Thứ Tư, 8 tháng 3, 2023

Luận điệu phản động cần bác bỏ

 Gần đây, các đối tượng chống phá vin vào việc một số thanh niên tìm cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự đã bị xử lý, tung luận điệu đánh đồng rằng: "Lớp thanh niên Việt Nam hiện nay đang tìm mọi cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự", "không ai yêu nước” (!) và rằng "cơ đồ này không còn chỗ dựa" vì thanh niên không còn tin tưởng vào chế độ (!)...

Đây là những luận điệu phản động, phiến diện, âm mưu thâm độc của bọn chúng hòng làm cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự nói riêng dao động tư tưởng, hoài nghi dẫn đến phai nhạt lý tưởng. Không những thế, những người thiếu bản lĩnh khi tiếp nhận thông tin trên sẽ mất niềm tin vào thế hệ trẻ, xa hơn là không tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, những năm gần đây, dưới sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, mạng xã hội, một bộ phận nhỏ thanh niên bị ảnh hưởng bởi lối sống hưởng thụ, thực dụng. Họ bắt đầu có những so đo, tính toán thiệt hơn về việc nhập ngũ vì sợ vất vả, ngại rèn luyện; thậm chí có hiện tượng tìm cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, đây chỉ là hiện tượng cá biệt và những hành vi vi phạm Luật Nghĩa vụ quân sự đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.


Thực tế cho thấy, trong các cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, đã có hàng triệu thanh nin tình nguyện nhập ngũ. Nhiều lá đơn được viết bằng máu, thể hiện ý chí, trách nhiệm, quyết tâm của lớp lớp thanh niên đối với đất nước. Tiếp nối truyền thống đó, thanh niên ngày nay luôn nhận thức rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc; cảm thấy vinh dự khi trở thành người chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tại lễ giao, nhận quân của các địa phương vừa qua, hầu hết thanh niên nhập ngũ đều bày tỏ niềm tự hào và hăng hái lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự. Tỷ lệ thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ ngày càng cao. Ví dụ như ở TP Hà Nội, năm 2023, có gần 1.000 công dân viết đơn tình nguyện nhập ngũ; 100% thanh niên nhập ngũ của huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang) và huyện Long Hồ (tỉnh Vĩnh Long) viết đơn tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự... Rất nhiều thanh niên là đảng viên, công chức, có trình độ đại học, cao đẳng cũng viết đơn xung phong nhập ngũ; có gia đình có 2-3 người con tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự. Không khí của ngày hội tòng quân ở các địa phương trong cả nước rất sôi nổi, phấn khởi và tuyệt đại đa số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự đều có nhiều kỷ niệm sâu sắc trong thời gian tại ngũ, tình cảm đẹp đối với Quân đội và đơn vị.

Từ những minh chứng trên cho thấy, việc một số đối tượng cố tình quy chụp, xuyên tạc, rêu rao rằng hầu hết thanh niên hiện nay đều trốn tránh nhập ngũ vì không yêu nước, không tin tưởng vào chế độ là hoàn toàn sai trái, phản động. Âm mưu thâm độc, bịa đặt này cần phải lên án và đấu tranh bác bỏ.

Giữ vững cốt cách như tùng, như bách

Điều mong muốn, gửi gắm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đối với giới trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ trong dịp đầu xuân mới Quý Mão 2023 không phải là một quan niệm mới, mà là sự nhắc lại, nhấn mạnh để làm sâu sắc thêm, cụ thể hơn quan điểm xuyên suốt của Đảng đối với hiền tài đất nước. Phải nhắc lại và nhấn mạnh thường xuyên vấn đề này để kẻ sĩ không lơ là, sao nhãng, bàng quan với khát vọng dân tộc; không dao động, ngả nghiêng trước những thủ đoạn lôi kéo, kích động, mua chuộc của các thế lực thù địch.

Trong số những đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài có nhiều người từng là trí thức của đất nước, một số người từng giữ cương vị quan trọng trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội, nghề nghiệp. Họ đã được Đảng, Nhà nước đào tạo, được đất nước, nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc. Ấy vậy mà khi đã thành tài, “đủ lông đủ cánh”, được xã hội tôn vinh bằng những danh xưng “luật sư”, “nhà báo”, “chuyên gia”... thì vì tính đố kỵ, hẹp hòi, cơ hội... mà họ đã trở cờ, phản bội. Hằng ngày, hằng giờ, với thân phận của những kẻ lưu vong, họ tận dụng những tri thức đã được học, tận dụng tiện ích không gian mạng, thực hiện các chiến dịch truyền thông chĩa mũi dùi về quê hương, đất nước công kích, xuyên tạc với thái độ trịch thượng, hách dịch, lộng ngôn...

Xưa nay, những kẻ vô ơn với Tổ quốc, phản quốc cầu vinh chưa và không bao giờ có được cái kết tươi sáng-ngoài việc phải sống tha phương, ăn bám xứ người, ngay cả khi còn một chút tàn hơi cho đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn phải nếm trải sự cô đơn, tủi nhục khủng khiếp. Bài học nhãn tiền là thế, nhưng không ít người vẫn cứ ảo tưởng sức mạnh bản thân, thui chột cốt cách, tinh thần, lao vào giành nhau miếng pho mát được các thế lực thù địch bày sẵn trong bẫy chuột.

Trong thế giới ảo của không gian mạng hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, trí thức, văn nghệ sĩ là thành phần chịu ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ. Các thế lực thù địch sử dụng trăm phương nghìn kế để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc kẻ sĩ khiến không ít người bị dao động, ngả nghiêng. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ rõ biểu hiện này, đó là: Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng...

Những vấn đề Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra đã liên tục được Đảng ta chấn chỉnh, khắc phục bằng các giải pháp kiên trì, quyết liệt trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, càng khi đất nước đạt được những thành tựu to lớn, thì các thế lực thù địch càng ráo riết, mở rộng hơn quy mô, cường độ chống phá. Kẻ sĩ tiếp tục vừa là mục tiêu, vừa là công cụ bị các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Không ít người tiếp tục sập bẫy, bị điều tra, khởi tố vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo quy định của Bộ luật Hình sự. Phải đưa những đối tượng ấy ra trừng trị trước pháp luật là việc cực chẳng đã, bởi Đảng, Nhà nước ta luôn mong muốn những ai trót nhúng chàm thì hãy tự gột rửa. Khi tất cả giải pháp giúp cho việc “gột rửa” ấy không có tác dụng, cái chất “tùng”, “bách” trong tư tưởng, cốt cách của họ đã bị mất thì mới phải truy tố. Tính nghiêm minh và tính nhân văn của pháp luật là thế.

Bởi vậy, việc nhấn mạnh yêu cầu phải giữ vững cốt cách, tinh thần như tùng, như bách không chỉ là sự mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với trí thức, văn nghệ sĩ, mà còn là lời tự răn, ý thức tự rèn giũa của kẻ sĩ trong đời sống hôm nay.

Tại cuộc họp mặt nêu trên, nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khẳng định: "Chưa bao giờ nghệ sĩ được quyền sáng tạo, bày tỏ phản biện xã hội như hiện nay. Không gian sáng tạo tự do sẽ chắp cánh cho nhà văn bay lên". Sự khẳng định đó góp phần bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cho rằng văn nghệ sĩ ở Việt Nam không có môi trường tự do sáng tạo, tự do ngôn luận, bày tỏ chính kiến...

