận BPTD là của cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò, trách nhiệm của toàn dân tộc.
Thực tế cho thấy, thông qua các hoạt động được tổ chức sôi nổi, ý nghĩa, Ngày truyền thống của BĐBP, Ngày BPTD 3-3 hằng năm đã thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, nhất là trên địa bàn biên giới. Qua đó, nhận thức và trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị đối với sự nghiệp xây dựng, quản lý và bảo vệ BGQG được nâng lên rõ rệt; tình cảm và tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa nhân dân, các tổ chức trong hệ thống chính trị với BĐBP nói riêng, Quân đội nói chung ngày càng sâu sắc và lan tỏa rộng rãi, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bảo vệ Tổ quốc.
PV: Đề nghị đồng chí cho biết rõ hơn về nền BPTD và thế trận BPTD ở nước ta?
Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn: Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền QPTD và thế trận QPTD gắn với nền ANND và thế trận ANND, thực hiện chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, nên việc xây dựng nền BPTD và thế trận BPTD nhằm quản lý, bảo vệ BGQG vững chắc là tất yếu và hoàn toàn đúng đắn. Đó chính là sự kế thừa, phát huy truyền thống, bài học kinh nghiệm "lấy dân làm gốc" của dân tộc, đồng thời quán triệt quan điểm của Đảng “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.
Luật Biên phòng Việt Nam đã xác định rất rõ: Biên phòng là tổng thể các hoạt động, biện pháp bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo đảm an ninh, trật tự (ANTT), an toàn xã hội ở khu vực biên giới bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Nền BPTD là sức mạnh biên phòng của đất nước, được xây dựng trên nền tảng chính trị, tinh thần và các nguồn lực với phương châm toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường. Thế trận BPTD là việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và các nguồn lực cần thiết để thực hiện nhiệm vụ biên phòng phù hợp với Chiến lược Bảo vệ BGQG. Luật cũng đã quy định một trong 4 nguyên tắc thực thi nhiệm vụ biên phòng là: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, hệ thống chính trị, dựa vào nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân”.
Như vậy, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định sức mạnh bảo vệ biên giới là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và phải xây dựng lực lượng bảo vệ BGQG toàn dân vững mạnh, rộng khắp, nhân dân là chủ thể, LLVTND làm nòng cốt.
PV: Những năm qua, BĐBP đã phát huy vai trò trong xây dựng nền BPTD và thế trận BPTD như thế nào, thưa đồng chí?
Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn: BĐBP luôn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG, nhất là thường xuyên nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ biên phòng, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, BGQG, giữ vững ANTT và phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với các thế lực thù địch, tội phạm, vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới...
Bên cạnh đó, BĐBP luôn phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền BPTD, thế trận BPTD với những việc làm cụ thể, hiệu quả, như: Thường xuyên phối hợp chặt chẽ và tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các địa phương triển khai các giải pháp xây dựng nền BPTD, thế trận BPTD; chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng khu vực phòng thủ cấp tỉnh, huyện biên giới; đề xuất quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở khu vực biên giới gắn với xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh; chủ động, tích cực tham gia phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn ở khu vực biên giới, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo...
Điểm nổi bật là BĐBP luôn chủ động, tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, như: Thống nhất với cấp ủy địa phương tăng cường hơn 300 cán bộ biên phòng cho các xã biên giới, hơn 150 đồng chí tham gia cấp ủy cấp huyện, hơn 500 đồng chí tham gia cấp ủy cấp xã, 3 đồng chí là đại biểu Quốc hội khóa XV, 26 đồng chí đại biểu HĐND cấp tỉnh, 74 đồng chí đại biểu HĐND cấp huyện và 155 đồng chí đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2021-2026; cử hơn 2.000 đảng viên tham gia sinh hoạt ở gần 1.900 chi bộ thôn, bản và phân công gần 10.000 đảng viên phụ trách hơn 40.000 hộ gia đình ở khu vực biên giới, trực tiếp giúp đỡ bà con phát triển kinh tế, văn hóa, xóa đói, giảm nghèo; lựa chọn và bồi dưỡng chiến sĩ biên phòng để tạo nguồn cán bộ tại chỗ cho địa phương... Đến nay, toàn Đảng bộ BĐBP đã kết nạp được hơn 4.000 đảng viên là chiến sĩ nghĩa vụ, trong đó có hơn 1.000 đồng chí sau khi xuất ngũ đã trở thành cán bộ cơ sở ở địa bàn biên giới.
Đặc biệt, BĐBP đã tổ chức triển khai hiệu quả “Ngày hội BPTD” và Phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG trong tình hình mới”, với 100% thôn, bản biên giới thành lập tổ tự quản ANTT, nhân dân tự nguyện đăng ký tự quản đường biên giới, mốc quốc giới; thành lập hơn 3.000 tổ tàu, thuyền an toàn, đoàn kết tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo và hơn 500 bến bãi an toàn... góp phần xây dựng nền BPTD, thế trận BPTD vững chắc. Thực tế, trong đại dịch Covid-19 vừa qua, BĐBP đã phát động Phong trào “Toàn dân tham gia phòng, chống dịch Covid-19 và xuất, nhập cảnh trái phép” ở khu vực biên giới, đạt hiệu quả rất thiết thực.
PV: Đồng chí có thể chia sẻ những việc BĐBP triển khai để góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ biên giới?
Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn: Chúng tôi luôn xác định "Vững biên cương phải từ thế trận lòng dân”. Trong xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ biên giới, công tác tuyên truyền, vận động là vô cùng quan trọng. Cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã thực hiện tốt phương châm “3 bám, 4 cùng” để tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nhân dân tham gia bảo vệ biên giới và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, các loại tội phạm...
Bên cạnh đó, Đảng ủy, Bộ tư lệnh (BTL) BĐBP đã phối hợp với các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp triển khai nhiều chương trình hướng về biên giới, hải đảo, đem lại hiệu quả thiết thực, như: Chương trình “Mái ấm biên cương” xây tặng gần 10.000 căn nhà và hàng trăm công trình dân sinh; Chương trình “Bò giống giúp người nghèo nơi biên giới” đã trao hơn 30.000 con bò giống; Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương” huy động hơn 200 tỷ đồng hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình...
Riêng lực lượng BĐBP, cùng với triển khai nhiều giải pháp giúp các địa phương biên giới củng cố hệ thống chính trị cơ sở như đã nêu ở trên và xây dựng lực lượng quần chúng cốt cán làm nòng cốt tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ biên giới, những năm qua, Phong trào “BĐBP chung sức xây dựng nông thôn mới” đã giúp đỡ hàng nghìn thôn, bản, hàng trăm xã biên giới; Chương trình “Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn biên phòng” hằng năm nhận đỡ đầu, hỗ trợ hơn 3.000 học sinh và trực tiếp nuôi dưỡng gần 400 cháu có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại các đồn biên phòng; Chương trình “Xuân biên phòng ấm lòng dân bản” huy động mỗi năm hàng chục tỷ đồng chăm lo Tết cho đồng bào nghèo vùng biên.
Các đơn vị BĐBP còn thực hiện nhiều chương trình, mô hình khác, như: Tặng cờ Tổ quốc và ảnh Bác Hồ, giúp ngư dân vươn khơi, bám biển; "Ánh sáng vùng biên"; "Kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới"; “Thầy giáo quân hàm xanh”; “Thầy thuốc quân hàm xanh”... Những hoạt động này được cấp ủy, chính quyền, nhân dân các địa phương ghi nhận, đánh giá cao, góp phần tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân-dân, xây dựng vùng biên ngày càng vững mạnh, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân” bảo vệ biên giới.
PV: Nhân Ngày truyền thống của BĐBP và Ngày BPTD, Đảng ủy, BTL BĐBP có thông điệp gì cần nhắn gửi, thưa đồng chí?
Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn: Nước ta có đường biên giới dài, địa bàn biên giới rộng, cả trên bộ và trên biển, tiếp giáp với nhiều quốc gia. Do đó, chúng ta càng phải phát huy tinh thần "chung tay xây dựng thế vững biên cương”, dựa vào dân để xây dựng vùng biên cương ngày càng vững mạnh, củng cố vững chắc “thế trận lòng dân” bảo vệ biên giới.
Đảng ủy, BTL BĐBP trân trọng cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; sự phối hợp, hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đỡ của các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và cấp ủy, chính quyền các địa phương, cùng các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài Quân đội. Đặc biệt, toàn lực lượng BĐBP luôn tri ân sâu sắc sự yêu thương, đùm bọc, ủng hộ, giúp đỡ tận tình của nhân dân, đồng bào các dân tộc vùng biên giới đã tích cực chung tay với BĐBP thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG trong suốt những năm qua.
Cán bộ, chiến sĩ BĐBP luôn xác định “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”. Vì vậy, mặc dù đóng quân và làm nhiệm vụ ở địa bàn biên giới có nhiều khó khăn, vất vả nhưng BĐBP luôn nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân dành cho BĐBP.
Đảng ủy, BTL BĐBP mong Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp tiếp tục quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa cho vùng biên giới, hải đảo, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào ở vùng biên giới có cuộc sống tốt hơn. Từ đó, bà con thêm yên tâm an cư lạc nghiệp, vững vàng bám trụ và tích cực tham gia bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc.
PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!
HUY QUANG (thực hiện)
Báo QĐND
Ảnh 1: Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn.
Ảnh 2: Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Phố Bảng, BCH Bộ đội biên phòng Hà Giang phối hợp với dân quân và nhân dân địa phương tuần tra bảo vê biên giới. Ảnh: Xuân Minh

