Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

Tỉnh táo, nhạy bén trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch

 


Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn coi công tác lý luận là bộ phận quan trọng, là nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng.

Có thể nói, sinh mệnh của Đảng cũng như sự thành bại của sự nghiệp cách mạng có liên quan chặt chẽ với hoạt động lý luận của Đảng. Điều này được minh chứng hùng hồn qua những chặng đường lịch sử vẻ vang của cách mạng nước ta. Nền tảng công tác lý luận của chúng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, công tác lý luận còn được tổng kết, đúc rút từ thực tiễn. Chính thực tiễn cùng với sự đổi mới không ngừng trong tư duy lý luận là điều kiện và cơ sở để công tác lý luận phát triển và những vấn đề lý luận ngày càng được làm giàu thêm.

Một vấn đề rất quan trọng cần nhận rõ, lý luận chính trị là bộ môn khoa học luôn phải đối diện với những quan điểm, luận thuyết trái ngược nên công tác lý luận có nhiệm vụ là đấu tranh chống các quan điểm sai trái và những tư tưởng lệch lạc. Lý luận, đặc biệt là lý luận chính trị lúc nào cũng dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định và đấu tranh lý luận là một mặt trận quan trọng trong những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh lý luận không chỉ xoay quanh vấn đề cốt lõi nhất của lý luận mà thường gắn với những vấn đề thực tiễn, nhất là những biến động của đời sống xã hội. 

Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng-lý luận hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh mới, có nhiều thuận lợi mới và không ít khó khăn, thách thức mới đối với việc bảo vệ những quan điểm lý luận của Đại hội XIII của Đảng. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là động lực, nguồn lực quan trọng để chúng ta vững bước đi lên. Điều đó làm cho công tác lý luận có một cơ sở thực tế mới, có một “cốt vật chất” vững chắc để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tình hình trong nước hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề đáng được quan tâm giải quyết và cũng là những khó khăn đối với công tác lý luận và đấu tranh lý luận. 

Bên cạnh đó, những thách thức đối với công tác lý luận từ bên ngoài tác động vào Việt Nam cũng không hề nhỏ. Đó là những nghịch lý, những diễn biến khó lường và khó dự báo của thế giới hiện nay. Ngay cả những giá trị cao đẹp và đích thực mà nhân loại dày công tạo dựng, vun đắp như hòa bình, độc lập, chủ quyền, công bằng, tiến bộ xã hội... cũng bị các thế lực thù địch, phản động dùng mọi mưu mô đánh phá. Đã thế, có một tình hình là thông tin về mọi mặt đời sống chính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội ở mọi nơi trên thế giới và trong nước, cả mặt thuận và mặt trái, đều có thể hấp thụ được qua nhiều cách, nhiều chiều trên nhiều phương diện. Việc nghe, việc nhìn cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện thông thoáng bên trong, mở cửa, hội nhập với bên ngoài hôm nay đã khác hôm qua. Tất cả điều đó tác động đến công tác lý luận nói chung và tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh lý luận nói riêng. 

Từ những vấn đề đó đặt ra cho cuộc đấu tranh tư tưởng-lý luận hiện nay là chúng ta phải kế thừa những cách thức và phương pháp vốn có, đồng thời phải có cách làm đổi mới, sáng tạo để tìm ra được những luận cứ sắc bén. Điều căn bản là thấy hết những yêu cầu mới đặt ra đối với cuộc đấu tranh lý luận hiện nay. Những yêu cầu đó thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, trong cuộc đấu tranh lý luận, cần nhận rõ sự phức tạp trên con đường cách mạng nước ta vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trên con đường đó, chúng ta gặp không ít khó khăn, không ít lực cản. Có những khó khăn do chính bản thân chúng ta không lường hết, khó khăn nội tại do chủ quan, duy ý chí hoặc do bảo thủ, trì trệ dẫn tới sự đình đốn, thậm chí vấp ngã. Từ đó dẫn tới sự lúng túng và thiếu lý lẽ, thậm chí bế tắc trong lập luận. Sự kiện ở Liên Xô trước đây và Đông Âu-những nơi mà CNXH hiện thực tưởng như rất vững chắc nhưng đã bị tan rã một cách nhanh chóng-đã cho chúng ta bài học sâu sắc cả về tính phức tạp của thế giới đương đại và những trắc trở, khó khăn trên con đường đi tới tương lai của loài người.

Thực tiễn quá trình cách mạng của chúng ta hiện nay cũng chứa đựng những vấn đề không đơn giản. Phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ tất yếu mà chúng ta đang tiến hành. Mặc dù chúng ta luôn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhưng phát triển kinh tế thị trường càng mạnh thì tính tự phát của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa cũng sẽ tăng lên. Chúng ta lại đang ở thời kỳ quá độ, trong đó nền kinh tế và cả xã hội cũng có những vấn đề quá độ đan xen nhau, rất khó rạch ròi. Quá trình mở cửa hội nhập, chủ động làm ăn với các nước tư bản chủ nghĩa lại sử dụng những giải pháp và cách thức phát triển của chủ nghĩa tư bản để xây dựng CNXH đặt ra nhiều thách thức đối với công tác lý luận và đặc biệt là công tác đấu tranh về lý luận để bảo vệ những nguyên lý và quan điểm, định hướng của chúng ta.

Hai là, phải xuất phát từ tư duy khoa học và sáng tạo trong cuộc đấu tranh lý luận; để có sức thuyết phục, mọi lý lẽ được sử dụng phải mang tính khoa học và sáng tạo. Chúng ta đều thấy rằng, một mặt, lý thuyết về CNXH và xã hội XHCN được hình thành một cách khoa học, có khảo sát, phân tích thấu đáo trên cơ sở vận dụng những quy luật khách quan. Nhưng mặt khác, đôi khi chúng ta không chú ý hoặc vô tình bỏ qua một vấn đề quan trọng là những luận thuyết về CNXH được xác lập dựa vào những phương pháp trừu tượng rất cao. Phải tìm tòi và gạt bỏ các vấn đề, các yếu tố đặc thù, hoặc không cơ bản để đi sâu vào lý giải những vấn đề cốt lõi. 

Tính trừu tượng cao của CNXH khoa học chính là những nguyên lý chung nhất, mang tính phổ biến nhất có thể áp dụng cho mọi nơi, mọi nước. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng để xây dựng CNXH, không thể không tính đến những điều kiện đặc thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng một cách sáng tạo như thế. Trên cơ sở nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác-Lênin, Bác Hồ đã vận dụng sáng tạo học thuyết đó cùng với việc kế thừa chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại để đưa ra những tư tưởng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, trở thành nền tảng tư tưởng bền vững của dân tộc và có sức lan tỏa ra thế giới.

