Thứ Ba, 7 tháng 3, 2023

CÁN BỘ LÃNH ĐẠO PHẬI THẬT SỰ CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ!

 

“Cán bộ lãnh đạo phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

Ngày 02 tháng 3 năm 1962, Bác Hồ và đồng chí Dương Quốc Chính thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ về thăm đồng bào, bộ đội và cán bộ tỉnh Vĩnh Phúc. Tại buổi gặp mặt Bác khen ngợi xã viên các hợp tác xã, đồng bào miền núi, công nhân, bộ đội, cán bộ, các cụ phụ lão, các cháu học sinh đã ra sức sản xuất và chống hạn. Nói chuyện với cán bộ lãnh đạo tỉnh Bác căn dặn, muốn làm tốt mọi công việc thì từ tỉnh ủy đến chi bộ phải lãnh đạo tốt: Thực hiện đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, biến quyết tâm và sức mạnh của Đảng thành quyết tâm và sức mạnh của nhân dân; phải đi đúng đường lối của Đảng về công tác quần chúng; đi sâu vào cơ sở, đi sát hợp tác xã, tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho mọi người thấm nhuần ý thức trách nhiệm, tinh thần làm chủ tập thể, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, xây dựng nước nhà; cán bộ lãnh đạo phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư:

Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm.

Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiền của tài sản công của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.

Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân", "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không tham lam". "Không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình”.

Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm phê bình để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc, để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.

Chí công vô tư, khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ".

Tư tưởng của Người về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là sự kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, đạo lý làm người của cha ông, là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng đạo đức của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng ở nước ta. Người coi đó không phải chỉ là phẩm chất của cá nhân mà còn của cả tập thể, của cả dân tộc. Người yêu cầu mọi cán bộ đều phải rèn luyện, tu dưỡng theo các phẩm chất trên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay việc tìm hiểu, học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung và xây dựng đạo đức cách mạng cho người cán bộ, đảng nhà nước nói riêng đức tính "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết, trong bối cảnh một bộ phận của xã hội, có cả cán bộ, đảng viên còn biểu hiện suy thoái đạo đức cách mạng, tham những, thoái hóa biến chất....St.

 

ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG!

 

“Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ. Song, có một số cán bộ lầm tưởng hòa bình là thái bình, thờ ơ với đạo đức cách mạng, còn bởi tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trước đây chi phối mà không nhận rõ phải, trái, không giữ vững lập trường, phạm những sai lầm khuyết điểm.

Đối với người cán bộ cách mạng, để không ngừng tiến bộ, thì cần phải học tập lý luận, trau dồi đạo đức; nhận rõ điều gì là phải thì cố gắng làm, điều gì là trái thì kiên quyết tránh. Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải gần gũi nhân dân, học tập nhân dân, vì gần gũi nhân dân sẽ cảm thông những khó khăn, gian khổ của nhân dân, thấy rõ những gương anh hùng của nhân dân, giúp ta củng cố lập trường, trau dồi tư tưởng. Cách sửa chữa tốt nhất và quý nhất là thật thà tự phê bình và phê bình. Mỗi người cán bộ bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm tròn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho như thế mới là thiết thực góp phần vào công cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.

Quân đội nhân dân Việt Nam tập trung giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng; trình độ, năng lực, phương pháp tác phong công tác; nhiệt tình, say mê sáng tạo, gương mẫu tu dưỡng rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, phấn đấu hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ; kiên quyết đấu chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. St

 

Triệu tập người kêu gọi chia sẻ thông tin sai sự thật liên quan tới quân nhân trên mạng xã hội

 

Triệu tập người kêu gọi chia sẻ thông tin sai sự thật liên quan tới quân nhân trên mạng xã hội

 Đọc bài viết trên mạng xã hội có nội dung “Chiến sĩ nghĩa vụ tử vong sau 10 ngày nhập ngũ...” và không biết nội dung đúng hay sai nhưng anh T. vẫn kêu gọi đăng TikTok để lan truyền nhanh, thông tin rộng rãi hơn

Ngày 7-3, Công an huyện An Dương và Phòng An ninh chính trị nội bộ, Công an TP Hải Phòng đã triệu tập anh V.T.T. (31 tuổi, trú tại thôn Hà Đỗ, xã Hồng Phong, huyện An Dương) để làm rõ về việc bình luận, chia sẻ thông tin sai sự thật trên mạng xã hội.

Trước đó, ngày 19-2, anh T. đọc được bài viết của facebook cá nhân Đỗ Cao Cường có nội dung "Chiến sĩ nghĩa vụ tử vong sau 10 ngày nhập ngũ, đóng quân tại Yên Bái. Gia đình không tin, phản ánh". Mặc dù anh V.T.T. không biết nội dung Đỗ Cao Cường chia sẻ là đúng hay sai nhưng vẫn kêu gọi "Đỗ Cao Cường bảo đăng TikTok đi bác mới lan truyền nhanh" để lan truyền thông tin rộng rãi hơn, gây phức tạp trên mạng xã hội.

Sau khi được cơ quan công an tuyên truyền, giải thích và cung cấp thông tin về nội dung facebook Đỗ Cao Cường chia sẻ nói trên là sai sự thật, đồng thời chỉ rõ việc anh V.T.T. kêu gọi Đỗ Cao Cường chia sẻ thông tin phức tạp trên mạng xã hội khi chưa được kiểm chứng là hoàn toàn sai, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân, vi phạm Khoản a, Điểm 1, Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

Tại cơ quan công an, anh V.T.T. khai nhận không quen biết mà chỉ theo dõi Facebook cá nhân của Đỗ Cao Cường nên thường đọc được các bài viết của Đỗ Cao Cường. Sự việc xảy ra do anh thiếu hiểu biết nên nóng vội bình luận, chia sẻ thông tin khi được kiểm chứng. Anh T. cam kết không tái phạm; cũng như quản trị nhóm Facebook, kiểm duyệt không để đăng tải những bài viết có nội dung giả mạo, sai sự thật.

 

PHÒNG CHỐNG CĂN BỆNH “XA XỈ”

     “Xa xỉ thì nhiều bệnh, cần kiệm thì sống lâu”.