“TẬN TRUNG VỚI NƯỚC, TẬN HIẾU VỚI DÂN”.


Trong lưu trữ của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam có một bức thư (đề ngày 22/02/1948) gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh của Kỹ sư Nguyễn Xiển, Phó Tổng thư ký Đảng Xã hội phản ánh hiện tượng mất phẩm chất đạo đức của một số cán bộ Việt Minh. Ngày 03/3/1948, Bác đề xuất ý kiến bên lề bức thư, chỉ thị cho đồng chí Hoàng Quốc Việt: “Những điều phê bình trong thư này không phải là quá đáng. Vậy chú và Thọ (Lê Đức Thọ) phải bàn và thực hành sửa chữa ngay”.
Ngày 03/3/1951, tại “Lễ ra mắt quốc dân” của Đảng Lao động Việt Nam, Bác nhấn mạnh rằng mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”; nhiệm vụ là “Kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công”; chính sách có thể đúc lại trong mấy chữ là làm cho nước Việt Nam ta “Độc lập - Thống nhất - Dân chủ - Phú cường”... "Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân".
Cùng ngày, tham dự Đại hội thống nhất Việt Minh và Liên Việt, Bác tỏ niềm sung sướng khi thấy “rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão” và “chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết, mà toàn dân hai nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cũng đi đến đại đoàn kết”.
Ngày 03/3/1952, trong bài “Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt” trên Báo Nhân Dân, Bác biểu dương: “Vì lòng yêu mến bộ đội, mà nhân dân nảy ra nhiều sáng kiến, để vượt mọi khó khăn.
Vì lòng yêu mến nhân dân, mà bộ đội càng thêm dũng cảm khi ra trận diệt giặc.
Vì lòng yêu mến lẫn nhau, mà nhân dân càng ra sức thi đua tăng gia sản xuất, bộ đội càng ra sức thi đua diệt giặc lập công... Chính vì tình đoàn kết ấy, mà kháng chiến nhất định thắng lợi hoàn toàn:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Quân dân đoàn kết, là đường thành công”.
Ngày 03/3/1955, cũng Báo Nhân Dân đăng bài “Người cán bộ cách mạng” trong đó Bác xác định: Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không.
Ngày 03/3/1959, Bác Hồ tiếp tục thăm nhiều danh thắng của Inđônêxia, trong đó có Tháp Bôrôbuđua nổi tiếng.
Ngày 03/3/1960, dự họp Bộ Chính trị chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ III, Bác yêu cầu làm sao “tránh họp nhiều mà kết quả ít”. Còn trong bài viết “Nhiều” của loạt bài về chủ đề “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” trên Báo Nhân Dân, Bác viết: “Dũng cảm san bằng mọi trở ngại của nếp làm việc cũ và của những sự tính toán cá nhân, để tiến lên không ngừng, đạt năng suất ngày càng cao. Đó là biểu hiện cao nhất của ý thức làm chủ xã hội của giai cấp công nhân”.
ST
Có thể là hình ảnh về 1 người và đang đứng

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, người kiến tạo Nhà nước Việt Nam dân chủ nhân dân theo thể chế cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á. Người thường xuyên quan tâm đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng mãi mãi là một Đảng đạo đức và văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là "hạt nhân lãnh đạo" và là "người đầy tớ thật trung thành" của nhân dân. Với tầm nhìn sâu sắc, Người chỉ ra tham ô, tham nhũng "là những xấu xa của xã hội cũ", là những căn bệnh của quyền lực và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại tàn dư của chế độ cũ - chế độ người bóc lột người. Chính vì thế, với tư cách là người đứng đầu Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thành lập sau Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết đặt vấn đề đấu tranh với thứ giặc rất nguy hiểm này. Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, quyết tâm tạo bước chuyển mới mạnh mẽ rõ rệt trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn năm 2012 đến năm 2022 diễn ra vào sáng 30/06/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh “Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm. Nói phải "nhốt" quyền lực vào trong "lồng" cơ chế là với ý nghĩa như vậy". Từ thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhiệm kỳ qua, văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã thống nhất các quan điểm chỉ đạo tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong đó có quan điểm thứ năm là “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ tổ quốc”. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là quan điểm có tính kế thừa, phát triển tinh thần qua các kỳ đại hội Đảng, là nhiệm vụ then chốt, vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc ta, nhằm bảo đảm tính đồng bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng và tăng cường củng cố hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nội dung nòng cốt, nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Việt Nam, quyết định đến tiền đồ sự nghiệp cách mạng, liên quan trực tiếp đến việc giữ vững ổn định tình hình chính trị - xã hội và tác động đến mọi mặt đời sống. Đảng ta xác định xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phải được tiến hành thận trọng, bài bản, tránh chủ quan, nóng vội, với nỗ lực, quyết tâm cao cùng với những hành động mang tính quyết liệt. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị liêm chính, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau trong đó xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ quan trọng tạo động lực thúc đẩy xây dựng cả hệ thống chính trị; bên cạnh đó xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả tạo cơ sở vững chắc củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội, tạo mối quan hệ mật thiết với nhân dân, nhân lên sức mạnh của toàn Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kết luận số 21/KL-TW của Ban Chấp hành trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái và tại Kết luận Hội nghị trung ương 4 khóa XIII đã khẳng định “phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực luôn là một nhiệm vụ quan trọng, một vấn đề then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng

"THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY"

 "Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".

Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị q.uân th.ù tr.eo c.ổ, khi anh vừa thoát khỏi cái ch.ế.t do bệnh thương hàn ở công trường Bayarka. Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.
Trước đây, nhà văn Ilia Erenbua đã từng coi "Thép đã tôi thế đấy" là Thánh Kinh mới của thanh niên Xô-Viết. Nó là cuốn sách gối đầu giường của nữ Anh hùng Liên Xô Zoya, của Lý Tự Trọng, người thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuốn sách đã được nhà báo Thép Mới (báo Nhân Dân) và Huy Vân dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1954 và từ đó đến nay đã làm say mê hàng triệu trái tim tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ thanh niên./.
ST


Không ai có thể xuyên tạc tinh thần quốc tế cao cả của Quân đội ta!

 


Một trong những phẩm chất cao quý làm nên nhân cách tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần tám thập niên qua là cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp vào cuộc sống hòa bình của nhân loại. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến sai trái, lạc lõng nhằm phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta.

Ý kiến sai trái tự phơi bày âm mưu đen tối


Đêm 12-2-2023, Đoàn cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất. Việc tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục thảm họa động đất thể hiện chính sách đối ngoại ưu việt, trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Việc làm này cũng khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm và năng lực tác chiến trong thời bình của Quân đội ta trước các vấn đề an ninh phi truyền thống và góp phần thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng vì hòa bình của Việt Nam.


Tuy nhiên, những người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta lại không nghĩ như thế. Họ cho rằng, “tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ là việc làm không cần thiết”, “là ôm rơm nặng bụng”. Thậm chí có người còn cho rằng, việc làm đó của Quân đội ta là “khôn chợ, dại nhà”, “việc nhà thì lười nhác, việc chú bác thì siêng năng” (!). Ác ý hơn có người còn cho rằng, “đất nước còn nghèo, nhân dân còn đói khổ, tại sao quân đội lại đem tiền của ra nước ngoài mà không dùng nó để cứu giúp đồng bào ta”, lại “lăng xăng đi cứu người” (!)...


Những luận điệu nêu trên là sai trái, hết sức vô cảm, cần phải lên án, bác bỏ. Nó không những tạo ra tâm lý nghi ngờ, bất an, sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với một bộ phận người dân, nhất là một số thân nhân, gia đình có quân nhân nhận nhiệm vụ đến Thổ Nhĩ Kỳ tham gia cứu hộ, cứu nạn, mà còn bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta; làm phai mờ hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.  


Tỏa sáng tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta


Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và người dân của hai quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Syria về những thiệt hại vô cùng to lớn do thảm họa động đất gây ra, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng.


Thấu hiểu, sẻ chia về những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn ấy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định cử đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, giúp bạn tìm kiếm các nạn nhân xấu số và cứu chữa những nạn nhân còn sống, đưa họ về trạng thái an toàn; tiếp tục giúp giải quyết, khắc phục hậu quả thảm họa, sớm đem lại cuộc sống bình thường mới cho người dân nơi xảy ra động đất ở đất nước này.


Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.


Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau.


Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Từng thành viên trong đoàn công tác sẵn sàng nhận nhiệm vụ, họ đã rất khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan để lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, đáp ứng yêu cầu, sự chờ đợi lực lượng của các quốc gia đến cứu hộ, cứu nạn, trong đó có Việt Nam.


Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong số các quân nhân sang Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện nhiệm vụ lần này có một quân nhân chỉ ít ngày nữa sẽ xây dựng gia đình, nhưng vẫn xung phong lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để làm quà kỷ niệm ngày cưới. Đó là bằng chứng sinh động thể hiện tinh thần cống hiến, hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình. Vì việc chung, lợi ích chung nên sẵn sàng gác lại việc riêng, lợi ích riêng - đó là phẩm chất, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng đã được giáo dục, nuôi dưỡng, tôi rèn bền bỉ trong môi trường quân đội.


Tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống


Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo.


Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế.


Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình.


Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu./.


Theo qdnd.vn

ST# Trường Tồn 

THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ- CỔ TÍCH 81 NGÀY ĐÊM

 💫

"...Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi 

Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ

Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió

Ru mãi bài ca Bất tử đến vô cùng”.


THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ- một tòa thành nằm bên dòng sông Thạch Hãn, được biết đến qua cuộc chiến 81 ngày đêm giữ thành đầy khốc liệt trong lịch sử dân tộc. Ngày nay, Thành Cổ là một điểm tham quan gây nhiều xúc động, đây được coi là nghĩa trang không nấm mồ, là ngôi mộ chung của những người lính Thành Cổ đã ngã xuống vì quê hương vì sự hòa bình thống nhất đất nước.

#PC17

ST# Trường Tồn 

CHUYỆN THẦY TRẦN QUỐC VƯỢNG TRÊN GIẢNG ĐƯỜNG

 

  Trong một giờ lên lớp, GS Trần Quốc Vượng nói về vấn đề dân tộc và vận mệnh đất nước trước hàng trăm sinh viên. Sau một hồi thuyết giảng, không có ai lên tiếng phản biện hoặc đặt bất cứ câu hỏi nào, nên ông đã hỏi toàn bộ sinh viên trong giảng đường: 


- Ai quan tâm đến vận mệnh dân tộc? - Không một ai trả lời. Không một cánh tay nào giơ lên.


  Sau đó ông nói đến chủ đề bói toán. Ông khoe rằng ông có thể xem bói cho người khác rất chính xác. Rồi hỏi: 


- Trong giảng đường này ai muốn xem bói nào?


Hàng trăm cánh tay giơ lên, nhao nhao: 


- Thầy ơi, thầy xem bói cho em. 


Im lặng một lúc ông nói: 


- Lúc nãy tôi có hỏi các anh chị về vận mệnh dân tộc, ko một ai quan tâm. Giờ đây nói về số phận cá nhân thì rất nhiều người nhao nhao muốn biết. Tôi thật xấu hổ cho các anh chị, người trí thức tương lai của một đất nước mà ko có sự băn khoăn về số phận đất nước, ko có sự tự tôn dân tộc. Số phận dân tộc sẽ thế nào, và số phận các anh chị sẽ thế nào thì các anh chị tự suy nghĩ đi, nó khá rõ ràng rồi đấy.

ST # Trường Tồn 

Bản chất ưu việt, tốt đẹp nền dân chủ Việt Nam là minh chứng vạch trần mưu đồ chính trị đen tối của các thế lực thù địch, phản động hiện nay