Ba là, trong đấu tranh lý luận không được phiến diện, tuyệt đối hóa một chiều và không công thức hóa. Phiến diện và tuyệt đối hóa sẽ dẫn tới làm mất đi tính khoa học của lý luận và tính phong phú của thực tế, làm cho lý luận bị ngưng đọng và không đủ uyển chuyển để tìm ra những luận cứ đấu tranh. Như khi luận bàn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta có lúc đánh giá, nhìn nhận quá cao tác dụng “mở đường” của quan hệ sản xuất; lúc khác thì chỉ để ý đến vấn đề lợi ích, đến việc phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất nên coi nhẹ, thậm chí quên mất việc quan hệ sản xuất phù hợp một cách chủ động và tích cực đối với lực lượng sản xuất. Khi nói về kết cấu và bản chất của CNXH, đôi khi chúng ta mô tả nó một cách công thức đơn giản, hời hợt, sơ lược, coi như không có mâu thuẫn; không nhìn thấy hết và không quan tâm hết đến các hệ thống lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Tất cả những điều đó đã vô tình hạ thấp vị trí và vai trò của hệ tư tưởng XHCN và trên thực tế sẽ tạo ra những cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Bốn là, đấu tranh lý luận cần lấy căn cứ từ thực tiễn, quan tâm đến vấn đề của thực tiễn đặt ra. Nếu trong đấu tranh lý luận mà cứ đi theo công thức định sẵn, không chú ý đến các vấn đề mới nảy sinh trong kinh tế, không để tâm đến tâm trạng xã hội và tình cảm của nhân dân thì không thể đủ sức thuyết phục. Một khi công tác tư tưởng, lý luận cứ theo một khuôn khổ cứng nhắc, không đề cập đến những vấn đề thực tiễn đang nảy sinh vào hoạt động của mình thì nhất định các tư tưởng lý luận xa lạ sai lệch sẽ xen vào. Trong những dạng thức tư tưởng dễ xâm nhập vào quần chúng, phải kể đến ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Ý thức tiểu tư sản thường được “tái sinh” từ sự chủ quan của công tác tư tưởng nói chung và công tác đấu tranh lý luận nói riêng; từ những vi phạm nguyên tắc XHCN trong sản xuất, phân phối và trong cả sinh hoạt đời sống đã động chạm đến lợi ích vật chất, quyền lợi của quần chúng lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân, đứng lên giành chính quyền, xây dựng xã hội mới. Trên từng bước đường đổi mới gặp vô vàn khó khăn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chứng minh một cách rõ ràng cho quần chúng hiểu được những điều cụ thể, từng công việc cần làm và sẽ làm được nếu tất cả mọi người cùng giác ngộ, cùng quyết tâm, đồng lòng, chung sức.

Năm là, đấu tranh lý luận phải hướng vào chủ đích là củng cố niềm tin, sao cho toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân dân tin vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một điều rất hiển nhiên là triển vọng phát triển của đất nước phụ thuộc đáng kể vào tư tưởng và nhận thức của con người. Khi tư tưởng đã thông, thống nhất một cách nghĩ sẽ biến ý chí thành hành động, làm cho triệu người đồng lòng, chung sức, tạo thành lực lượng vật chất to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên. Yếu tố cốt lõi đưa tới thống nhất tư tưởng và hành động là niềm tin. Niềm tin trong mỗi con người là sự chắt lọc từ nhận thức và nằm trong chiều sâu nhận thức, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với việc định hướng tư tưởng và định hướng hành động. Niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân là keo gắn trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân, tạo thành động lực to lớn giúp chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Để xác lập và củng cố niềm tin, điều cần thiết nhất là phải nâng cao trình độ giác ngộ, trình độ hiểu biết cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đối với chúng ta, chỉ có tình cảm là không đủ, mà phải là tình cảm cách mạng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Có như vậy mới định hướng đúng cho mỗi người khi gặp những điều kiện và biến cố phức tạp trong một thế giới đầy xáo động, ngổn ngang, bất trắc khôn lường. Có như vậy mới đủ kiên định trước mọi thử thách của thời cuộc./.

          V3.

Tiếp tục kiên định, giữ vững nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng

 


Thành tựu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian vừa qua đã khẳng định sự đúng đắn, nhất quán trong chủ trương, quan điểm của Đảng, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Tiếp tục kiên định, kiên trì nguyên tắc tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.Có thể thấy thời gian qua, với việc tiếp tục thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII, nội dung Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm điểm đối với những tập thể, cá nhân có biểu hiện vi phạm”. Đại bộ phận các cấp ủy, đảng viên đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã dành thời gian thỏa đáng để kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý, coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình”. Nhờ đó, đã góp phần khắc phục các khuyết điểm tồn lại kéo dài, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện còn những hạn chế nhất định. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc hoặc thiếu tự giác nhận khuyết điểm, trách nhiệm trong công việc; ở một số nơi nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện nghiêm: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”. Việc thực hiện các nội dung, quy trình tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức đảng chưa thật sự nghiêm túc, ảnh hưởng đến chất lượng tự phê bình và phê bình. Một số cấp ủy chưa coi trọng và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện tự phê bình và phê bình; chưa nhìn nhận đúng khuyết điểm và trách nhiệm của mình trước những hạn chế, khuyết điểm của tập thể. Có tình trạng, tổ chức đảng, người có nhiều ưu điểm chưa được động viên khen thưởng thỏa đáng; trái lại, người có khuyết điểm nhưng vẫn được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được khen thưởng, đưa vào quy hoạch… Những điểm này ít nhiều đã làm hạn chế chất lượng, hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng. Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng đang đòi hỏi từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây cũng là cơ sở để ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ “để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ,…”.Thấm nhuần bài học đắt giá của việc từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô gắn với yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng cần kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Để nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay, trước hết cần tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đẩy mạnh giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng; thường xuyên giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Mọi tổ chức đảng và đảng viên cần có thái độ đúng đắn, trách nhiệm trước khuyết điểm của mình và của người khác, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình để không dẫn đến vi phạm những khuyết điểm lớn hơn.

Đồng thời, các tổ chức đảng cần duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Theo đó, cần “thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm”; “cấp ủy chủ động gợi ý nội dung để đảng viên kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ trung ương đến cơ sở”. Tổ chức đảng, mọi đảng viên cần thực hiện tự phê bình và phê bình một cách thực chất; các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên hiện nay.

Bên cạnh đó, để phòng, chống các biểu hiện lệch lạc trong sinh hoạt Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng phải quán triệt rõ mục đích, ý nghĩa và nghiêm túc chỉ đạo, tổ chức thực hiện tự phê bình và phê bình theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đồng thời, từng cấp ủy viên phải coi trọng kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý; coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình; khuyến khích đấu tranh với những quan điểm và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện thoái hóa, biến chất.

Đặc biệt, cần thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình; phát huy tính tích cực, chủ động tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Qua đó, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

          V3.

Thủ đoạn thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nội bộ ta của các thế lực thù địch

 


Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ta không ngừng được cải thiện; quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường; uy tín, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước lại cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật ấy. Chúng đã và đang tìm mọi cách đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta với nhiều thủ đoạn ngầm, mềm, sâu, tinh vi, thâm độc và xảo quyệt. Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ tiêu thành quả cách mạng, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta đang xây dựng, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, có lợi cho chúng.

1. Nếu những năm trước đây, các thế lực thù địch chủ yếu sử dụng vũ trang với các biện pháp quân sự “cứng rắn” để chống phá cách mạng Việt Nam thì ngày nay, chúng đã thay đổi chiến lược, chuyển từ vũ trang sang phi vũ trang với các biện pháp “mềm dẻo”, “linh hoạt” vừa đẩy nhanh quá trình mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đa tầng nấc ở Việt Nam nhằm lôi kéo, thu phục, mua chuộc các đối tác; vừa dùng biện pháp răn đe quân sự, gây sức ép từ bên ngoài để tác động, “chuyển hóa” bên trong, làm cho đối tác Việt Nam phải phụ thuộc, tiến tới thay chế độ chính trị theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Mục tiêu của chúng là thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Nhân dân ta nhằm “chuyển hóa” và hướng lái Việt Nam đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Chúng khai thác và lợi dụng triệt để quá trình mở rộng hợp tác, đầu tư, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh... nhằm tạo ra các cơ hội để xâm nhập sâu hơn vào Việt Nam, thúc đẩy nhanh hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước. Đối với chúng, trong các mục tiêu “chuyển hóa” chế độ chính trị Việt Nam thì biện pháp gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta là vấn đề quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định “chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa”; nhờ đó mà “triệt tiêu các giá trị làm nên chế độ cộng sản, bản chất Đảng Cộng sản Việt Nam”; đồng thời, qua đó xây dựng “ý thức hệ mới” với một hệ thống lý luận chính trị tương xứng để “thay máu cho hệ tư tưởng cộng sản”, tiến tới “đánh gục và hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”; triệt tiêu mọi mầm mống của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam; thay vào đó là nền tảng tư tưởng của giai cấp tư sản mang đậm tính chất phản động, chống cộng.

