Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

 

 NHỮNG “CON RỐI” LƯU VONG CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC


Thời gian gần đây, một số đối tượng là công dân Việt nhưng vì quyền lợi vị kỷ, bị kẻ xấu, các tổ chức phản động lôi kéo dẫn đến bất chấp đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bất chấp pháp luật, sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Việt Nam, tiếp tay cho kẻ xấu gây tâm lý hoang mang, ngờ vực, chia rẽ nội bộ, làm hại đất nước.

Ban đầu, các đối tượng đều là những công dân bình thường nhưng rồi sa ngã dần, trượt dài trên con đường tội lỗi khi bị mê muội trước sự lôi kéo của kẻ xấu. Khi phát hiện có nguy cơ nhận sự trừng trị ở trong nước, các đối tượng đã tìm cách chạy ra nước ngoài để bám gót các thế lực thù địch làm hại đất nước, dân tộc. Dưới đây là một số người nằm trong những kẻ đó.

Lê Văn Thương - từ kẻ vô kỷ luật đến con đường chống phá đất nước

Lê Văn Thương, sinh năm 1988 tại vùng đất Quảng Ngãi giàu truyền thống cách mạng với biết bao tấm gương hy sinh vì đất nước. Là người từng có thời gian phục vụ trong quân ngũ, được quan tâm tạo điều kiện đào tạo thành sỹ quan nhưng do không chịu rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu trở thành người có ích cho đất nước, cho quân đội và gia đình mà sa ngã, trượt dài trên con đường tội lỗi. Sau nhiều lần vi phạm kỷ luật, mặc dù đã được động viên, giáo dục, Thương vẫn tính nào tật ấy, do đó đã bị kỷ luật và được giải quyết cho xuất ngũ.

Thiết tưởng, sau khi trở về địa phương, Thương sẽ vượt qua lầm lỗi, chí thú làm ăn chăm lo cho gia đình, trở thành công dân tốt, nhưng y lại tiếp tục trượt dài, bộc lộ bản chất của một kẻ phá hoại, bắt tay với các đối tượng xấu có nhiều hoạt động chống phá đất nước và tuyên bố “tự nguyện ra quân và rời bỏ Đảng” để thành lập lực lượng hòng thay đổi chế độ. Một kẻ ảo tưởng mới chỉ được đào tạo những kiến thức ở cấp phân đội về quân sự nhưng Thương lại lừa bịp, tuyên bố rất hùng hồn có năng lực, khả năng chỉ huy những đội quân lớn có thể làm thay đổi được tình hình đất nước.

Trước những hoạt động chống phá đất nước, có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, Lê Văn Thương đã bị khởi tố về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời đã bị truy nã sau khi bỏ trốn khỏi địa phương vào năm 2018. Các cơ quan chức năng đã nhiều lần có văn bản gửi gia đình, vận động, kêu gọi Thương ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Biết không thể có nơi dung thân ở trong nước, Lê Văn Thương đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài. Để được các thế lực ngoại bang sử dụng và có tiền sinh sống, Thương đã bất chấp sự khoan dung của đất nước và tiếp tục lún sâu hơn vào con đường tội lỗi khi sử dụng không gian mạng tạo lập các tài khoản để bịa đặt, nói xấu tình hình đất nước, chống phá Việt Nam. Trên tài khoản facebook cá nhân và tài khoản youtube “Tiếng nói Dân chủ Việt”, đối tượng đã công khai bộc lộ là một kẻ phản bội lại quê hương, đất nước khi liên tục phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt. Chính y đã tự bôi xấu bản thân, làm ảnh hưởng đến những người thân và tự chặn lại con đường trở về quê hương mà một số kẻ đã sai lầm mắc phải trước đây.

Trương Quốc Huy – “con rối” trong tay các thế lực bên ngoài

Trương Quốc Huy, sinh năm 1981 tại TP Hồ Chí Minh. Huy chỉ học hết lớp 7 rồi bỏ giữa chừng, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự đã vi phạm kỷ luật và bị loại ngũ. Do kém hiểu biết, trong giai đoạn 2004, 2005, Huy và Hàng Tấn Phát - một kẻ đồng tính, đã bị các tổ chức phản động dụ dỗ, lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động“Hội đồng Dân quân cứu quốc” do đối tượng khủng bố Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu.

Sau đó, được sự hà hơi, tiếp sức, chỉ đạo của các đối tượng phản động Bùi Quang Vinh, Nguyễn Hoàng Huy Đức và Lisa Phạm, Trương Quốc Huy đã thu thập, phát tán các tài liệu trên các trang web phản động có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và phát tán tờ rơi có nội dung xuyên tạc chính quyền “đàn áp tôn giáo”, do đó đã được tổ chức khủng bố của Nguyễn Hữu Chánh chuyển cho 600 USD.

Do có hoạt động vi phạm pháp luật, năm 2005, Trương Quốc Huy và Lisa Phạm đã bị cơ quan chức năng của Việt Nam bắt để điều tra làm rõ. Trong thời gian bị tạm giam, hai đối tượng đều tỏ ra ăn năn hối lỗi, viết nhiều lá đơn xin khoan hồng, nội dung rất thống thiết như “Đơn xin cam kết từ bỏ hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam; tôi nhận thấy hành vi của mình vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đi ngược lại mục tiêu chung của dân tộc…

Tôi xin cam kết từ bỏ tất cả để trở thành công dân lương thiện…”. Với mục đích nhân đạo, mở cho kẻ lầm đường lạc lối trở lại thành công dân lương thiện, Trương Quốc Huy được trả tự do sau 9 tháng giam giữ mà không bị truy tố và Lisa Phạm bị trục xuất về Mỹ.

Tuy nhiên, với bản chất phá hoại khó thay đổi, sau khi được trả tự do, Trương Quốc Huy đã tiếp tục có hoạt động vi phạm pháp luật, gia nhập các tổ chức phản động. Năm 2006, Trương Quốc Huy và anh trai là Trương Quốc Tuấn bị bắt về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Năm 2008, Trương Quốc Huy bị tòa án xét xử, tuyên phạt 6 năm tù giam và 3 năm quản chế. Năm 2012, sau khi mãn hạn tù, Trương Quốc Huy cùng Trương Quốc Tuấn trốn sang Thái Lan và bị bắt giữ vì hành vi nhập cảnh trái phép; sau đó đã được tỵ nạn tại Mỹ dưới sự bảo trợ, bảo lãnh của tổ chức, cá nhân phản động đã từng hà hơi, tiếp sức cho đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam.