Dân chủ, nhân quyền là thành quả của tiến trình phát triển tiến bộ, văn minh của nhân loại. Các chế độ xã hội càng tiến bộ, văn minh thì vấn đề dân chủ, nhân quyền càng được coi trọng. Nhận thức được điều đó, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn dành sự quan tâm lớn đến vấn đề bảo đảm dân chủ, nhân quyền, ban hành, triển khai thực hiện nhiều chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật nhằm ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người của mọi công dân. Đặc biệt, những năm gần đây vấn đề thực thi dân chủ, bảo vệ nhân quyền càng được chúng ta đề cao, chú trọng và được xác định như một yêu cầu nhiệm vụ quan trọng của quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nói riêng, quá trình xây dựng chế độ XHCN ở Việt Nam nói chung. Nhờ những nỗ lực không ngừng của Đảng và Nhà nước, đến nay Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng tự hào trong việc thực hiện dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên bịa đặt, xuyên tạc, vu khống rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, rất cần thiết phải vạch trần âm mưu, thủ đoạn xấu xa đó, khẳng định bản chất dân chủ ưu việt tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội cực đoan đã cố tình không thừa nhận những thành tựu thực tiễn đó của chúng ta. Chúng liên tục xuyên tạc, bịa đặt, vu khống Đảng và Nhà nước Việt Nam không coi trọng dân chủ, nhân quyền, phớt lờ, chà đạp các quyền cơ bản của người dân, vi phạm thô bạo các quyền con người, quyền công dân chỉ nhằm bảo vệ lợi ích và quyền lực thống trị của Đảng; Nhà nước Việt Nam không phải là Nhà nước của dân, do dân, vì dân mà là chính quyền của quan chức, là công cụ để quan chức thỏa thích hành dân, tự do xâm hại các quyền dân chủ, nhân quyền của công dân để bảo vệ quyền lực và lợi ích của nhóm quan chức. Chúng xuyên tạc kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và trong xử lý một số cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng lãng phí; bóp méo sự thật, xuyên tạc về tình hình nhân quyền thực tế ở Việt Nam; ngụy tạo bằng chứng, dựng lên những vụ việc giả để làm nên cái gọi là hồ sơ nhân quyền tồi tệ ở Việt Nam nhằm vu khống Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, từ đó lôi kéo, kích động các tổ chức đưa ra những dự luật, nghị quyết phi lý lên án, Việt Nam vì không coi trọng dân chủ, nhân quyền. Chúng còn tuyên bố rằng, việc vi phạm dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là bản chất của chế độ XHCN phi dân chủ, là quá trình có hệ thống và mức độ vi phạm sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn mà thôi. Do đó, chúng yêu cầu đưa Việt Nam vào danh sách đen các nước cần được quan tâm, giám sát đặc biệt về dân chủ, nhân quyền, đồng thời phải áp dụng các biện pháp trừng phạt, xử lý mạnh tay để bảo vệ các quyền cho người dân, và đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước XHCN Việt Nam. Thực tế cũng cho thấy, chính những kẻ nhân danh công lý, các nhà bảo vệ nhân quyền, các nhà đấu tranh cho dân chủ, tiến bộ, văn minh… đang ráo riết vạch tội, lên án Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền lại đang thực hiện những hành động vi phạm dân chủ, nhân quyền, can thiệp thô bạo vào vấn đề nội bộ, xâm phạm các quyền tự chủ, tự quyết của Việt Nam, cản trở tiến trình phát triển vì mục tiêu đem lại cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh cho người dân Việt Nam. Để bảo đảm và giữ vững bản chất dân chủ ưu việt, tốt đẹp của chế độ XHCN, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định phải coi trọng việc bảo vệ dân chủ, nhân quyền, chú trọng bảo đảm tốt nhất mọi quyền lợi của nhân dân, hơn thế, không chỉ cần mà còn phải luôn “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, để nhân dân tham gia quyết định những vấn đề lớn của đất nước theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Sẵn sàng xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách của Việt Nam cũng không ngoài mục đích bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân, không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam, “nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cố gắng bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm”, “Nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam, bảo đảm toàn dân đều được quản lý, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe” nhằm hướng tới mục tiêu cao đẹp của cả dân tộc là phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn.

MỘT THƯỚC NÚI, TẤC SÔNG CỦA CHA ÔNG ĐỂ LẠI, KHÔNG ĐƯỢC BÁN!

         Trước đây khi nhà nước dự thảo Luật đặc khu, với mục đích kêu gọi đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội thì anh em ba que xỏ lá cố đánh bùn sang áo, xuyên tạc rằng "cộng sản ra luật Đặc khu kinh tế, thực chất là bán cho Trung Quốc". Kích động nhân dân làm loạn, đặc biệt là vụ biểu tình, bạo loạn nghiêm trọng. Ấy thế mà giờ khi những kẻ đầu cơ, tài phiệt bất động sản điêu đứng vì đất đóng băng thì họ lại đề xuất bán cho nước ngoài hay Việt kiều. 
     Vua Lê Thánh Tông từng nói với các quan coi biên giới năm 1473 đã được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư, thể hiện quyết tâm giữ vững toàn vẹn lãnh thổ Đại Việt trước mọi sự lấn chiếm của người phương Bắc: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Các ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước núi, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di!". 
     Bán đất, nhượng địa cho ngoại bang chỉ vì lợi ích của một nhóm lợi ích là bán nước, là hành vi phản quốc. Nếu cho phép thì chắc chắn thị trường nhà đất nóng lên, đất đai sẽ nhanh chóng bị thu gom để phục vụ nhiều mục đích, nguy hiểm nhất là mục đích chính trị. Cha ông đổ máu xương để thu giang sơn về một mối. Con cháu lý nào lại hai tay dâng đất đai cho ngoại bang. Chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà quên lợi ích cốt lõi của quốc gia, dân tộc thì chỉ là cái "trí" của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Gia Long, Ngô Đình Diệm...không lo xa ắt tai vạ tới gần. Phát tiêu diệt ý tưởng này ngay từ trứng nước./.
Yêu nước ST.

Tăng cường hiệu quả công tác phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

 

Nhận lời mời của Trung tướng Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tư lệnh BĐBP, Bộ Quốc phòng Việt Nam, đoàn đại biểu Tổng cục Di trú, Bộ Nội vụ Vương quốc Campuchia do Đại tướng Kirth Chantharith, Tổng cục trưởng làm trưởng đoàn đã sang thăm và tiến hành hội đàm với Đoàn đại biểu Bộ Tư lệnh BĐBP, Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Chiều 12/2, tại buổi hội đàm được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, trong bầu không khí hữu nghị, đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau, Trung tướng Lê Đức Thái bày tỏ sự phấn khởi, vui mừng được gặp đoàn đại biểu Tổng cục Di trú và cùng Đại tướng Kirth Chantharith đồng chủ trì buổi hội đàm thường niên nhằm đánh giá kết quả hợp tác thời gian qua và đề ra phương hướng công tác phối hợp giữa hai Bên trong thời gian tới.

Theo đó, hai bên thống nhất cao với những kết quả đã đạt được, trong đó khẳng định: Sự phối hợp giữa Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam và Tổng cục Di trú Campuchia đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự, tạo điều kiện cho hoạt động lưu thông biên giới qua các cửa khẩu, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường đoàn kết, hữu nghị, hiểu biết giữa chính quyền, nhân dân và lực lượng bảo vệ biên giới hai nước.

Hơn 2 năm qua, lực lượng quản lý cửa khẩu, bảo vệ biên giới hai Bên đều tập trung cho nhiệm vụ kép, vừa quản lý, bảo vệ biên giới, vừa tham gia phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Đặc biệt, các đơn vị của hai Bên đã kịp thời hỗ trợ, động viên nhau về tinh thần cũng như kinh phí và vật chất phòng chống dịch bệnh Covid-19 để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Đến nay, tình hình biên giới cơ bản ổn định. Hai Bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ và đạt được nhiều kết quả nổi bật trong công tác quản lý, kiểm soát người, phương tiện xuất nhập cảnh, hàng hóa xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu quốc tế.