Trong bút danh C.B được Báo Nhân dân, số 367 đăng ngày 4 tháng 3 năm 1955, nói về vấn đề sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối liên hệ giữa đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên với sức khỏe của nhân dân. Người coi trong đó đạo đức, lối sống là nhân tố rất quan trọng, có ảnh hưởng đến sức khỏe con người và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, nhất là khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta mới giành thắng lợi, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hết sức khó khăn, nền kinh tế lạc hậu, đội ngũ cán bộ chủ yếu chưa được đào tạo căn bản. Vì vậy, để đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện thống nhất nước nhà, bảo đảm cho nhân dân có sức khỏe tốt, có cuộc sống tốt đẹp, cần chú trọng trong công tác đào tạo và xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, quan tâm đến sức khỏe của nhân dân; cán bộ, đảng viên cần ra sức rèn luyện, phấn đấu, tránh những thói hư, tật xấu; nhân dân hăng say rèn luyện sức khỏe nâng cao tuổi thọ… Qua đó, cùng góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Để phòng chống căn bệnh “xa xỉ” thì phải chống lối sống vô độ, xa hoa lãng phí, ăn chơi trác táng, cục bộ, ích kỷ, vụ lợi, ham quyền lực, ham của cải làm giàu bất chính, sống hưởng thụ, không chăm chỉ làm việc. Đối với đồng chí, đồng đội, không được kèn cựa, địa vị, gây mất đoàn kết; đối với nhân dân thì không được quan liêu, sách nhiễu, xa rời hoặc dân chủ giả tạo; không mải lo lợi ích cá nhân, gia đình mà quên hết lợi ích của Đảng, của dân; cơ hội, thực dụng, vụ lợi, tham nhũng, nói không đi với làm, làm trái với chủ trương, chỉ thị nghị quyết của Đảng, phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút ý chí chiến đấu, mơ hồ hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội… Đồng thời, phải “cần kiệm”, tức là phải cần cù, siêng năng với tinh thần tự lực; không xa hoa, lãng phí; xây dựng một lối sống chuẩn mực và đạo đức cách mạng trong sáng. Có như vậy mới tránh được những thói hư tật xấu, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng, để phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

Trong Quân đội, quán triệt, triển khai thực hiện Kế hoạch số 696-KH/QU ngày 29/7/2017 của Thường vụ QUTW về thực hiện Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa X về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị xác định chỉ tiêu thực hành tiết kiệm cụ thể, tổ chức thực hiện đúng trọng tâm, trọng điểm, thường xuyên với quyết tâm cao, gắn với chương trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ toàn quân trong củng cố kỷ luật tài chính, quản lý, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả ngân sách, tài sản của Nhà nước, quân đội. Đề cao tính gương mẫu của cấp trên, cán bộ chủ trì các cấp và cán bộ, đảng viên trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, xử lý nghiêm các biểu hiện vi phạm. St

 

Khắc ghi lời dạy của Người 08/3!

     “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Lời Bác dạy ngày 08/3/1952, trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ, đăng trên báo Nhân Dân, số 49, ngày 13/3/1952.

Bác đã nêu bật vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc kháng chiến của toàn dân tộc, các bà, các mẹ, các chị đã xung phong đi dân công, giúp thương binh, hòa lòng yêu nước, yêu con, yêu chiến sĩ thành mối yêu thương không bờ bến. Người yêu cầu các cấp lãnh đạo đi sát hơn, thiết thực hơn với phong trào phụ nữ để phong trào ấy chắc hơn, rộng hơn, mạnh hơn. Đồng thời, Người giao nhiệm vụ cho phụ nữ trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ: phải thắt chặt đoàn kết thi đua tăng gia sản xuất, tiết kiệm, tích cực tham gia chính quyền, giúp đỡ bộ đội bảo vệ nhi đồng…

Khắc ghi lời dạy của Người, hiện nay, đội ngũ cán bộ nữ luôn được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước. Phong trào phụ nữ đã có bước phát triển, các tầng lớp phụ nữ tỏ rõ có năng lực, phẩm chất, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất và công tác, đạt những thành tích xuất sắc. Đội ngũ cán bộ nữ đã có bước trưởng thành rõ rệt. Trong các cấp uỷ đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia.

Phụ nữ Quân đội luôn nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình: Họ là những người chiến sĩ, “Bộ đội Cụ Hồ”, là người mẹ tảo tần, người vợ đảm đang, người vun vén dựng xây tổ ấm gia đình. Nhiều người trong số họ là những nhà khoa học, những vị lãnh đạo tài năng; đó là những người lính vững tay súng bảo vệ Tổ quốc, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. St

 

Về lực lượng và sức mạnh quốc phòng, an ninh theo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”(4). Sức mạnh tổng hợp tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, là sức mạnh, lực lượng của toàn thể dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Đó còn là sức mạnh bên trong, kết hợp với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, điểm mới trong văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”(5); trong đó, tiếp tục nhấn mạnh và chỉ rõ việc xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân “vững mạnh về chính trị”.

Quan điểm trên thể hiện ý chí, quyết tâm và nỗ lực của Đảng ta trong suốt nhiều nhiệm kỳ Đại hội trước đó, nhằm xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, ở văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ các mốc thời gian cụ thể là: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là định hướng đặc biệt quan trọng trong thời gian tới để phát triển tiềm lực và sức mạnh của quân đội và công an, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện phải lấy xây dựng lực lượng vững mạnh về chính trị làm cơ sở; bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, gắn bó máu thịt với nhân dân; không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác; tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang” của các thế lực thù địch.

Một điểm mới và điểm nhấn quan trọng nữa là, trong văn kiện lần này, Đảng ta đã xác định rõ: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác”(6). Trải qua quá trình nghiên cứu và tổng kết không ngừng từ thực tiễn, các chiến lược để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi phương diện đã được xây dựng một cách tổng thể và đồng bộ. Đây là các chiến lược rất quan trọng và là một thể thống nhất, liên quan mật thiết với nhau, tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thể hiện quan điểm quốc phòng, an ninh toàn diện. Vì vậy, việc triển khai đồng bộ các chiến lược đó sẽ tạo ra thế và lực, lực lượng và sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 


Đại hội XIII của Đảng tiếp tục có những bước phát triển mới trong tư duy về phương thức và giải pháp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta “Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”(2). Đây là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy”, phát triển tư tưởng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” để xác định rõ phương thức, giải pháp “chủ động phòng ngừa” là chính. Điều đó thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, nhằm chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi, giải tỏa các “điểm nóng”, các nguy cơ dẫn đến xung đột vũ trang; nhất là việc chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đang ngày càng gia tăng và đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia và toàn cầu hiện nay. Thực tế hiện nay, đại dịch COVID-19 đã và đang diễn ra phản ánh rõ tính chất phức tạp và đặc biệt nguy hiểm của an ninh phi truyền thống, mà mọi quốc gia, dân tộc đều phải chung tay giải quyết.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”(3). Quan điểm trên thể hiện sự nhất quán với các quan điểm trước đó của Đảng, nhưng có sự nhấn mạnh rõ hơn là phải: phát huy mạnh mẽ và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; coi đó là một trong những phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Ở đây, nét mới trong phương thức, giải pháp bảo vệ Tổ quốc chính là: Đảng ta đã đặt các thành tố kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong một chỉnh thể gắn kết, thống nhất. Đây cũng là bước phát triển, bổ sung mới về phương thức bảo vệ Tổ quốc, làm tăng khả năng phát huy nội lực, tiềm năng, bản sắc và truyền thống của dân tộc Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước hiện nay; phát huy và làm sâu sắc thêm tính chất toàn dân, toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xét trong tính tổng thể, các phương thức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc được sử dụng một cách tổng hợp, linh hoạt, mềm dẻo, đặt trong mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau để huy động sức mạnh tổng hợp và vai trò của mọi lĩnh vực, mọi lực lượng để bảo vệ Tổ quốc.