Sau khi được tỵ nạn tại Mỹ, Trương Quốc Huy tiếp tục “ngựa quen đường cũ” và để có tiền trang trải cho cuộc sống, y đã tuyên bố gia nhập các tổ chức phản động và tạo lập các tài khoản mạng xã hội, trang mạng phản động, trong đó có N10Tv để phát tán tài liệu sằng bậy, bịa đặt chống phá Việt Nam.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người Việt Nam yêu chuộng hòa bình đã đăng trên các tài khoản mạng xã hội gọi Trương Quốc Huy là loại “tâm thần chính trị”; những quân nhân có thời gian nhập ngũ cùng đã tẩy chay, bóc mẽ, chỉ ra những việc làm vi phạm đạo đức, vi phạm kỷ luật quân đội của Trương Quốc Huy.

Trần Minh Nhật - kẻ bôi nhọ Thiên Chúa, tay sai của tổ chức khủng bố Việt Tân

Trần Minh Nhật sinh năm 1988, trong một gia đình Thiên Chúa giáo quê Nghệ An. Là một sinh viên được đào tạo cơ bản ở TP Hồ Chí Minh, có tri thức, cứ tưởng Trần Minh Nhật sẽ trở thành người có ích. Tuy nhiên, Nhật đã bị các đối tượng xấu móc nối, lôi kéo tham gia tổ chức khủng bố Việt Tân, có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, do đó đã bị bắt, bị xử lý về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Trần Minh Nhật đã quan hệ với một số đối tượng phản động cùng quê Nghệ An, như Nguyễn Xuân Kim, Đặng Xuân Diệu và đặc biệt là các đối tượng trong nhóm Hồ Đức Hòa, thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân.

Năm 2011, Trần Minh Nhật xuất cảnh đi Thái Lan tham gia khóa huấn luyện cách thức chống phá Việt Nam do tổ chức khủng bố Việt Tân tổ chức, sau đó được chúng cung cấp tài chính, tung trở lại Việt Nam để phá hoại.

Tuy nhiên, hoạt động phạm tội của chúng đã bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ và điều tra làm rõ. Năm 2013, Hồ Đức Hòa cùng đồng bọn đã bị tòa án xét xử về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; trong đó, Trần Minh Nhật bị tuyên phạt 4 năm tù giam, 3 năm quản chế.

Tháng 8/2015, ra tù, Trần Minh Nhật chuyển vào cư trú tại tỉnh Lâm Đồng. Trong thời gian chấp hành hình phạt quản chế, y vẫn tiếp tục “ngựa quen đường cũ” có nhiều hoạt động chống phá đất nước. Năm 2016, Trần Minh Nhật trốn ra Nghệ An và đã có nhiều hoạt động gây rối an ninh trật tự, lôi kéo tụ tập đông người chặn Quốc lộ 1, đập phá trụ sở chính quyền địa phương. Trần Minh Nhật đã bị khởi tố, rồi bị truy nã về hành vi không chấp hành án theo quy định tại Điều 304 BLHS. Biết sẽ bị bắt nếu còn ẩn trốn ở trong nước, y đã cùng vợ chạy trốn ra nước ngoài.

Để hoạt động chống phá đất nước và mong nhận được sự bố thí của các thế lực ngoại bang, Trần Minh Nhật đã tạo lập, sử dụng nhiều tài khoản trên mạng xã hội, trong đó có tài khoản youtube VoteTV để phát tán thông tin bịa đặt, sai sự thật về tình hình đất nước, đi ngược lại những điều tốt đẹp của người Công giáo và những điều răn của Chúa.

Phạm Minh Vũ – từ một sinh viên vô kỷ luật đến trượt dài trên hành trình phạm tội

Phạm Minh Vũ sinh năm 1992 tại Quảng Trị, từng là sinh viên Trường Cao đẳng Phát thanh và Truyền hình 1 tại tỉnh Hà Nam. Không như những sinh viên khác luôn nỗ lực học tập để thành tài, Phạm Minh Vũ lại dành thời gian quý báu để truy cập vào những trang phản động và bị tiêm nhiễm những tư tưởng chống đối, rồi tham gia vào những hoạt động tội lỗi, đi ngược lại những quy định của nhà trường và bị đuổi học.

Được sự lôi kéo của các đối tượng thuộc tổ chức phản động “Hội anh em dân chủ của Nguyễn Văn Đài, Phạm Minh Vũ đã tham gia điều hành trang phản động của tổ chức này và liên kết với các đối tượng Đỗ Nam Trung, Lê Thị Phương Anh tham gia vào các hoạt động tụ tập đông người, tuần hành gây rối an ninh trật tự.

Thông qua đối tượng Nguyễn Thái Học, thành viên tổ chức khủng bố Việt Tân, chúng đã chuyển cho Phạm Minh Vũ tiền để thu thập tài liệu, biên soạn bịa đặt, kích động và kêu gọi công nhân trong các khu công nghiệp nghỉ việc, tụ tập biểu tình phá rối an ninh trật tự tại các tỉnh phía Nam.

Tối ngày 14/5/2014, trong khi Phạm Minh Vũ cùng đồng bọn đến Bình Dương quay phim, chụp ảnh các hoạt động gây rối của những kẻ quá khích trà trộn vào giới công nhân thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ. Phạm Minh Vũ, Đỗ Nam Trung và Lê Thị Phương Anh đã bị khởi tố, điều tra theo Điều 258, Bộ luật Hình sự. Sau đó, Phạm Minh Vũ đã bị tòa tuyên phạt 18 tháng tù giam về hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích Nhà nước.

Trong quá trình chống phá đất nước, Phạm Minh Vũ đã được các tổ chức phản động nhiều lần chuyển tiền, điện thoại và máy ảnh làm phương tiện phục vụ cho việc thu thập, phát tán tin tức, tài liệu xuyên tạc tình hình đất nước, thông qua các đối tượng chống đối như Nguyễn Thái Học, Trần Bửu Thọ, Ngô Duy Quyền.

Đáp lại, Phạm Minh Vũ đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Sep Pham” và địa chỉ hộp thư điện tử “vuemail” để phát tán 174 trang tài liệu có nội dung đả kích chế độ, kích động biểu tình, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Sau khi ra tù, không chịu hoàn lương trở thành người có ích, Phạm Minh Vũ tiếp tục có nhiều hoạt động chống phá Việt Nam thông qua việc sử dụng tài khoản trên mạng xã hội để phát tán nhiều thông tin xuyên tạc, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ chủ chốt các cấp và lực lượng vũ trang; xuyên tạc tình hình chính trị, các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, tự do báo chí và tự do ngôn luận, công tác phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam. Lo sợ bị bắt, bị xử lý, Phạm Minh Vũ đã chạy trốn ra nước ngoài và tiếp tục hành trình xuyên tạc, bịa đặt nói xấu quê hương, đất nước trên các trang mạng xã hội.

Đường Văn Thái - không đỗ công chức, tự huyễn hoặc bản thân, bất mãn tự đề cao bản thân rồi thành kẻ chống phá đất nước

Đường Văn Thái, còn gọi là Thái Văn Đường, sinh năm 1982 tại Đông Anh, Hà Nội. Đường Văn Thái được đào tạo cơ bản ở trong nước, có thời gian tham gia hoạt động đoàn và làm hợp đồng tại Phòng Quản lý đất đai & Giải phóng mặt bằng huyện Đông Anh. Năm 2013, thi công chức nhưng không đỗ và nảy sinh bất mãn, Thái xin nghỉ việc.