Đã phối hợp chỉ đạo và trực tiếp tham gia phục vụ tổ chức nhiều hoạt động, chương trình ý nghĩa chào mừng kỷ niệm “Năm Hữu nghị - Đoàn kết Việt Nam - Campuchia 2022” và “55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam - Campuchia (24/6/1967 - 24/6/2022)”. Nổi bật là phối hợp tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 45 năm “Con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Campuchia Samdech Techo Hun Sen với sự tham dự và chủ trì của Thủ tướng Chính phủ hai nước. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, góp phần lan tỏa quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai nước, hai dân tộc, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước đối với việc giữ gìn và vun đắp mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia.

Thay mặt Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam, Trung tướng Lê Đức Thái trân trọng cảm ơn Đại tướng Kirth Chantharith và các cơ quan chức năng Tổng cục Di trú Campuchia đã phối hợp, giải cứu các nạn nhân là người Việt Nam bị đối tượng xấu dụ dỗ, xuất cảnh trái phép và cưỡng bức lao động tại các cơ sở kinh doanh bất hợp pháp tại Campuchia.

Đồng chí Tư lệnh BĐBP Việt Nam đề nghị thời gian tới, hai Bên tiếp tục phối hợp hiệu quả trong việc ngăn chặn xuất, nhập cảnh trái phép, kịp thời trao đổi thông tin, triệt phá các đường dây mua bán người, cơ sở cưỡng bức lao động, tiến tới giải quyết dứt điểm tình trạng trên.

Thay mặt đoàn Tổng cục Di trú Campuchia, Đại tướng Kirth Chantharith cảm ơn sự đón tiếp chu đáo, nồng ấm mà Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam dành cho đoàn. “Tôi đánh giá cao kết quả buổi hội đàm và những phát biểu thẳng thắn, mang tính xây dựng cao của Trung tướng Lê Đức Thái ngày hôm nay. Tôi tin tưởng hai Bên sẽ cùng nhau nỗ lực hơn nữa để đưa quan hệ hợp tác giữa Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam với Tổng cục Di trú Campuchia ngày càng phát triển đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả” - Đại tướng Kirth Chantharith bày tỏ.

Sau khi đánh giá kết quả trong thời gian qua, để quan hệ phối hợp công tác giữa hai Bên ngày càng gắn kết, đi vào chiều sâu và hiệu quả, lãnh đạo hai đoàn đã thống nhất một số nội dung hợp tác cơ bản trong thời gian tới như sau: Hai Bên tăng cường phối hợp thúc đẩy hiệu quả hoạt động của hệ thống cửa khẩu quốc tế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh của người, phương tiện. Tích cực trao đổi thông tin liên quan đến hoạt động của các loại tội phạm đặc biệt là tội phạm ma túy, buôn lậu, mua bán người, xuất, nhập cảnh trái phép liên quan đến hai bên biên giới, cửa khẩu, trao đổi thống nhất các biện pháp phối hợp xử lý kịp thời, hiệu quả các vụ việc phát sinh ngay từ cơ sở.

Tiếp tục tạo điều kiện cho nhân dân hai bên biên giới qua lại khám chữa bệnh, thăm thân, mua bán, trao đổi hàng hóa thiết yếu phục vụ đời sống dân sinh; tích cực tham mưu cho chính quyền địa phương thúc đẩy quan hệ giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai bên biên giới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho nhân dân hai bên biên giới chấp hành nghiêm Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và pháp luật của mỗi nước.

Quân đội đẩy mạnh đấu tranh chống diễn biến hòa bình trên các trang mạng xã hội

 

Quân đội đẩy mạnh đấu tranh chống diễn biến hòa bình

trên các trang mạng xã hội

 

Những năm gần đây, tình trạng bất ổn, bạo động, biến động chính trị và xung đột vũ trang trên thế giới, điển hình như ở các nước Trung Đông, Bắc Phi có sự tham gia rất lớn của các trang mạng xã hội. “Diễn biến hòa bình” qua mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động quốc tế trong giai đoạn bùng nổ thông tin ngày nay, nhất là đối với Việt Nam chúng ta.

Khúc ca nơi biên cương

 


Với 53 tuổi đời, 33 năm tuổi quân, Trung tá QNCN Lò Văn Phánh (nhân viên đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng Mường Lèo, Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La) đã dành trọn cả đời binh nghiệp gắn bó với biên giới Mường Lèo - vùng đất xa xôi, khó khăn nhất của huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Với những việc làm thiết thực, người lính Biên phòng ấy đã cụ thể hóa câu châm ngôn “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”.

 

Theo Bộ luật Lao động, chỉ còn chưa đầy một năm nữa là Trung tá QNCN Lò Văn Phánh sẽ được nghỉ hưu, thế nhưng với người lính Biên phòng này “còn 1 ngày vẫn còn phải có trách nhiệm với đơn vị, với bà con”. Sau bữa cơm tối, uống vội chén trà nóng, Trung tá QNCN Lò Văn Phánh và Thiếu tá QNCN Hờ A Thành lại rời Tổ công tác Pá Khoang đi xuống Điểm trường Tiểu học của bản để dạy xóa mù chữ cho chị em phụ nữ. Lớp học đã duy trì được gần 3 tháng và 2 người lính Biên phòng cứ thế ngày làm Bộ đội Biên phòng, tối làm thầy giáo quân hàm xanh. Sau khi ổn định lớp học, Trung tá Lò Văn Phánh hướng dẫn các học viên đọc bài. Những âm thanh vang lên giữa màn đêm tĩnh lặng của núi rừng. Nhìn cách anh say sưa với bài giảng, ai cũng dễ dàng cảm nhận được sự nhiệt huyết của người thầy và sự khao khát đến cháy bỏng được học cái chữ của những học viên là phụ nữ người Mông vùng cao.

Để đến được lớp học vào buổi tối, những người phụ nữ Mông phải thức dậy sớm hơn, chuẩn bị bữa sáng, bữa trưa cho cả nhà lên nương. Mọi người phải tranh thủ thời gian hoàn thành công việc, có thế mới kịp vào lớp lúc 7 rưỡi tối. Chẳng ai đến muộn, càng không nghỉ học bởi không có lý do gì khi mà thầy giáo tối đứng lớp, ngày lại lên nương giúp bà con làm cỏ, thu hoạch lúa, ngô. Thầy giáo Phánh sinh ra ở bản nên làm nương chẳng kém ai. Tay làm nhưng miệng thầy không quên vận động bà con phải ăn ở hợp vệ sinh, ăn chín, uống sôi, nhất là đối với trẻ con… Cứ thế, ở nơi biên cương Tổ quốc, thầy giáo Phánh cần mẫn, không nề hà việc khó vì mong muốn sẽ phần nào giúp bà con thay đổi cuộc sống theo chiều hướng tốt hơn.

Nhắc đến gia đình Trung tá QNCN Lò Văn Phánh, mọi người càng nể hơn vì đây là gia đình mẫu mực, rất đáng học hỏi, noi theo. Vợ của Trung tá Lò Văn Phánh là cô gái quê gốc ở Hưng Yên lên Sơn La lập nghiệp và bén duyên với người lính Biên phòng. Đôi uyên ương đấy đã gắn cả tuổi xuân để bám trụ biên giới. Ngày đầu vào biên giới vô vàn những khó khăn, người vợ mang bầu đứa con trai đầu lòng được 6 tháng. Chỉ huy đơn vị cho mượn một căn nhà tạm ở cổng đồn, ngày ngày nuôi lợn, làm nương và thu mua nông sản của bà con.