Quá trình thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Việt Nam, theo các thế lực phản động, là đẩy mạnh hơn nữa sự gây rối, tạo ra các xung lực mới từ các mâu thuẫn bên trong cùng với những “cái hích từ bên ngoài”, kết hợp chặt chẽ với “lộ trình dân chủ” bên trong ở Việt Nam một cách toàn diện, đồng bộ, thông qua nhiều khâu, các bước, đó là: 1) Thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm sút hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước; hủy hoại và tước bỏ niềm tin của Nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa; 2) Thúc đẩy quá trình hình thành, phát triển các “tổ chức chính trị đối lập” xuất hiện và hoạt động công khai, làm cho Đảng Cộng sản bị phân hóa, rối loạn sự lãnh đạo, mâu thuẫn với Nhà nước, không thể kiểm soát được tình hình. Từ đó, buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải chấp nhận “dân chủ” hóa xã hội theo hình mẫu phương Tây hoặc phá vỡ chế độ chính trị - xã hội; 3) “Dân chủ hóa chính quyền các cấp”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng và đảng viên ra khỏi quần chúng; gây áp lực đối với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương, tiến tới lật đổ Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Cùng với đó, chúng triệt để khai thác internet và các trang mạng xã hội để tăng cường quảng bá hình ảnh “tốt đẹp” của phương Tây, gieo cấy niềm tin, tăng sức nặng thuyết phục về giá trị văn hóa, dân chủ tư sản trong mắt người dân Việt Nam, nhất là giới trẻ. Mặt khác, tăng cường “cài cắm”, móc nối, xâm nhập, “chuyển hóa ngầm” bằng các thủ đoạn tình báo để kích thích “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp ở Việt Nam.

2. Các chiến lược gia tư sản cho rằng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Việt Nam theo quỹ đạo tư bản là mắt xích quan trọng nhất trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam. Chúng xác định rằng, lực lượng bên ngoài là tác nhân kích thích quan trọng; lực lượng “ngầm” bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam đóng vai trò quyết định, là hạt nhân, lực lượng nòng cốt cho sự “chuyển hóa”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước. Vì vậy, thực hiện “chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước thông qua con đường “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ nhất thiết phải xây dựng “đội ngũ cán bộ mới”, tức là những người đối lập với Đảng, Nhà nước, luôn đề cao giá trị, văn hóa, lối sống phương Tây; tìm cách đưa các nhân tố này vào trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; từng bước hình thành các phe phái, khuynh hướng đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ráo riết thúc đẩy tham nhũng và lợi dụng việc chống tham nhũng, cũng như những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta để kích động, gây chia rẽ, tạo sự nghi ngờ trong các tầng lớp nhân dân; gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, Nhà nước; vu khống, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Để dọn đường can thiệp sâu hơn vào nội bộ ta, chúng đã thành lập một số nhóm tư vấn ở nước ngoài để tác động, “chuyển hóa” Việt Nam theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước. Các nhóm này đã biên soạn tài liệu, báo cáo và gửi đến một số lãnh đạo Việt Nam nhằm hướng lái, thúc đẩy Việt Nam đẩy mạnh cải cách “dân chủ”, “cải biến” mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế, mở rộng con đường phát triển kinh tế tư nhân theo hướng tư bản, làm cho nó mâu thuẫn gay gắt với quyền lợi kinh tế và ý chí chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Theo đó, chúng tích cực lôi kéo, thu hút, tiếp cận các bộ, ngành, viện nghiên cứu của Việt Nam để móc nối, tác động “chuyển hóa” một số nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành thông qua con đường “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ để đưa các giá trị phương Tây vào Việt Nam. Với kinh nghiệm lật đổ, hỗ trợ hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng sắc màu” tại một số nước trên thế giới, gần đây, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh các hoạt động “ngầm” chống phá Việt Nam thông qua tổ chức phi chính phủ (NGO) để tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng Việt Nam. Điển hình là hoạt động “trá hình” của Quỹ Dân chủ quốc gia (NED), Viện Dân chủ quốc gia (NDI), Viện Cộng hòa quốc tế (IRI), v.v.. Các tổ chức này đã chủ động liên hệ và đề nghị gặp gỡ một số tổ chức, cán bộ cao cấp của ta với hy vọng tìm cơ hội hợp tác, thực hiện ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” Việt Nam.

3. Xâm nhập, tác động, lái thông tin và truyền thông Việt Nam theo ý đồ thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ một cách tinh vi, thâm độc. Các chiến lược gia tư sản cho rằng, để đẩy nhanh quá trình “dân chủ hóa” ở Việt Nam phải đồng thời tích cực hóa quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước và các cộng đồng dân cư Việt Nam. Theo đó, con đường để thực hiện “dân chủ hóa” thông tin, truyền thông và xã hội Việt Nam hiệu quả nhất, trước tiên là thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành thông tin, truyền thông. Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, nhân viên ngành này có quan hệ chặt chẽ với quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước. Trong đó, “dân chủ hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” xã hội Việt Nam, nếu không thực hiện được “dân chủ hóa” trong ngành thông tin, truyền thông và xã hội thì không thể đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, “dân chủ hóa” thông tin, truyền thông là đưa “dân chủ” vào thông tin, truyền thông nhà nước cũng như mở rộng thông tin, truyền thông phi chính thống trong xã hội Việt Nam. Bằng con đường này, chúng hy vọng sẽ gây nhiễu loạn dư luận xã hội, “pha loãng” nền tảng tư tưởng của Đảng và kích động tư tưởng tự do, dân chủ theo hình mẫu tư sản phương Tây. Nhằm đạt mục tiêu này, năm 2017, các thế lực đế quốc đã chi một khoản tiền “kếch xù” để hỗ trợ công tác thông tin, truyền thông châu Á. Trong đó, dành hơn 40 triệu USD cho đài “Á châu tự do” (RFA); giúp nhà đài nâng cấp hệ thống phát thanh truyền hình vệ tinh, nâng cao hiệu quả truyền bá tự do, dân chủ, nhân quyền đến các nước mà chúng cho rằng “thiếu dân chủ”, “vi phạm nhân quyền”, trong đó có Việt Nam. Cùng với đó, chúng lợi dụng triệt để thông tin, truyền thông để thực hiện mưu đồ gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngành giáo dục - đào tạo Việt Nam, làm cho đội ngũ trí thức Việt Nam bị “phân tâm, phân hóa”, nghi ngờ đường lối, chính sách giáo dục - đào tạo của Đảng, Nhà nước ta. Chúng đầu tư mạnh vào các lĩnh vực thương mại điện tử, phần mềm, dịch vụ trực tuyến, công nghệ không dây, internet, các dịch vụ giải trí trên điện thoại di động, internet... để xâm nhập, chiếm lĩnh, chi phối thị trường công nghệ thông tin, truyền thông Việt Nam, tách dần thông tin, truyền thông Việt Nam ra khỏi sự kiểm soát của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Đối với các nhà báo Việt Nam, chúng đã và đang tìm mọi biện pháp nhằm lôi kéo, mua chuộc một số người có “quan điểm cấp tiến” đi du học hoặc tạo điều kiện cho đi công tác nước ngoài để “mở mang tầm nhìn, bổ sung, cập nhật kiến thức mới”, bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp tác nghiệp hiện đại, viết bài về vấn đề dân chủ, nhân quyền theo hướng phản biện xã hội, truyền bá giá trị tự do, nhân quyền tư sản vào Việt Nam. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc của các thế lực thù địch.

4. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các thế lực thù địch đang ráo riết sử dụng chiêu bài “dân tộc” và “tôn giáo” để đẩy mạnh việc cổ súy cho cái gọi là phát huy “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam. Chúng đã và đang dùng nhiều “chiêu trò” để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình đổi mới ở nước ta, vu cáo Việt Nam “không có dân chủ”, thiếu công khai, minh bạch; vi phạm nhân quyền, không tôn trọng tự do tôn giáo; rằng Đảng, Nhà nước ta đối xử không công bằng với đồng bào các dân tộc thiểu số; không quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Với nhiều hình thức trá hình, thông qua con đường “ngoại giao thân thiện”, “hỗ trợ nhân đạo”, chúng đã và đang tìm cách đưa người vào Việt Nam với các danh nghĩa rất khác nhau để xúc tiến việc tìm hiểu tình hình, thu thập thông tin, móc nối, lôi kéo, hỗ trợ các lực lượng “ngầm” gây rối ở một số địa bàn thuộc các địa phương, phản ánh sai lệch sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ, đố kỵ, mâu thuẫn trong nội bộ các dân tộc; tạo điều kiện thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống phá Đảng, Nhà nước và bài xích chế độ ta.

Nhìn lại sự kiện bạo loạn ở Tây Nguyên (2001, 2004), của người Mông ở Mường Nhé (2011), ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận (2017, 2018)…, chúng ta có thể thấy âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động là vô cùng thâm độc và xảo quyệt. Bằng nhiều chiêu trò bỉ ổi, chúng đã “hỗ trợ” nhóm phản động người Mông ở Tây Nguyên, vận động họ ra các tỉnh phía Bắc “đón vua”; đồng thời, lôi kéo người Mông từ Điện Biên vào các tỉnh Tây Nguyên để “lánh nạn”, chờ cơ hội lập lại “vương quốc Mông” tự do. Bên cạnh những việc làm trên, chúng còn liên tục tài trợ, giúp đỡ, huấn luyện một số cốt cán “Tin lành Đềga” ở nước ngoài để đưa về Việt Nam hoạt động thông qua “bức bình phong” là các “tổ chức phi chính phủ”. Việc làm của chúng ít nhiều đã và đang gây khó khăn, sức ép đối với chính quyền địa phương, làm mất ổn định trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sinh hoạt của Nhân dân. Ở một số địa phương, những phần tử bất mãn với chế độ ta đã lợi dụng tình hình này, đẩy mạnh hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tổ chức đảng và chính quyền địa phương với ý đồ “góp gió thành bão”, gây “sóng” trên cả nước để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

5. Đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo, ráo riết thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngành giáo dục Việt Nam là một “chiêu bài” thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng xác định giáo dục - đào tạo là một trong những mũi đột phá, là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Để thực hiện mục tiêu này, chúng chủ trương thực hiện chính sách hai mặt. Một mặt, mở chiến dịch xuyên tạc, phủ nhận kết quả của nền giáo dục - đào tạo Việt Nam, cho rằng nền giáo dục - đào tạo nước ta đang ở tình trạng khủng hoảng, bế tắc; chất lượng đào tạo nhân lực rất đáng lo ngại, không thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội;… Mặt khác, chúng kêu gọi phải thay đổi nền giáo dục Việt Nam bằng con đường “Tây học”, du học.

6. Lôi kéo, chuyển hóa, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lực lượng vũ trang nhằm làm suy yếu, thực hiện “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang là một mũi nhọn trọng điểm trong âm mưu “đánh sập” Việt Nam của các thế lực thù địch. Về cơ bản, thường xuyên và lâu dài, chúng lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị, lấy vô hiệu hóa Quân đội, Công an làm nhiệm vụ trước mắt và trực tiếp. Trong nhận thức và hành động, chúng cho rằng, chỉ có tách rời Đảng Cộng sản ra khỏi lực lượng vũ trang, gạt bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và Công an thì mới có thể chuyển hóa thành công chế độ chính trị ở Việt Nam theo hình mẫu tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, trong mọi phương sách, từ trước đến nay, chúng đều hướng đến cái đích duy nhất là: gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội và Công an.

7. Thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế được các thế lực thù địch xác định là giải pháp căn cơ, chính yếu để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Việt Nam. Bằng nhiều biện pháp, chúng kích động, lái nền kinh tế Việt Nam đi chệch khỏi định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện điều đó, chúng cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, rắp tâm “nhấn chìm” thành phần kinh tế nhà nước, khoét sâu vào những yếu kém của các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích cổ phần hóa triệt để hoặc giải thể các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước. Thực chất, chúng muốn thành phần kinh tế nhà nước lụi tàn để phá hỏng cơ sở, chỗ dựa của chế độ xã hội chủ nghĩa; làm suy yếu và tiến tới gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước trên lĩnh vực này, hướng lái Việt Nam phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.

8. Để tăng tốc, mở rộng quy mô, đổi mới hình thức chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã và đang tiến hành nhiều thủ đoạn, biện pháp mới rất tinh vi và xảo quyệt. Về chính trị tư tưởng, chúng tiếp tục xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cái mới của thủ đoạn này là tấn công nhằm đánh đổ thần tượng Hồ Chí Minh, bôi nhọ thân thế, cuộc đời, sự nghiệp, trước tác của Người; cắt ghép, lắp ráp, tạo dựng chứng cứ giả để xuyên tạc, bôi nhọ đời tư của một số lãnh tụ của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Quân đội, Công an để tạo sự nghi ngờ và dư luận xấu trong xã hội. Lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta sửa đổi Hiến pháp và một số bộ luật, các thế lực thù địch đưa ra các yêu sách đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để “gây bầu không khí dân chủ” ở Việt Nam. Hơn thế, họ cho rằng, Đảng Cộng sản ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chứng tỏ rằng, nội bộ Đảng đang có những vấn đề phức tạp, sắp có biến động lớn. Từ đó, chúng kích động, lôi kéo đảng viên và quần chúng nhân dân đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp. Nhìn chung, âm mưu, thủ đoạn và hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch là rất nguy hiểm. Vì vậy, nhìn rõ và vạch trần bộ mặt thật của chúng, luôn đề cao cảnh giác, đề phòng để không bị mắc mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và trong Nhân dân là trách nhiệm, bổn phận của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay.

9. Nhìn lại quá khứ, suy xét những diễn biến hiện nay, có thể khẳng định rằng, bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là không hề thay đổi đối với sự chống phá cách mạng Việt Nam. Một số thủ đoạn mới nảy sinh là sự bổ sung nội dung, hình thức mới để duy trì chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Việt Nam; trong đó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân chỉ là hai trong nhiều việc đang được các thế lực thù địch “thay hình, đổi dạng” cho hợp với tình hình và diễn biến của thời cuộc, nhưng tác động, ảnh hưởng của nó thì đặc biệt nguy hiểm. Vì vậy, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là giải pháp cơ bản, có ý nghĩa quyết định để chúng ta đánh bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; không mắc mưu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của chúng.