Khi kẻ sĩ mang trong mình cốt cách như tùng, như bách thì chẳng có thế lực nào có thể lôi kéo, chẳng có thủ đoạn nào có thể khuất phục, chẳng có vũ khí nào có thể hạ gục...

Để nguyên khí không bị tổn hao

 Từ xa xưa, giới trí thức, những người học cao hiểu rộng, có chí khí được nhân dân vinh danh là kẻ sĩ. Danh xưng kẻ sĩ, ngoài ý nghĩa đề cao đạo học và nhân tài, còn là sự gửi gắm, hy vọng, đặt ra yêu cầu cao về nhân cách, cốt cách người quân tử, dù cạm bẫy, cám dỗ thế nào cũng phải luôn giữ lòng ngay thẳng, tôn trọng, đấu tranh bảo vệ lẽ phải. Lịch sử dân tộc qua các thời kỳ đã chứng minh, hiền tài là nguyên khí quốc gia, là vốn quý của dân tộc. Sự tồn vong của chế độ; cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước phụ thuộc rất lớn vào vai trò của tầng lớp tinh hoa trong đời sống xã hội. Cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1858) viết: “Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt/ Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên...” (Tước có 5 bậc, sĩ được dự vào bậc nhất/ Dân có 4 loại, sĩ đứng đầu...). Bất cứ triều đại nào muốn phát triển thịnh vượng cũng phải coi trọng chính sách xây dựng, trọng dụng hiền tài.

Bởi tầm quan trọng đặc biệt của hiền tài nên khi đất nước gặp họa xâm lăng, nô dịch, kẻ thù của dân tộc luôn tìm mọi cách tấn công, mua chuộc kẻ sĩ. Mục tiêu của các thế lực xâm lăng là làm cho nguyên khí quốc gia suy yếu để dễ bề thao túng, cai trị, biến đất nước ta thành thuộc địa, nhân dân thành nô lệ. Với tinh thần, cốt cách của tinh hoa người Việt, các bậc sĩ phu, hiền tài trong lịch sử dân tộc luôn đề cao tinh thần yêu nước, không bao giờ chịu khuất phục, cúi đầu trước âm mưu, thủ đoạn của ngoại bang. Các tấm gương kẻ sĩ với tinh thần, cốt cách như tùng, như bách, chí khí hiên ngang đã trở thành những biểu tượng đẹp, sống mãi cùng lịch sử dân tộc, tiếng thơm lưu danh vạn thuở.

Tuy nhiên, lịch sử dân tộc cũng ghi rõ không ít trường hợp người tài trở cờ, phản quốc cầu vinh, để lại vết nhơ, tiếng xấu đến muôn đời. Con đường phản quốc cầu vinh của những kẻ cơ hội mỗi thời một khác, mỗi người một kiểu, nhưng đều xuất phát từ lòng tham, đố kỵ, cơ hội. Họ đều là những người có tài nhưng kém đức, mang tinh thần, tham vọng của kẻ tiểu nhân, lung lay cốt cách...

Lịch sử luôn công bằng. Người có công được vinh danh, kẻ có tội bị trừng phạt. Trong các hình phạt đối với những kẻ phản quốc cầu vinh, sự nguyền rủa của người đời là hình phạt nặng nề nhất. “Trăm năm bia đá cũng mòn/ Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ...” là thế!

Thời đại ngày nay, đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang mở ra những vận hội, thời cơ mới, tạo môi trường thuận lợi lý tưởng để nhân tài bộc lộ phẩm chất, tài năng, khẳng định giá trị bản thân và khát vọng, mục tiêu cống hiến. Xây dựng đất nước hùng cường, dân tộc phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, thái bình là khát vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”. Với vai trò, vị thế là tầng lớp tinh hoa của xã hội, giới trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ mang trọng trách, sứ mệnh cao cả với khát vọng của quốc gia, dân tộc... Để củng cố, chấn hưng, không ngừng phát triển nguyên khí quốc gia, giữ gìn vốn quý của dân tộc, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận quan trọng. Việc bổ sung, từng bước hoàn thiện chủ trương, chính sách, giải pháp khuyến khích, trọng dụng và bảo vệ hiền tài vừa để tạo môi trường, cơ hội thuận lợi cho hiền tài phát triển, vừa bảo đảm cho nguyên khí quốc gia không bị tổn hao trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch.

Đại hội XIII của Đảng xác định: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ... tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững... Như vậy, mục tiêu lao động và cống hiến của giới trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ trong thời đại ngày nay là sự hòa quyện, phản ánh chân thực và sinh động khát vọng dân tộc hùng cường. Mỗi cá nhân kẻ sĩ là một nhân tố quan trọng cấu thành nguyên khí quốc gia, vốn quý của dân tộc. Mọi tư tưởng, hành động của kẻ sĩ cần đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết, hướng đích đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường...

Nhận diện và đấu tranh với quan điểm sai trái về sở hữu đất đai

 

Lợi dụng việc toàn dân đang đóng góp ý kiến cho dự án Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực xấu từ bên ngoài đã tăng cường chống phá.

Họ đưa ra các quan điểm phủ nhận sạch trơn giá trị của việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân và xuyên tạc rằng quy định như vậy để tạo điều kiện cho "chính quyền cướp đất của dân", là trở lực cho phát triển kinh tế. Họ cho rằng để chống tham nhũng, tiêu cực, để thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam phải thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai hoặc thừa nhận chế độ đa sở hữu đất đai. Có thể thấy, việc đồng nhất vấn đề sở hữu toàn dân về đất đai với thực trạng tham nhũng, tiêu cực có liên quan tới đất đai là sự đánh tráo giá trị, không đúng bản chất của vấn đề, chỉ lừa phỉnh được những người thiếu hiểu biết về vấn đề này.

Tại sao phải thực hiện sở hữu toàn dân về đất đai?

Trước hết cần khẳng định rằng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân không phải là một thuật ngữ lý thuyết, trừu tượng, không có giá trị thực thi, không phải là sự giáo điều được du nhập từ Liên Xô vào Việt Nam như một số ý kiến trên các trang mạng, các diễn đàn đã cố ý bóp méo, gây hiểu lầm. Quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân thể hiện đúng bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 dựa trên cơ sở lý luận về tính tất yếu khách quan của việc xã hội hóa đất đai. Từ đó tới nay, qua một số lần sửa đổi Hiến pháp và sửa đổi Luật Đất đai, Đảng ta luôn kiên định quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giao cho Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và sử dụng hiệu quả. Quan điểm này được Nhà nước thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật qua nhiều thời kỳ. Hiến pháp 2013 và Luật Đất đai 2013 đều quy định rõ vấn đề này. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về quản lý sử dụng đất và dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đang được đưa ra lấy ý kiến toàn dân cũng một lần nữa khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã góp phần quan trọng duy trì ổn định chính trị-xã hội (CT-XH), bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, bảo đảm sinh kế cho người nông dân. Thực tế đã cho thấy, quan điểm trên là đúng đắn, phù hợp với chế độ CT-XH, đặc điểm văn hóa, lịch sử và điều kiện tự nhiên của nước ta. Đó là vì:

Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm của Nhà nước ta là "tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân", thì nhân dân phải là chủ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của quốc gia là đất đai. Ðất đai là thành quả của sự nghiệp dựng nước và giữ nước lâu dài của cả dân tộc, là thành quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ, không thể để cho một số người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu. Ðất đai của quốc gia dân tộc phải thuộc sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của toàn dân tộc, của nhân dân.