Sau đó đi học về chuyên ngành quản lý đất đai tại Hàn Quốc theo dạng tự túc. Từ khi có tư tưởng tiêu cực, bất mãn và nhất là sau khi sang Hàn Quốc du học, Đường Văn Thái đã giao du với nhiều đối tượng xấu, có hoạt động chống Việt Nam, tham gia kích động tụ tập đông người gây rối an ninh trật tự trên địa bàn Hà Nội. Y đã móc nối tham gia vào các hội, nhóm chống đối như Hội Nhà báo độc lập, Hội Anh em dân chủ….

Đường Văn Thái đã tạo lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội để phát tán những bài viết, hình ảnh chứa đựng những thông tin không đúng sự thật trên nhiều lĩnh vực của Việt Nam, tập trung bóp méo, thổi phồng, bôi đen hiện tình đất nước và kích động người dân tham gia vào các hoạt động gây rối.

Năm 2017, sau khi về nước, Đường Văn Thái đã chuyển vào sống tại TP Hồ Chí Minh và tiếp tục có các hoạt động chống phá Việt Nam ngày một manh động. Khi một số đồng bọn bị bắt, biết rất khó tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật, năm 2019, y đã tìm cách trốn ra nước ngoài với mục đích xin tỵ nạn chính trị.

Cuộc sống tỵ nạn của Đường Văn Thái ở Thái Lan cùng với một số trường hợp khác đang rất khó khăn, khổ sở. Để được các thế lực thù địch chú ý, quan tâm và có tiền sinh sống, y thường xuyên tạo lập và phát tán trên youtube nhiều tin tức bịa đặt, thông tin giả xuyên tạc tình hình ở trong nước. Rất nhiều ý kiến trên cộng đồng mạng đã phản đối hành vi sai trái của Đường Văn Thái và gọi y là kẻ “tiểu nhân, kẻ bán nước cầu vinh”.

Từ Đường Văn Thái cho đến Lê Văn Thương, Phạm Minh Vũ, Trương Quốc Huy và Trần Minh Nhật cùng một số kẻ khác đều có quá trình sa ngã, dần trượt dài từ một công dân thành những kẻ phá hoại đất nước.

Lo sợ trước sự phản ứng của người dân trong nước và sợ bị pháp luật trừng trị, các đối tượng đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài, bám gót các thế lực chống đối và lợi dụng không gian mạng để phát tán tin giả, thông tin bịa đặt chống phá, bôi nhọ hình ảnh đất nước trên trường quốc tế./.

 

Lòng biết ơn - giá trị sống, vẻ đẹp nhân cách con người


 

Một người dân mà có thái độ vô ơn đã là điều đáng trách. Càng đáng phê phán hơn khi có những người từng mấy chục năm được “ăn cơm nhà nước, hưởng lộc người dân” nhưng sau khi rời nhiệm sở trở về cuộc sống đời thường lại nảy sinh tư tưởng tiền hậu bất nhất.

Lợi dụng mạng xã hội (MXH), họ chê bai đủ thứ về hiện thực đất nước qua lăng kính chỉ toàn màu đen. Thậm chí có người tự biến mình thành kẻ vô ơn bạc nghĩa trước tấm lòng cao cả của cộng đồng, tổ chức và chế độ từng nuôi dưỡng, bao bọc, rèn luyện và tạo cơ hội cho họ thành danh.

Mỗi chúng ta đều nằm lòng câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Đây không chỉ là đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta được trao truyền từ đời này qua đời khác, mà còn là lẽ sống cao cả, là tình cảm ân nghĩa thủy chung, là thái độ ứng xử có trước có sau của một nhân cách văn hóa. Biết trân trọng, ghi nhớ tất cả những gì mà tổ tiên, ông cha đã tốn bao công sức, trí tuệ và cả xương máu để ươm trồng, vun đắp và tạo dựng cơ đồ, sự nghiệp cho con cháu hôm nay và mai sau, chính là việc làm ý nghĩa nhất để góp phần hiện thực hóa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.

Lòng biết ơn là một trong những giá trị phổ quát của đạo đức nhân loại. Cách nay hơn 2.000 năm, Marcus Tullius Cicero, một trong những triết gia và nhà hùng biện trứ danh thời La Mã cổ đại từng khẳng định: “Lòng biết ơn không chỉ là đức tính vĩ đại nhất mà còn là khởi nguồn của mọi đức tính tốt đẹp khác của con người”.

Lòng biết ơn còn là một giá trị sống, đồng thời là một phương châm ứng xử nhân văn, tinh tế để góp phần làm nên vẻ đẹp nhân cách của con người. Nhờ có lòng biết ơn của thế hệ sau đối với thế hệ trước, của hậu duệ đối với tiền nhân, của con cháu đối với ông bà, cha mẹ mà các thế hệ người Việt Nam đã bồi đắp nên truyền thống văn hóa tri ân “Ăn quả nhớ người trồng cây”.

Đối lập với lòng biết ơn là sự vô ơn. Một con người vô ơn thì khó tìm được hạnh phúc đích thực và lương tâm thanh thản vì trái tim bị thói ích kỷ cá nhân làm cho “rỉ máu”. Vì vậy, trong văn hóa ứng xử của ông cha ta, những kẻ vô ơn bạc nghĩa luôn bị xã hội phê phán với thái độ nghiêm khắc. Khi được người khác đối đãi tử tế nhưng bản thân lại đối xử trở mặt như trở bàn tay là những kẻ ăn mật trả gừng.

Khi hưởng thụ quyền lợi nơi này nhưng lại ủng hộ, vun vén cho nơi khác là những kẻ ăn cây táo rào cây sung. Khi đạt được mục đích cá nhân nhưng vội quên ngay người khác giúp đỡ mình là những kẻ “được chim bẻ ná, được cá quên nơm”. Đáng khinh nhất là những kẻ vô ơn bạc nghĩa khi thể hiện thói ích kỷ cá nhân đến mức “khỏi vòng cong đuôi”, “qua cầu rút ván”, “ăn cháo đá bát”...

Một người dân mà có thái độ vô ơn đã là điều đáng trách. Càng đáng phê phán hơn khi có những người từng mấy chục năm được hưởng “ăn cơm nhà nước, hưởng lộc người dân” nhưng sau khi rời nhiệm sở trở về cuộc sống đời thường lại nảy sinh tư tưởng tiền hậu bất nhất.