Nói là lên biên giới cho vợ gần chồng, con gần bố thế nhưng vì là nhân viên vận động quần chúng nên thời gian của anh Phánh chủ yếu ở địa bàn. Thêm nữa, khoảng cách từ tổ công tác với đồn phải đi bộ cả ngày đường thế nên có khi cả tháng hai vợ chồng mới gặp nhau 1 lần. Thời gian cứ thế trôi đi, vợ chồng anh Phánh sinh đứa con trai đầu lòng rồi đứa thứ hai ra đời. Cuộc sống xa quê nhưng bù lại có đồng chí, đồng đội bên cạnh giúp đỡ thế nên khó khăn là vậy nhưng tiếng cười luôn đầy ắp trong căn nhà gỗ bé nhỏ…

Điều đáng nói, sinh ra và lớn lên ở miền biên viễn xa xôi, khó khăn, thiếu thốn đủ bề thế nhưng 2 con trai của Trung tá QNCN Lò Văn Phánh học rất giỏi. Đến nay, người con trai đầu đã tốt nghiệp Trường Sĩ quan Chính trị và hiện đang công tác ở 1 đơn vị thuộc Quân khu 2. Cậu con trai thứ hai cũng tốt nghiệp đại học và đang làm việc cho Tập đoàn FPT tại Hà Nội. Và, hạnh phúc đong đầy, vẹn tròn là hậu phương vững chắc để người lính Biên phòng càng yên tâm gắn bó.

Nâng cao nhận thức về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 

Nâng cao nhận thức về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 và xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 

Chiều 28/2, tại Hà Nội, Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương tổ chức Hội nghị trong toàn Đảng bộ Khối nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền những tư tưởng chủ đạo, nội dung cơ bản, cốt lõi của cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Hội nghị diễn ra theo hình thức trực

Đấu tranh với các hành vi xuyên tạc việc thực hiện Luật nghĩa vụ quân sự của công dân


Tham gia quân ngũ làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là quyền và nghĩa vụ của công dân, đã được hiến định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, kích động công dân trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Các hành vi đó cần phải được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

Thực hiện Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, hằng năm có hàng vạn thanh niên trên cả nước hăng hái xung phong lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự trong không khí vui tươi, phấn khởi, tự hào. Tuy nhiên, cũng vào dịp này, trên không gian mạng xuất hiện nhiều luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị xuyên tạc về ngày Hội tòng quân và trách nhiệm của thanh niên. Chúng đăng tải các cảnh bạo lực trong quân đội nước ngoài với lời bình xuyên tạc là ở Việt Nam; nguy hiểm hơn, có những hình ảnh, video được cắt ghép, dàn dựng để bóp méo sự thật, xuyên tạc về đạo đức, tác phong và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội,... nhằm kích động một số người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết chia sẻ, lan tỏa trên mạng xã hội, làm nóng vấn đề. Mục đích của họ là bôi nhọ hình ảnh tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, bản chất, truyền thống, uy tín của Quân đội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Từ đó, khiến cho thanh niên nhập ngũ “tự diễn biến”, buông lỏng về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với Tổ quốc; làm cho nhân dân hoang mang, thiếu niềm tin, không muốn cho con em mình thực hiện nghĩa vụ quân sự. Sâu xa hơn, đó còn là mưu đồ hòng gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội khi các đối tượng phản động kích động người dân biểu tình, chống phá, kích động các quân nhân đào ngũ, bỏ ngũ. Song, dù các thế lực cố tình bôi đen thế nào cũng không thể phủ nhận bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; cũng như ý thức, trách nhiệm cao của thế hệ trẻ đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn coi thực hiện nghĩa vụ quân sự là thiêng liêng; Quân đội vẫn mãi là trường học lớn, môi trường tốt để thanh niên học tập, rèn luyện.

Trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân

Thực hiện nghĩa vụ quân sự là quyền lợi, đồng thời cũng là trách nhiệm cao cả của mỗi công dân Việt Nam để bảo vệ nền độc lập, tự do, hòa bình cho Tổ quốc và bảo vệ sự bình yên cho chính quê hương, gia đình, người thân của mình. Và trên hết, việc thực hiện nghĩa vụ quân sự đã được hiến định trong Hiến pháp, pháp luật Nhà nước, vì vậy, không thể đưa ra để bàn luận, để tính toán “đi hay không đi”, “dám hay không dám”. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2013) quy định: “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân” (Điều 45, Chương II) và “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân…. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh” (Điều 64, Chương IV). Thể chế hóa Hiến pháp, Khoản 1, Khoản 2, Điều 4 và Khoản 1, Điều 59 Luật Nghĩa vụ quân sự (năm 2015) quy định: Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân; công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú, phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định. Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, chống đối, cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, việc thực hiện nghĩa vụ quân sự đã được luật hóa, buộc phải thực hiện.

Tuy nhiên, thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ đơn thuần là chấp hành pháp luật của Nhà nước, đó còn là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của công dân đối với dân tộc, với Tổ quốc. Lịch sử minh chứng, dựng nước đi đôi với giữ nước đã trở thành quy luật trường tồn của dân tộc ta. Biết bao thế hệ ông cha đã ngã xuống cho nền độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, ý chí “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hàng triệu thanh niên Việt Nam đã xung phong lên đường chiến đấu, trở thành những chiến sĩ kiên trung, bất khuất. Những anh hùng liệt sĩ, như: Cù Chính Lan, Võ Thị Sáu, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm,… là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là niềm tự hào của các thế hệ thanh niên Việt Nam. Nếu không có tinh thần đó, không có những sự hy sinh cao cả, thiêng liêng đó thì chúng ta không có được đất nước nở hoa độc lập, phồn vinh, hạnh phúc như ngày hôm nay. Vì vậy, tham gia nghĩa vụ quân sự, trở thành quân nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, được đóng góp công sức, trí tuệ để góp phần bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng là niềm vinh dự, tự hào, nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả của mỗi thanh niên hiện nay. Nếu đang được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no,... mà ai đó chỉ biết đến vun vén, hưởng thụ cho bản thân; còn đắn đo, tính toán, trốn tránh nghĩa vụ quân sự, trách nhiệm công dân thì không những vi phạm pháp luật mà còn “có tội” với Tổ quốc và dân tộc.

Trường học lớn

Với mục đích tác động tâm lý để thanh niên và gia đình, người thân “e ngại” khi thực hiện nghĩa vụ quân sự, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn để “bôi xấu” môi trường Quân đội. Song, thực tiễn đã khẳng định, đó chỉ là những luận điệu xuyên tạc, mơ hồ, phiến diện, thiếu căn cứ.