Cùng với đó, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là vấn đề thời sự, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong đó, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang là cơ sở nền tảng để lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của Nhân dân; luôn xứng đáng là lực lượng nòng cốt, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn với xây dựng, củng cố thế trận an ninh nhân dân; xây dựng “thế trận lòng dân”; hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay, cần tăng cường các biện pháp nắm bắt tình hình địch, tình hình ta ở cơ sở, địa phương, nhất là những địa phương có “điểm nóng”; kịp thời phát hiện các hoạt động chống phá và xâm nhập trái phép của bọn phản động, sự móc nối của chúng với các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ ta ở trong nước và nước ngoài. Cùng với đó, quản lý tốt internet, mạng xã hội, các phương tiện thông tin, truyền thông để có biện pháp phân loại quản lý, đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại mọi ý đồ xâm nhập, móc nối, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm; từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, nhất là người dân ở các vùng còn nhiều khó khăn như biên giới, hải đảo, vùng đồng bào theo đạo, các dân tộc thiểu số, các gia đình thuộc diện chính sách, các địa phương có các vụ khiếu kiện chưa giải quyết xong; v.v..

Bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật để nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, truyền thông đại chúng như sách báo, tạp chí, báo điện tử, internet,... nhằm đáp ứng nhu cầu nắm bắt thông tin của các tầng lớp nhân dân; tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng sáng tác, có nhiều chương trình mới, hay hơn, hấp dẫn hơn để đáp ứng nhu cầu thưởng thức các giá trị văn hóa, nghệ thuật của Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ. Đây là biện pháp tốt để lấn át các trào lưu thông tin, truyền thông điện tử, sách báo, băng nhạc, đĩa hình, các trang mạng xã hội... phi chính thống mà các thế lực thù địch đang khai thác, sử dụng triệt để nhằm chống phá ta.

Rà soát, điều chỉnh một số chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương về xây dựng “thế trận lòng dân”, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho phù hợp với tình hình mới, thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp theo quy chế, quy định hiện hành của Nhà nước; quan tâm giải quyết thỏa đáng một số nhu cầu chính đáng về an sinh xã hội của quảng đại quần chúng như: nâng cao chất lượng đời sống dân sinh (điện, nước, đi lại, khám chữa bệnh, học tập, nghiên cứu, thưởng thức các giá trị văn hóa, nghệ thuật...); kiên quyết khắc phục các khuyết điểm, hạn chế; không để sơ hở tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và bồi dưỡng cán bộ; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp nghiên cứu, giảng dạy, học tập để nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là quan tâm chăm lo bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ có tâm, có trí tuệ, có thực đức, thực tài để giới thiệu cho Đảng chuẩn bị nhân sự cho đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, tăng cường giáo dục chính trị, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, giúp họ nêu cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; đề cao ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; không để xảy ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan, đơn vị và các khu dân cư. Đó là những vấn đề then chốt, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm chấn hưng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao..., tạo sức mạnh nội sinh bền vững để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và bảo vệ Tổ quốc.

Đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật Quân đội; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoàn thành thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra; chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức thành công Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phấn đấu đưa nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

          V3.

Tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin, một âm mưu thâm độc và phi lý

 


Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, nhất là thời điểm "nhạy cảm chính trị" khi chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị sâu sắc.

 

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta xác định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, và, một trong năm bài học mà Đại hội XII Đảng ta xác định là: "trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh"

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, nhất là thời điểm "nhạy cảm chính trị" khi chúng ta đang tiến hành Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị  sâu sắc.

Đảng ta đã sớm xác định và chỉ đạo kịp thời cuộc đấu tranh này, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thống nhất về tư tưởng và hành động, tiếp tục bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ thù, gần đây nhất ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Bên cạnh việc kiên định đường lối, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta cần tăng cường đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau. Phải tiến hành đấu tranh chống các quan điểm sai trái ở từng cơ quan, từng ngành, coi đó là phương pháp tự bảo vệ mình, qua đó hình thành một mặt trận chung của nhiều ngành, nhiều cơ quan tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Các cơ quan thông tấn, báo chí cần tìm ra những hình thức tuyên truyền cho phù hợp, sát với từng đối tượng cụ thể, tăng cường công tác thông tin, nhất là thông tin đại chúng như mạng lưới báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh, internet...

Gần đây trên các trang mạng xã hội, với chiêu trò “góp ý” cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, một số phần tử chống phá và những kẻ cơ hội núp bóng “góp ý” đã cho rằng: ở Việt Nam chỉ cần nói tư  tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chúng ta cần chỉ ra những sai trái, mơ hồ và phi lý của luận điểm này. Trước hết, phải khẳng định lại quan điểm của Đảng ta rằng: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống tư tưởng toàn diện về cách mạng Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay bản thân Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, chính xác khi đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh viết: “Trước hết phải có đảng cách mệnh...Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt... Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”

Tháng 7-1969 trong bài trả lời phỏng vấn phóng viên nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng tôi giành được thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”

Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm được con đường để cứu nước giải phóng dân tộc đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Người nói: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”

Nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, có thể nói, về bản chất khoa học và cách mạng thì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh “tuy hai mà một, tuy một mà hai”, cho nên ở Việt Nam không thể tách rời mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể và không được lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin.

Mưu toan của quan điểm trên muốn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là muốn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, và như vậy trước mắt “cái gốc” của tư tưởng Hồ Chí Minh đã bị phủ nhận, thì tương lai họ sẽ tiến đến tìm cách phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí Minh, sâu xa hơn là phủ nhận nền tảng tư tưởng và phương pháp luận của Đảng.

Do vậy, phải luôn luôn quán triệt bài học kinh nghiệm mà Đảng ta nêu ra tại Đại hội XI rằng: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

Tóm lại, bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh trong thực tiễn là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học của những quy luật khách quan về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, cẩm nang về cách mạng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, chính bản thân Hồ Chí Minh đã nói lên nguyên nhân thắng lợi của cách mạng nước ta là nhờ nguồn gốc tư tưởng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, thứ ba, Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự cụ thể chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh nước ta.

Chính sự chính xác về khoa học, toàn diện và hệ thống, tính biện chứng nhằm mục đích giải phóng nhân loại cần lao, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bất công, giải phóng mọi sự tha hoá, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh thực sự  mà chủ nghĩa Mác - Lênin và ở Việt Nam có thêm tư tưởng Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, do vậy ở nước ta không được mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin.

Nên, việc lên án, chỉ ra "chiêu trò" thâm độc này, đề cao cảnh giác và đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam là việc làm khẩn thiết.

          V3.

Sự mâu thuẫn của một âm mưu thâm độc

 


Trong những luận điệu chống phá mà các thế lực thù địch, phản động thực hiện trước thềm Đại hội XIII của Đảng ta, thì luận điệu “Đại hội XIII cần bỏ cụm từ “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo”là một ví dụ về âm mưu thâm độc của chúng.

 

1.  Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, sự đấu tranh, va đập, xung đột giữa các trào lưu tư tưởng, ý thức hệ, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng…luôn xuất hiện và có diễn biến phức tạp, nhất là từ khi chủ nghĩa tư bản (CNTB) ra đời cho đến nay. Tùy theo đặc điểm, mức độ khác nhau, có thể nói, cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội (CNXH) là cuộc đấu tranh dai dẳng, lâu dài, quyết liệt nhất.

Nhìn lại sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự khó khăn của các nước xã hội chủ nghĩa, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, có nguyên nhân quan trọng từ sự chống phá về tư tưởng, ý thức hệ của các thế lực cơ hội, thù địch.

Ở Việt Nam, sự chống phá của các thế lực thù địch diễn ra từ trước khi  Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) ra đời, bằng sự đàn áp của chế độ thực dân với các phong trào yêu nước, các cá nhân có tư tưởng tiến bộ. Khát vọng giành độc lập dân tộc, đưa nhân dân, đất nước thoát khỏi ách đô hộ thực dân, thoát khỏi đói nghèo cũng là một trong những nguyên nhân ra đời một chính Đảng kiểu mới - Chính Đảng của giai cấp công nhân, lãnh đạo nhân dân kháng chiến giành độc lập và đi lên CNXH.