Lợi dụng MXH chê bai đủ thứ về hiện thực đất nước qua lăng kính chỉ toàn màu đen. Có người khi đương chức, đương quyền thì giữ gìn lời ăn tiếng nói, cẩn trọng phát ngôn từng câu, từng chữ để được tiếng là “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”, nhưng khi về hưu lại biến mình thành “thông tấn xã vỉa hè” bởi ngồi ở đâu, chỗ nào cũng có thể “bàn loạn” chuyện quốc gia đại sự mà không hề giữ mồm, giữ miệng, thậm chí tùy tiện nhận xét cán bộ đương chức này kém cỏi, đánh giá cán bộ đương nhiệm khác tài hèn đức mọn với động cơ thiếu lành mạnh.

Cũng có người từng gắn bó lâu năm với công việc trọng yếu, bộ phận nhạy cảm trong bộ máy công quyền, lúc hành nghề thì mang nặng lời thề sống để dạ, chết mang theo, nhưng khi giải nghệ một thời gian thì không ngại ngần tiết lộ những thông tin gây bất lợi cho việc giữ gìn đồng thuận xã hội và bảo vệ an ninh tư tưởng văn hóa. Những người như thế không thể hiện sự nhất quán đối với chính bản thân mình, mà còn ít nhiều bộc lộ sự vô ơn đối với tổ chức, cơ quan, ngành nghề mình từng nhiều năm công tác.

Thời gian qua, đất nước trải qua không ít sự cố bởi dịch bệnh, thiên tai hoành hành gây ra biết bao hệ lụy cho xã hội. Trong những hoàn cảnh khó khăn như vậy, đối với những người yêu nước, thương dân thật lòng thì không bao giờ kêu ca, than phiền hay bày tỏ thái độ dửng dưng, vô cảm trước những tổn thất của người dân.

Đáng tiếc có người thời còn giữ chức vụ lời nói có trọng lượng, nhưng khi về hưu lại mở miệng chê bai, phê phán cấp ủy, chính quyền thiếu sâu sát, quyết liệt, thiếu thương dân nên mới để dịch Covid-19 tái phát. Cũng có người một thời sát cánh cùng đồng chí, đồng đội, đồng bào trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, thì nay một phần để cho tư tưởng công thần lên ngôi, phần khác vì bị lôi kéo, kích động bởi các phần tử cơ hội chính trị nên không bảo trọng vẹn toàn lời thề kết nạp Đảng năm nào, tự biến mình trở thành “cái loa” phát ngôn cho những thông tin sai trái, lệch lạc, làm nhiễu nhương dư luận, gây phân tâm lòng người.

Cách ứng xử như thế cũng là tiền hậu bất nhất và họ đang tự biến mình thành người vô ơn bạc nghĩa trước tấm lòng cao cả của cộng đồng, tổ chức và chế độ từng nuôi dưỡng, bao bọc, rèn luyện và tạo cơ hội cho họ thành danh trước khi rời vị trí công tác xã hội.

Thật ra, xã hội nào, thể chế chính trị nào cũng luôn khuyến khích, đề cao, ghi nhận những con người công tác trong bộ máy công quyền giàu lòng cống hiến, hy sinh và luôn mang trong mình văn hóa tri ân. Bởi vì suy cho cùng, thể chế chính trị là cái nôi, là bệ đỡ cho anh thành đạt thì dù đang công tác hay khi về hưu thì anh rất nên/cần ghi nhớ, biết ơn cái nơi cho mình cả danh phận cá nhân lẫn cuộc sống hạnh phúc gia đình.

Dù khi rời nhiệm sở, cán bộ không còn sở hữu quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, nhưng không có nghĩa là tự mình xa rời hay lãng quên tinh thần phụng công, thủ pháp, trách nhiệm công dân và ý thức nêu gương trước quốc dân đồng bào. Có thể nói rằng, uy lực công quyền một thời đã tạo thế, tạo danh cho cán bộ lãnh đạo, quản lý thì khi về hưu họ ít nhiều vẫn được “thơm lây” từ cái thế, cái danh đó.

Cho nên lời nói, phát ngôn, ý kiến của họ vẫn có trọng lượng nhất định. Do đó, bất cứ một sự thoái thác nào về danh vị, chức tước của mình một cách không chính đáng, không thiện chí rồi sa đà vào lối hành xử tiền hậu bất nhất sẽ vô hình trung làm giảm uy tín, thậm chí làm tiêu tan thanh danh một thời mình dày công gây dựng.

Một trái tim biết đồng cảm với khó khăn, hoạn nạn của người khác là một trái tim nhân hậu. Một con người biết chia sẻ với nỗi buồn, đau thương của người khác là một con người giàu tình cảm nhân văn. Nói rộng ra, khi con người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên thể hiện tình cảm, bổn phận, đạo lý, trách nhiệm đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực với cộng đồng, xã hội, đất nước, chế độ cũng là biểu hiện cao cả của lòng biết ơn.

Lòng biết ơn không tự nhiên sinh ra mà có, mà cần được giáo dục, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và giữ gìn, nâng niu, bảo toàn như một “báu vật” vì lòng biết ơn đã góp phần làm nên giá trị đạo đức, văn hóa của mỗi con người.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, thể hiện lòng biết ơn không chỉ đối với tổ tiên, dòng họ, gia đình, thầy cô, nhà trường, làng xóm, quê hương-nơi mình sinh ra, lớn lên, học tập; mà cần bền bỉ duy trì, thực hiện văn hóa tri ân đối với cộng đồng, đất nước, dân tộc, nhân dân-nơi mình được bao bọc, nuôi dưỡng về thể chất và tâm hồn; đối với tổ chức, cơ quan, đơn vị và thể chế chính trị-nơi mình được công tác, làm việc, cống hiến, trưởng thành, có địa vị xã hội và cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc.

Khi cán bộ, đảng viên chú trọng bảo toàn nét đẹp văn hóa tri ân của bản thân ở mọi lúc, mọi nơi sẽ góp phần lan tỏa giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội, đồng thời đây cũng là một cách phòng ngừa thói tiền hậu bất nhất và sự dửng dưng, vô cảm-một nguy cơ làm bào mòn tâm hồn, cốt cách của người cộng sản. Đây cũng là một cách tự phòng ngừa bản thân tránh rơi vào tình trạng “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị.

 

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 03 THÁNG 03!

         “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.
     Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ. Song, có một số cán bộ lầm tưởng hòa bình là thái bình, thờ ơ với đạo đức cách mạng, còn bởi tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trước đây chi phối mà không nhận rõ phải, trái, không giữ vững lập trường, phạm những sai lầm khuyết điểm.
     Đối với người cán bộ cách mạng, để không ngừng tiến bộ, thì cần phải học tập lý luận, trau dồi đạo đức; nhận rõ điều gì là phải thì cố gắng làm, điều gì là trái thì kiên quyết tránh. Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải gần gũi nhân dân, học tập nhân dân, vì gần gũi nhân dân sẽ cảm thông những khó khăn, gian khổ của nhân dân, thấy rõ những gương anh hùng của nhân dân, giúp ta củng cố lập trường, trau dồi tư tưởng. Cách sửa chữa tốt nhất và quý nhất là thật thà tự phê bình và phê bình. Mỗi người cán bộ bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm tròn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho như thế mới là thiết thực góp phần vào công cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.
     Quân đội nhân dân Việt Nam tập trung giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng; trình độ, năng lực, phương pháp tác phong công tác; nhiệt tình, say mê sáng tạo, gương mẫu tu dưỡng rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, phấn đấu hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ; kiên quyết đấu chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Môi trường (Yn) ST.