Một nét mới khác về phương thức và giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đó là việc Đảng ta xác định rõ: Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo; vừa có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh. Đó là bước phát triển mới về mặt tư duy trong định hướng phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, phản ánh đúng yêu cầu thực tiễn. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo sức mạnh tổng hợp cho cả quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ khác, tạo ra nguồn lực lớn cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới.

Những điểm mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 


Về mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(1). Như vậy, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh tiếp tục được Đảng ta khẳng định nhất quán, xuyên suốt, nhưng có sự bổ sung rõ hơn, toàn diện hơn cả về nội hàm và phạm vi bảo vệ. Điểm nhấn ở đây được văn kiện lần này chỉ rõ: Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc không đơn thuần là để ứng phó với chiến tranh; mà vấn đề quan trọng và thiết yếu hơn là, tạo ra sức mạnh để giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, nhằm xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, là sự vận dụng nhuần nhuyễn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Bảo vệ phải gắn với xây dựng, xây dựng phải đi đôi với bảo vệ. Mục tiêu của bảo vệ là để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho xây dựng và phát triển đất nước; và, xây dựng, phát triển đất nước sẽ tác động trở lại tạo cơ sở, tiền đề bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Mục tiêu là, giải quyết mối quan hệ biện chứng sâu sắc giữa việc bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử với việc bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội trong tính chỉnh thể thống nhất; chỉ rõ hướng đích phát triển đất nước là theo định hướng xã hội chủ nghĩa; vì vậy, phải gắn chặt việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; phải gắn chặt việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội với bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Mục tiêu đó cũng khẳng định rõ lập trường và ý chí của toàn dân tộc quyết tâm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây là quan điểm biện chứng khách quan, cụ thể, lịch sử và phát triển, đáp ứng sự phát triển của tình hình thế giới, khu vực, của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Điểm mới được bổ sung trong văn kiện lần này là việc xác định rõ: Bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước. Đây là vấn đề mới, quan trọng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay, phản ánh đúng xu thế và đặc điểm tình hình đất nước. Bởi lẽ, con người là vấn đề có tính chiến lược, là trung tâm của mọi hoạt động, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước và bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa mà nước ta đang xây dựng cũng hướng đến bảo vệ cuộc sống bình yên, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vì vậy, trong bối cảnh mới hiện nay, bảo đảm an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để mang lại hạnh phúc cho nhân dân là vấn đề đặc biệt quan trọng, cần được tập trung thực hiện. Một điểm mới trong văn kiện lần này là các nội dung, vấn đề trong mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh được đặt trong một tổng thể chung, có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời. Đây là những định hướng quan trọng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

 


Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc và thực tiễn bảo vệ Tổ quốc qua 30 năm đổi mới; đồng thời, tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại, Đại hội XII của Đảng kiên định và xác định những vấn đề cơ bản về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, thể hiện sâu sắc tư duy mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta.

1. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đại hội XII của Đảng xác định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”1. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta, tạo cơ sở quan trọng cho Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân ta xác định và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Khẳng định củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, Đảng ta nhấn mạnh nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, xây dựng đất nước. Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ phát triển kinh tế, nhưng không coi nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là thứ yếu. Bởi, củng cố quốc phòng, an ninh là cơ sở trực tiếp tạo thuận lợi cho nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế; ngược lại, kinh tế phát triển, đất nước mạnh lên sẽ là “phương thức hữu hiệu” để bảo vệ Tổ quốc. Đây là quan điểm lý luận cơ bản, chi phối, quy định toàn bộ các nội dung, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

2. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là toàn diện, cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội trong chỉnh thể thống nhất. Đại hội XII của Đảng xác định: “Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”2. Trong tình hình mới, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải bảo đảm được lợi ích quốc gia, dân tộc khi nước ta tham gia hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường ổn định, hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho các nước trên thế giới hợp tác với Việt Nam. Các nội dung bảo vệ Tổ quốc quan hệ chặt chẽ biện chứng với nhau trong chỉnh thể thống nhất; bảo vệ lĩnh vực này cũng có nghĩa là góp phần bảo vệ lĩnh vực khác và ngược lại, không xem nhẹ hoặc tuyệt đối hóa một lĩnh vực nào.

3. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp; củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lực lượng bảo vệ Tổ quốc là toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố: chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, đối ngoại; biểu hiện sức mạnh vật chất, tinh thần của toàn bộ nhân dân trong nước và kiều bào Việt Nam định cư ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó còn là sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Để phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang, Đảng ta xác định: tập trung xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng quan trọng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; phải “Tích cực, chủ động chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc trong mọi tình huống”3. Quan điểm sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn diện bảo vệ Tổ quốc, phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới được Đảng ta tiếp tục khẳng định với nội hàm sâu, rộng thêm.

4. Quốc phòng và an ninh quan hệ chặt chẽ, thống nhất trong mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Theo đó, quốc phòng và an ninh đều hướng vào mục tiêu chung là bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; được thể hiện trong sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng lực lượng và thế trận của nền quốc phòng toàn dân với xây dựng lực lượng và thế trận của nền an ninh nhân dân. Đại hội XII nhấn mạnh: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc”4. Mối quan hệ biện chứng đó đặt trong tổng thể thống nhất và gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Mối quan hệ đó phản ánh yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản của hai lĩnh vực hoạt động đặc thù nhằm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xây dựng thế trận và lực lượng của quốc phòng và an ninh phải đảm bảo toàn diện, đồng bộ, quan hệ chặt chẽ, có chất lượng và hiệu quả cao trên phạm vi toàn quốc, cũng như trong từng địa bàn, từng lĩnh vực cụ thể.

5. Có kế sách phòng, chống các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, khắc phục các yếu tố tác động tiêu cực đến sự nghiệp củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là kinh nghiệm quý, một phương thức giữ nước đặc sắc của dân tộc, được Đảng ta kế thừa và phát huy đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo đó, quốc phòng và an ninh phải có đủ sức mạnh để “ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”5, để đất nước “không bị động, bất ngờ”; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho bạn bè quốc tế trong hợp tác với Việt Nam. Đại hội XII chỉ rõ: phải “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”6.