Thứ hai, sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện để những người lao động tiếp cận đất đai tự do. Phải tạo cơ chế công bằng ngay từ gốc, tức là người lao động phải có tư liệu sản xuất, trong đó có đất đai, để lao động mưu sinh.

Thứ ba, trong điều kiện nước ta, việc thiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH). Bởi vì, trong chế độ sở hữu tư nhân đất đai, không ai có quyền ngăn cản người chủ đất sử dụng đất theo ý họ, vì đất là tài sản riêng của họ. Lý do này còn khiến đất đai có xu hướng được sử dụng không hiệu quả, chỉ bảo vệ lợi ích của chủ đất mà không quan tâm tới lợi ích sinh tồn của phần lớn dân cư, khi cần xây dựng những công trình công cộng thì sở hữu tư nhân về đất đai sẽ gây ra những trở lực lớn. Sở hữu tư nhân đất đai còn dẫn đến kết quả không mong muốn là tập trung đất đai trong tay một số người có nhiều tiền, hệ quả là có người sở hữu quá nhiều đất, người lại không có tấc đất cắm dùi. Điều này sẽ gây bất ổn xã hội. Với việc quy định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp, khi phần lớn công dân bị bất lợi trong phân chia lợi ích từ đất đai, thì Nhà nước có thể sửa Luật Ðất đai phục vụ mục đích chung của công dân, sửa chữa những mất công bằng trong phân phối lợi ích từ đất đai do cơ chế thị trường đem lại. Nếu Hiến pháp tuyên bố sở hữu tư nhân về đất đai thì nhân danh quyền chủ sở hữu, bộ phận nhỏ dân cư sở hữu nhiều đất đai sẽ không cho phép phần lớn còn lại thay đổi chế độ phân phối lợi ích từ đất đai.

Thứ tư, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tránh cho xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng bất ổn do một số người có thể đòi hỏi xem xét lại các quyết định lịch sử về đất đai. Nếu thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai hoặc đa sở hữu về đất đai, sẽ diễn ra các cuộc tranh chấp đòi lại quyền sở hữu nhà, đất trong quá khứ mà không cần tính đến các yếu tố lịch sử và hiện trạng, như vậy xã hội dễ lâm vào tình trạng bất ổn.

Thứ năm, nếu thừa nhận sở hữu tư nhân đất đai và cho phép người nước ngoài thỏa thuận mua bán đất với tư nhân thì nguy cơ mất chủ quyền lãnh thổ từ hệ lụy của nền kinh tế thị trường sẽ thành hiện thực. Đã có nhiều bài học nhãn tiền của một số nước trên thế giới về vấn đề này...

Quyền của người dân đối với đất đai được tôn trọng

Cũng có những ý kiến sai trái cho rằng sở hữu toàn dân về đất đai khiến đất đai trở thành vô chủ, không được sử dụng hiệu quả và không thể trở thành vốn. Thực tế thì Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật liên quan đã trao cho người sử dụng đất khá nhiều quyền: Sử dụng (theo quy hoạch của Nhà nước), chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, thừa kế, góp vốn... Về cơ bản, người sử dụng đất ở Việt Nam đã có gần hết quyền của chủ sở hữu cho phép họ đầu tư, sử dụng đất hiệu quả theo năng lực của họ. Một số hạn chế của quyền chủ sở hữu mà người sử dụng đất không có là: Không được tùy ý chuyển mục đích sử dụng đất; hạn điền; thời gian giao đất hữu hạn; phải giao lại đất cho Nhà nước để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, mục đích công cộng. Tương ứng với mở rộng quyền cho người sử dụng đất, quyền của cơ quan nhà nước với tư cách đại diện cho toàn dân thống nhất quản lý đất đai trong cả nước được quy định trên các mặt sau: Quy định mục đích sử dụng cho từng thửa đất (bằng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra.

Người sử dụng đất giữ lại cho mình hầu hết quyền của người sở hữu như chiếm giữ, sử dụng, giao dịch trên thị trường đất đai, thế chấp và thừa kế. Người dân chỉ giao lại cho Nhà nước một số quyền như: Quyền xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổng thể sử dụng đất đai để cho hoạt động sử dụng đất đai của từng cá nhân và tổ chức không làm giảm hiệu quả sử dụng đất đai chung của quốc gia. Nhà nước phải hoàn thành nhiệm vụ xây dựng quy hoạch, kế hoạch và giám sát tuân thủ quy hoạch, kế hoạch cho tốt. Quyền bảo vệ đất đai và môi trường để ngăn cản những hành vi vụ lợi cá nhân của người dân làm tổn hại lợi ích chung. Quyền bảo hộ quyền chính đáng của dân cư đối với đất đai đã được quy định theo luật. Quyền bảo toàn lãnh thổ quốc gia trước các hành vi xâm phạm của nước ngoài. Người dân phải cung cấp tài chính qua thuế sử dụng đất cho Nhà nước để duy trì các hoạt động của mình.

So sánh với luật đất đai của một số nước duy trì tư hữu về đất đai, quyền của người sử dụng đất của Việt Nam cũng không có chênh lệch đáng kể. Như vậy, không có sự khác biệt lớn về phương diện tạo quyền tự chủ cho người sản xuất, kinh doanh sử dụng đất hiệu quả giữa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta và chế độ tư hữu đất đai ở một số nước.

Sở hữu toàn dân về đất đai không phải là nguyên nhân của tham nhũng, tiêu cực

Về bản chất, sở hữu toàn dân về đất đai không phải là nguồn gốc của nạn tham nhũng, tiêu cực và thực tế phức tạp hiện nay về đất đai. Thực trạng quản lý, sử dụng đất đai đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết bắt nguồn không phải từ bản chất vốn có của sở hữu toàn dân về đất đai, mà bắt nguồn từ sự yếu kém kéo dài trong việc không hiện thực hóa thiết chế thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; bắt nguồn từ hệ lụy yếu kém trong quản lý đất đai.

Luật Đất đai năm 2013 và phương thức Nhà nước thực hiện luật nói trên có nhiều điểm chưa hợp lý cần phải khắc phục. Vấn đề gây bức xúc nhất hiện nay ở nước ta là ở chất lượng, thái độ thực thi Luật Đất đai của cơ quan và công chức nhà nước chưa tốt, tồn tại quá nhiều trường hợp lạm dụng quyền lực công phục vụ cho mục tiêu riêng của cá nhân, của gia đình, của nhóm lợi ích. Một số trường hợp cơ quan nhà nước thu hồi đất của dân không đúng quy định của pháp luật. Sự giàu có bất thường của không ít đại gia kinh doanh bất động sản ở nước ta thời gian qua có tác động từ mức chênh lệch giá quá lớn trong các dự án chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất đô thị và giá đất đền bù cho người có quyền sử dụng đất hợp pháp. Tình trạng quy hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, tình trạng đất thu hồi bị bỏ hoang còn người mất đất lâm vào tình trạng thất nghiệp, khó khăn... cho thấy quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu cần phải có trong chế độ sở hữu toàn dân.