NGUYỄN ĐÀI-KẺ ĐƯỢC HỌC HÀNH NUÔI DƯỠNG Ở TRONG NƯỚC NHƯNG LẠI CÓ TƯ TƯỞNG VÀ HÀNH ĐỘNG CHỐNG PHÁ LẠI QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC!

     Nguyễn Văn Đài chính là kẻ chở che cho Trịnh Xuân Thanh trốn, cũng là kẻ loan báo việc Trịnh Xuân Thanh về nước đầu thú mà không báo cho Đài. 
     Cũng chính Nguyễn Văn Đài luôn mồm tiết lộ Đức rồi EU sẽ cắt đứt ngoại giao, cấm vận về kinh tế với Việt Nam. Nhiều cá nhân sẽ bị Đức điều tra, đem ra xét xử.
     Nhưng cuối cùng, Hiệp định thương mại tự do giữa EU và Việt Nam vẫn được ký kết. Quan hệ đối tác chiến lược giữa Đức và Việt Nam không những được duy trì mà ngày càng tốt đẹp hơn với những chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của hai nước.
     Trong ảnh chính là Chủ tịch Cơ quan tình báo Cộng hòa liên bang (CHLB) Đức Bruno Kahl sang thăm Việt Nam cuối tháng 2 vừa qua nhằm thúc đẩy quan hệ ngoại giao 2 nước trong đó có cuộc gặp thân mật với Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Tô Lâm. Chắc ngài ấy học mót ít kinh nghiệm vận động kẻ phạm tội ra đầu thú đây mà./.
Yêu nước ST.

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

CON NGƯỜI VỪA LÀ MỤC TIÊU, VỪA LÀ ĐỘNG LỰC CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

 

Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.”

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã từng khẳng định nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân; không hy sinh những mục tiêu về an sinh xã hội, không hy sinh những mục tiêu về môi trường, biến đổi khí hậu để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người; cam kết thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo Tuyên ngôn nhân quyền và các Công ước quốc tế đó.

Việc thực hiện các nghĩa vụ này cũng nhằm thực hiện tốt hơn nữa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, bảo vệ nhân dân, đặc biệt là trong bối cảnh dịch COVID-19 hiện nay, những chính sách này thể hiện rõ hơn bao giờ hết.

Việt Nam đã thực hiện việc ứng phó với COVID-19 và thúc đẩy quyền con người, thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch trên cơ sở bảo đảm và tôn trọng quyền con người.

Cũng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,” Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách hướng tới người dân, bảo vệ quyền con người, luôn quan tâm, đặt sinh mạng, sức khỏe và cuộc sống của người dân lên hàng đầu.

Một điểm nổi bật nữa là Việt Nam đã bảo đảm quyền con người trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Là một trong những quốc gia phải gánh chịu thiệt hại nặng nề bởi các thảm họa thiên nhiên, nhưng trong những năm qua, công tác chỉ đạo điều hành, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai luôn được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm.

Với quyết tâm không để người dân bị đói, bị rét; bằng mọi biện pháp phải bảo đảm cho người dân có nơi ăn chốn ở, các lực lượng vũ trang sẵn sàng xả thân để tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân… hỗ trợ, giúp đỡ để người dân có việc làm thích hợp, sớm ổn định cuộc sống sau thiên tai.

Việc quan tâm chăm lo cho con người, vì con người đã được thể hiện sinh động trong suốt quá trình phát triển đi lên của cách mạng Việt Nam và luôn là mục tiêu hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta hướng tới.

HAIVAN

Kiên quyết giữ vững và bảo vệ ngọn cờ soi đường chỉ lối của Đảng

 

Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”.

Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù.

Tác phẩm đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng đặt ra yêu cầu cần thiết phải học tập, quán triệt sâu sắc tác phẩm của đồng chí Tổng Bí thư./.

HAIVAN

Không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối chính trị của Đảng


Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”.

HAIVAN

Sức sống của Cương lĩnh thể hiện ở những thành quả đổi mới đất nước


Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đó là quá trình hiện thực hóa thành công những mục tiêu, 8 đặc trưng và 8 phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các đặc trưng khác cũng được nhận thức và thực hiện rõ hơn thể hiện bản chất tốt đẹp và tính hiện thực của chế độ XHCN ở Việt Nam.

Bảo vệ con đường XHCN là cuộc đấu tranh quyết liệt về hệ tư tưởng, đồng thời là bảo vệ một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế-xã hội, bảo vệ quy luật phát triển tất yếu khách quan của lịch sử. Dù phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH.
Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra và các đại hội tiếp theo bổ sung, phát triển. Đại hội XIII của Đảng (1-2021) đã khẳng định những thành tựu cơ bản. Đó là thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và vai trò quyết định của Cương lĩnh, đường lối.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng bình quân duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển. Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt.

HAIVAN

Bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) hoạch định đường lối đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vượt qua thách thức, khủng hoảng và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu, Liên Xô, Đại hội VII của Đảng (6-1991) tỏ rõ bản lĩnh chính trị, kiên định con đường XHCN với việc đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Cương lĩnh và đường lối được các đại hội Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, đã đưa công cuộc đổi mới của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học, bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận và nhận thức về hệ tư tưởng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng”.

Nâng cao trình độ lý luận của toàn Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bồi đắp lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mà cũng chính là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đó là sự bảo vệ chủ động, tự giác bởi trí tuệ, có khả năng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

HAIVAN

THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG DỰA VÀO DÂN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Trong những năm qua, mặc dù nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng và cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện chủ trương dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tuy nhiên việc thực hiện trong thực tế vẫn còn có nhiều vấn đề khó khăn, hạn chế. Hội nghị Trung ương 4 nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng… Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả”. Chính vì vậy, để thực hiện tốt và hiệu quả hơn chủ trương dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn đảng, cần thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:

Một là, thực hiện dân chủ rộng rãi, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân có thể tham gia hiệu quả trong việc xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cũng là cơ sở quan trọng để Đảng có thể dựa vào dân thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Điều đó khẳng định bản chất của chế độ ta, chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân cần chú trọng thực hiện một cách nền nếp, thực chất, tránh hình thức. Dân chủ phải được thực hành rộng rãi, từ dân chủ trong Đảng đến dân chủ trong toàn xã hội, dân chủ ở các cấp, các địa phương đến các lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Do vậy, cần tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của quần chúng nhân dân trong quá trình xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước; trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