6. Quán triệt và xử l‎ý tốt mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn. Đây là quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc. Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới có tầm quan trọng đặc biệt, là quan hệ cơ bản, chi phối, thẩm thấu vào các mối quan hệ khác; được giải quyết trong sự gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ: phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, xây dựng, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và phát triển văn hóa. Trong xây dựng Đảng, phải đạt đến mục đích là giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Trong phát triển văn hóa phải chú ý gia tăng sức mạnh quốc phòng, an ninh, phục vụ cho xây dựng và phát huy các tiềm lực quốc phòng, an ninh, nhất là tiềm lực chính trị tinh thần. Mối quan hệ tác động lẫn nhau đó cần phải được nhận thức thấu đáo và xử lý đúng trong thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Phải “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”7. Việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phải được thể hiện cụ thể ở sự kết hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển; trong đó, chú trọng phát triển kinh tế, gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh ở các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

7. Sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”8. Trong nhận thức lý luận cũng như trong tổ chức thực tiễn, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng để tổ chức, lãnh đạo và chỉ đạo sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước là cơ sở chắc chắn nhất bảo đảm cho Tổ quốc được bảo vệ vững chắc trong bối cảnh có nhiều biến động phức tạp. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, với âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang hòng làm cho Quân đội và Công an mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, thì vấn đề tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc càng trở nên quan trọng, cấp bách hơn. Đây không chỉ là sự trung thành với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân, mà còn là đòi hỏi bức thiết từ tình hình, nhiệm vụ của cách mạng nước ta thời kỳ mới. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trên, vấn đề then chốt là phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ.

Quan điểm về bảo vệ Tổ quốc được Đảng ta khẳng định trong Đại hội XII là sự trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới và từ tư duy, phát triển lý luận đến tổng kết thực tiễn của Đảng, nhất là 30 năm đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc vừa qua. Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta triển khai, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XII của Đảng đã đề ra.

KHÔNG AI CÓ THỂ XUYÊN TẠC TINH THẦN QUỐC TẾ CAO CẢ CỦA QUÂN ĐỘI TA!

         Một trong những phẩm chất cao quý làm nên nhân cách tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần tám thập niên qua là cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp vào cuộc sống hòa bình của nhân loại. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến sai trái, lạc lõng nhằm phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta!

Ý kiến sai trái tự phơi bày âm mưu đen tối
     Đêm 12-2-2023, Đoàn cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất. Việc tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục thảm họa động đất thể hiện chính sách đối ngoại ưu việt, trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Việc làm này cũng khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm và năng lực tác chiến trong thời bình của Quân đội ta trước các vấn đề an ninh phi truyền thống và góp phần thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng vì hòa bình của Việt Nam.
     Tuy nhiên, những người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta lại không nghĩ như thế. Họ cho rằng, “tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ là việc làm không cần thiết”, “là ôm rơm nặng bụng”. Thậm chí có người còn cho rằng, việc làm đó của Quân đội ta là “khôn chợ, dại nhà”, “việc nhà thì lười nhác, việc chú bác thì siêng năng” (!). Ác ý hơn có người còn cho rằng, “đất nước còn nghèo, nhân dân còn đói khổ, tại sao quân đội lại đem tiền của ra nước ngoài mà không dùng nó để cứu giúp đồng bào ta”, lại “lăng xăng đi cứu người” (!)...
     Những luận điệu nêu trên là sai trái, hết sức vô cảm, cần phải lên án, bác bỏ. Nó không những tạo ra tâm lý nghi ngờ, bất an, sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với một bộ phận người dân, nhất là một số thân nhân, gia đình có quân nhân nhận nhiệm vụ đến Thổ Nhĩ Kỳ tham gia cứu hộ, cứu nạn, mà còn bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta; làm phai mờ hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
Tỏa sáng tinh thần
nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta
     Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và người dân của hai quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Syria về những thiệt hại vô cùng to lớn do thảm họa động đất gây ra, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng.
     Thấu hiểu, sẻ chia về những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn ấy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định cử đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, giúp bạn tìm kiếm các nạn nhân xấu số và cứu chữa những nạn nhân còn sống, đưa họ về trạng thái an toàn; tiếp tục giúp giải quyết, khắc phục hậu quả thảm họa, sớm đem lại cuộc sống bình thường mới cho người dân nơi xảy ra động đất ở đất nước này.
     Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.
     Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau.
     Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Từng thành viên trong đoàn công tác sẵn sàng nhận nhiệm vụ, họ đã rất khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan để lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, đáp ứng yêu cầu, sự chờ đợi lực lượng của các quốc gia đến cứu hộ, cứu nạn, trong đó có Việt Nam.
     Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong số các quân nhân sang Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện nhiệm vụ lần này có một quân nhân chỉ ít ngày nữa sẽ xây dựng gia đình, nhưng vẫn xung phong lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để làm quà kỷ niệm ngày cưới. Đó là bằng chứng sinh động thể hiện tinh thần cống hiến, hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình. Vì việc chung, lợi ích chung nên sẵn sàng gác lại việc riêng, lợi ích riêng - đó là phẩm chất, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng đã được giáo dục, nuôi dưỡng, tôi rèn bền bỉ trong môi trường quân đội.

Tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh
của cuộc sống
     Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo.
     Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.
     Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế.
     Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình.
     Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu./.
Yêu nước ST.

Lời Bác dạy Ngày này năm xưa (ngày 8-3-1952)

 

“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”

Sinh thời Hồ Chủ tịch luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngày 8-3-1952, trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ, Người nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Bức thư ấy được đăng tải toàn văn trên Báo Nhân Dân, số 49, ngày 13-3-1952. Nội dung thư đã nêu bật vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc kháng chiến của toàn dân tộc, các bà, các mẹ, các chị đã xung phong đi dân công, giúp thương binh, hòa lòng yêu nước, yêu con, yêu chiến sĩ thành mối yêu thương không bờ bến. Người yêu cầu các cấp lãnh đạo đi sát hơn, thiết thực hơn với phong trào phụ nữ để phong trào ấy chắc hơn, rộng hơn, mạnh hơn. Đồng thời người giao nhiệm vụ cho phụ nữ trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ: Phải thắt chặt đoàn kết, thi đua tăng gia sản xuất, tiết kiệm, tích cực tham gia chính quyền, giúp đỡ bộ đội, bảo vệ nhi đồng...

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, kế thừa và phát huy truyền thống con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã tích cực học tập, rèn luyện, cống hiến và trưởng thành; từ các phong trào thi đua rộng lớn của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ, tiêu biểu với các phong trào thi đua “Ba đảm đang”, phong trào “Đồng khởi”… đã xuất hiện nhiều nữ anh hùng dũng cảm trong chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được lịch sử vinh danh, trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, xứng đáng với 8 chữ Vàng Bác Hồ trao tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, phát huy truyền thống vẻ vang của phụ nữ Việt Nam và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, phụ nữ Quân đội tiếp tục nêu cao tinh thần, trách nhiệm, tích cực, chủ động, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, học tập, lao động sáng tạo, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc để cùng với phụ nữ cả nước thực hiện trọn vẹn lời Bác Hồ dạy năm xưa.

HAIVAN

VẠCH TRẦN SỰ LƯƠN LẸO CỦA THỦ LĨNH “CÁCH MẠNG TRẮNG” CẤU KẾT VỚI TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN!