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết lắm, chỉ có chủ nghĩa Lênin là chắc chắn nhất, cách mạng nhất. Cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Việt Nam, không chỉ là cuộc kháng chiến giành độc lập của một dân tộc đánh đuổi đế quốc, thực dân xâm lược mà còn là cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Trong suốt 30 năm từ khi Nhà nước công nông non trẻ đầu tiên ra đời, cho đến khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ đánh Pháp, đuổi Nhật và chiến thắng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và CNTB diễn ra ở Việt Nam lúc này, không chỉ là cuộc đấu tranh trên chiến trường với súng đạn, các phương tiện chiến tranh hủy diệt của kẻ thù xâm lược, sự hy sinh xương máu của hàng triệu người, mà còn là cuộc chiến tranh tổng lực, trên mọi phương diện, trong đó có cả sự chống phá về tư tưởng, ý thức hệ của các thế lực cơ hội, thù địch. Những âm mưu kích động bạo loạn, lật đổ, tâm lý chiến, tuyên truyền, bôi nhọ, phá hoại từ bên trong thường xuyên xảy ra, có sự phối hợp trong - ngoài, trên - dưới với nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc. Phạm vi chống phá cũng rất đa dạng, kết hợp đấu tranh trên chiến trường với sức mạnh vượt trội về phương tiện chiến tranh, tiềm lực quân sự với tâm lý chiến, phá hoại về tư tưởng, chính trị, bao vây, cô lập… Nội dung và lĩnh vực chống phá được thực hiện, hướng vào những vấn đề khó khăn trong nước, khi Việt Nam vừa thực hiện kháng chiến giành độc lập, vừa từng bước xây dựng CNXH trong điều kiện điểm xuất phát thấp, một số lĩnh vực hay bị lợi dụng như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… Âm mưu, thủ đoạn chống phá cũng linh hoạt, đa dạng, đó là sử dụng sức mạnh trên chiến trường, kết hợp phá hoại sự ổn định bên trong, ly tán về tư tưởng, chính trị… Ở mỗi thời điểm, giai đoạn khác nhau, các thế lực cơ hội, thù địch sử dụng phương thức chống phá tương ứng. Tuy nhiên, sức mạnh của chính nghĩa và sự đoàn kết, đồng lòng của người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, đã làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, Việt Nam đã giành độc lập, thống nhất đất nước.

 

Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bước vào giai đoạn mới, với nhiều đặc điểm khác biệt so với trước đây, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến cuộc đấu tranh tư tưởng, ý thức hệ. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, vì nhiều lý do, nhưng chủ yếu là sai lầm chủ quan, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khó khăn. Khủng hoảng kinh tế - xã hội, quản lý đất nước yếu kém, sự chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ, cùng với cuộc chiến tranh lạnh, sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc gây ra đã làm cho một số nước mất ổn định nghiêm trọng, dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và một loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào đầu những năm 1990.

“Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được nghiêng ngả, dao động” (Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (1))

Ở Việt Nam, thời điểm này, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới tiến hành được 5 năm, những khó khăn về kinh tế do điểm xuất phát thấp, bị chiến tranh tàn phá nặng nề trước đây, cùng với 2 cuộc chiến tranh biên giới phía Nam và phía Bắc, đã đẩy đất nước vào khủng hoảng chưa từng có. Bị cấm vận, bao vây cô lập, mất nguồn viện trợ từ bên ngoài làm cho Việt Nam đã khó khăn càng khó khăn hơn, nhiều vùng miền trong cả nước có tình trạng thiếu lương thực, nhu yếu phẩm thiết yếu trở nên trầm trọng… Sự chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch giai đoạn này đối với Việt Nam càng quyết liệt hơn bao giờ hết. Điều này không chỉ thể hiện âm mưu xóa bỏ CNXH ở một số nước còn lại, trong điều kiện phong trào cộng sản, công nhân quốc tế đang thoái trào, các thế lực thù địch còn muốn xóa bỏ mô hình chế độ xã hội mới tồn tại hơn nửa thế kỷ.

Trong suốt thời gian từ cuối thế kỷ XX cho đến nay, nội dung chống phá của các thế lực thù địch có thể khái quát ở một số vấn đề cơ bản, như: 1) Tiếp tục chống phá về hệ tư tưởng, ý thức hệ mà trực tiếp là những quan điểm nền tảng, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng đã lỗi thời; đề cao mô hình, thể chế nhà nước tư bản chủ nghĩa, tam quyền phân lập, ca ngợi sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ...; 2) Chống phá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, chia rẽ Đảng với nhân dân, quân đội, công an với nhân dân; phê phán đường lối đối ngoại, trong đó đặc biệt tập trung vào quan hệ Việt Nam - Trung Quốc; 3) Hạ thấp thành tựu, đồng thời khoét sâu, thổi phồng những khó khăn, yếu kém, sai lầm trong quản lý kinh tế - xã hội; 4) Hạ bệ thần tượng, tập trung vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nhân việc Đảng xử lý cán bộ tham nhũng, tiêu cực, chúng khuếch đại, chia rẽ nội bộ nhân dân, dân tộc, tôn giáo, khối đại đoàn kết, làm nhân dân mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; 5) Thông tin bôi nhọ mô hình, yếu kém của một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại... Từ những nội dung trên, các thế lực thù địch “chế biến” thành nhiều nội dung cụ thể, có vấn đề chống thường xuyên, liên tục, có nội dung khai thác sâu ở từng thời điểm.

Lực lượng chống phá cũng có nhiều thay đổi, bên cạnh một số thế lực chính trước đây ở các nước phương Tây, lực lượng “diều hâu” cực đoan, còn một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài, “hận thù” dân tộc sau chiến tranh, một số đối tượng bất mãn, cơ hội trong nước, móc nối với bên ngoài, trong đó có cả một số nguyên là cán bộ cao cấp, trí thức, văn nghệ sĩ… Âm mưu, thủ đoạn chống phá linh hoạt hơn, ngoài việc tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”,  “chiến thắng không cần chiến tranh”, tận dụng tối đa các kênh thông tin như đài phát thanh, nhà xuất bản trực tiếp hướng vào Việt Nam như trước đây, hiện nay chúng triệt để khai thác thế mạnh truyền thông, mạng xã hội, Internet với các hình thức đa dạng, tập trung vào thế hệ trẻ, với nhiều hình thức mới, tuyên truyền thông tin sai lạc, xuyên tạc sự thật. Chúng thường tập trung vào những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, khiếu kiện đất đai, biên giới hải đảo, chia rẽ công an, quân đội với dân…, kích động biểu tình, bạo loạn lật đổ, đưa người từ ngoài vào, phối hợp với những phần tử cơ hội, bất mãn trong nước nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng. Nội dung chống phá cũng linh hoạt, đa dạng và tinh vi hơn, thật giả lẫn lộn, trắng đen thay đổi…, nhất là vào những thời điểm quan trọng, sự kiện chính trị lớn của đất nước như trước và sau Đại hội Đảng các nhiệm kỳ. Trong đó, luận điểm “ Đại hội XIII cần bỏ cụm từ: “nền tảng tư tưởng”, cứ lý thuyết nào đúng thì theo” là một ví dụ!