Trải qua 78 năm xây dựng, chiến đấu và phát triển, Quân đội đã cùng toàn Đảng, toàn dân lập nên những chiến công hiển hách. Đó cũng là “trường học lớn” để hàng triệu thanh niên Việt Nam - “Bộ đội Cụ Hồ” không ngừng trưởng thành về mọi mặt, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Ngày nay, với kỷ luật tự giác và nghiêm minh, môi trường quân ngũ là cơ hội để thanh niên học tập, rèn luyện, trưởng thành và cống hiến. Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống vật chất, tinh thần, chế độ, chính sách đối với quân nhân ngày càng được quan tâm, bảo đảm tốt. Thực hiện nghĩa vụ quân sự, thanh niên được học tập, tiếp thu những kiến thức về chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ hữu ích cho bản thân. Trong môi trường quân ngũ, họ được học tập, quán triệt đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là về quốc phòng, an ninh, chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; được giáo dục chính trị, truyền thống, giáo dục pháp luật,... từ đó có sự trưởng thành về nhận thức chính trị, hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học để nhận diện rõ, đúng những vấn đề thời sự, chính trị diễn ra trong nước và thế giới. Đồng thời, nâng cao tinh thần yêu nước, nhận thức, ý thức cảnh giác cách mạng, có lập trường chính trị vững vàng, có khả năng “miễn dịch” trước những luận điệu xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch. Môi trường Quân đội cũng sẽ giúp thanh niên được rèn luyện sức khỏe, thể lực dẻo dai; tác phong chững chạc, có trách nhiệm cao với công việc, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; giao tiếp, ứng xử đúng mực, có văn hóa. Đặc biệt, môi trường quân ngũ là nơi rèn dũa, tôi luyện để thanh niên phát huy hết nội lực, khả năng của bản thân, sẵn sàng đối mặt và vượt qua những khó khăn, thử thách lớn trong công việc và cuộc sống. Quân đội cũng chính là môi trường giáo dục tốt nhất về tình đồng chí, đồng đội; tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; cán bộ, chiến sĩ đồng sức, đồng lòng cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Đó cũng là nơi mà thanh niên thấm nhuần sâu sắc tình đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân trong quá khứ, hiện tại và tương lai, v.v. Những phẩm chất cơ bản mà mỗi quân nhân có được sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự sẽ là cơ sở, tiền đề quan trọng, vững chắc để thanh niên lập thân, lập nghiệp. Bên cạnh đó, những quân nhân có đủ điều kiện, sau khi huấn luyện xong sẽ được tuyển chọn, bố trí công việc phù hợp với khả năng hoặc cử đi đào tạo để trở thành sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp nếu có nguyện vọng phục vụ lâu dài trong Quân đội. Những quân nhân khi xuất ngũ sẽ được hưởng chế độ chính sách và hỗ trợ học nghề; được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm tạo công ăn, việc làm ổn định; tạo nguồn cán bộ cho địa phương nếu đủ điều kiện, v.v. Điều đó cho thấy, môi trường Quân đội không những không “xấu” như sự bịa đặt, xuyên tạc mà còn là nơi lý tưởng để thanh niên rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành về mọi mặt

Đẩy lùi các luận điệu xuyên tạc, kích động

Mặc dù các cấp, ngành,... địa phương luôn đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, nhưng trước sự chống phá, xuyên tạc, kích động và tác động từ nhiều mặt, trên thực tế, vẫn có một số thanh niên nhận thức chưa đúng, chưa hiểu rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình; có biểu hiện trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là tổ chức Đoàn Thanh niên các cấp cần tăng cường tuyên truyền Luật Nghĩa vụ quân sự, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ,... nhằm khơi dậy niềm tự hào, tiếp thêm ý chí, động lực để công dân trong độ tuổi nhập ngũ hăng hái tham gia nghĩa vụ quân sự. Đồng thời, đẩy mạnh công tác phối hợp, cùng chung sức, đồng lòng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về thực hiện nghĩa vụ của công dân. Đối với mỗi cá nhân khi tham gia mạng xã hội, cần phải chấp hành nghiêm Luật An ninh mạng, tỉnh táo khi tiếp nhận, chia sẻ thông tin để hạn chế thấp nhất những vi phạm có thể mắc phải; không mắc mưu các thế lực thù địch. Thường xuyên đăng tải, chia sẻ các bài viết tích cực, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, đẩy lùi thông tin tiêu cực, dập tắt các luận điệu xuyên tạc, chống phá. Đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo, cần thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh; tăng cường tổ chức hoạt động ngoại khóa nhằm giáo dục, nâng cao kỹ năng sống cho học sinh, xây dựng cho thế hệ trẻ có động cơ, thái độ và tinh thần trách nhiệm với xã hội, với đất nước, tạo “sức đề kháng” tốt khi tham gia và sử dụng các trang mạng xã hội. Cùng với đó, các cơ quan chức năng thường xuyên quản lý và phối hợp chặt chẽ với nhà cung cấp dịch vụ tiến hành các giải pháp kỹ thuật, kịp thời ngăn chặn không để những quan điểm sai trái, thù địch phát tán trên không gian mạng tác động vào các tầng lớp nhân dân. Đối với gia đình, người thân, cần nhận thức đúng đắn, không nghe theo, làm theo sự kích động lan truyền trên mạng xã hội, tích cực làm tốt công tác tư tưởng, động viên thanh niên yên tâm lên đường nhập ngũ.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp trực tiếp nâng cao nhận thức, định hướng tư tưởng để thanh niên trong độ tuổi sẵn sàng thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Báo chí, xuất bản và nhiệm vụ đấu tranh chống "Diễn biến hòa bình"

 

Báo chí, xuất bản và nhiệm vụ đấu tranh chống "Diễn biến hòa bình"

 

Trong bối cảnh của tình hình quốc tế và trong nước hiện nay, các thế lực thù địch đang tiến hành đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá vừa công khai, trắng trợn, vừa che đậy bằng các thủ đoạn tinh vi. Vì vậy, việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trong giai đoạn hiện nay trên lĩnh vực báo chí, xuất bản là hết sức cần thiết và cấp bách.

Tuyên ngôn của đảng Cộng sản vẫn là ngọn cờ, kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta


Ra đời cách đây 175 năm (tháng 02/1848) và trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi của hoàn cảnh, nhưng những nguyên lý trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn là cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại chúng ta; vẫn là kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân, nhân dân lao động toàn thế giới và nhân dân ta trên con đường đi tới xã hội chủ nghĩa.

1. Chủ nghĩa Mác được hình thành với sự ra đời Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Tháng 02/1848, C.Mác và Ph.Ăngghen chính thức công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do các ông soạn thảo bởi sự ủy nhiệm của Đồng minh những người cộng sản - một tổ chức công nhân quốc tế; công khai “trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, ý đồ” của những người cộng sản, đập lại “câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản” ở châu Âu mà các thế lực chống đối rêu rao.

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận chủ nghĩa Mác với sự hoàn bị của ba bộ phận hợp thành: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa cộng sản khoa học; trở thành cương lĩnh chính trị đầu tiên, kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và con đường, biện pháp thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy là phát kiến vĩ đại và công lao to lớn của chủ nghĩa Mác.

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân và chỉ rõ, chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp thực sự cách mạng; khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”1. Những phạm trù, những nguyên lý cơ bản, then chốt của chủ nghĩa Mác được trình bày và luận chứng một cách khoa học, rõ ràng và có hệ thống. Đó là các vấn đề: quy luật phát triển của lịch sử xã hội; giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, đưa con người đến cuộc sống tự do, hạnh phúc; cách mạng xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; Đảng Cộng sản và liên minh giai cấp; các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, gia đình, văn hóa mới,... là những vấn đề rất cơ bản về thế giới quan, phương pháp luận khoa học, lập trường cách mạng, con đường, biện pháp và điều kiện để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

Những phạm trù, những nguyên lý cơ bản trong Tuyên ngôn mang tính chất phổ biến cả về lý luận và thực tiễn; thực sự là kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; trở thành “cuốn sách gối đầu giường” cho tất cả những người cộng sản và công nhân giác ngộ. V.I.Lênin từng đánh giá: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng ngàn bộ sách, tinh thần của nó đến bây giờ vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thế giới giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”2.