Các cấp bộ đảng, chính quyền cần tuyên truyền, vận động mỗi người dân nhận thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị: "Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên". Mỗi người dân cũng cần nhận thức rõ rằng thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng giúp Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cũng là để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, dân tộc và đất nước. Khi đã nhận thức rõ và đầy đủ, mỗi người dân sẽ tự giác hoặc các tổ chức đảng, chính quyền các cấp có thể vận động nhân dân tham gia đóng góp, xây dựng đảng, xây dựng và bảo vệ các thiết chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách thuận lợi và hiệu quả hơn. Cùng với đó, cần chủ động rà soát, bổ sung, cụ thể hóa những nội dung phát huy dân chủ được quy định trong hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Đảng và trong hệ thống chính trị. Các biểu hiện coi thường nhân dân, hạn chế quyền làm chủ của nhân dân dưới mọi hình thức đều sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm giảm uy tín, niềm tin của nhân dân về Đảng; do vậy cần kiên quyết đấu tranh, không để tình trạng này xuất hiện và lan rộng.

Hai là, xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định dân là gốc, luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế, đồng thời luôn kiên trì thực hiện đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trước hết Đảng, Nhà nước cần đổi mới cơ chế và quy trình trong việc xây dựng, triển khai thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là trong công tác cán bộ và thực hiện những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước theo hướng phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân. Nhân dân có thể tham gia đóng góp ý kiến ở những khâu quan trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Từng bước hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện các quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các văn bản pháp luật liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ ở cơ sở… Cần phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc đánh giá, giám sát đội ngũ cán bộ về thực hiện chức trách, nhiệm vụ, các vấn đề liên quan đến phẩm chất, đạo đức, lối sống…

Để nhân dân thuận lợi tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì việc tạo điều kiện cần thiết để nhân dân có thể tiếp cận với các thông tin chính thống từ phía các cơ quan của Đảng, Nhà nước là điều hết sức cần thiết. Đảng, Nhà nước cần quy định đầy đủ, thực hiện nghiêm túc chế độ cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho quần chúng nhân dân bằng những hình thức phù hợp. Cần tăng cường công khai, minh bạch trong thông tin trong công tác cán bộ, các vấn đề nhạy cảm, dễ nảy sinh sai phạm.

Ba là, tiếp tục chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Muốn phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì trước hết Đảng, Nhà nước phải tiếp tục triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách đảm bảo quyền lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện sẽ góp phần nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từ đó vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ ngày càng được khẳng định và hiệu quả, chất lượng đóng góp của nhân dân cũng được nâng cao hơn.

Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội phải thực sự gần dân, sát dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia đóng góp, xây dựng phát triển đất nước. Các cấp bộ đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có thể chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc phát huy vai trò của nhân dân, phát huy dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là việc nhân dân tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng, hệ thống chính trị thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình; trong việc giám sát cán bộ, đảng viên nhất là những cán bộ đảng viên có chức có quyền. Cần tập trung giám sát, phản biện trong quá trình xây dựng chủ trương, nghị quyết, đường lối lớn của Đảng; ban hành các chính sách, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của các địa phương, đơn vị, đảm bảo bám sát thực tiễn, hợp ý Đảng - lòng Dân, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó đặc biệt chú trọng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ năng lực, phẩm chất, thực sự hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn: Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Thực tiễn đã chứng minh, chủ trương đường lối cho dù có rất đúng đắn và sáng suốt đến đâu nhưng nếu cán bộ kém về năng lực, yếu về phẩm chất, thiếu trách nhiệm, triển khai thực hiện không tốt thì chủ trương đó khó đi vào cuộc sống: “Khi có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Do vậy, năng lực, phẩm chất của mỗi cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tin, danh dự của Đảng, đến mối quan hệ Đảng – Dân và niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, thực sự trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm và biết phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng cần phải kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong tổ chức, đơn vị mình, cùng nhân dân xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh./.

HAIVAN

NHÂN DÂN THAM GIA XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 

Dựa vào dân để xây dựng chỉnh đốn Đảng là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập và được nhấn mạnh và cụ thể hóa hơn nữa trong bối cảnh hiện nay. Từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; đến Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đặc biệt là Kết luận Hội nghị lần thứ 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đều khẳng định đầy đủ, rõ ràng chủ trương này. Trong các nhiệm vụ, giải pháp được trình bày trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng (tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng) cũng khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận. Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”. Trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Kết luận Hội nghị lần thứ 4 khóa XIII có nêu: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.

Như vậy, có thể thấy, kế thừa quan điểm xuyên suốt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, qua nội dung của Văn kiện Đại hội XIII và Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, chủ trương dựa và dân để xây dựng Đảng đã được thể hiện ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn. Theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, chủ trương dựa này được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản, đó là: Nhân dân trực tiếp và gián tiếp tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Thứ nhất, Đảng dựa vào nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo đó, nhân dân trực tiếp phản ánh, góp ý với cấp ủy đảng về công tác cán bộ, các chủ trương, đường lối lớn của Đảng. Nhân dân có quyền góp ý kiến, kiến nghị đối với tổ chức Đảng và chính quyền, phát hiện những yếu kém, khuyết điểm của tổ chức và cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là phát hiện những tiêu cực như tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm” hoặc nhân dân tham gia xây dựng chỉnh đốn đảng thông qua hoạt động đối thoại, tiếp công dân, tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và giải quyết những kiến nghị, phản ánh của nhân dân nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên . Ngoài ra, thông qua các tổ tự quản của nhân dân ở cơ sở, hoạt động của ban thanh tra nhân dân, các tổ giám sát cộng đồng cũng là hình thức quan trọng để nhân dân có thể tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hiện nay. Để thực hiện nội dung này, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp để ngày càng phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng một cách trực tiếp, hiệu quả. Cùng với Hiến pháp năm 2013, nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung để phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện nghiêm túc phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” như: Quy chế dân chủ ở cơ sở; quy định về việc đảng viên tham gia sinh hoạt ở khu dân cư,… Những quy định này đã góp phần làm tăng thêm cơ hội để nhân dân góp ý để xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; giám sát đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức về nhiều mặt; tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, ngoài việc tham gia trực tiếp, nhân dân cũng gián tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn đảng thông qua hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các đại biểu do dân bầu; thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội. Nhân dân là người lựa chọn, bầu ra các đại biểu tham gia Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan dân cử. Thông qua hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đã đến nghị trường Quốc hội; những vấn đề nhân dân quan tâm, bức xúc, những nội dung cần tháo gỡ về mặt cơ chế, chính sách, pháp luật… đã được bàn bạc, thảo luận công khai, xử lý phù hợp. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói riêng và các cơ quan dân cử nói chung. Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân có thể tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo đúng chức năng, quyền hạn của cơ quan, đơn vị mình; tham gia giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức có quyền, những người làm ở những lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm… Qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiều mặt trong công tác xây dựng Đảng: công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, việc chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng.