Những vấn đề này không thể giải quyết bằng cách chuyển toàn bộ quyền quản lý đó cho khu vực tư nhân thông qua tư hữu hóa hoặc đa dạng hóa sở hữu đất đai. Vì làm như vậy thì chỉ khiến tình hình thêm phức tạp, những rủi ro khó lường hết hậu quả. Ngược lại, chỉ có thể giải quyết tốt các vấn đề này bằng việc đẩy mạnh cải cách trong các cơ quan nhà nước, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; siết chặt kỷ luật và trách nhiệm giải trình của công chức và chuyển giao cho người dân những quyền mà người sử dụng đất thực thi có lợi hơn cơ quan nhà nước.

Để hạn chế tình trạng thu hồi đất một cách tùy tiện ảnh hưởng tới lợi ích của người sử dụng đất, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã định hướng quy định cụ thể hơn về thẩm quyền, mục đích, phạm vi thu hồi đất, điều kiện, tiêu chí cụ thể việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển KT-XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Tiếp tục thực hiện cơ chế tự thỏa thuận giữa người dân và doanh nghiệp trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đô thị, nhà ở thương mại.

Đồng thời, có lẽ cần nghiên cứu phân chia địa tô chênh lệch giữa xã hội (mà Nhà nước là đại diện), người có đất bị thu hồi và người nhận đất sử dụng cho mục đích mới trong giá đất thu hồi. Nhà nước cũng phải nâng cao năng lực sử dụng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với tư cách công cụ quản lý vì lợi ích quốc gia. Thực hiện được tốt những định hướng trên sẽ hạn chế được tác động tiêu cực của các nhóm lợi ích vào lĩnh vực đất đai.

Sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện để Nhà nước XHCN bảo vệ lợi ích của người dân tốt nhất. Những sai lầm và thiếu sót của cơ quan nhà nước thời gian qua trong lĩnh vực đất đai không phải là bản chất của Nhà nước XHCN và có thể sửa chữa được. Vì thế, cần tỉnh táo nhận thức rõ mưu đồ của kẻ xấu xuyên tạc chính sách đất đai của Đảng, Nhà nước ta hòng kích động, gây bất ổn môi trường CT-XH của nước ta. Từ đó, các cơ quan, bộ, ngành, đơn vị, địa phương cần vận động nhân dân tích cực đóng góp ý kiến chất lượng, hiệu quả cho dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), kịp thời nhận diện, đấu tranh với các luồng ý kiến sai trái.  

Thực chất, thực lòng, song phải giữ vững kỷ cương phép nước

 

Sáng 9-1, Ban Cán sự Đảng Chính phủ phối hợp với Ban Dân vận Trung ương tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác dân vận (CTDV) và đánh giá kết quả thực hiện “Năm dân vận chính quyền” (DVCQ) 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Thủ tướng Chính phủ dự và chủ trì hội nghị.

Cùng chủ trì hội nghị có các đồng chí: Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương; Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ; Điểu K’Ré, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Thường trực Ban Dân vận Trung ương.

Tham dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Tòng Thị Phóng, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội; Vương Đình Huệ, Phó thủ tướng Chính phủ; Võ Văn Thưởng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Văn Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương. Cùng dự có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Trần Thanh Mẫn, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Trần Cẩm Tú, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Phan Đình Trạc, Trưởng ban Nội chính Trung ương... Đại diện lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Tổng cục Chính trị dự hội nghị có Thượng tướng Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Chuyển biến rõ nét, tạo đồng thuận xã hội

Để tăng cường công tác DVCQ, góp phần xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ nhân dân và thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Trung ương về CTDV, năm 2019, Ban Dân vận Trung ương và Ban Cán sự Đảng Chính phủ tiếp tục phối hợp thực hiện "Năm DVCQ".

Năm qua, các chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước phần lớn đã thể hiện rõ, nhất quán quan điểm CTDV của Đảng, vì nhân dân, chăm lo, nâng cao mọi mặt đời sống nhân dân và mở rộng dân chủ, phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân. Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện tốt 6 nội dung "Năm DVCQ" với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, tạo nhiều chuyển biến rõ nét trong CTDV của các cấp chính quyền. Cấp ủy, chính quyền các địa phương, cơ quan, đơn vị trong toàn quốc đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện "Năm DVCQ" hướng vào các trọng tâm: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước; phát triển kinh tế-xã hội; cải cách thủ tục hành chính; nâng cao đạo đức công vụ; giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân; tăng cường sự phối hợp của MTTQ, huy động hệ thống chính trị vào cuộc đồng bộ tham gia CTDV… Nhìn chung, các tỉnh ủy, thành ủy, ban cán sự đảng các bộ, ngành đã coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc, sáng tạo các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương.

Hội nghị đánh giá, các cơ quan nhà nước tăng cường công tác thể chế, cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với thực tiễn và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; nhất là phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thể chế, cụ thể hóa trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Các cơ quan của Quốc hội tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, giám sát, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; đổi mới hoạt động giám sát, chất vấn theo nhóm vấn đề có nhiều cử tri quan tâm; thường xuyên giám sát việc thực hiện kiến nghị của cử tri với các cơ quan nhà nước; hoạt động tiếp xúc cử tri được đổi mới, mở rộng hình thức tiếp xúc nơi cư trú, nơi làm việc, theo chuyên đề...

Công tác tiếp và giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chú trọng nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân, đối thoại giữa người đứng đầu chính quyền các cấp với các tầng lớp nhân dân và các giai tầng xã hội. Năm qua, các cơ quan hành chính nhà nước đã giải quyết được hơn 28.000vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đạt 86,2%. Việc giải quyết các vụ việc phức tạp, đông người, kéo dài được quan tâm, qua giải quyết khiếu nại đã trả lại tập thể, cá nhân hơn 200 tỷ đồng, 24,1ha đất; khôi phục, bảo đảm quyền lợi cho 1.889 tập thể, cá nhân...

Đồng chí Hà Ngọc Anh, Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương khẳng định: Những kết quả tích cực trong CTDV của chính quyền góp phần tạo đồng thuận xã hội, động viên nhân dân tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị. Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2019.

Tiếp tục nâng cao hiệu quả CTDV của lực lượng vũ trang

Tại hội nghị, các đại biểu thảo luận, làm rõ những bài học kinh nghiệm của các bộ, ngành, địa phương trong CTDV chính quyền; chỉ rõ những mặt còn tồn tại, hạn chế và đưa ra nhiều giải pháp thiết thực, sát với thực tế để thực hiện tốt CTDV chính quyền trong năm 2020.

Cùng với các bộ, ngành, địa phương, CTDV của LLVT được Quân ủy Trung ương (QUTƯ) và Đảng ủy Công an Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc. QUTƯ đã chỉ đạo các đơn vị quân đội phối hợp nắm tình hình nhân dân, nhất là các địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, biên giới, biển, đảo; bám sát địa bàn, gắn nhiệm vụ dân vận với nhiệm vụ chính trị của toàn quân. Quân đội là lực lượng quan trọng tham gia xử lý các tình huống phức tạp về quốc phòng, an ninh; khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn... Các đơn vị phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương đẩy mạnh CTDV, nhất là CTDV trong tuyển quân, xuất ngũ, huấn luyện. Phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả với MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quân-dân.