2.  Nhân dân Việt Nam gắn bó với Đảng Cộng sản Việt Nam, tin yêu và đi theo Đảng, gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng ta”. Do đó, khi nêu “cứ lý thuyết nào đúng thì theo”, điều này nghe qua có vẻ hợp lý, có tính xây dựng, nhưng thực chất là sự mâu thuẫn, đánh tráo khái niệm. Hoặc là, nền tảng tư tưởng của Đảng là đúng, được thực tiễn Việt Nam khẳng định, thì “cứ lý thuyết đúng thì theo” như vậy là đủ, không cần kiên trì nền tảng tư tưởng, dễ bị coi là cứng nhắc, giáo điều. Bên cạnh đó, trong bối cảnh khó khăn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay, các thế lực thù địch thường rêu rao về sự “lạc hậu, lỗi thời” hoặc “chỉ đúng với trước kia, không còn đúng với hiện nay”, điều này cũng đồng nghĩa với việc coi chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp, không còn đúng, và do đó, cứ “lý thuyết nào đúng thì theo” càng có vẻ phù hợp. Điều đó phản ánh âm mưu, thủ đoạn và cho thấy rõ mục đích cuối cùng của các thế lực cơ hội, thù địch là mong muốn Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, điều mấu chốt trong sự mâu thuẫn của luận điểm “cứ lý thuyết nào đúng thì theo!” là ở chỗ: các thế lực cơ hội, thù địch thường lấy mô hình, lý thuyết của CNTB là chân lý, hoặc các lý thuyết theo chúng là đúng, còn khác với quan điểm của chúng là sai. Thậm chí, không ít trường hợp, do “hận thù” dân tộc, do thái độ thù địch, nên những người cộng sản làm bất cứ điều gì có lợi cho đất nước, dân tộc, nhân dân thì chúng đều phê phán.

Dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua, Việt Nam vẫn nỗ lực đạt được những thành tựu về xóa mù chữ, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội… được thế giới thừa nhận, nhưng các thế lực cơ hội, thù địch vẫn ra sức phê phán, cố tình phủ nhận. Bởi vậy, cái gọi là “lý thuyết đúng” mà chúng đưa ra chỉ là ảo tưởng, nhằm đánh tráo khái niệm, mập mờ “đánh lận con đen” đối với những người thiếu hiểu biết. Bên cạnh đó, không thể so sánh một lý thuyết đơn thuần với một nền tảng tư tưởng, hệ tư tưởng. Đó là sự so sánh khập khễnh, thiếu tính hệ thống và tính khoa học. Bởi, một lý thuyết chỉ đề cập đến một vấn đề, một lĩnh vực cụ thể, còn hệ tư tưởng, nền tảng tư tưởng bao gồm nhiều lý thuyết, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong một chỉnh thể thống nhất, bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn.

Những luận cứ khẳng định tính đúng đắn của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là:

Thứ nhất, luận cứ về giá trị phổ quát của việc lựa chọn tư tưởng, mô hình phát triển của một quốc gia.

Mỗi chế độ xã hội đều dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định, là cơ sở để xây dựng, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại cho đến nay, dù tiếp cận từ quan điểm chính trị, ý thức hệ như thế nào, mọi người cũng đều phải thừa nhận, loài người đã trải qua các thời kỳ từ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và sau này, đã có các quốc gia đi lên CNXH. Theo quan điểm phát triển, tương ứng với mỗi một thời kỳ đó là một kiểu chế độ xã hội đặc trưng, thể hiện sự tiến hóa của văn minh nhân loại trên các lĩnh vực, từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mô hình tổ chức nhà nước, xã hội, các giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu...

Nhìn chung, tư tưởng, mô hình tổ chức xã hội tồn tại trên thực tế, xét ở các khía cạnh khác nhau đều là tri thức, lý thuyết, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhóm/tầng lớp/giai cấp hay của nhân loại trong từng giai đoạn lịch sử. Các đảng phái chính trị, nhất là đảng cầm quyền ở từng quốc gia đều đại diện cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định, đều lựa chọn tư tưởng, cương lĩnh ngay từ khi mới ra đời, đặc biệt khi trở thành đảng cầm quyền.

Thứ hai, luận cứ về khái niệm, nội hàm khoa học.

Xét về mặt khoa học, lý thuyết có thể đúng và chưa đúng và dễ bị sử dụng, phụ thuộc vào chủ quan con người, lý thuyết đúng phải được thực tiễn kiểm nghiệm. Đối với nội hàm của tư tưởng, điểm chung nhất là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan vào trí óc con người dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật… biểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp và của xã hội, nhằm thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể. Tư tưởng có một số đặc trưng cơ bản, như: 1) Có tính độc lập tương đối so với thế giới khách quan, tác động trở lại đối với thế giới khách quan và hoạt động thực tiễn của con người; 2) Nội dung phản ánh của tư tưởng là khách quan, nhưng thông qua chủ quan của con người; 3) Luôn gắn bó và thể hiện lợi ích của con người, nhóm người cụ thể; 4) Luôn gắn với chủ thể nhất định và phản ánh lợi ích của chủ thể đó; 5) Có nhiều cấp độ, hình thức khác nhau về sự tiến bộ hay lạc hậu; tính khoa học hay phản khoa học và thể hiện ở các lĩnh vực khác nhau.

Theo đó, xác định nội hàm của hệ tư tưởng được hiểu là hệ thống các tư tưởng của một giai cấp có mối liên hệ biện chứng, thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau, cùng hướng tới một mục tiêu thống nhất, là cơ sở để đảng chính trị, đại diện cho giai cấp đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện để đạt được mục tiêu đã xác định. Chính vì thế, khi đề cập đến nền tảng tư tưởng, đồng nghĩa với việc khẳng định những tư tưởng cốt lõi mang tính nguyên tắc, là cơ sở để định hướng cho việc bổ sung, phát triển tư tưởng mới trên nền tảng nguyên tắc cốt lõi, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của thực tiễn. Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của chính đảng vô sản cách mạng, Đảng kiểu mới - Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Đó là hệ thống các tư tưởng, quan điểm sâu sắc và toàn diện của các nhà kinh điển Mác-xít về chính trị, kinh tế, xã hội, triết học, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo… bao gồm 3 bộ phận cấu thành: Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Đây là học thuyết mở, bản thân các nhà kinh điển Mác-xít cũng chỉ rõ yêu cầu cần phải bổ sung, phát triển trong điều kiện mới. Hơn một thế kỷ qua, thực tiễn phát triển các quốc gia lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho thấy, nước nào vận dụng đúng, sáng tạo sẽ phát triển, ngược lại giáo điều, dập khuôn, máy móc sẽ thất bại. Thực tiễn thế giới ngày nay chứng minh một thực tế, đi lên CNXH vẫn là xu thế phát triển chung của nhân loại.

Ở Việt Nam, tại Đại hội lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, đã đánh dấu một bước tiến mới về nhận thức và tư duy lý luận của Đảng. Trong đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, không chỉ là học thuyết về giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động, giải phóng con người, mà còn là học thuyết về sự phát triển xã hội, là vũ khí tinh thần để Đảng làm tròn vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo cách mạng, và chính Người từ chủ nghĩa yêu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin và truyền bá vào Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải làm theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tầu không có bàn chỉ nam”. Đó cũng là cơ sở để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng, dân tộc và nhân dân ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của đất nước ta đi tới thắng lợi cuối cùng. Từ nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội IX đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh được nghiên cứu, làm sáng tỏ trên nhiều vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng và xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận nồng nhiệt, có nhiều chủ đề học tập theo từng nhiệm kỳ, phù hợp với các đối tượng khác nhau trong xã hội. Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đang tiếp tục được mở rộng về triết học, xã hội học, kinh tế…

Thứ ba, luận cứ về tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng, không chỉ được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, mà còn được khẳng định, ghi trong Hiến pháp. Điều 4, khoản 1, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội".