HAIVAN

CHỮ "QUAN LIÊU" VIẾT NHƯ THẾ NÀO?

 Năm 1952, trong một lần đến thăm lớp “chỉnh huấn” chính trị trung cao cấp, anh em quây quần xung quanh Bác, nghe Bác kể chuyện, dặn dò.

Cuối buổi, Bác cầm một cái que nói:
- Các chú học đã giỏi, bây giờ Bác đố chữ này xem các chú có biết không nhé!
Anh em hưởng ứng “vâng ạ!”, “vâng ạ!”. Người nào biết tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc thì “nhẩm” lại kiến thức của mình, người không biết tiếng nước ngoài thì băn khoăn có chữ gì khó mà lại không đọc được nhỉ?
Bác vẽ một gạch ngang trên mặt đất rồi hỏi:
- Chữ gì nào?
Tưởng chữ “phạn”…chữ “cổ đại” nào chứ chữ này ai mà không biết. Cả lớp hò lên: Thưa Bác, chữ “nhất” ạ.
Bác khen:
- Giỏi đấy.
Rồi Bác lại gạch một gạch nữa dưới chữ nhất. Chưa kịp hỏi, anh em đã ồn lên:
- Chữ “nhị” ạ.
- Bác động viên:
- Giỏi lắm…
Người lại gạch thêm một gạch nữa dưới hai gạch cũ.
- Chữ “tam”ạ…
Bác cười:
- Khá lắm
Rồi Người vạch thêm một vạch nữa dưới chữ “tam”.
- Chữ gì nào?
“Các vị” đớ người ra, nhìn vào vạch đầu tiên thì vừa phải, vạch thứ hai dài hơn đã có hơi lệch một chút, vạch thứ ba dài hơn tí nữa cũng không được “song song” cho lắm, vạch thứ tư dài nhất, có vẻ đã “cong” lắm rồi…Tiếng Pháp thì không phải. Tiếng Hán chữ “tứ” viết khác cơ!
Bác giục:
- Thế nào? Các nhà “mác - xít”?
Bác lại cầm que vạch một vạch, rồi hai vạch dọc từ trên xuống dưới, ban đầu thì thẳng đứng, xuống đến vạch ngang thứ hai đã “queo”, vạch thứ ba thì “quẹo”, vạch bốn như một con giun, loằng ngoằng như cái đuôi chuột nhắt…
Bác đứng dậy:
- Chịu hết à? Có thế mà không đoán ra…Các chú biết cả đấy…
Để que xuống đất, Bác nói:
- Chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đúng đắn…Đến tỉnh đã hơi cong, đến huyện đã tả hữu, đến xã đã sai lệch. Vì sao? Vì cán bộ không làm đúng, không nắm chắc chủ trương, đường lối, không gần gũi dân, không chịu làm “đầy tớ nhân dân” mà chỉ muốn làm “quan cách mạng”. Cho nên chữ ấy là chữ “quan liêu”. Các chú không học nhưng biết và vẫn làm. Còn cái các chú học, thì các chú lại ít làm…
Học viên cả lớp đứng im, không dám nhìn vào Bác. /.
ST


TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục con người, sự nghiệp trồng người; trong giáo dục đạo đức, Người rất coi trọng phương thức “nêu gương”. Tác dụng nêu gương giữ vai trò rất quan trọng trong việc hình thành đạo đức xã hội, Bác Hồ đã từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người luôn luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong mọi việc, đảng viên đi trước, làng nước theo sau.
    Từ đó, Bác Hồ chỉ rõ: Nêu gương là phương pháp dùng sự việc tốt, con người điển hình tiên tiến, để tác động mạnh mẽ đến người khác, khiến họ khâm phục, tán thành và noi theo. Bản chất của phương pháp nêu gương xét ở góc độ tâm lý chính là sự “bắt chước”, là hiện tượng tự nhiên của con người, họ bắt chước nhau một cách có ý thức, dựa trên những hiểu biết, sự phát triển trí tuệ, kinh nghiệm đạo đức và vốn sống của từng người. Vì thế, lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới. Và để nêu gương thì trước hết bản thân phải làm gương trong mọi công việc, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Phải quyết liệt chống căn bệnh: Nói nhiều làm ít, nói mà không làm, nói một đằng làm một nẻo. Trong sự nêu gương không chỉ có nói đi đôi với làm, mà chú ý cả hai mặt “nêu gương nói”và “nêu gương làm”. “Nêu gương nói” là nói ít, nói trúng, nói những vấn đề thiết thực, nói đúng lòng mình, thật tâm, không dối trá. “Nêu gương nói”còn là nêu gương về sự nghiên cứu thấu đáo, nắm vững tình hình. Còn “nêu gương làm”được hiểu một cách đơn giản nhất là dám nghĩ, dám làm, trách nhiệm cao, hiệu quả công việc lớn.
    Trong tiến trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta đã đưa “nêu gương” trở thành một phương thức lãnh đạo của Đảng và thành phần cốt yếu của văn hóa Đảng. Trong công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay, một trong số nhiều giải pháp quan trọng, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp như: Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII; Quy định số 101 ngày 07/6/2012 về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định số 55 ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”, Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25/10/2018 của Ban chấp hành Trung ương Đảng quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”.
    Thấm nhuần tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng ta về trách nhiệm nêu gương, thiết nghĩ mỗicán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay, nhất là cán bộ chủ trì cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:
    Một là, cán bộ chủ trì các cấp phải có tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng. Có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, hiệu quả, thực sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể. Nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh, không đổ lỗi, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
    Hai là, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị phải nâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần trách nhiệm; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, tự giác, gương mẫu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII. Việc nêu gương phải theo phương châm “Trên làm gương tích cực, dưới mẫu mực làm theo”, cấp ủy viên nêu gương cho đảng viên, đảng viên nêu gương cho quần chúng; cán bộ cấp trên nêu gương cho cán bộ cấp dưới.
    Ba là, việc nêu gương của cán bộ chủ trì phải thể hiện toàn diện trên các mặt về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình và phê bình; quan hệ với quần chúng; trách nhiệm trong công tác; ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ... Trong đó, nêu gương về trách nhiệm trong công tác: Cần nêu cao ý thức trách nhiệm, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm. Hiểu và thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; làm việc có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình; không lạm dụng chức vụ, quyền hạn khi giải quyết công việc.
    Thực hiện nêu gương là thể hiện tính tiên phong, gương mẫu, là cam kết chính trị của cán bộ, đảng viên đối với chính mình và đối với toàn Đảng, toàn dân. Như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Nếu...từng đồng chí thật sự soi vào bản thân mình, đề cao trách nhiệm nêu gương và gương mẫu đi đầu thực hiện thì sẽ có sức lan tỏa rất lớn, sẽ tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị”, tích cực góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu./.

LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG CỦA NGUYỄN GIA KIỂNG

     Lợi dụng một số vấn đề về tình hình người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay, Nguyễn Gia Kiểng đã đăng trên trang “Thongluan-rdp” bài viết.“Trên thềm năm mới 2023”, để đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc sự thật, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
    Nguyễn Gia Kiểng đã đưa ra nhận định hết sức phản động là: “Cộng đồng người Việt hải ngoại đang mất căn cước Việt Nam một cách quá nhanh chóng. Đó chính là lý do khiến các tổ chức hải ngoại suy yếu dần vì không được hưởng ứng… Đảng Cộng sản đã có nhiều tội lớn và họ đang phạm một tội lớn khác là làm mất đi của Việt Nam một tài nguyên lớn…”. Vấn đề này Nguyễn Gia Kiểng nên hiểu rằng: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong tiến trình đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; tạo cơ sở để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giúp đồng bào có địa vị pháp lý vững chắc, ổn định cuộc sống, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước.
    Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 5,3 triệu người sinh sống, làm việc trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% là ở các nước phát triển như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Nhật Bản, Nga... Cho dù kiều bào ta ở bất cứ đâu thì Đảng và Nhà nước ta luôn xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhận thức đúng vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, năm 2008, Quốc hội đã ban hành Luật Quốc tịch Việt Nam, tại Khoản 3, Điều 3 của Luật quy định: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Như vậy, mối quan hệ hữu cơ giữa cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài với khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng, Nhà nước khẳng định ngày càng rõ hơn trong quá trình đổi mới đất nước.
    Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện đang sinh sống ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, Đảng và Nhà nước luôn ghi nhận, đánh giá cao vai trò và những đóng góp to lớn của kiều bào đối với quá trình phát triển đất nước trên nhiều lĩnh vực, nhất là vai trò cầu nối hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước, thúc đẩy các hoạt động ngoại giao nhân dân phát triển thuận lợi. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã giúp đại bộ phận kiều bào có được địa vị pháp lý và cuộc sống ổn định, hội nhập sâu hơn vào xã hội hiện tại, tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào giải quyết những khó khăn, vướng mắc, thiết lập các cơ hội làm ăn, nhanh chóng ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế.
    Việc xây dựng cơ chế, chính sách để phát huy cao độ nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 29-11-1993, của Bộ Chính trị, “Về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài” xác định: kiều bào được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng, đó là trách nhiệm chính trị của Nhà nước trong việc bảo hộ đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài.
    Qua hơn 36 năm đổi mới đất nước, hệ thống chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã dần được bổ sung và hoàn chỉnh, đáp ứng kịp thời với yêu cầu của thực tiễn. Việc tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào được đi lại thăm người thân, được sở hữu nhà ở tại Việt Nam khi có đầy đủ các tiêu chí theo quy định của pháp luật, cùng việc ban hành các cơ chế mới, hình thành “sân chơi” bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp của kiều bào đã trở thành điểm nhấn về chính sách của Nhà nước. Những cam kết và chính sách đúng đắn nêu trên đã góp phần củng cố lòng tin, giúp kiều bào an tâm đầu tư, làm ăn lâu dài tại Việt Nam.
    Tóm lại, những vấn đề nêu ra trong bài viết của Nguyễn Gia Kiểng đã bộc lộ dã tâm thâm độc, xuyên tạc sự thật hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của hắn.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc hết sức nguy hiểm

     Hiện nay một số thế lực xuyên tạc rằng: “ngay từ đầu, vì quyền lợi của mình, Đảng Cộng sản đã tìm cách chiếm quyền lãnh đạo và áp đặt con đường xã hội chủ nghĩa đối với đất nước”; “Đảng thao túng, bao che cho cán bộ, đảng viên, các “nhóm lợi ích”, tham nhũng lộng hành, đục khoét nguồn lực đất nước, làm cho nước ta nghèo nàn, đời sống nhân dân cơ cực”, “Đảng chỉ mưu cầu lợi ích của riêng mình” v.v và v.v…
    Cần khẳng định đây là sự bịa đặt trắng trợn, với ý đồ chính trị thâm hiểm, nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Lịch sử đã chứng minh rằng, việc dân tộc ta lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa hoàn toàn không phải là sự “áp đặt” của bất cứ đảng phái nào, mà đó là yêu cầu của thời đại; là tổng hợp của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, cả kinh tế và chính trị, cả trong nước và quốc tế và là khát vọng của nhân dân Việt Nam hơn 90 năm về trước.
    Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã nhận trọng trách của lịch sử: nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng và đặt nền móng cho con đường phát triển tất yếu của đất nước. Để làm tròn sứ mệnh, Đảng phải đương đầu với sự đàn áp khốc liệt của thực dân, đế quốc; nhiều đảng viên đã anh dũng hy sinh vì tương lai của dân tộc. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Ðảng trở thành đảng cầm quyền. Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam hoàn thành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mùa Xuân 1975, quân và dân ta đánh thắng giặc Mỹ, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1986, Ðảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới, tạo bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hơn 30 năm thực hiện đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực mới cho đất nước.
    Là Đảng Cộng sản do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo, Đảng ta luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong, gương mẫu. Mục tiêu chiến đấu của Đảng là vì đất nước độc lập, dân tộc tự do, nhân dân hạnh phúc. Lợi ích của Đảng là lợi ích của dân, của nước, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “…trước sau như một, ngoài lợi ích của nhân dân Đảng không có lợi ích nào khác”. Bởi vậy, ngay sau khi đất nước thống nhất, Đảng tập trung lãnh đạo nhân dân cả nước xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, khắc phục hậu quả 30 năm chiến tranh, phá thế bao vây, cấm vận của kẻ thù, từng bước xây dựng cơ sở vật chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phát triển văn hóa - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân.
    Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta ý thức rất rõ nguy cơ tha hóa quyền lực, nhất là tình trạng cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân - căn bệnh mà Bác Hồ từng cảnh báo đó là thứ “giặc nội xâm”. Bởi vậy, ngay sau khi giành chính quyền cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xử lý nghiêm minh mọi trường hợp vi phạm. Thử hỏi, với kết quả đó, có phải Đảng “chỉ mưu cầu lợi ích cho chính mình” như ai đó đã hồ đồ phán xét! Với quan điểm lấy người dân làm trung tâm của quá trình phát triển, Đảng đã hoạch định đường lối, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, hướng mọi hoạt động nhằm nâng cao vị thế của đất nước và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Bởi vậy, Đảng luôn được quảng đại quần chúng nhân dân tin yêu, coi đó là đảng của mình. Đồng thời, đó cũng là minh chứng bác bỏ mọi luận điệu bịa đặt, xuyên tạc nhằm hạ thấp vai trò của Đảng trong đời sống xã hội./.