Phát biểu tại hội nghị, Thượng tướng Trần Quang Phương khẳng định: Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, hướng dẫn của Ban Dân vận Trung ương, QUTƯ, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo các đơn vị trong toàn quân triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả CTDV, "Năm DVCQ", coi đó vừa là trách nhiệm chính trị, vừa là tình cảm máu thịt của cán bộ, chiến sĩ toàn quân với nhân dân và là yêu cầu để thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của quân đội.

Trong năm 2019, quân đội đã tổ chức hơn 200.000 lượt bộ đội hành quân dã ngoại làm CTDV, phối hợp cùng địa phương xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; tham gia xây dựng hơn 1.400 xã, phường; củng cố gần 4.400 chi bộ, hơn 5.000 tổ chức chính trị-xã hội. Toàn quân đã tham gia gần 1 triệu ngày công, hỗ trợ gần 120 tỷ đồng và hơn 6.000 lượt phương tiện tham gia cùng địa phương xóa đói, giảm nghèo hơn 5.000 hộ; giúp hoàn thành tiêu chí quốc phòng, an ninh cho gần 700 xã và hoàn thành tiêu chí nông thôn mới cho hơn 100 huyện, gần 900 xã. Phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng “Đơn vị dân vận tốt” có bước chuyển biến tích cực, hiệu quả. Toàn quân có nhiều mô hình, điển hình trong CTDV, thực hiện "Năm DVCQ", tiêu biểu, như: Mô hình “4 cùng, 4 bám”, Hành trình “Quân đội chung tay vì người nghèo”, nhận con nuôi biên phòng, “Hải quân Việt Nam làm điểm tựa cho ngư dân vươn khơi, bám biển”...

Thượng tướng Trần Quang Phương nhấn mạnh: Để tiếp tục nâng cao hiệu quả "Năm DVCQ" và CTDV trong quân đội thời gian tới, QUTƯ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị xác định tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về CTDV. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp đối với "Năm DVCQ" và CTDV. Nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động giữa các đơn vị quân đội với các tổ chức chính trị-xã hội địa phương...

Dân vận tốt, gắn với giữ vững kỷ cương phép nước

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Những kết quả toàn diện của đất nước năm 2019 trong bối cảnh quốc tế đầy biến động đã nói lên rằng “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Thành tựu của "Năm DVCQ 2019" là một thành tố tích cực trong cải cách và phát triển đất nước. Đó là nền tảng quan trọng để nước ta bước vào năm đầu tiên của thập kỷ mới, thực hiện vai trò là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và vai trò Chủ tịch ASEAN, khẳng định vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Nhấn mạnh về vai trò, ý nghĩa của DVCQ là tạo sự đồng thuận, làm cho mọi người cùng dốc sức, đồng lòng để thực hiện mục tiêu chung, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng: Công tác dân vận không phải là việc của riêng ban dân vận mà là công việc chung của tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị. Do vậy phải mở rộng thực hành dân chủ, có như vậy mới phát huy được lòng hăng hái, sáng kiến, sáng tạo vượt khó. Cơ quan nào mở rộng dân chủ tốt sẽ đoàn kết tốt, đồng thuận cao trong thực thi nhiệm vụ và kết quả thu được tốt hơn.

Để thực hiện có hiệu quả CTDV chính quyền trong năm 2020 và những năm tiếp theo, CTDV cần được triển khai đồng bộ, nhiều hình thức, nhiều cách làm, mở rộng đến các thành phần xã hội. Do vậy, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trên các lĩnh vực đời sống xã hội; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp. Triển khai mạnh mẽ hơn nữa mô hình người dân đánh giá chính quyền trong việc cung cấp dịch vụ công. “Trước tiên, chính quyền các cấp phải hướng về người dân, lo cho dân, phải bám dân, xử lý đúng đắn mối quan hệ máu thịt giữa người dân và cơ quan nhà nước, coi đây là nền tảng quan trọng để làm tốt CTDV”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ cho rằng cần đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ; kiên quyết xử lý cán bộ, công chức, viên chức nhà nước quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, hách dịch, cửa quyền, năng lực phẩm chất kém. Tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hành dân chủ trên các lĩnh vực ở các cơ quan nhà nước các cấp, bảo đảm công khai, minh bạch; phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân tham gia giám sát, quản lý cơ quan hành chính nhà nước. Tăng cường đối thoại thực chất, hiệu quả giữa các cấp chính quyền với người dân, doanh nghiệp; đặc biệt là giải quyết kịp thời, đúng pháp luật những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là những khiếu kiện phức tạp, đông người, kéo dài.

LLVT thực hiện tốt phong trào toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân; phát huy phẩm chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ và hình ảnh người Công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn cho người dân. Thực hiện đồng bộ các chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững trên các địa bàn chiến lược, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo.

Nhiệm vụ của CTDV không chỉ là vận động nhân dân làm theo mà phải nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, vì nhân dân, chăm lo sức khỏe, vật chất, tinh thần cho nhân dân. Trên tinh thần đó, Thủ tướng yêu cầu CTDV chính quyền phải thực chất, thực lòng, phải ứng xử có văn hóa, giữ gìn đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên. Công tác dân vận tốt, nhưng phải giữ vững kỷ cương phép nước; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong hệ thống và cần chú trọng làm tốt CTDV trên không gian mạng trong tình hình mới.

Nghiêm khắc với bản thân, gia đình, đừng để công - tư lẫn lộn

Trên thực tế, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định yêu cầu cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ trì các cấp không chỉ cần nêu gương về trách nhiệm chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống mà còn phải gương mẫu, đi đầu trong việc vận động, giáo dục vợ con, người nhà, người thân tự giác chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.  

Điều 3, Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” quy định: “Phải nghiêm khắc với bản thân...; không để vợ (chồng), bố, mẹ, con, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để vụ lợi. Không để vợ (chồng), con đẻ, con nuôi sống xa hoa, phô trương, lãng phí hoặc sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật”.

Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về những điều đảng viên không được làm” cũng ghi rõ: “Không được can thiệp, tác động hoặc để vợ (chồng), con, bố, mẹ, anh, chị, em ruột mình, bên vợ (chồng) và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình để trục lợi” (Điều 11) và: “Không được can thiệp, tác động để vợ (chồng), con, bố, mẹ, anh, chị, em ruột mình, bên vợ (chồng), bản thân và người khác đi du lịch, học tập, chữa bệnh bằng nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến ngành, lĩnh vực theo dõi, quản lý” (Điều 17).

Tuy vậy, quy định dù có đầy đủ, chặt chẽ đến đâu mà cán bộ, đảng viên không tự giác chấp hành, tuân thủ nghiêm túc thì cũng khó đạt kết quả như mong muốn. Đối với cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp cần phải thấm nhuần sâu sắc phương châm, nguyên tắc quản trị của người xưa truyền lại, đó là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Bản thân trước hết phải tự giác tu tâm dưỡng tính, tu thân tích đức, tự soi, tự sửa, tự trau dồi, rèn luyện để trở thành một nhân cách đàng hoàng; cùng với đó phải giáo dục, dạy bảo con cái đến nơi đến chốn, chấn chỉnh gia phong, củng cố nền nếp gia đình, gia tộc cho vững vàng, hoàn hảo mới hy vọng làm tốt được công việc lớn lao hơn là quản trị xã hội và vận động, giáo dục, thuyết phục được người dân tin tưởng, làm theo mình. Khi tu thân không tốt, tề gia kém cỏi thì làm sao đủ sức, đủ tài, đủ khả năng gánh vác sứ mệnh “trị quốc, bình thiên hạ” được?