Trải qua các giai đoạn cách mạng, khi Đảng, Nhà nước Việt Nam tổng kết, đánh giá những thành công, hạn chế trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện, vấn đề kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bài học quan trọng hàng đầu được rút ra. Từ Đại hội VII đến Đại hội XII, khi đề cập đến bài học kinh nghiệm, vấn đề kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được đề cập trong văn kiện Đảng. Tổng kết 30 năm đổi mới, trong 5 bài học được rút ra, bài học đầu tiên là “…trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”. Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, khi đề cập 5 quan điểm chỉ đạo, quan điểm đầu tiên cũng nêu: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Từ những luận cứ khoa học và thực tiễn nêu trên cho thấy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống các quan điểm sâu sắc, toàn diện, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhân loại, luôn được bổ sung, phát triển cùng thời đại và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bởi vậy, đây không phải là những lý thuyết đúng đắn riêng lẻ, mà quan trọng hơn, là những lý thuyết đúng đắn được gắn kết trong một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, mang tính cách mạng và khoa học, được thực tiễn Việt Nam kiểm nghiệm và tiếp tục bổ sung đầy đủ, sâu sắc hơn trong mỗi giai đoạn cách mạng.

Thứ tư, luận cứ về giá trị thời đại, cơ sở để đưa cách mạng Việt Nam phát triển.

Sau gần 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Kiên định độc lập dân tộc và CNXH, đặc biệt là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tiếp thu tinh hoa của thế giới, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sau này là cách mạng công nghiệp lần thứ tư... Việt Nam có quan hệ rộng mở với các quốc gia trên thế giới, vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Điều này càng khẳng định vai trò của nền tảng tư tưởng của Đảng, một nhân tố cực kỳ quan trọng không thể tách rời sự phát triển của đất nước cho đến ngày nay.

Những quan điểm trên là sự đúc kết sâu sắc từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, vì thế không thể có chuyện “từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng” và “cứ lý thuyết nào đúng thì theo” - một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, cơ hội.

          V3.

Sáng ngời giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”

 


Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới là thành quả của quá trình gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Bảo vệ giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ quan trọng của cấp ủy, chỉ huy các cấp và từng cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

“Bộ đội Cụ Hồ”, không chỉ là cách gọi trìu mến, rất thân thiết, rất Việt Nam mà nhân dân tin yêu, dành tặng cho Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là một danh hiệu, một vinh dự đặc biệt to lớn đối với mỗi quân nhân. Từ những ngày đầu của kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang của ta là “Bộ đội Ông Ké”, “Bộ đội Ông Cụ”. Sau này, khi biết “Ông Ké” là Hồ Chí Minh, đồng bào ta đã gọi “Bộ đội Ông Ké” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Như vậy có thể thấy, danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành từ những ngày Quân đội mới được thành lập và đã trở thành một hình ảnh quen thuộc, một biểu tượng cao đẹp trong lòng nhân dân.

Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội, danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” đã được nâng tầm trở thành văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ". Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” chứa đựng bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, là sự hòa quyện giữa tính dân tộc và tính giai cấp; giữa tính truyền thống và tính hiện đại; là sự phản ánh bản sắc văn hóa, nét đẹp tinh thần, tâm hồn, cốt cách con người Việt Nam, đồng thời là giá trị văn hóa, nhân văn, nhân ái của quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Nhắc đến văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự phản ánh những chuẩn mực văn hóa, đạo đức của người quân nhân cách mạng với tấm lòng kiên trung, tận tụy, luôn trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; luôn kiên định và giữ vững lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luôn nêu cao tinh thần anh dũng, không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao;... Những giá trị tốt đẹp ấy, dù trong thời chiến hay thời bình, đều được thể hiện cụ thể qua từng cử chỉ, hành động, việc làm, góp phần tạo nên sự lớn mạnh, trưởng thành của Quân đội, gìn giữ và tỏa sáng phẩm chất, văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, được nhân dân tin yêu, đùm bọc. Càng ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, càng ngời sáng văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, để lại ấn tượng sâu đậm đối với đồng bào trong nước cũng như bạn bè quốc tế.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết một chân lý: “Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hóa còn thì Dân tộc còn” (1). Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của đời sống xã hội, được nhân loại sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử, hướng con người tới những giá trị “Chân - Thiện - Mỹ”. Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, là niềm vinh dự, tự hào, là động lực mạnh mẽ giúp mọi cán bộ, chiến sĩ toàn quân không ngừng phấn đấu, rèn luyện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu, sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (3).

Thực tế thời gian qua, “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta” (2). Đối với Quân đội, bên cạnh âm mưu tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt” của Đảng, “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước còn ra sức phủ nhận, xuyên tạc bản chất, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta. Chúng luôn tìm mọi cách phủ nhận, bôi đen giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” nhằm chia rẽ Quân đội với Đảng, chia rẽ Quân đội với Nhân dân, làm cho Quân đội mất vai trò là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng. Chúng cho rằng, “giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” chỉ phù hợp với thời điểm đất nước có chiến tranh”; hiện nay giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” đã lỗi thời, lạc hậu”… Càng nguy hiểm khi những âm mưu nói trên còn đưa đến những nhận thức lệch lạc ở một bộ phận cán bộ, chiến sĩ; làm ảnh hưởng đến truyền thống, bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc lan tỏa sâu rộng, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động. Trong đó, cần tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội; nâng cao khả năng vận dụng các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, đặc biệt về việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong Quân đội.

Trong đó, trọng tâm là Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới; Kế hoạch số 1349/KH-CT ngày 15/8/2022 của Tổng cục Chính trị về thực hiện chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 trong Quân đội nhân dân Việt Nam,… Qua đó, tiếp tục xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân, luôn có khát vọng, lý tưởng cao đẹp, giữ vững và phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thực chất, trong từng lời nói và hành động, với tinh thần “lấy thông tin tích cực dẹp bỏ thông tin tiêu cực”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; tiếp tục lan tỏa sâu rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo, những gương người tốt, việc tốt; cá nhân điển hình, tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để tiếp tục khẳng định giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; kiên quyết đấu tranh loại bỏ các âm mưu, thủ đoạn, hành động xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động; kịp thời định hướng tư tưởng quân nhân trong mọi tình huống.

Đặc biệt, cần tiếp tục tăng cường vai trò định hướng của Ban Chỉ đạo 35 các cấp trong Quân đội; thường xuyên phát huy vai trò, trách nhiệm của các lực lượng chuyên trách như Lực lượng 47, đội ngũ tuyên truyền viên, báo cáo viên các cấp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng các bài viết, hình ảnh, video clip có giá trị đấu tranh sắc bén, đấu tranh trực diện, có chiều sâu, lập luận chặt chẽ,… tạo nên thế trận vững chắc, kiên quyết bẻ cong những luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc, sai sự thật trên không gian mạng; lan tỏa sâu rộng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong giai đoạn hiện nay, để phát huy hơn nữa giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, nâng tầm văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành di sản của quốc gia, dân tộc, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần ra sức thi đua, tiến quân vào khoa học công nghệ, làm chủ vũ khí, trang bị, kỹ thuật hiện đại; không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt; tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc và của Quân đội, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, mãi mãi xứng danh là Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Phát huy truyền thống, bản chất, hình ảnh cao đẹp, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới phải trở thành nếp sống, nếp nghĩ, lẽ sống, hành động sống, phương châm xuyên suốt của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Không ngừng nỗ lực, phấn đấu, khẳng định vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, rèn giũa “thanh bảo kiếm” thật sự sắc bén để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ Nhân dân và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay./.

          V3.