     Dư luận quần chúng nhân dân hết sức bất bình về sự tráo trở, lươn lẹo, nguy hiểm của HDH trong mối quan hệ với tổ chức khủng bố Việt Tân và sự xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo, xét lại lịch sử của các thế lực thù địch trên không gian mạng!
     Ngày 7-11-2022 trên clip số 2128 kênh youtube “Góc nhìn HDH”, chủ kênh đã lên bài: “Hội chứng Bắc Kinh của Hà Nội” báo The Diplomat. Mở đầu chủ kênh nói: “Thứ Sáu 4-11-2022 báo The Diplomat - tờ báo Ngoại giao có đăng một bài bình luận về chuyến đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng... Tôi không biết Duy Hoàng là ai, ở trong nước hay ngoài nước nhưng tôi thấy bài này có nhiều điều thú vị, có nhiều điểm rất hay”.
     Cái gọi là “nhiều điều thú vị” mà HDH đưa ra là: “Hội chứng Bắc Kinh của Hà Nội” mà HDH dịch là “Hội chứng của Hà Nội về Bắc Kinh”. Ở đây theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng đều chỉ về những điều không tốt lành cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc như một “hội chứng”.
     HDH còn xuyên tạc rằng: "Người dân Việt Nam không có cảm tình với Trung Quốc, nhưng lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhất quyết thân thiện với Trung Quốc, đi ngược với ý tưởng của toàn dân. Như thế là ý Đảng không hợp với lòng dân" (!?).
     HDH còn cho rằng: “Việt Nam đã trở thành nước trung lập trong mấy chục năm qua”. Đây cũng là sự bịa đặt, xuyên tạc có ý đồ xấu về đường lối đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam luôn thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hợp tác và phát triển. Đại hội XIII của Đảng khẳng định bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều lần khẳng định: Chúng ta không chọn phe mà chọn lẽ phải.
     Đầu năm 2020 về Việt Nam, khi gặp một cán bộ lãnh đạo Bộ Ngoại giao đã nghỉ hưu tại nhà riêng, HDH đã công khai chất vấn online trên youtube VHVNtv: “Đảng Cộng sản Việt Nam cũng yêu nước, Đảng Việt Tân cũng yêu nước, sao Đảng Cộng sản Việt Nam không mời Việt Tân về cùng đối thoại?”. Như vậy, trong tâm tưởng của HDH tổ chức khủng bố Việt Tân có vị trí rất đặc biệt. Vì vậy, HDH công khai tuyên truyền bài viết của đối tượng Hoàng Tứ Duy, một trong những kẻ cầm đầu tổ chức khủng bố Việt Tân trên kênh youtube “Góc nhìn HDH” nhằm lan truyền xuyên tạc về chuyến đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là hết sức trắng trợn, nguy hiểm.
     Ngày 8-11-2022 trên kênh Gia đình và Fan GNHDH tại Clip số 906, “Những "tế bào ngủ" thức giấc nôn nóng triệt hạ tôi ngay, tại sao?” (từ phút 32’32” trở đi) HDH tuyên bố các bài được đăng trên các báo nêu trên là của tổ chức chống cộng cực đoan (Việt Tân) gửi về. Như thế, HDH khẳng định gần 200 cơ quan báo chí trong nước đã đăng các bài trên là đăng bài của các tổ chức chống cộng cực đoan, phản động. Đây là sự trơ tráo, vu khống, bôi nhọ trắng trợn của HDH một luật sư người Mỹ gốc Việt đánh thẳng vào hệ thống báo chí cách mạng của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
     Tự xưng cái gọi là thủ lĩnh “Cách mạng trắng cho Việt Nam”, dù đã nhiều lần HDH tuyên bố không hợp tác với Việt Tân, chống Việt Tân nhưng lại nhiều lần sử dụng tài liệu của Việt Tân. Trực tiếp dịch và đọc bài viết của đối tượng Hoàng Tứ Duy xuyên tạc, bôi nhọ, xúc xiểm về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và ca ngợi “Bài viết có nhiều điều thú vị, có nhiều điểm rất hay” để tuyên truyền cho hàng triệu người Việt Nam trên không gian mạng.
     Dư luận quần chúng nhân dân hết sức bất bình về sự tráo trở, lươn lẹo, nguy hiểm của HDH trong mối quan hệ với tổ chức khủng bố Việt Tân và sự xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo, xét lại lịch sử của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Vì vậy, nhân dân đề nghị và mong muốn các cơ quan chức năng của ta như an ninh, ngoại giao, thông tin và truyền thông có những biện pháp xử lý thích hợp theo pháp luật đối với các kênh youtube “Góc nhìn HDH” và kênh “Gia đình và Fan GNHDH” cũng như các kênh núp bóng hội nhóm yêu nước để chống phá, giảm thiểu những thông tin xấu độc trên không gian mạng và trong xã hội./.
Yêu nước ST.

TỈNH TÁO TRƯỚC CÁI NHÌN ĐỊNH KIẾN VỀ ĐỀ CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM 1943!