Vẫn biết con người có thể bị tình cảm gia đình chi phối, dễ bị cảm xúc thân thuộc của mẹ cha, vợ chồng, anh em, con cái “len lỏi” và thậm chí có thể lấn át ý chí, lý trí trong tình huống, hoàn cảnh nào đó. Tuy nhiên, khi “ăn cơm nhà nước, phụng sự việc công, phục vụ nhân dân” thì cán bộ, đảng viên rất cần sự tỉnh táo, sáng suốt, biết phân minh giữa việc chung và việc riêng, đừng để công-tư lẫn lộn.

“Thương em anh để trong lòng/ Việc quan anh cứ phép công anh làm” (ca dao). Đạo làm quan là phải "phụng công, thủ pháp, chí công vô tư, dĩ công vi thượng" thì mới có thể dẫn dắt được xã hội, điều khiển được người khác. Phải thấm lấy câu “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy” (nước có pháp luật của nước, nhà có quy định của nhà), “luật pháp bất vị thân” (luật pháp không thiên vị ai), chứ đừng để bản thân rơi vào hoàn cảnh “đục từ đầu sông đục xuống”. Khi tư cách người chồng không ngay ngắn, khi phẩm chất người cha không lành mạnh thì không những không đủ khả năng “tề gia” đến nơi đến chốn mà lại càng khó làm tròn bổn phận, trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên đối với Tổ quốc và nhân dân.

“Quyền lực mềm” đáng sợ của những “quan bà”...

Trong mỗi con người, ai cũng có một phần máu thịt của mẹ cha và chứa đựng tình cảm thiêng liêng, sâu nặng với gia đình, vợ chồng, con cái. Một con người có đạo đức, nhân cách tốt trước hết phải là những người kính trọng ông bà, cha mẹ; yêu thương con cái; thủy chung, tình nghĩa với vợ/chồng; ứng xử hòa thuận với anh em ruột thịt. Một cán bộ, đảng viên có phẩm chất tốt trước hết phải là người sống hiếu thuận, nhân ái với các thành viên trong gia đình. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Có ứng xử, giải quyết tốt các mối quan hệ trong gia đình thì cán bộ, đảng viên mới có thể giải quyết đúng mực các mối quan hệ xã hội.

Tuy vậy, đối với mỗi cán bộ, đảng viên rất cần nhận thức đúng đắn, phân minh rõ ràng giữa việc anh làm tròn bổn phận của người chồng (người cha, người con, người anh/em trong gia đình) với việc gánh vác trách nhiệm, nghĩa vụ chung của tổ chức, cơ quan, đơn vị và nói rộng hơn là phụng sự việc dân, việc nước. Nếu cán bộ, đảng viên còn để việc công-tư lẫn lộn, để việc riêng chi phối việc chung, để mối quan hệ gia đình, dòng họ thân tộc can thiệp vào mối quan hệ xã hội (tổ chức, cơ quan, đơn vị) thì đó là mầm mống gây xáo trộn văn hóa tổ chức, làm lệch chuẩn đạo đức công vụ và nguy hại hơn, là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống. Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”.

Xưa nay, dân gian vẫn râm ran về những bóng dáng “quan bà” đứng sau “quan ông” để ám chỉ những bà vợ “núp bóng” quyền uy của chồng, lợi dụng vị trí công tác, chức vụ của chồng nhằm thực hiện hành vi mờ ám, khuất tất, thậm chí vi phạm pháp luật. Nơi này, nơi khác người ta vẫn rỉ tai nhau rằng, muốn đạt được chức cao, "chỗ ngon", vị trí "hái ra tiền” thì không chỉ phải đi cửa sau “lót tay” cho “quan ông” mà còn phải thực hiện “chiến thuật tâm công” bằng cách tiếp cận các “quan bà” với những lời ngon, lễ ngọt để làm đẹp lòng các “mệnh phụ phu nhân”. Cũng không ngẫu nhiên mà dư luận gọi người vợ của một bộ phận quan chức bằng những cái tên như “bà bí thư”, “bà giám đốc”... để ám chỉ “quyền lực mềm” của những thành phần này có thể thao túng, lấn lướt quyền lực của chồng một cách thái quá theo kiểu “lệnh ông không bằng cồng bà”. Thậm chí, nhiều bà vợ đứng sau lưng quan chức có thể làm khuynh đảo chốn quan trường, can thiệp vào việc chính sự, “bật đèn xanh” cho những kẻ chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ... khiến nhiều người không khỏi ngao ngán.

Châm ngôn có câu “Phía sau thành công của người đàn ông luôn có bóng dáng của người phụ nữ” với hàm ý ngợi ca sự tảo tần, chu toàn và những hy sinh thầm lặng của người vợ đã góp phần làm nên công danh sự nghiệp cho chồng. Thế nhưng thực tế cũng cho thấy, phía sau sự thất bại, thất sủng trên chính trường của một số quan chức thời nay cũng một phần do vợ con dính líu đến chuyện làm ăn khuất tất, vi phạm pháp luật. Nguyên nhân sâu xa một phần do tâm lý “lụy tình, nể vợ” thái quá, phần khác do bản năng “cá chuối đắm đuối vì con” mà một số quan chức để cho vợ con lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình nhằm thao túng, trục lợi người khác mà vẫn dửng dưng. Tệ hại hơn, một số quan chức lại có biểu hiện đồng lõa, biết vợ con, người nhà, người thân có những việc làm sai trái, hành vi tiêu cực nhưng không ngăn chặn kịp thời, nghiêm khắc. Cái sảy nảy cái ung. Nếu những sai phạm nhỏ của vợ con, người nhà, người thân của quan chức mà không được cảnh báo, chặn đứng từ đầu thì có thể tích tụ thành những “đống mối” có khả năng phá hủy, làm tiêu tan công danh sự nghiệp của chính họ.

Những năm gần đây, không ít quan chức bị thi hành kỷ luật, cách chức, thậm chí bị xử lý hình sự bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân không chú trọng giáo dục, quản lý, khuyên răn vợ con, người nhà, người thân, để họ làm liều, làm bậy. “Ông không dạy bảo được vợ con thì ông nói được ai, giáo dục được ai?” là phát ngôn rất thẳng thắn, rất nghiêm khắc, đồng thời cũng là nỗi trăn trở, day dứt của người đứng đầu Đảng ta về một bộ phận quan chức để cho vợ con, người nhà, người thân làm những việc thiếu đàng hoàng khiến dư luận bức xúc.

Nếu thật sự là cán bộ thanh liêm, thật sự là người gương mẫu “phụng công, thủ pháp” thì làm sao có thể xảy ra những chuyện ồn ào dư luận như: Con trai được nâng đỡ, thăng tiến thần tốc; con gái được nâng điểm trong kỳ thi THPT quốc gia; vợ đứng ra thâu tóm những "miếng đất vàng" có trị giá hàng chục tỷ đồng; em trai tự ý mua rẻ đất công để làm biệt thự hoành tráng ở vị trí đắc địa; em vợ cấu kết làm ăn với những “doanh nhân ảo” gây thiệt hại ngân sách hàng trăm tỷ đồng...