2. Trong gần hai thế kỷ qua, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến nhận thức của nhân loại và tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Nó là cơ sở, nền tảng tư tưởng cho sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; sự ra đời của các đảng cộng sản; là kim chỉ nam cho đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân khỏi áp bức, bóc lột; hình thành nên các nước xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trải qua nhiều thử thách với những thay đổi to lớn và cả biến cố lớn lao, có nhiều vấn đề rất mới về lý‎ luận và thực tiễn đặt ra cần giải quyết, nhưng những nguyên lý cơ bản mà C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn tỏ rõ sức sống mãnh liệt, còn nguyên giá trị. Tuy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực - sản phẩm trực tiếp của những tư tưởng trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa Mác – Lênin có những bước thăng trầm và cả tổn thất nặng nề; song hiện nay, một số nước vẫn vững vàng, tiếp tục hành trình, đạt thành tựu to lớn trên con đường xây dựng xã hội mới, tạo diện mạo mới đầy năng động và sáng tạo. Nhiều chính khách, học giả có uy tín lớn trên thế giới vẫn xem C.Mác là nhà tư tưởng, nhà khoa học xã hội, nhân văn lớn của nhân loại; vẫn khẳng định Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là một tác phẩm bất hủ. Ngay ở nhiều nước tư bản phát triển, người ta vẫn thấy có những tiếng nói về những giá trị của Tuyên ngôn, của chủ nghĩa Mác, của học thuyết kinh tế Mác; trong những cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế, ở nhiều nước tư bản phương Tây lại thấy xuất hiện phong trào “trở về với Mác”, tìm đọc Tuyên ngôn và các tác phẩm của C.Mác.

Hiện thực sinh động đó đã cho thấy giá trị to lớn cả về phương diện lý luận, thực tiễn và sức sống bất diệt của Tuyên ngôn, của chủ nghĩa Mác với tính cách là cương lĩnh chính trị, học thuyết cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân. Dù cho trong thế kỷ này, tình hình có biến đổi như thế nào chăng nữa, nhưng những nguyên lý trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn là cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại chúng ta; vẫn là kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trên con đường đi tới tương lai xã hội chủ nghĩa.

3. Ở Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo cách mạng hơn 90 năm qua, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong Tuyên ngôn; đồng thời, trực tiếp bảo vệ và phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói riêng. Trước mỗi bước ngoặt lịch sử của cách mạng, Đảng ta luôn vững vàng về bản lĩnh chính trị, kiên định, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, loại trừ mọi biểu hiện và ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều, cơ hội, xét lại; tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, với những nguyên lý cơ bản mà Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã chỉ ra. Những nguyên lý đó luôn là ngọn đuốc soi sáng con đường cách mạng Việt Nam.

Hơn chín thập kỷ qua d­ư­ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, cả n­ư­ớc đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã giải quyết một loạt vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra. Những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được nhận thức ngày càng rõ hơn. Nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn mới đã được Đảng ta ngày càng nhận thức đúng đắn qua các kỳ đại hội và vận dụng sáng tạo vào công cuộc đổi mới, thu được những thành tựu quan trọng, trở thành “xương sống” lý luận của sự nghiệp đổi mới.

Trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta vẫn tiếp tục phát triển. Sau hơn 35 năm đổi mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử, “thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3. Thành tựu đó tạo ra thế và lực mới cả bên trong và bên ngoài, để nhân dân ta bước vào một thời kỳ phát triển mới với nhiều triển vọng. Điều đáng nói là, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước mà nhân dân ta đạt được, suy đến cùng đều do sự dẫn dắt và soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, hay nói cách khác, đó là do Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn cách mạng. Thực tiễn đó càng khẳng định giá trị lịch sử và ý nghĩa to lớn của Tuyên ngôn trong thời đại mới.

4. Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Đại hội XIII của Đảng nhận định về những vấn đề rất cơ bản: xu thế, cục diện thế giới; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; kinh tế thế giới; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chiến tranh và xung đột vũ trang; các thách thức an ninh phi truyền thống; và những vấn đề toàn cầu khác,… diễn biến phức tạp, khó dự báo trong thời gian tới. Sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức đan xen; trong đó, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực,... còn diễn biến phức tạp”4.

Trong bối cảnh mới, những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng của đất nước và thế giới đương đại vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho sự phát triển của lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin cùng những nguyên lý cơ bản trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Xuất phát từ thực tế khách quan, vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm sức sống và phát huy vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trong thực tiễn. Thoát ly hiện thực, xa rời thực tế thì việc vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ kém chất lượng, những kết luận lý luận được rút ra sẽ trở nên trống rỗng, vô giá trị, thậm chí phản giá trị.

Chính C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, trong cuộc đời hoạt động của mình, đã liên tục phát triển lý luận, bao gồm cả việc sửa chữa, hoàn thiện các luận điểm cũ và phát triển những luận điểm mới khi thực tiễn đã thay đổi. C.Mác, đặc biệt là Ph.Ăngghen, khi viết lời tựa cho những lần xuất bản sau, mặc dù vẫn giữ nguyên các quan điểm trong Tuyên ngôn, vì tôn trọng lịch sử, nhưng đã có sự phát triển, vì tình hình đã có nhiều thay đổi, vì “đại công nghiệp đã có bước tiến hết sức lớn”. Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”5. V.I.Lênin - người kế tục xuất sắc sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, đã chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”6. Người cũng đã phát triển một loạt luận điểm lý luận mới của chủ nghĩa Mác, mà trước đó do hạn chế của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen, cũng như Tuyên ngôn chưa đề cập đến hoặc đề cập chưa đầy đủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề sự thay đổi của tình hình, thì đấu tranh giai cấp cũng sẽ thay đổi; khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay đổi phương Đông, thì đấu tranh giai cấp sẽ trở nên quyết liệt. Người yêu cầu vận dụng, nghiên cứu chủ nghĩa Mác phải trên cơ sở lịch sử, phải “củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”7

Phương pháp luận khoa học đó chỉ ra rằng: việc trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển những nguyên lý cơ bản trong Tuyên ngôn và của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta không thể chỉ trích dẫn nguyên xi những nhận định, những luận điểm của các nhà kinh điển để làm luận chứng duy nhất (tuy là cần thiết), mà điều quan trọng là phải nắm bắt tinh thần cách mạng, bản chất khoa học, linh hồn sống, phương pháp luận khoa học mà các nhà kinh điển, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã cung cấp, đặt nó trên “mảnh đất hiện thực” đương đại, bổ sung cho nó những “cơ sở lịch sử”, những hiện thực tươi mới. Đảng ta chỉ rõ, chúng ta phải “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”8.

5. Trong tình hình mới, Đại hội XIII của Đảng xác định rõ chiến lược phát triển đất nước với những khát vọng mạnh mẽ; nêu cao tinh thần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, xác định tầm nhìn đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói riêng, vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi khát vọng phát triển ấy.

Bản chất Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa Mác - Lênin là cách mạng và khoa học; đòi hỏi chúng ta khi vận dụng, phát triển vừa phải đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, vừa phải thực hiện với tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn. Dù cho trong thế kỷ này sẽ có những biến động bất trắc, khó l­ư­ờng, nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, vẫn tiếp tục soi sáng những vấn đề cơ bản của thời đại và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta, vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và Nhân dân ta; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn là giá trị cơ bản của nhân loại, là con đường, mục tiêu lý tưởng mà Đảng và Nhân dân ta phấn đấu. Chỉ có đi theo con đường cách mạng dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, thì dân tộc Việt Nam mới có thể ngẩng cao đầu, vững bước tiến lên. Vì thế, chúng ta phải luôn cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi xuyên tạc hòng hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.