         Ra đời cách nay 80 năm, Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 được ví như tuyên ngôn đầu tiên của Đảng về văn hóa và có ý nghĩa khai sáng, mở đường cho văn hóa Việt Nam phát triển!
     Tuy nhiên, một số người có nhận thức sai lệch, thậm chí xuyên tạc, phủ nhận những giá trị cơ bản của đề cương này, qua đó ngầm ý phủ nhận đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhận thức sai lệch, thái độ định kiến là không công bằng với lịch sử
     Năm 2023 tròn 80 năm Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 (gọi tắt là Đề cương) của Đảng ra đời. Nếu coi Đề cương này là tuyên ngôn đầu tiên của Đảng về văn hóa nói chung và cuộc cách mạng văn hóa theo tinh thần mác-xít nói riêng thì các hội nghị văn hóa toàn quốc, các Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Nghị quyết số 33-NQ/TW của Đảng khóa XI là những bổ sung, điều chỉnh các mục tiêu cụ thể của đường hướng được vạch ra từ “đêm trước” của cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân, là điểm mở đầu cho việc xây dựng một nền văn hóa mới.
     Nhìn vào thực tế có thể thấy rất rõ 3 phương châm “Dân tộc, khoa học, đại chúng” được vạch ra từ Đề cương cho đến nay vẫn còn giữ được tính khoa học và thời sự. Với một tư tưởng, một luận thuyết, 80 năm là khoảng thời gian ngắn để đánh giá sức sống của nó, nhưng có thể thấy những thành tựu của cuộc cách mạng xã hội có phần đóng góp to lớn của cách mạng văn hóa. Yêu cầu đầu tiên của một đề cương là nhằm chỉ đạo và tổ chức hành động nhất quán, đúng hướng. 3 phương châm (còn gọi là 3 nguyên tắc) “Dân tộc, khoa học, đại chúng” chỉ được nói tới rất ngắn gọn và trong thực tiễn, có nơi, có lúc còn hiểu chưa đúng, còn đơn giản hóa những phương châm này, nhưng về đại thể, khó ai có thể phủ nhận được những thành tựu của cuộc cách mạng văn hóa mà Đề cương đã chỉ ra.
     Do tính chất cứu quốc của bản Đề cương như một chương trình, cương lĩnh hành động của Đảng nên 3 nguyên tắc ấy được giải thích rất ngắn gọn. “Dân tộc hóa” của nền văn hóa mới là chống lại những ảnh hưởng của văn hóa nô dịch và văn hóa thuộc địa khiến cho văn hóa Việt Nam không thể phát triển độc lập. Nó chống lại tất cả các xu hướng văn hóa không vì dân tộc Việt Nam. “Khoa học hóa” là chống lại tất cả những gì làm cho văn hóa thiếu tính khoa học và phản tiến bộ. Còn “đại chúng hóa” được giải thích là chống lại những xu hướng tư tưởng, những thứ văn hóa mị dân khiến cho văn hóa Việt Nam phản lại quyền lợi của đông đảo đại chúng, xa lánh đại chúng. Mấy năm sau, tại một hội nghị quan trọng về văn hóa, trong báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam”, đồng chí Trường Chinh với tư cách là Tổng Bí thư của Đảng đã nói đến những nguyên tắc trên với tinh thần quyết liệt hơn. Từ những căn cứ này có thể nói, 3 nguyên tắc mới của văn hóa Việt Nam được nêu ra từ trước ngày giành chính quyền về tay nhân dân thấm đẫm tinh thần cứu quốc, hành động và thiết thực chứ không phải là những nghiên cứu mang tính lý thuyết xa rời thực tiễn. Tinh thần ấy xuyên suốt những năm sau này, cả trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc, thời kỳ xây dựng đất nước và hội nhập. Nó chỉ được điều chỉnh, bổ sung những yếu tố mang tính bộ phận, chiến thuật chứ về mặt đường hướng thì nhất quán cho tới bây giờ.
     Tuy nhiên, lâu nay, không ít người đã cố tình hiểu sai đường hướng mà Đề cương vạch ra khi căn cứ vào những ý kiến cụ thể trong những tình huống cụ thể, hay đem những lý giải của thời kỳ, một ý kiến, luận điểm nào đó được đưa ra rồi gán cho nó những điều ở ngoài nó, khái quát thành các luận điểm mang tính khái quát nhưng lại thiếu chính xác về mặt khoa học nhằm “kết tội” đường hướng văn hóa do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là chính trị hóa văn hóa, áp đặt, sai lầm, thậm chí đòi phải từ bỏ nguyên tắc này hay nguyên tắc khác.

Không thể phủ nhận những giá trị căn bản của Đề cương văn hóa Việt Nam 1943
     Vì vậy, cần phải nhận thức thấu đáo, khách quan về những giá trị căn bản của Đề cương văn hóa Việt Nam 1943.
     1. Trước hết, cần phải hiểu đây là một bản đề cương để căn cứ vào đó mà các cấp vạch ra những kế hoạch, công việc cụ thể nhằm không đi chệch ra khỏi những đường hướng chính ấy, để có thể đánh giá thành công và thất bại của những hoạt động cụ thể dựa trên các căn cứ chứ không phải là thành bại ngẫu nhiên. Xét về phương diện này thì 3 phương châm “Dân tộc, khoa học, đại chúng” hoàn toàn chính xác. Vì là một cương lĩnh nên các khái niệm này lúc đó cũng mang tính định hướng, trong đó mục tiêu cứu quốc, tập hợp lực lượng để giành độc lập dân tộc, nghĩa là làm cách mạng xã hội rồi mới làm cách mạng văn hóa (nội dung Đề cương) và trong thực tế, đến “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” của đồng chí Trường Chinh, một số nội dung cụ thể của nội hàm khái niệm mới xác định. Cho đến nay, qua nhiều văn bản, nghị quyết, Cương lĩnh, Đảng ta vừa bổ sung các nội dung mới cho những khái niệm này, vừa điều chỉnh những điều chưa hợp lý của các thời kỳ lịch sử trước đó. Đây là một sự vận động bình thường của đời sống.
     Thế nhưng, một số người hay bắt bẻ câu chữ, tự cho mình là người không giáo điều phê phán người khác không có quan điểm lịch sử trong khi chính họ lại là những người bất chấp thực tế nên mang sẵn định kiến, chỉ dựa vào câu chữ mà tách những tư tưởng ấy ra khỏi hoàn cảnh. Năm 1943, các nguyên tắc được xác định cũng chỉ là những định hướng nhằm mục tiêu cho cuộc cách mạng xã hội sắp nổ ra. Vậy thì những gì trái với dân tộc, đại chúng, khiến cho mục tiêu này không đạt được vừa trái với quan điểm của Đảng, vừa không khoa học nằm ở khía cạnh ấy. Nó gắn với mục tiêu cứu nước bằng những hành động có ích, thiết thực, chứ không phải những xu hướng tư tưởng xã hội và văn hóa mang màu sắc “mị dân”, “phản dân tộc”, “xa đại chúng”... đang lan tràn trong đời sống xã hội thời kỳ đó. Quan điểm “mượn màu duy vật”, cực đoan theo xu hướng Trotsky cũng bị phê phán vì nó không mang tinh thần khoa học. Nói như thế để thấy tính chất cứu quốc của bản Đề cương được đặt lên hàng đầu mang ý nghĩa ấy.
     Không phải ngẫu nhiên mà tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (ngày 24-11-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát định hướng của văn hóa mới bằng một luận điểm rất sâu sắc là: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Sau đó là văn hóa kháng chiến, kiến quốc, văn hóa tham gia vào đời sống mới, sửa chữa thói hư tật xấu cho cán bộ, chống tham nhũng, làm cho dân tộc Việt đoàn kết, tự cường bằng cách nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí. Tinh thần ấy trở thành đạo đức xã hội “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, đã tập hợp mọi lực lượng xã hội, tôn giáo, đảng phái cho mục đích giành độc lập dân tộc, là phương châm hành động tất cả cho tiền tuyến, tiếng hát át tiếng bom, là động lực tinh thần và nguồn lực phát triển nhằm mục đích vì hòa bình, tự do, dân chủ, vì sự phồn vinh của đất nước, hạnh phúc của nhân dân. Đây không phải là văn hóa ứng dụng mà là văn hóa hành động, là lối sống của cả xã hội, là đạo đức của thời đại chứ không phải chỉ là những nghiên cứu lý thuyết xa rời thực tiễn. Cái đích của đường lối văn hóa mới đã nói lên bản chất vấn đề.