Một trong những vụ đại án xảy ra gần đây là vụ Việt Á. Theo thông tin từ Trung tướng Tô Ân Xô, người phát ngôn Bộ Công an, trong vụ Việt Á, đối tượng Phan Quốc Việt khai kiếm lãi 4.000 tỷ đồng, “bôi trơn” khoảng 800 tỷ đồng. Các bị can tại Công ty Việt Á đã dùng nhiều phương thức để chuyển tiền cho các lãnh đạo trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) một số tỉnh, thành phố, có cả chuyển qua tài khoản chính chủ và tài khoản nhờ của người nhà (như vợ, mẹ vợ, bố vợ, em vợ của người nhận) và cả đưa trực tiếp bằng tiền mặt. Không riêng vụ Việt Á, nhiều vụ tham nhũng, hối lộ “khủng” thời gian gần đây đã phanh phui kẻ đưa hối lộ không chỉ “lót tay” cho “quan ông” mà còn chuyển tiền vào cả tài khoản của “quan bà” hàng tỷ đồng...

Thực hiện đồng bộ "4 không" để phòng, chống tham nhũng hiệu quả

 Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" thì chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"...

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao... Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Trong đó, công tác phòng, chống tham nhũng đóng vai trò hết sức quan trọng, được coi là cuộc “tự cách mạng” triệt để, góp phần làm trong sạch nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, bảo đảm không có vùng cấm, qua đó đã tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá cao, đồng tình ủng hộ. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế, ngăn chặn.

Đặc biệt, là Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị rất cao và mẫu mực nêu gương, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá, gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Qua đó, tạo được sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và nhân dân với tinh thần “tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; không chấp nhận những cán bộ, đảng viên ngả nghiêng, dao động.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn còn những mặt hạn chế cần phải thẳng thắn nhìn nhận và quyết tâm khắc phục bằng được để ngăn chặn hiệu quả cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái, biến chất, vi phạm pháp luật và đạo đức, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, đồng thời là cái cớ để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chống phá nhằm thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta.

Trước hết, chúng ta cần thấy rằng, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng thời gian qua có mặt còn hạn chế, nhất là trong vận động xây dựng văn hóa sống liêm khiết, tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân chưa nhận thức đầy đủ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của các tổ chức trong phòng, chống tham nhũng, thiếu tự giác chấp hành.

Vẫn còn tình trạng thờ ơ, ngại đấu tranh với biểu hiện tham nhũng trong nội bộ; trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chưa được thực hiện nghiêm túc, tính tiền phong, gương mẫu chưa cao; một bộ phận không nhỏ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lợi dụng chức vụ, quyền hạn và những sơ hở của chính sách, pháp luật, sự lơi lỏng trong công tác quản lý để tham nhũng, trục lợi. Thực tế những vụ án nổi cộm về tham nhũng, tiêu cực liên quan đến Công ty Việt Á và các "chuyến bay giải cứu", hay trong hoạt động đăng kiểm ô tô vừa qua đã cho thấy rõ điều này. 

Cùng với đó, các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình chưa được quan tâm thực hiện đầy đủ ở một số cơ quan, tổ chức; những quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn chậm được triển khai và chưa thực hiện quyết liệt.

Việc kiểm soát quyền lực, công tác kiểm tra theo phân cấp còn chưa thường xuyên và thiếu nghiêm túc; có nơi chưa chủ động phát hiện, xử lý chưa kiên quyết và dứt điểm đối với các trường hợp vi phạm, dẫn đến từ vi phạm nhỏ thành vi phạm lớn...

Vẫn để xảy ra một số vụ việc, vụ án tham nhũng phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và uy tín của quốc gia trên trường quốc tế; đồng thời là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(1).

Đảng đưa công tác phòng, chống tham nhũng lên tầm cao hơn, là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể nhân dân, với tinh thần phải làm quyết liệt, thể hiện qua 3 vấn đề: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, bảo đảm không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.

Công tác phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, nhiều khó khăn, phức tạp, phải tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì ở tất cả các cấp, ngành, lĩnh vực, với những cách làm vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm. Đảng ta chủ trương phải xây dựng được cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; bảo đảm chế độ chính sách để “không cần tham nhũng” và xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn tham nhũng”.

Theo tinh thần thực hiện đồng bộ "4 không" nêu trên, trước hết chúng ta cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về đạo đức công vụ, sự liêm chính, chí công vô tư, kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, trọng danh dự, liêm sỉ, không tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là sự gương mẫu của người đứng đầu và đội ngũ cán bộ chủ chốt của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Cần nghiên cứu đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giảng dạy cho học sinh, sinh viên, hình thành đức tính liêm chính từ lúc còn trẻ tuổi.

Chú trọng tuyên truyền, nhân rộng cá nhân điển hình tiên tiến; bảo vệ, khen thưởng, động viên khích lệ những người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Cùng với thông tin kịp thời, minh bạch về những vụ án, vụ việc tham nhũng, cần chủ động đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, lợi dụng chống tham nhũng để chống phá Đảng, Nhà nước, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. 

Về hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng, đầu tiên chúng ta cần kiên quyết chỉ đạo rà soát, bổ sung quy chế làm việc của các cấp ủy, chính quyền bảo đảm chặt chẽ, công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý, lãnh đạo, điều hành và chấp hành. Hoàn thiện các cơ chế về kiểm soát quyền lực trong những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, công chức, viên chức. Bảo đảm kịp thời tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị, tố cáo của người dân, doanh nghiệp đối với những hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà của tổ chức, cá nhân trong khi thi hành công vụ...

Việc vô cùng quan trọng là phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, có kiến thức, năng lực toàn diện, đặc biệt là có đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham vọng quyền lực và tham nhũng, cơ hội, cửa quyền, tư duy nhiệm kỳ.

Chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ quy hoạch vào vị trí lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhiều đơn thư phản ánh, tố cáo. Phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng; ngăn chặn có hiệu quả các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, công khai, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, những vấn đề nổi cộm gây bức xúc trong xã hội. Kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.

Cuối cùng, như người xưa đã đúc rút: "Có thực mới vực được đạo", chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập và có chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, có ý thức tự giác “không cần tham nhũng”. 

Thực tế cho thấy, mức thu nhập chính thức của đại đa số cán bộ, công chức hiện nay còn rất thấp so với nhu cầu cuộc sống bình thường, nên không ít người thiếu bản lĩnh đã có tư tưởng kiếm chác, làm liều để lo cho cuộc sống gia đình, dễ bị cám dỗ, mua chuộc, dẫn đến thoái hóa, biến chất. Đảng, Nhà nước cần thẳng thắn nhìn nhận thực tế này để nghiên cứu chế độ chính sách chăm lo cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phù hợp, khắc phục tình trạng "đói ăn vụng, túng làm liều" và tư tưởng "hy sinh đời bố, củng cố đời con" theo chiều hướng tiêu cực.  

Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" (không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng, không muốn tham nhũng) thì chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và các thế lực thù địch cũng không còn cớ để lợi dụng quy chụp, xuyên tạc nhằm chống phá nước ta.

Đừng vội nói bừa

 Về tới đầu làng, ông Tính ngạc nhiên khi thấy ông Thích, người xóm dưới, đang khua tay múa chân nói về việc khám tuyển nghĩa vụ quân sự. Thấy vậy, ông dựng xe gọn một chỗ, lại gần tìm hiểu.

Thấy ông Tính bước vào, ông Thích giọng còn to hơn: “Đấy bà con xem, làng ta còn bao nhiêu thanh niên trai tráng mà có phải nhập ngũ đâu. Trong khi đó, mấy cháu dặt dẹo, ốm yếu, sức khỏe loại 4 vẫn phải lên đường. Như vậy chắc chắn có tiêu cực rồi”. Nghe ông Thích nói, ông Tính thấy “nóng” cả người, bèn hỏi: “Ông kể một vài trường hợp ốm dặt dẹo mà vẫn phải nhập ngũ xem nào?”.

- Thì thằng Thắng con nhà cô Mão ở xóm ông đấy thôi! Ông tưởng tôi không biết à?

Ông Tính nhẹ nhàng thông tin:

- Ông nhầm rồi! Nhà chị Mão có con sinh đôi, cháu Thắng vẫn đang ở nhà, tôi vừa gặp cháu tối qua. Nhập ngũ đợt này là Thành-anh trai của Thắng. Đúng là cháu Thắng sức yếu, nhưng cháu Thành thì khỏe khoắn, tuấn tú lắm. Cháu còn viết đơn tình nguyện nhập ngũ mà. Người trong họ nhà tôi, chẳng lẽ tôi lại không biết bằng ông?

- Thế à? Tôi có ở xóm ông đâu mà biết rõ có hai thằng sinh đôi. Hôm trước ngồi chơi cờ, thấy mấy ông xóm tôi nói láo pháo, câu được câu chăng nên tôi kể lại thôi.

- Ông mới nghe "láo pháo" mà đã đi xóm khác tuyên truyền rồi! Thế còn trường hợp sức khỏe loại 4 ông nói có phải cháu Hiếu ở đầu làng không?

- Ừ! Đúng rồi! Lần này thì chắc chắn tôi không nhầm nhé!

- Không nhầm, mà chỉ vội vàng kết luận thôi. Cháu Hiếu đó thuộc đối tượng đến tuổi đi khám tuyển nghĩa vụ quân sự, nhưng hội đồng nghĩa vụ quân sự kết luận không đủ tiêu chuẩn sức khỏe nhập ngũ nên có phát lệnh gọi đâu. Chắc ông nhầm giữa chuyện đi khám sức khỏe và đi nhập ngũ đúng không? Cháu Hiếu cũng đang ở nhà kìa, ông không tin lên xe tôi chở ra gặp.

      - Ồ, thế à? Tôi cứ tưởng... Ông là cựu chiến binh có khác, chuyện gì cũng tường! Mà thôi, tôi bận lắm. Tôi về đã...

Ông Thích vừa nói vừa quay lưng đi, nhưng ông Tính đưa tay giữ lại, ôn tồn: “Chúng ta đều có tuổi rồi nên trước bất cứ sự việc gì đều phải tìm hiểu thấu đáo mới phát ngôn. Kẻ xấu chỉ chờ những thông tin lệch lạc để mượn cớ xuyên tạc. Mình đừng tạo cớ để kẻ xấu lợi dụng chống phá. Chưa kể, nếu phát ngôn sai sự thật, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân sẽ bị xử phạt rất nặng đấy”.

Thấy ông Tính nói hợp tình hợp lý, mọi người có mặt đều đồng tình. Ông Thích xấu hổ, mặt đỏ ửng, lắp bắp: “Thôi, tôi biết rồi! Tôi sẽ rút kinh nghiệm!”.

CHÂN DUNG CÁC NỮ TƯỚNG QĐND QUA CÁC THỜI KỲ

 🇻🇳Kể từ khi thành lập đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 7 nữ quân nhân được phong quân hàm cấp tướng, trong đó có 1 Trung tướng và 6 Thiếu tướng. 

Nữ Thiếu tướng duy nhất trong thời chiến là Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước và cũng là nữ Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.



Các nữ tướng dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, vị trí công việc gì, song những cống hiến của họ trong suốt quá trình chiến đấu, công tác luôn tỏa sáng phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" và xứng đáng với sự ghi nhận và tôn vinh mà Ðảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ kháng chiến và “Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng” trong thời kỳ đất nước đổi mới...

QĐND

VŨ KHÍ TRONG XUNG ĐỘT ĐANG "ĐẦU ĐỘC" ĐẤT VÀ NGUỒN NƯỚC TẠI UKRAINE

Bom và nhiều vũ khí khác đều chứa chì, thủy ngân và TNT, đồng nghĩa với việc ngay cả khi xung đột với Nga kết thúc, những chất độc hại này vẫn đem đến rủi ro tiềm ẩn cho con người, động vật và môi trường Ukraine.

MẠNG XÃ HỘI - THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC!

     Trong đời sống xã hội hiện nay, sự phát triển của Internet, mạng xã hội đã mang lại nhiều tiện ích, chỉ trong một vài thao tác trên thiết bị số như điện thoại thông minh, máy tính bảng hay máy tính làm việc, không gian và thời gian liên kết giữa người với người được tương tác. Quá trình sử dụng mạng xã hội này cùng lúc xuất hiện những ưu điểm và khuyết điểm vì những mục đích khác nhau, vì khi tham gia các trang mạng xã hội, người dùng phải cung cấp những thông tin cơ bản về tên, tuổi, số điện thoại, email, địa chỉ… Bên cạnh đó, các phần mềm ứng dụng luôn truy cập những thông tin cơ bản trong thiết bị công nghệ cá nhân của mỗi người. Từ những thông tin này, thông qua công nghệ trí tuệ nhân tạo và những công cụ phân tích, các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội nắm được nhiều thông tin của mỗi người như tâm lý, xu hướng, nghề nghiệp, thái độ, quan điểm… Từ đó phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, thậm chí là những mục đích mờ ám.
     Vì vậy đặt ra khi sử dụng mạng xã hội cho mục đích cá nhân phải chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, không tiết lộ thông tin cá nhân và cơ quan, đơn vị như: Thông tin về cấp bậc, chức vụ, hoạt động quân sự, sơ đồ, địa chỉ đơn vị, hình ảnh mặc quân phục, hình ảnh trang thiết bị, hình ảnh hoạt động đơn vị; trường hợp sử dụng các trang mạng xã hội phục vụ tuyên truyền, đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc trên không gian mạng phải được sự cho phép, hướng dẫn của cơ quan chính trị tại các cơ quan, đơn vị. Cùng với đó, thường xuyên làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nắm và quản lý chặt chẽ việc quân nhân tham gia truy cập, kết nối sử dụng Internet và mạng xã hội, trong đó có mạng xã hội Tiktok. Khi phát hiện các vụ việc vi phạm quy định xảy ra kịp thời báo cáo cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xác minh làm rõ, xử lý theo quy định./.


Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

"Trên đống xương máu, trên đống tro tàn, thanh niên ta, con cháu ta, sẽ xây dựng một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”.