     2. Không phải đến bây giờ Đảng mới nói đến những bất cập của Đề cương hay những luận giải về Đề cương trong “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” như một số người hay phê phán. Tính sơ lược trong cách phân kỳ văn hóa, xác định tính chất văn hóa ở từng giai đoạn lịch sử hay cách luận giải về “nội dung tân dân chủ” và “hình thức dân tộc” cũng là dễ hiểu vì hoàn cảnh công bố văn bản và trình độ lý luận về những vấn đề chuyên môn ở thời điểm ấy chưa vượt ra khỏi hạn chế của hoàn cảnh.
     Phục vụ công nông binh, phục vụ kịp thời, phục vụ tuyên truyền cho những nhiệm vụ chính trị là mệnh lệnh của Tổ quốc trong giai đoạn ấy và văn nghệ sĩ cũng hiểu rằng Tổ quốc cần họ thực hiện trách nhiệm công dân trước khi chọn chỗ đứng cho riêng mình. Nhà văn Nam Cao đã nói đến tâm tư của mình và cũng là nhận thức chung của giới văn nghệ sĩ là “sống đã rồi hãy viết” vì sự sống còn của dân tộc quan trọng hơn những theo đuổi riêng tư, kể cả chuyện cầm bút. Trăn trở của các nhà văn Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi... trong kháng chiến chống Pháp là những suy nghĩ thực của họ. Họ chân thành muốn thay đổi, chân thành muốn cống hiến, chân thành muốn đứng cùng đội ngũ của những người ở tuyến đầu vì bản chất công việc của họ là như vậy, trách nhiệm công dân của họ là vậy. Họ nhận thức được chân lý, niềm tin khoa học nhờ một phần ánh sáng soi đường của Đề cương văn hóa Việt Nam 1943.

     3. Cuộc sống biến chuyển nhanh, những đúc kết, nghiên cứu, khái quát cũng cần có thời gian. Bản chất của văn hóa là tinh thần cộng sinh, kế thừa và phát triển, luôn có yếu tố tự bảo vệ để bảo tồn những gì là của mình nhưng cũng luôn cởi mở tiếp nhận các yếu tố từ bên ngoài, bản địa hóa nó, biến nó thành nội lực của chính mình để làm phong phú thêm cho chính nó. Tiếp nhận Chủ nghĩa Mác là một cách như vậy. Mở cửa, hội nhập quốc tế, nhịp bước cùng thời đại như chủ trương của Đảng ta hiện nay là từng bước thực hiện tinh thần ấy. Hòa nhập, nhịp bước cùng thời đại không có nghĩa là bỏ lại những gì của riêng mình để chạy theo người khác mà cần đóng góp vào trào lưu chung bằng những thứ của riêng mình, là tinh hoa của mình.
     Quá trình toàn cầu hóa là một cuộc chơi lớn, cởi mở nhưng cũng sòng phẳng và khắc nghiệt. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đi đến tận cùng của cái dân tộc sẽ bắt gặp cái chung của nhân loại, hay nói chính xác hơn là trong chiều sâu của mỗi nền văn hóa của các dân tộc cũng chứa đựng phần chung của con người. Một nền văn hóa lấy dân tộc, nhân dân, đất nước làm điểm tựa sẽ bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững, sẽ như liều kháng sinh văn hóa giúp cho dân tộc ấy, đất nước ấy đủ sức đề kháng trước những xu hướng không lành mạnh, có hại trong quá trình hội nhập. Đảng ta coi sự nghiệp cách mạng văn hóa là của toàn dân, trong đó đánh giá cao vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ là một xu hướng khoa học và nhất quán. Bởi vì ngay từ những năm đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Điều đó vừa là định hướng, vừa là mục tiêu cho chúng ta xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, nhân dân hạnh phúc./.
Ảnh: Vở “Tấm Cám” do Nhà hát Chèo Hà Nội dàn dựng.
Yêu nước ST.

GẮNG LÀM TRE TRÚC THANH TAO.


Táu, lim thuộc gỗ hạng sang 

Nhưng mà mối mọt cũng mang nhóm lò

Trúc, tre dẫu chẳng xịn xò

Đem hun qua lửa ít lo mối về.


Lại thêm mưa nắng dầm dề

Đất cằn sỏi đá chẳng chê chỗ ngồi

Vẫn xanh tốt, vẫn đâm chồi

Vẫn mang giá trị cho đời nhân gian.


Táu, lim thành củi vì tham

Rễ kia sẵn nước hút càng chương cây

Chẳng còn những thớ gỗ dầy

Đạn đường mối mọt xuyên thây tan tành.


Trúc, tre cành lá mong manh 

Rễ dày thương đất, sỏi, sành nuôi cây

Tựa nhau chống đỡ gió lay

Dẻo dai rèn dũa từng ngày mới nên.


Táu, lim đứng ở hàng trên

Trúc, tre đâu dám đè chèn lên cao 

Gắng làm tre trúc thanh tao

Hơn nhiều lim, táu xếp vào lò đun.


THƯỜNG VỤ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG NGHE BÁO CÁO VỀ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT VẬT TƯ KỸ THUẬT!

     Sáng 7-3, Thường vụ Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị nghe Tổng cục Kỹ thuật báo cáo Chương trình nghiên cứu, sản xuất vật tư kỹ thuật bảo đảm cho trang bị kỹ thuật toàn quân giai đoạn 2023-2025 và các năm tiếp theo; Cục Kinh tế báo cáo phương án giải quyết vướng mắc bàn giao đất quốc phòng để xây dựng Nhà ga T3, Cảng hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị!
     Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương: Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Cùng dự có các đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
     Đối với Chương trình nghiên cứu, sản xuất vật tư kỹ thuật bảo đảm cho trang bị kỹ thuật toàn quân giai đoạn 2023-2025 và các năm tiếp theo, Tổng cục Kỹ thuật báo cáo: Hiện nay, Quân đội đang quản lý số lượng lớn trang bị kỹ thuật hiện đại, có giá trị cao, khả năng tác chiến mạnh, đa dạng về chủng loại. Bên cạnh trang bị mới, hiện đại, còn nhiều trang bị kỹ thuật đã qua nhiều năm khai thác sử dụng, công tác đảm bảo kỹ thuật gặp nhiều khó khăn do thiếu vật tư kỹ thuật dự phòng để thay thế, sửa chữa.
     Từ thực trạng công tác vật tư và những khó khăn bất cập nêu trên, việc triển khai Chương trình nghiên cứu, sản xuất vật tư kỹ thuật bảo đảm cho trang bị kỹ thuật toàn quân giai đoạn 2023-2030 và các năm tiếp theo là rất cần thiết, nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, giảm sự phụ thuộc vào đối tác nước ngoài trong công tác bảo đảm kỹ thuật cho trang bị, đặc biệt là việc duy trì hệ số kỹ thuật cho trang bị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất của Quân đội trong tình hình mới.
     Trên cơ sở đánh giá năng lực nghiên cứu của đội ngũ cán bộ khoa học, hệ thống nhà máy, xưởng sản xuất, chương trình phấn đấu, giai đoạn 2023-2025 sản xuất trên 50% vật tư kỹ thuật còn thiếu và bảo đảm một phần nhu cầu dự phòng tại các đơn vị làm nhiệm vụ trực ban, trực sẵn sàng chiến đấu; giai đoạn 2026-2030 tập trung đầu tư cho sản xuất vật tư kỹ thuật bảo đảm cho dự phòng và nghiên cứu, chế thử vật tư kỹ thuật có yêu cầu đặc biệt về công nghệ lõi, phần mềm điều khiển, chỉ huy hỏa lực khi được đầu tư đủ các trang bị công nghệ, dây chuyền sản xuất tại các cơ sở kỹ thuật.
     Chương trình đề ra: Chỉ nghiên cứu, sản xuất vật tư kỹ thuật thiết yếu, còn thiếu để bảo đảm cho trang bị kỹ thuật hiện có, còn quy hoạch sử dụng khi có đủ các điều kiện pháp lý theo quy định. Ưu tiên đặt hàng sản xuất vật tư kỹ thuật cho các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp quốc phòng có quy mô sản xuất phù hợp; công nghệ và nguồn vật liệu sản xuất vật tư kỹ thuật ổn định, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tập trung nghiên cứu, phát triển các loại vật tư kỹ thuật bảo đảm cho trang bị kỹ thuật thế hệ mới, hiện đại; khó khai thác được trên thị trường, phụ thuộc hoàn toàn vào nhà sản xuất hoặc đối tác nước ngoài.
     Phát biểu tại hội nghị, trên cơ sở yêu cầu về bảo đảm tính khả thi và phù hợp khả năng bảo đảm ngân sách của Bộ Quốc phòng; vật tư kỹ thuật đủ các điều kiện quy định về nghiên cứu, chế thử, sản xuất loạt; sản phẩm phải được nghiệm thu chặt chẽ, phù hợp yêu cầu kỹ thuật của đơn vị đặt hàng hoặc theo tiêu chuẩn đã ký kết, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh: Các cơ quan chức năng phải đánh giá, rà soát lại với đội ngũ cán bộ khoa học hiện tại có đủ năng lực nghiên cứu, sản xuất ở mức độ nào? Việc đào tạo nguồn nhân lực đối với ngành nào cần cụ thể; làm rõ đầu tư về hạ tầng những gì. Kết quả hiện nay Quân đội đã làm và làm vững chắc những sản phẩm nào? Sản phẩm nào cần nghiên cứu hay đi mua phải làm rõ; vấn đề chuyển giao công nghệ cao ra sao? Trước mắt, ưu tiên sản xuất những vật tư kỹ thuật cấp thiết nào?
     Sáng cùng ngày, Thường vụ Quân ủy Trung ương nghe Cục Kinh tế báo cáo phương án giải quyết vướng mắc bàn giao đất quốc phòng để xây dựng Nhà ga T3, Cảng hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất.
     Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định: Phải làm chặt chẽ, theo đúng pháp luật quy định. Đại tướng Phan Văn Giang giao Thượng tướng Nguyễn Tân Cương và Thượng tướng Võ Minh Lương trực tiếp làm việc với các cơ quan liên quan, gỡ những vướng mắc, tồn tại trong thời gian sớm nhất để tiến hành bàn giao đất quốc phòng theo đúng quy định của pháp luật./.




Môi trường (Yn) ST.

CHÚC MỪNG 8/3.

 

Tháng 3 ngày của các nàng

Cánh đàn ông phải nhẹ nhàng thế thôi

Nhẹ nhàng đòi hỏi cả đôi

Để được như vậy bớt "Tôi" đi mà 😂


Muốn cho yên ấm cửa nhà

Dặn lòng ta xếp các bà ở trên

Tháng 3 ngày 8 chớ quên

Quà, hoa mua tặng đề tên các nàng.


Hôm nay mùng 8 rõ ràng

Anh em ta phải nhẹ nhàng thế thôi

Chúc ngày phụ nữ lên ngôi

Cứ vui, trẻ, khỏe chúng tôi CHÚC MỪNG.


CÔNG THỨC TẠO RA PHỤ NỮ.

Thơ vui Nhân ngày mùng 8 tháng 3 


.

Phụ nữ cấu tạo bằng chi?

Vấn đề nan giải nhất nhì xưa nay

Khoa học nghiên cứu bao ngày

Cuối cùng tuyên bố... bó tay, đầu hàng.

.

Một phạm trù rất hoang mang

Khó hơn cả việc bắc thang lên giời

Thực chất nhân loại ra đời 

Cũng như là một trò chơi tình cờ...

.

Chuyện rằng vào thuở hoang sơ

Ông thợ tạo hoá bơ vơ một mình

Ông bèn nặn một sinh linh

Cơ bắp cuồn cuộn, thân hình cao to.

.

Nặn xong ông rất đắn đo

Nguyên liệu hết sạch, bây giờ làm sao?

Một hồi suy nghĩ nôn nao

Ông lấy tất cả trộn vào với nhau.

.

Sự mềm mại của cỏ lau

Vẻ trong trắng của hoa cau, hoa nhài

Sự mong manh của sương mai

Đường uốn cong của các loài dây leo.

.

Bước đi uyển chuyển của mèo

Sự chơi vơi của cánh bèo trôi sông

Sắc lộng lẫy của chim công 

Cảnh xúm xít của đàn ong trên rừng.

.

Dáng kiêu hãnh của chim ưng

Độ nguy hiểm của lưng chừng núi non

Thêm chút đường mật ngọt ngon

Cay nồng của ớt cho tròn vị luôn.

.

Chênh chao chớp bể, mưa nguồn 

Nỗi xót xa cánh hoa buồn chiều phai

Mênh mang biển rộng, sông dài

Lại thêm ngơ ngác hươu nai lạc bầy.

.

Phiêu bồng của những làn mây

Luồng run rẩy gió rung cây rì rào

Vẻ lung linh của trăng sao

Êm đềm của nắng, ồn ào của mưa.

.

Khí lạnh của tuyết nêm vừa

Sức nóng của lửa cũng đưa đồng thời 

Sự tinh vi của loài dơi

Mơ hồ, bí ẩn của trời đêm đen.

.

... Và nhiều phụ liệu đan xen

Kể ra tốn chữ, thôi bèn "stop here”

Ông nặn từ sớm tới khuya

Mồ hôi nhễ nhại, đầm đìa... chưa xong.

.

Bởi vì rất lắm... đường cong

Với nhiều chi tiết lòng vòng quá cơ

Cuối cùng tác phẩm trong mơ

Sau nhiều ngày tháng bất ngờ thành công.

.

Tạo hoá đem tặng đàn ông

Để họ nên vợ thành chồng với nhau...

Do là phiên bản đời sau

Nên được cải tiến từ đầu đến chân.

.

Chính tạo hoá cũng... phân vân

Không thể nhớ nổi thành phần tạo ra

Cho nên nói đến đàn bà

Một phạm trù rất rườm rà mênh mông.

.

Và khi đặt cạnh đàn ông 

Phạm trù càng... bị mênh mông rườm rà...

————-//——

.DieuLe_sưu tầm